Diễn văn chính trị là một thể loại diễn ngôn đặc biệt, thể hiện rõ ràng nhất một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ, đó là chức năng tác động conative function.. Nhiệm vụ nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đinh Văn Đức, trên cơ sở kế thừa nguồn tài liệu thứ cấp của một số công trình nghiên cứu trước đó, việc tìm lời giải cho các câu hỏi nghiên cứu - các kết quả trình bày trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
VŨ HOÀI PHƯƠNG
Trang 41
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 9
3 Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu 10
4 Phương pháp và quy trình nghiên cứu 11
5 Đóng góp của luận án 13
6 Cấu trúc luận án 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 15
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị trên thế giới 15
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị ở Việt Nam 17
1.2 Cơ sở lý luận áp dụng nghiên cứu chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt 19
1.2.1 Một số khái niệm công cụ: diễn ngôn, diễn văn chính trị, diễn văn chính trị tiếng Việt 19
1.2.2 Chức năng ngôn ngữ và chức năng tác động 22
1.2.3 Một số lý thuyết áp dụng nghiên cứu chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt 28
1.3 Tiểu kết 51
CHƯƠNG 2 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT QUA TỪ NGỮ XƯNG HÔ BIỂU THỊ QUYỀN LỰC 53
2.1 Nhận diện cách xưng hô biểu thị quyền lực trong diễn văn chính trị tiếng Việt 54
2.1.1 Dùng đại từ nhân xưng trong diễn văn chính trị tiếng Việt 58
2.1.2 Dùng danh từ chỉ các cơ quan, tổ chức, nhóm (tổ chức) để xưng hô 70
Trang 52
2.1.3 Dùng từ/cụm danh từ tổng hợp từ để xưng hô 75
2.1.4 Ngôi hoá địa danh để xưng hô 80
2.2 Quyền lực thực hiện chức năng tác động qua cách xưng hô 84
2.2.1 Tác động của từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực cá nhân 85
2.2.2 Tác động của từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực tập thể 89
2.3 Tiểu kết 94
CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT THỂ HIỆN QUA LẬP LUẬN 96
3.1 Lập luận đơn, lập luận phức trong diễn văn chính trị tiếng việt 97
3.1.1 Nhận diện và mô tả lập luận đơn, lập luận phức trong diễn văn chính trị tiếng Việt 97
3.1.2 Đánh giá việc thực hiện chức năng tác động của lập luận đơn và lập luận phức 109
3.2 Lập luận đồng hướng, lập luận nghịch hướng trong diễn văn chính trị tiếng Việt 110
3.2.1 Nhận diện lập luận đồng hướng và lập luận nghịch hướng 110
3.2.2 Đánh giá việc thực hiện chức năng tác động của lập luận đồng hướng và nghịch hướng 116
3.3 Lập luận tường minh, lập luận hàm ẩn trong diễn văn chính trị tiếng Việt 117
3.3.1 Nhận diện lập luận tường minh và lập luận hàm ẩn 118
3.3.2 Đánh giá việc thực hiện chức năng tác động của kiểu lập luận tường minh và hàm ẩn 123
3.4 Tiểu kết 125
CHƯƠNG 4 CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT THỂ HIỆN QUA PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ 127 4.1 Nhận diện phương tiện và biện pháp tu từ thực hiện chức năng tác động trong diễn văn chính trị tiếng Việt 127
4.1.1 Ẩn dụ tu từ trong diễn văn chính trị tiếng Việt 128
4.1.2 Biện pháp lặp 138
4.2 Việc thực hiện chức năng tác động của phương tiện và biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị tiếng Việt 163
4.2.1 Tác động nhằm tăng cường giá trị thẩm mỹ 163
Trang 63
4.2.2 Tác động nhằm tăng cường giá trị biểu cảm 167
4.2.3 Tác động nhằm tăng tính thông tin 169
4.2.4 Tác động nhằm tạo dấu ấn riêng 170
4.3 Tiểu kết 174
KẾT LUẬN 176
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 180
TÀI LIỆU THAM KHẢO 181 PHỤ LỤC
Trang 74
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 85
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lược đồ các phương tiện tu từ ngữ nghĩa 47
Bảng 1.2: Lược đồ biện pháp tu từ cú pháp 50
Bảng 2.1: Các phương tiện từ ngữ xưng hô trong DVCTTV 58
Bảng 2.2: Cặp xưng hô trong diễn văn đối ngoại 83
Bảng 2.3: Cặp xưng hô trong diễn văn đối nội 84
Trang 96
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Tổng hợp 9 biểu thức xưng hô xuất hiện nhiều nhất 56
Hình 2.2: Bốn nhóm biểu thức xưng hô trong DVCTTV 57
Hình 2.3 : Thống kê sự xuất hiện đại từ "tôi" 59
Hình 2.4: Thống kê sự xuất hiện đại từ "chúng tôi, chúng ta" 64
Hình 2.5: Thống kê sự xuất hiện đại từ "chúng tôi" 64
Hình 2.6: Thống kê sự xuất hiện đại từ " chúng ta" 65
Hình 2.7: Thống kê sự xuất hiện danh từ chỉ tổ chức 70
Hình 2.8: Thống kê sự xuất hiện của "nước ta/đất nước ta" 75
Hình 2.9: Thống kê sự xuất hiện cụm danh từ "các đồng chí" 76
Hình 2.10: Thống kê sự xuất hiện của "Các vị khách quý, các quý vị, các bạn" 77
Hình 2.11: Thống kê sự xuất hiện của "Ngài/ông/bà + chức vụ + tên riêng" 78
Hình 2.12: Thống kê sự xuất hiện của ngôi hoá địa danh 81
Trang 107
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
i1 Ngôn ngữ học ra đời không phải vì mục đích tự thân mà vì những nhu cầu
của đời sống đặt ra Những tiến bộ của Ngôn ngữ học được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới Xuất phát điểm là những nghiên cứu về cấu trúc ngôn ngữ rồi dần chuyển sang chức năng của ngôn ngữ Hay nói cách khác, các nhà ngôn ngữ đi tìm lời giải cho câu hỏi ngôn ngữ được cấu tạo như thế nào trước khi trả lời cho thắc mắc ngôn ngữ vận hành ra sao
và dùng để làm gì Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và hữu hiệu của con người trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt là đối với các chính khách, những người có chức năng truyền cảm hứng cho người khác Mikhail Ivanovich Kalinin, một nhà cách mạng Liên xô đã từng tuyên bố: "Ngôn ngữ đối với các nhà tuyên truyền cổ động là tất cả." (Dẫn theo Lương Khắc Hiếu [34]) Xét trên phương diện
nào đó, chính khách cũng chính là nhà tuyên truyền cổ động
i2 Một đất nước muốn phát triển bền vững cần hội tụ nhiều yếu tố khác nhau
nhưng yếu tố quan trọng nhất là sự ổn định về chính trị Việt Nam được bè bạn năm châu biết đến như một quốc gia có nền chính trị ổn định trong thế giới bất ổn hiện nay Để có được lợi thế này, cần sức mạnh tổng hợp từ nhiều nguồn lực nhưng nguồn lực quyết định là nhân tố con người - người lãnh đạo và người chịu sự lãnh đạo Một thứ công cụ mà những người lành đạo thường xuyên phải và nên dùng để tác động vào người chịu sự lãnh đạo chính là diễn văn chính trị Diễn văn chính trị được trình bày trước công chúng nên cùng một lúc có thể tác động đến rất nhiều người Nếu người lãnh đạo sử dụng tốt ưu thế của thể loại này tức là đã làm chủ được một thứ quyền lực “mềm”, hữu hiệu cho công việc lãnh đạo trong kỷ nguyên tri thức hiện nay Diễn văn chính trị là một thể loại diễn ngôn đặc biệt, thể hiện rõ ràng nhất một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ, đó là chức năng tác động (conative function) Nhưng trên thực tế, diễn văn chính trị chưa được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu thể loại diễn ngôn này có thể làm sáng tỏ
Trang 118
hơn chức năng tác động, bên cạnh những chức năng được đề cao trong suốt chiều dài của
lịch sử nghiên cứu Ngôn ngữ học như giao tiếp, tư duy, thẩm mỹ,
i3 Ưu thế và vai trò của diễn văn nói chung và diễn văn chính trị nói riêng
lớn như vậy nhưng làm thế nào để có một bài diễn văn hay, cách thức và phương tiện tác động của nó đến người nghe như thế nào? Câu hỏi này hiện tại chưa có nhiều lời giải Vì vậy, chúng tôi muốn sử dụng lý thuyết từ ngữ xưng hô, lý thuyết lập luận, lý thuyết về các phương tiện và biện pháp tu từ, lý thuyết phân tích diễn ngôn, đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán để tìm lời giải Nếu đề tài này được triển khai, hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định về lý thuyết đối với Ngôn ngữ học Nó góp phần bổ sung lý luận về chức năng của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Đồng thời góp phần hình thành lý thuyết về diễn văn chính trị tiếng Việt, một thể loại chưa được các nhà
Chính trị học cũng như các nhà Ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm nghiên cứu
i4 Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính
đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hoá và đạo đức thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh là khoa đào tạo các cán bộ thực hiện hoạt động trọng yếu này của Đảng Nghệ thuật phát biểu miệng là môn học tạo thương hiệu cho Khoa Diễn văn là một thể loại thuộc chương trình của môn học này nhưng cho đến nay các lý thuyết về thể loại này còn rất sơ sài Diễn văn chính trị là một trong những kiểu diễn ngôn thường được sử dụng trong hoạt động nghề nghiệp của các chính khách nhưng lý thuyết về thể loại diễn ngôn này, đặc biệt là phương tiện tác động của nó đối với người nghe chưa được xây dựng Là người trực tiếp giảng dạy môn học này nên tôi muốn tiến hành nghiên cứu về diễn văn nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn
Trang 129
i5 Với những lý do như đã trình bày trên đây, chúng tôi quyết định chọn đề
tài “Nghiên cứu chức năng tác động của diễn ngôn (trên tư liệu diễn văn chính
trị tiếng Việt)" cho luận án tiến sĩ của mình Đây là một lựa chọn mới, riêng biệt,
không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước và mang tính thời sự trong xu
hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay
2 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chức năng tác động của diễn ngôn mà
cụ thể là diễn văn chính trị tiếng Việt
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Chức năng tác động của diễn ngôn là một vấn đề lớn, có thể nghiên cứu ở
nhiều mảng vấn đề khác nhau như đối tượng, nội dung, phương pháp tác động
Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi khảo sát một số phương tiện ngôn
ngữ thực hiện chức năng tác động của diễn ngôn mà cụ thể là diễn văn chính trị
tiếng Việt Để thống nhất và thuận tiện cho quá trình khảo sát, chúng tôi diễn đạt
ngắn gọn là "Chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt" Để làm sáng
tỏ đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát 3 nội dung:
Một là, chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt qua từ ngữ xưng
hô biểu thị quyền lực;
Hai là, chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt qua lập luận;
Ba là, chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt qua phương tiện
và biện pháp tu từ
Chúng tôi quyết định khảo sát ba nội dung trên vì những lý do sau: Diễn văn muốn tác động vào đối tượng cần nhiều yêu cầu nhưng có ba yêu cầu căn bản, tối cần thiết là tính đúng, tính đủ và tính hay Đúng về thông tin, về quan điểm, về khung quan hệ; đủ về hàm lượng thông tin, về lý lẽ, dẫn chứng; hay về ý tưởng, về ngôn ngữ sử dụng Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi có mối quan tâm đặc biệt đến tính đúng về việc xác lập khung quan hệ giữa người nói và người nghe nhằm thể hiện quyền lực; tính đủ về lý lẽ, luận cứ; tính hay về ngôn ngữ sử dụng nên
Trang 1310
chúng tôi quyết định khảo sát từ ngữ xưng hô, lập luận và phương tiện, biện pháp tu
từ trong DVCTTV bởi từ ngữ xưng hô là phương tiện hữu hiệu thực hiện việc xác lập khung quan hệ; lập luận đóng vai trò chính yếu trong việc cung cấp đủ luận cứ,
lý lẽ, kết luận để thuyết phục người nghe; phương tiện và biện pháp tu từ tạo nên sức hấp dẫn nhờ vẻ đẹp của ngôn từ cho diễn văn
2.3 Tư liệu nghiên cứu
Luận án tiến hành khảo sát 03 khối tư liệu với 280 bài phát biểu, được thu thập
từ các phương tiện truyền thông đại chúng là cơ quan ngôn luận trong hệ thống chính trị Việt Nam
Cụ thể như sau:
a) 60 bài diễn văn được trình bày trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2016
ở 4 chức danh gồm: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và Thủ tướng chính phủ Chúng được lấy từ một vài cổng thông tin điện tử như:
120 lời kêu gọi và 100 bài phát biểu nêu trên không có tên gọi là diễn văn ở nhan đề nhưng chúng do lãnh tụ trình bày trước đông đảo nhân dân và cán bộ trong những dịp quan trọng nên chúng tôi chọn để khảo sát
3 Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra một vài phương tiện ngôn ngữ như: từ ngữ xưng hô, lập luận, phương tiện và biện pháp tu từ thực hiện chức năng tác động
Trang 1411
để từ đó nêu ra các gợi ý giúp việc lựa chọn phương tiện tác động cho các chính khách và những người thường viết diễn văn nói chung và diễn văn chính trị nói riêng trở nên thuận lợi hơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu; hệ thống hoá các lý thuyết áp dụng cho đề tài Nghiên cứu chức năng tác động của diễn ngôn (trên tư liệu diễn văn chính trị tiếng Việt)
+ Xác lập khái niệm diễn văn chính trị, diễn văn chính trị tiếng Việt, chức
năng tác động của ngôn ngữ và các nội hàm của khái niệm này làm cơ sở cho việc
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở các nhiệm vụ trên, luận án tập trung làm rõ các câu hỏi nghiên
cứu như sau:
(1) Có những kiểu từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực nào và chúng thực hiện
chức năng tác động ra sao trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
(2) Có những kiểu lập luận nào và chúng tham gia vào việc thực hiện chức năng tác động ra sao trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
(3) Phương tiện và biện pháp tu từ có vai trò gì khi thực hiện chức năng tác động trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
4 Phương pháp và quy trình nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 1512
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp này dùng trong thao tác phân tích những biểu thức ngôn ngữ như các biểu thức xưng hô, các lập luận, các phương tiện và biện pháp tu từ để tìm hiểu xem chúng thực hiện chức năng tác động như thế nào trong DVCTTV;
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng trong quá trình miêu
tả các khối ngữ liệu phục vụ nội dung nghiên cứu của cả 3 chương;
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - cú pháp: Phương pháp này được dùng để phân tích ngữ nghĩa, cú pháp của các cấu trúc được thống kê nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của đề tài;
- Thủ pháp thống kê – phân loại: Thủ pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập tư liệu và phân loại chúng thành các tiểu nhóm theo vấn đề nghiên cứu;
- Thủ pháp so sánh: Thủ pháp này được dùng để tìm ra câu trả lời: biểu thức xưng hô nào được sử dụng nhiều hơn cả, kiểu lập luận nào xuất hiện nhiều hơn, phương tiện và biện pháp tu từ nào được các tác giả diễn văn ưa dùng hơn trong khối tư liệu khảo sát
Theo hướng định lượng, chúng tôi sử dụng thủ pháp phân loại và thống kê: tiến hành đếm số lượng và tần suất xuất hiện của các từ ngữ, các phát ngôn có chứa các từ ngữ xưng hô, lập luận, phương tiện và biện pháp tu từ để nhận diện, phân loại
và thống kê thành biểu bảng tương ứng, phục vụ cho việc tìm lời giải ở từng câu hỏi
nghiên cứu
Theo hướng định tính, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn, miêu tả, phân tích ngữ nghĩa – cú pháp, so sánh để giải thích, đánh giá việc thực hiện chức năng tác động trong diễn văn chính trị tiếng Việt của một số phương tiện ngôn ngữ như: biểu thức xưng hô, kiểu lập luận, phương tiện và biện pháp tu từ
4.2 Các bước tiến hành nghiên cứu của luận án
Trang 16Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sẽ có đóng góp nhất định cho
lý thuyết về thể tiểu loại diễn văn chính trị, góp phần làm sáng tỏ hơn một số lý
thuyết Ngôn ngữ học áp dụng cho trường hợp diễn văn chính trị tiếng Việt
5.2 Về mặt thực tiễn
Luận án là một công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học, không phải công trình nghiên cứu Chính trị học hay Truyền thông Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của luận
án có thể góp phần xây dựng cơ sở lý thuyết cho môn học “Nghệ thuật phát biểu
miệng”, môn “Các thể loại phát biểu miệng", môn "Kỹ năng giao tiếp chính trị",
"Giao tiếp và đàm phán trong quan hệ quốc tế", "Kỹ năng lãnh đạo quản lý" của ngành Chính trị học và Báo chí truyền thông tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các chính
khách hoặc những ai mà công việc đòi hỏi phải diễn thuyết trước công chúng; cho
những ai có quan tâm đến diễn văn chính trị
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
Chương này trình bày một cách chi tiết tổng quan vấn đề nghiên cứu bao gồm khái niệm diễn văn chính trị, diễn văn chính trị tiếng Việt; lý thuyết từ ngữ xưng hô; lý thuyết lập luận; lý thuyết về các phương tiện, biện pháp tu từ; cơ sở lý luận của phương pháp phân tích diễn ngôn theo đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán
và lịch sử vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương 2: Chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt qua từ ngữ xưng hô biểu thị quyền lực Ở chương 2, biểu thức xưng hô được mô tả, phân
Trang 1714
tích, đánh giá theo quy trình của đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán mà
Norman Fairclough đề xuất Mục đích là trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Có những từ
ngữ xưng hô biểu thị quyền lực nào và chúng thực hiện chức năng tác động ra sao trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
Chương 3: Chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt thể hiện qua lập luận Chương này tiến hành khảo sát lập luận trong diễn văn chính trị tiếng
Việt cũng theo quy trình như ở chương 2 với mục đích tìm lời giải cho câu hỏi
nghiên cứu: Có những kiểu lập luận nào và chúng tham gia vào việc thực hiện chức
năng tác động ra sao trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
Chương 4: Chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt thể hiện
tiện tu từ ngữ nghĩa và một biện pháp tu từ cú pháp trong diễn văn chính trị tiếng Việt cũng theo quy trình như ở chương 2 và 3 với mục đích tìm lời giải cho câu hỏi
nghiên cứu: Phương tiện và biện pháp tu từ có vai trò gì khi thực hiện chức năng
tác động trong diễn văn chính trị tiếng Việt?
Trang 1815
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 sẽ trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết làm trụ cột tiến hành trả lời các câu hỏi nghiên cứu mà luận án đặt ra
Để có một cái nhìn tổng thể về những công trình khoa học trước đây cho vấn
đề nghiên cứu của luận án, phần này của chương 1 sẽ trình bày tóm tắt lịch sử nghiên cứu diễn văn chính trị trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị trên thế giới
Qua quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy: ở nước ngoài, các công trình chủ yếu viết về diễn ngôn chính trị (Political discourse) còn diễn văn chính trị (Political speech) hầu như không có Diễn văn chính trị là một tiểu loại trong diễn ngôn chính trị Đứng trước thực tế như vậy, luận án xin giới thiệu một vài công trình chủ yếu về diễn ngôn chính trị, phân tích diễn ngôn chính trị, phân tích diễn ngôn phê phán
Nói đến phân tích diễn ngôn phê phán, không thể không nhắc đến những tên tuổi: G Kress, B Hodge, M Foucault, L Chouliaraki, R Fowler, Teun A van Dijk, N Fairclough, R Wodak, Leeuwen
Teun A van Dijk có nhiều công trình nghiên cứu về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn Bài viết với tên gọi: "What is political discourse analysis?" trên website http://www.discourses.org Teun A van Dijk [131] đã trả lời được câu hỏi trong tiêu
đề bài viết qua 5 nội dung chính: Defining political discourse, the domain of politics, political discourse as political action, discourse structures, discourse analysis and political analysis Tác giả đã tiến hành định nghĩa diễn ngôn chính trị một cách đơn giản và dễ hiểu Ông cho rằng: Diễn ngôn chính trị là hành động chính trị và là một phần của quá trình chính trị Dù là văn bản viết hay văn bản nói, diễn ngôn chính trị cũng đều là một dạng thức hành động chính trị xã hội
Trang 1916
Bên cạnh Teun A van Dijk, Norman Fairclough cũng là tên tuổi được nhắc đến rất nhiều trong giới nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán Isabela và Norman Fairclough [97] đã xuất bản cuốn sách « Political discourse analysis – A method for advanced students » Cuốn sách là sự mở rộng sáng tạo và quan trọng trong cách tiếp cận nghiên cứu về diễn ngôn chính trị Cuốn sách đã tích hợp phân tích các thảo luận vào phân tích diễn ngôn phê phán và phân tích diễn ngôn chính trị Cuốn sách được viết trên quan điểm chính trị học, trong đó thảo luận, quyết định và hành động là những khái niệm quan trọng: chính trị là về những gì hợp tác mang lại ở các quyết định về những gì phải làm trong bối cảnh bất đồng, xung đột lợi ích và giá trị, sự bất bình đẳng quyền lực, sự không chắc chắn và rủi ro
Nửa đầu của cuốn sách giới thiệu cách tiếp cận mới của các tác giả để phân tích và đánh giá các thảo luận thực tế, trong khi nửa cuối tìm hiểu làm thế nào nó có thể được áp dụng bằng việc khảo sát các ví dụ như báo cáo của chính phủ, các cuộc tranh luận của quốc hội, các bài diễn văn chính trị và các diễn đàn thảo luận trực tuyến về vấn đề chính trị Thông qua việc phân tích các sự kiện hiện tại, mà tâm điểm là cuộc khủng hoảng kinh tế và phản ứng chính trị đối với nó, các tác giả cung cấp một khung phân tích hệ thống và chặt chẽ để người học có thể tiếp nhận và sử dụng trong nghiên cứu
Alan Finlayson, Đại học Swansea, Anh đã nhận định: “Cuốn sách chắc chắn
sẽ trở thành một tài liệu nghiên cứu quan trọng, cuốn sách này có thể mở ra một hướng cộng tác mới giữa các học giả ngôn ngữ học, nhà lý luận chính trị, các nhà tư tưởng và các nhà khoa học chính trị”
Bên cạnh công trình của các nhà nghiên cứu tên tuổi như vậy, cũng phải kể đến các bài viết trên tạp chí của một vài nhà nghiên cứu khác
Junling Wang [134], một học giả Trung Quốc đã có bài viết “A critical discourse analysis of Barack Obama‟s speeches Junling Wang đã sử dụng lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống của M.K.A Halliday – nền tảng của CDA để phân tích hai bài diễn văn của Tổng thống Obama (diễn văn chiến thắng 4/11/2008 và
Trang 2017
diễn văn nhậm chức 20/1/2009) Từ ba bình diện nghiên cứu cụ thể là chuyển tác (Transitivity studies), tình thái (modality studies) và văn bản (textual studies), tác giả nhận định rằng: Obama sử dụng từ đơn giản, câu ngắn, mang tính thông tục nên thu hẹp được khoảng cách giữ người nói và người nghe Nghiên cứu về tình thái chỉ
ra rằng bằng việc sử dụng các động từ tình thái, thì, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít và số nhiều), Obama giúp người dân hiểu và chấp nhận các bài diễn văn chính trị của ông một cách dễ dàng Khi dùng đại từ nhân xưng, niềm tin tông giáo, Obama đã đến gần với người nghe hơn Điều này giúp ông thuyết phục đám đông chấp nhận và ủng hộ các chính sách của ông Tác giả cũng kết luận rằng: CDA có thể khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ, hệ tư tưởng và quyền lực Nó cung cấp một ý tưởng, phương pháp mới để phân tích các bài phát biểu trước công chúng
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị ở Việt Nam
Nếu gõ cụm từ “diễn văn chính trị” vào trình duyệt tìm kiếm Google, một loạt bài diễn văn của các chính khách hiện ra Các sách hay bài viết, bài nghiên cứu
về thể loại này còn rất hạn chế
Ở Việt Nam có một vài công trình đi tiên phong như:
Nguyễn Hòa và Đinh Văn Đức [38] “Quan yếu trong cấu trúc diễn ngôn bản tin chính trị - xã hội trong báo tiếng Anh và tiếng Việt”,
Nguyễn Hoà [39] Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội (trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại),
Bài viết “Tìm hiểu về đề ngữ liên nhân trong các bài diễn văn chính trị Anh - Việt” (An investigation into interpersonal theme in English-Vietnamese political speeches) của hai tác giả Phan Văn Hoà và Ngô Thị Thanh Mai [43] đã phát hiện được những nét tương đồng và dị biệt về việc sử dụng Đề ngữ liên nhân trong những bài diễn văn chính trị giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt trên cơ sở những hiểu biết giao văn hoá, dụng học, về chính trị, ngôn ngữ
Luận án tiến sĩ “Ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết chính trị Mỹ và dịch ẩn dụ
từ tiếng Anh sang tiếng Việt” của NCS Nguyễn Thị Như Ngọc [62] đã phân tích hơn 1000 biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ trích từ 127 văn bản diễn thuyết (VBDTCT)
Trang 2118
Mỹ và các phát biểu của các nhà hoạt động chính trị và văn bản báo chí Việt Nam; xem xét các đặc trưng của các hệ thống ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ trên góc độ tri nhận luận; và phân tích các chiến lược dịch ẩn dụ trong VBDTCT Mỹ từ tiếng Anh sang tiếng Việt dựa vào các bản dịch tiếng Việt của các dịch giả Việt Nam Luận án cũng đã xác lập được các quy trình nhận diện ẩn dụ, từ nhận diện ẩn dụ ngôn ngữ đến nhận diện ẩn dụ tri nhận giúp người học có thể hiểu được ẩn dụ trọn vẹn từ hình thức thể hiện bên ngoài cho đến hàm ý bên trong
Năm 2013, tác giả Đỗ Minh Hùng đã ra mắt bạn đọc cuốn sách "Tìm hiểu nội dung và đặc điểm ngôn ngữ trong các bài diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ" Cuốn sách dày 367 trang tiến hành khảo sát 55 bài diễn văn nhậm chức của 44 vị Tổng thống Trong đó có 14 vị tuyên thệ hai lần cho 2 nhiệm kỳ và 5 vị không có bài diễn văn nhậm chức do những vị Tổng thống này phải tiếp nối nhiệm kỳ bỏ dở của tổng thống đương nhiệm đột ngột qua đời Diễn văn nhậm chức phản ánh quan điểm, đường lối, chính sách, định hướng kế hoạch, chiến lược hành động của tổng thống trong suốt nhiệm kỳ 4 năm điều hành Trong lịch sử nước Mỹ, tính đến hiện nay, bài diễn văn ngắn nhất thuộc về Tổng thống đầu tiên - Goerge Washington với
135 từ; bài diễn văn dài nhất thuộc về Tổng thống William H Harrison với 8.445
từ Cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1 khái quát về lịch sử nước Mỹ và các lý thuyết liên quan đến nội dung đề tài; chương 2 trình bày các nội dung chính trong tất cả các bài diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ từ vị Tổng thống đầu tiên - Goerge Washington (1789) đến Tổng thống Barack Obama (2009 - 2012); chương
3 trình bày các đặc điểm ngôn ngữ và các biện pháp tu từ được sử dụng trong tổng
số 55 bài diễn văn
Bài viết “Đặc điểm của lập luận trong diễn văn chính trị tiếng Việt” Vũ Ngọc Hoa Số 10/2014 VN Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội [36] đã chỉ ra vai trò quan trọng của lập luận trong việc thể hiện quan điểm của các chính trị gia về một vấn đề chính trị nhằm tác động, định hướng tư tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận Để tạo nên tính thuyết phục của diễn văn chính trị, các chính trị gia đã sử dụng đa dạng các phương pháp lập luận như diễn dịch, quy nạp,
Trang 2219
so sánh, nhân quả, phản đề Kết luận trong diễn văn chính trị có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện tư tưởng chính trị của một giai cấp, Đảng phái thậm chí là tư tưởng của cả một dân tộc hoặc giá trị tinh thần mang tính phổ quát của nhân loại
Như vậy, nhận định ban đầu của chúng tôi về sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu về diễn văn chính trị cũng như DVCTTV là có căn cứ Đây hứa hẹn là một địa hạt nghiên cứu thú vị cho những ai có quan tâm
1.2 Cơ sở lý luận áp dụng nghiên cứu chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt
1.2.1 Một số khái niệm công cụ: diễn ngôn, diễn văn chính trị, diễn văn chính trị tiếng Việt
Diễn ngôn (discourse)
Các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành định nghĩa khái niệm diễn ngôn theo nhiều cách khác nhau Foucault gắn khái niệm diễn ngôn với cách kiến tạo tri thức, cùng với thực tiễn xã hội, những hình thái khách quan và quan hệ quyền lực gắn với các tri thức và quan hệ giữa chúng [99] Widdowson [137] đồng nghĩa diễn ngôn với cách dùng chuỗi các câu để tạo các đơn vị giao tiếp lớn hơn Crystal [94] cũng nhấn mạnh tính kéo dài liên tục của đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu trong diễn ngôn Halliday & Hasan [106] chỉ đơn giản định nghĩa diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó, đó là “văn bản (hay diễn ngôn) là ngôn ngữ có tính chức năng” N Fairclough [97] cho rằng: "Diễn ngôn về cơ bản là ứng dụng xã hội của ngôn ngữ đặt trong bối cảnh xã hội Tuy vậy, thuật ngữ này thường được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau, thậm chí ngay cả trong bản thân cách tiếp cận đặc biệt của chúng tôi đối với CDA Nó thường mang ý nghĩa là (a) biểu hiện của quá trình xã hội; (b) ngôn ngữ liên quan đến một lĩnh vực xã hội hoặc trong một thực tiễn xã hội cụ thể (ví dụ như “diễn ngôn chính trị”), (c) một cách phân tích các khía cạnh của thế giới dựa trên một quan điểm xã hội cụ thể (ví dụ như một “diễn ngôn tân tự do về toàn cầu hoá”) Ngay trong định nghĩa về diễn ngôn này của Fairclough đã cho thấy ông
đứng trên nền tảng phản ánh luận của chủ nghĩa Mác
Trang 23và sự mong đợi liên kết ngôn từ với ngữ cảnh Nhờ chúng, những người sử dụng ngôn ngữ tạo nên và thuyết giải các cấu trúc diễn ngôn của ngôn từ của mình (như
tự sự, hội thoại, thỉnh cầu, lập luận, )" (Dẫn theo Lê Thị Phượng [66])
Đỗ Hữu Châu [12] cho rằng: "Diễn ngôn là thuật ngữ chung để chỉ tất cả các đơn vị lời nói phù hợp với những tiêu chuẩn nêu trên Tùy theo đường kênh hay dạng ngôn ngữ được sử dụng mà ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết Diễn ngôn
có thể là một phát ngôn mà cũng có thể là một chuỗi gồm nhiều phát ngôn Diễn ngôn có mặt động và mặt tĩnh: Diễn ngôn là một quá trình sản sinh ra và liên kết các phát ngôn thành một chỉnh thể, đồng thời, đó cũng là tên gọi của sản phẩm ngôn
từ do chính quá trình đó tạo nên"
Như vậy, các định nghĩa về diễn ngôn đều tập trung vào các khía cạnh chuỗi nhiều câu liên tục và chức năng giao tiếp của ngôn ngữ của văn bản đó Chúng tôi chọn định nghĩa diễn ngôn của Đỗ Hữu Châu làm khái niệm công cụ cho luận án
Trong các định nghĩa về diễn ngôn có chứa cách phân loại diễn ngôn Nếu căn cứ vào hình thức thể hiện, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn nói, diễn ngôn viết; Nếu căn cứ vào dung lượng, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn dài, diễn ngôn ngắn, siêu ngắn; Nếu căn cứ vào nội dung được biểu đạt, diễn ngôn được chia thành diễn ngôn kinh tế, văn hóa, an ninh, chính trị, v.v
Căn cứ vào các định nghĩa về diễn ngôn nêu trên, có thể nhận định diễn văn
là một loại diễn ngôn
Trang 2421
Theo “Từ điển Tiếng Việt” [71] thì diễn văn được định nghĩa như sau: Diễn văn là “Bài phát biểu tương đối dài được đọc trong dịp long trọng Diễn văn khai mạc đại hội”
Theo [1] Diễn văn là “Loại văn bản dùng để trình bày trước một cuộc hội nghị, đại hội, một cuộc mít tinh; trước đông đảo quần chúng và khách quí trong nước, nước ngoài, hoặc để khai mạc hội chợ, triển lãm, thi đấu thể dục thể thao”
Tác giả Lương Khắc Hiếu [34] cho rằng: Diễn văn là bài phát biểu đề cập đến các vấn đề, các sự kiện chính trị đã hoặc đang diễn ra nhằm tập trung sự chú ý của đông đảo người nghe về vấn đề, sự kiện ấy, định hướng dư luận xã hội về vấn
đề, sự kiện ấy
Trong nhiều hội nghị, hội thảo, khai mạc triển lãm, khai trương… người ta gọi là bài phát biểu, lời phát biểu, nhưng thực ra đó cũng là bài diễn văn Ví dụ: gần đây, tại các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Tổng bí thư phát biểu khai mạc và phát biểu bế mạc Hội nghị Bài phát biểu này, thực chất là bài diễn văn rất quan trọng
Chính trị với tư cách là một danh từ có mấy nét nghĩa như sau: Thứ nhất, chính trị là những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước, và về quan hệ chính thức giữa các nước với nhau Thứ hai, chính trị là những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước Thứ ba, chính trị là những biểu hiện về mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước Thứ tư, Chính trị là những hoạt động nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện một đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định [71]
Isabela và Norman Fairclough [97] cho rằng: Diễn văn chính trị là sự kiện chính trị, nó phản ánh thực tiễn đời sống chính trị của một đảng phái, một quốc gia
mà nó thuộc về
Như vậy, theo nghĩa rộng có thể định nghĩa: Diễn văn chính trị là bài phát
biểu trước đông người của chính khách trong việc thực hiện hoạt động của một
Trang 2522
giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy
nhà nước Theo nghĩa hẹp: Diễn văn chính trị là bài phát biểu trước đông người của chính khách trong dịp quan trọng nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối, nhiệm vụ của một giai cấp, một chính đảng, một quốc gia nhất định; nó phản ánh thực tiễn đời sống
chính trị của giai cấp, đảng phái, quốc gia ấy Chúng tôi chọn định nghĩa diễn
văn chính trị theo nghĩa hẹp làm khái niệm công cụ
Diễn văn chính trị tiếng Việt là bài phát biểu bằng tiếng Việt trước đông người của chính khách Việt Nam trong dịp quan trọng nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam, chính sách, pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nó phản ánh thực tiễn đời sống chính trị của Việt Nam
Hai định nghĩa diễn văn chính trị theo nghĩa hẹp và diễn văn chính trị tiếng Việt trên đây là hai khái niệm công cụ của luận án
1.2.2 Chức năng ngôn ngữ và chức năng tác động
1.2.2.1 Quan điểm về các kiểu chức năng của ngôn ngữ
K Bühler được coi là người đại diện cho việc nghiên cứu chức năng ngôn ngữ thời kỳ cấu trúc luận Ông tuyên bố trong [88] giao tiếp cũng như ngôn ngữ gồm 3 chức năng quan trọng Đó là chức năng hướng tới người nói, chức năng hướng tới người nghe và chức năng biểu diễn Chức năng hướng tới người nói (Speaker-oriented) hay còn gọi là chức năng biểu đạt – express function là sự phản
ánh những tình cảm, thái độ, cảm xúc và quan điểm của người nói; Chức năng
hướng tới người nghe (Hearer-oriented) là chức năng về thụ cảm ngôn ngữ (conative function), nhờ ngôn ngữ mà người nghe có thể hiểu được ý định thông tin
của người nói cũng như những mong muốn của người nói với mình; Chức năng
biểu diễn/ biểu hiện (Representative) là chức năng quan trọng nhất xét về mặt giao tiếp Những thông tin, ước muốn, truyền giao thông tin giữa người nói – người nghe được ngôn ngữ thực hiện thông qua chức năng này
Trang 2623
chức năng như K Bühler đã tuyên bố Trong giới ngôn ngữ học, người ta gọi đó là trào lưu hậu cấu trúc luận (post-structuralism) Trong khi trình bày quan điểm về 6 chức năng ngôn ngữ, R Jakobson giữ lại 2 chức năng đầu của K Bühler là xúc cảm
và nhận cảm Bốn chức năng còn lại được khái quát như sau: Meta-language (Siêu ngữ): Bất kì ngôn ngữ nào cũng phải lấy nó để giải thích cho chính nó, hay, khi nào
người ta dùng ngôn ngữ để giải thích, mô tả chính ngôn ngữ thì lúc đó người ta
đang sử dụng chức năng thứ 3 – chức năng siêu ngữ Vd: Ngôn ngữ là hiện thực
trực tiếp của tư tưởng Trong một phát ngôn như trên, người nói đã giới hạn định
nghĩa về ngôn ngữ Chúng ta cũng dễ dàng thấy chức năng này trong những cuốn từ điển, hoặc những cuốn sách chuyên về ngôn ngữ học mô tả về một ngôn ngữ cụ thể nào đó Trong giao tiếp, nếu tỉ lệ của những biểu hiện siêu ngữ càng cao thì khoảng cách giữa hai người càng lớn, hoặc, đó là dấu hiệu của sự phá vỡ mối quan hệ; Poetics (Thi pháp): Trong mỗi một ngôn ngữ, khi cấu tạo thông điệp đã tạo nên những hình thức lựa chọn hướng tới cái đẹp Bởi vì bên cạnh việc hướng đến cái chân, cái thiện thì một trong những tập tính tự nhiên trong giao tiếp giữa con người với con người là hướng về cái đẹp Chức năng thi pháp làm cho các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp một cách tự nhiên, hài âm, hài nghĩa cho thuận tai người nghe Theo quan niệm của trường phái Praha thì chức năng thi pháp xuất hiện khi ngôn ngữ trở về với chính nó; Phatics (Kết nối): Chức năng này liên kết người nói với người nghe thành một khối nhằm đảm bảo cho sự giao tiếp luôn liên tục; Referential (Tham chiếu): Nội dung thông tin trong bất kì phát ngôn nào cũng vô cùng to lớn trong khi ngôn ngữ thì giới hạn Chính vì vậy người nói phải viện dẫn đến rất nhiều chi tiết bên ngoài lời nói để làm lên khung phát ngôn của mình Người nói phải viện dẫn đến những điều đã xảy ra từ quá khứ của câu nói, đôi khi là một sự hứa hẹn
tương lại của phát ngôn Tất cả những điều đó tạo nên chức năng tham chiếu
Trước đây, K Bühler nhìn ngôn ngữ một cách cơ giới và máy móc như là những biểu thức toán học thì tới Jakobson và sau ông, ngôn ngữ và chức năng của ngôn ngữ được trình bày và nhìn nhận như nó đang tồn tại trong bất kì một cuộc giao tiếp bình thường nào Từ R Jakobson, ngôn ngữ học chuyển sang một thời kì mới
Trang 27lí thuyết 6 chức năng ngôn ngữ của Jakobson như là một bước ngoặt từ cấu trúc luận cổ điển sang chức năng luận hiện đại Người ta thường gọi lí thuyết 6 chức năng của Jakobson là lí thuyết chức năng của hậu cấu trúc luận
Sau hậu cấu trúc luận là thời kỳ của trường phái chức năng và ngôn ngữ học
xã hội Chức năng của ngôn ngữ được chú trọng nghiên cứu từ những năm 1970 đến nay với các tên tuổi như Austin, Searle, Dijk, Halliday, Lyons
Đặc điểm nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại là sự nới rộng về không gian và thời gian cũng như các điều kiện giao tiếp của một hành vi nói năng Do khuynh hướng
tự nhiên hoá sự giao tiếp của con người mà đối tượng ngôn ngữ không dừng lại nghiên cứu các phát ngôn riêng lẻ mà hướng tới các chuẩn phát ngôn khác nhau trong một diễn ngôn nhằm thực hiện các mục đích và ý định của người nói Không gian để nhúng các chuỗi phát ngôn này trong hiện thực không còn là các không gian
do nhà ngôn ngữ học giả định mà phải là không gian hiện thực, gọi là chu cảnh giao tiếp xã hội: đặc điểm giới tính, tâm lí, nghề nghiệp, hôn nhân của người nói; các điều kiện để tiến hành giao tiếp thuận lợi và không thuận lợi; các điều kiện để giao tiếp bằng lời biến thành các hành động xã hội (social actions) và hành vi xã hội (social behaviours) Vì thế, từ những năm 1970 đã rộ lên phong trào nghiên cứu văn bản và nghiên cứu diễn ngôn
M.A.K Halliday [107] và B Brown & G Yule [84] là những tác giả được
Trang 2825
nhắc đến nhiều hơn cả khi nói về chức năng ngôn ngữ theo trường phái chức năng Theo M.A.K Halliday, ngôn ngữ có 3 chức năng lớn: Ideation (ý niệm, tư tưởng), interpersonal (liên nhân), textual (văn bản)
Chức năng ý niệm, tư tưởng là chức năng thể hiện các thông tin thuần lí của
ngôn ngữ trong thông điệp của giao tiếp ngôn ngữ, và có 90% thông tin gạn lọc được là các thông tin thuần lí Nghĩa là, các thông tin phản ánh thực tại, các sự kiện xảy ra trong đời sống mà chúng ta muốn giao tiếp Chức năng này, vì vậy, từ cấu trúc luận cổ điển tới hậu cấu trúc luận và tới chức năng luận vẫn được các tác giả giữ nguyên, nhưng được gọi bằng các thuật ngữ khác nhau
Chức năng liên nhân là chức năng nối kết các thành viên trong cộng đồng
nói năng lại với nhau thành một khối Trong một giao tiếp cụ thể, để thực hiện được các ý định giao tiếp của mình, người nói cần thiết phải bộc lộ mình qua ngôn ngữ với một thái độ trung thực Nghĩa là, người nói phải thể hiện được các đặc điểm về
cá nhân, giai tầng xã hội mà mình thuộc về, vùng ngữ vực mà mình và giai cấp mình ưa sử dụng (vốn từ, các thành ngữ, tục ngữ quen dùng, những lối tu từ ưa thích ), các cấu trúc câu, phát ngôn để bộc lộ thông điệp theo các đặc điểm của người nói Chức năng liên nhân là chức năng mang tính xã hội rõ nhất vì bản chất ngôn ngữ, suy cho cùng, là làm mối dây liên hệ giữa người với người trong một cộng đồng đã được xác định Đôi khi chúng ta nói không phải để truyền thông tin
mà nói để tìm hiểu về nhau, thông cảm với nhau
Chức năng văn bản: đây là chức năng mang tính ngữ pháp văn bản rất rõ,
các từ không thể rời rạc mà phải nối kết với nhau để tạo thành sức mạnh, đó là sức mạnh của hiệu lực lời nói Để đạt được hiệu lực này, ngoài vài luật ngữ pháp quy định về các quan hệ cú pháp đặc thù cho một ngôn ngữ thì chúng ta còn phải sử dụng rất nhiều các nhân tố khác nhau để kết liên các từ lại thành một khối Chẳng hạn đó là những hàm ý mà cả hai người nói đều hiểu như nhau, đó là các tiền giả định mà dân tộc đã quen sử dụng trong hàng nghìn năm, đó là những nguyên tắc về phép lịch sự trong lời nói, và cuối cùng là các quy tắc xã hội mà chủng tộc ấn định cho ngôn ngữ có những chức năng gì trong cộng đồng
Trang 2926
G Brown & G Yule trong [84] đã phát biểu một cách đơn giản hơn về các chức năng ngôn ngữ Nói một cách khái quát thì ngôn ngữ có hai chức năng chính là: Transactional function (chức năng liên giao) và interactional function (chức năng tương tác) Hai chức năng này đã thể hiện được đầy đủ những chức năng chi tiết từ cấu trúc luận tới hậu cấu trúc luận và cả về sau này nữa Điều đó được thể hiện ở các điểm sau: Các chức năng của ngôn ngữ suy cho cùng là để làm trọn việc truyền giao thông tin và để kết liên lại những thành viên trong một cộng đồng nói năng, nhằm mục đích thông cảm, đoàn kết, hợp tác ; Mặc khác, sự đối lập giữa liên giao và tương tác là tương tự như các sự đối lập sau đây trong quan niệm của các tác giả khác:
+ Chức năng biểu diễn & chức năng biểu cảm: K Bühler [88];
+ Chức năng tham chiếu & chức năng tình cảm: Jakobson [111];
+ Chức năng ý niệm-tư tưởng & chức năng liên nhân: Halliday [107]
+ Chức năng mô tả & chức năng biểu hiện mang tính xã hội expression): J Lyons [117]
(social-1.2.2.2 Chức năng tác động
Theo Từ điển tiếng Việt [71]: “Tác động là làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định” Còn N Fairclough trong [97] cho rằng: “Ngôn ngữ là một dạng của hành động xã hội”
Trong chu trình truyền thông, "nguồn phát" phát ra một thông điệp, truyền qua một kênh giao tiếp nào đó để đạt một hiệu quả nhất định ở "bên nhận" Thông điệp được tạo ra không chỉ nhằm thông báo mà còn nhằm can thiệp Nếu "bên nhận" phản hồi trở lại nguồn phát, ta có truyền thông hai chiều, còn nếu không có phản hồi tức là truyền thông một chiều Dù là truyền thông hai chiều hay một chiều,
hễ có hiệu quả ở "bên nhận" tức là đã có tác động từ "nguồn phát" Trong giao tiếp, con người có thể sử dụng nhiều loại ký hiệu để mã hoá thông điệp, nhưng loại ký hiệu đa năng, đặc biệt nhất chính là ngôn ngữ Như vậy, khi hiệu quả giao tiếp được tạo ra từ nguồn vật liệu là ngôn ngữ cũng chính là lúc ngôn ngữ đang thực hiện chức năng tác động, một trong những chức năng tổng quát và quan trọng của ngôn ngữ V.N.Voloshinov trong [76] lập luận rằng: "Mỗi từ, như chúng ta đều biết, là
Trang 3027
một đấu trường nhỏ của sự giao thoa và đấu tranh của các trọng âm xã hội theo các hướng khác nhau Ngôn từ trên môi mỗi một cá nhân cụ thể đều là sản phẩm của sự tương tác sống động giữa các lực lượng xã hội Như thế, tâm lý và tư tưởng xâm nhập lẫn nhau một cách biện chứng trong quá trình giao tiếp xã hội khách quan và thống nhất"
Trong các quan niệm về chức năng của ngôn ngữ thuộc các trường phái từ cấu trúc luận đến chức năng, chức năng tác động có một vài cách diễn đạt khác nhau như chức năng hướng tới người nghe (Karl Bühler), chức năng kêu gọi (Roman Jakobson), chức năng liên nhân (M.A.K Halliday), chức năng tương tác (G Brown
& G Yule) Dù có các tên gọi khác nhau ở mỗi tác giả nhưng nhìn chung tác động
là một chức năng quan trọng của ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ mà chủ thể giao tiếp dùng để tạo ra những biến đổi nhất định trong nhận thức, thái độ, hành vi ở đối
tượng giao tiếp Chức năng tác động của ngôn ngữ là chức năng tạo ra những
biến đổi nhất định trong nhận thức, thái độ, hành vi của con người mà công cụ tạo ra những biến đổi ấy là ngôn ngữ
Diễn văn chính trị là một kiểu loại thông điệp nên người trình bày diễn văn/người nói muốn dùng diễn văn để làm cho đối tượng tiếp nhận/người nghe có những biến đổi nhất định theo ý đồ, mong muốn của người nói Tức là người nói muốn can thiệp để tạo nên những biến đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi ở người nghe Các chính khách muốn dùng diễn văn để tác động đến đối tượng tiếp nhận Đây là cách thức tác động hiệu quả vì nó tiêu hao chủ yếu là các nguồn lực vô hình Nguyễn Văn Khang [50] nhận định: "Do việc sử dụng ngôn ngữ ảnh hưởng đến hành động, tổ chức và hình thành nhận thức cá nhân, cho nên, cho dù từ góc độ chính phủ, dân tộc hay cá nhân, ngôn ngữ luôn là nguồn tài nguyên, ai khống chế được việc sử dụng ngôn ngữ thì cá nhân đó sẽ thuận lợi trên vũ đài chính trị"
Luận án này nghiên cứu các bài diễn văn chính trị ở dạng văn bản viết nên không thể đo, đếm tác động của diễn văn đến nhận thức, thái độ và hành vi của người nghe Hướng đi của luận án là nghiên cứu các phương tiện thực hiện chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt
Trang 3128
1.2.3 Một số lý thuyết áp dụng nghiên cứu chức năng tác động của diễn văn chính trị tiếng Việt
1.2.3.1 Lý thuyết phân tích diễn ngôn
Các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành định nghĩa khái niệm diễn ngôn theo nhiều cách khác nhau như đã trình bày ở mục 1.2.1 Các định nghĩa này đều tập trung vào các khía cạnh chuỗi nhiều câu liên tục và chức năng giao tiếp của ngôn ngữ của văn
bản Trên cơ sở đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các hướng dẫn cho công tác phân
tích diễn ngôn (PTDN) Những đặc điểm chung nhất của phân tích diễn ngôn, theo Nunan [119], Brown & Yule [84], Paltridge [123] là:
- PTDN là miêu tả các cơ chế cấu trúc mà người viết/người nói xử lý khi phát ngôn; tập trung vào kiến thức về ngôn ngữ vượt ra khỏi phạm vi từ, ngữ, cú và câu cần thiết cho cuộc giao tiếp thành công
- PTDN là làm rõ những gì thấy được trong các văn bản, hiểu được những gì nguồn phát cung cấp, nhận biết được những chuỗi câu liên kết và mạch lạc, cũng như
có thể tham gia vào các cuộc hội thoại một cách thành công
- PTDN là phân tích chức năng ngôn ngữ và cách nó chi phối các quan niệm
và nhận thức, cách nó phân phối quyền lực cho những người có ít quyền hơn
- PTDN là nghiên cứu những biểu thức ngôn ngữ và quan tâm đến mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh văn hoá - xã hội; là tìm hiểu cách mà ngôn ngữ thể hiện những cách nhìn và cách hiểu khác nhau về thế giới PTDN còn xem xét phương thức mà ngôn ngữ bị chi phối bởi mối quan hệ giữa các thành viên cũng như xem xét tác động của việc sử dụng ngôn ngữ lên các mối quan hệ xã hội
1.2.3.2 Lý thuyết phân tích diễn ngôn phê phán
Chủ nghĩa cấu trúc luận với đối tượng nghiên cứu là hệ thống ngôn ngữ và tri năng (competence) đã bộc lộ hạn chế là ít quan tâm đến ngôn ngữ trong trạng thái sử dụng đã dần được thay thế bằng xu hướng chức năng luận với các trường phái lý thuyết chủ yếu là phân tích diễn ngôn, dụng học, ngữ nghĩa học, ngôn ngữ học chức năng và phân tích diễn ngôn phê phán Nguyễn Hoà [38] cho rằng sự chuyển mình này là tất yếu và đang trở thành trào lưu nổi trội hiện nay, nhưng
Trang 32Nhiều học giả đã định nghĩa hoặc lý giải ý nghĩa cơ bản của CDA, nhưng đúc kết lại các định nghĩa hay giải thích đều nhắm đến những giá trị chính của
đường hướng này như nghiên cứu có phê phán, phân tích diễn ngôn có thái độ, xem
xét vai trò của diễn ngôn trong việc tạo ra và tái tạo quyền lực Có thể hiểu CDA
một cách cơ bản nhất thông qua ý kiến của Fairclough [96]:
“Phân tích diễn ngôn phê phán, theo tôi, là phân tích diễn ngôn nhằm mục
đích khám phá có hệ thống các mối quan hệ không rõ ràng của tính nguyên nhân và quy định giữa thực tế suy diễn, sự kiện và văn bản với các cấu trúc xã hội và văn hoá, các mối liên hệ và quá trình rộng hơn; nhằm xem xét các thực tiễn, sự kiện và văn bản như thế được phát sinh hay định hình bởi các mối quan hệ về quyền lực và đấu tranh để đạt được quyền lực như thế nào; và nhằm khám phá bằng cách nào
mà tính không rõ ràng của các mối quan hệ giữa diễn ngôn và xã hội lại là một yếu
tố đảm bảo cho việc tranh giành quyền lực và quyền bá chủ.”
Nguyễn Hoà [42] cho rằng ngay từ khi mới xuất hiện, CDA đã đặt trọng tâm vào việc phân tích quan hệ quyền lực “được thể hiện, tái tạo hay bị phản kháng qua văn bản và hội thoại trong hoàn cảnh xã hội và chính trị” Cơ sở lý thuyết chính của CDA là chủ nghĩa hậu cấu trúc luận, lý luận xã hội học của Bourdier và lý luận văn
Trang 3330
hoá Marxist Diễn văn chính trị là sự kiện chính trị, nó phản ánh thực tiễn đời sống
chính trị của một đảng phái, một quốc gia mà nó thuộc về
Phân tích diễn ngôn phê phán có nguồn gốc và mối quan hệ với khoa học phê phán hay Ngôn ngữ học phê phán (Critical Linguistics), mà theo trường phái Frankkfurt hay Habernas, “phê phán” chính là làm rõ tính quan hệ của sự vật hiện tượng Các nhà ngôn ngữ học thuộc đường hướng CDA chịu nhiều ảnh hưởng bởi
lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, nên các xu hướng chủ yếu của CDA từ đó trở về sau đều dựa trên 3 siêu chức năng của ngôn ngữ là chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng tạo văn bản Vì ngữ pháp chức năng của Halliday coi trọng mặt nghĩa của câu, nên việc đặt nền tảng của CDA trên
lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống chính là quan tâm đến việc hiểu nghĩa trong văn bản như là sự thể hiện các quá trình xã hội Các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng CDA nhìn nhận ngôn ngữ như một tập quán và thực tiễn xã hội; trong đó coi trọng hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ, và vì thế quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quyền lực, cũng như coi diễn ngôn không chỉ là quá trình tương tác, mà còn
là một thực tiễn xã hội và sự phản ánh các tập quán này
Tám nguyên lý quan trọng (tenets) của CDA đã được Fairclough và Wodak [98] khái quát như sau:
CDA phản ánh các vấn đề xã hội
Quan hệ quyền lực là suy diễn được (discursive)
Diễn ngôn cấu thành xã hội và văn hoá
Diễn ngôn mang tính tư tưởng
Diễn ngôn mang tính lịch sử
Mối quan hệ giữa văn bản và xã hội là mối quan hệ qua trung gian
Phân tích diễn ngôn phải có khả năng hiểu và tường giải
Diễn ngôn là một dạng của hành động xã hội
Để làm rõ các cấu trúc ngôn ngữ thể hiện quyền lực trong các văn bản, chính Fowler và các cộng sự [100] đã tìm ra cơ sở cho việc sử dụng lý thuyết chức năng
hệ thống của Halliday Chouliariki và Fairclough [92] cho rằng có thể dùng CDA để
Trang 3431
phát hiện bản chất ngôn ngữ thông qua sự thay đổi văn hoá và xã hội Trong khi đó, van Dijk đặc biệt quan tâm đến diễn ngôn của các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo chí Ông là một trong hai nhà khoa học đã tạo ra các mô hình nhận thức để giải thích quá trình kiến tạo nghĩa ở cấp độ xã hội
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ngôn ngữ học phê phán hay CDA đã xác định được đối tượng, mục tiêu nghiên cứu và hình thành các phương pháp phân tích liên ngành Đến lúc này, Wodak [135] cho rằng các nhà ngôn ngữ học đã dần
có cái nhìn thống nhất về các khái niệm cơ bản của CDA như quyền lực, tư tưởng
và lịch sử Wodak còn giải thích rằng, dựa trên các nguyên tắc của ngữ pháp chức năng, lý luận ngôn ngữ xã hội học, lí luận phê bình văn học và triết học, CDA tất yếu mang tính liên ngành
Fairclough và Wodak [98] chỉ ra một số nguyên tắc của CDA dùng làm căn
cứ cho các nghiên cứu về lĩnh vực này như sau:
+ Những vấn đề chính trị - xã hội được kiến tạo và phản ánh trong diễn ngôn CDA và khảo sát phương thức những vấn đề này được kiến tạo cũng như được phản ánh trong cách chọn ngôn ngữ
+ Mối quan hệ về quyền lực được đàm phán và thực hiện qua diễn ngôn Tiếp cận CDA chính là tìm hiểu xem chủ nhân kiểm soát các giao dịch hội thoại là ai, ai có quyền phân phối lượt lời của những người khác và họ thực hiện điều đó bằng cách nào
+ Diễn ngôn vừa phản ánh vừa tái tạo quan hệ xã hội
Điều này có nghĩa là các mối quan hệ xã hội vừa được thiết lập và gìn giữ thông qua cách dùng diễn ngôn Paltridge [123] dẫn các kết quả nghiên cứu của Stokoe (2003) và Page (2003) về phương tiện thông tin đại chúng và về cách sử dụng diễn ngôn của bà Cherry Blair - vợ Thủ tướng Anh Tony Blair để minh chứng cho vấn đề này
+ Hệ tư tưởng được tạo ra và phản ánh trong cách dùng diễn ngôn
Bao gồm các phương thức mô tả và kiến tạo xã hội như là quan hệ quyền lực, quan hệ dựa trên giới tính, giai cấp hoặc sắc tộc
Trang 3532
Phương pháp luận về CDA đã phát triển đáng kể, với nhiều trường phái kể từ khi ra đời đến nay Đầu tiên, khởi phát từ sự đối lập của hệ cấu trúc luận và hệ chức năng luận và các biến thể của chúng mà ra đời những hướng nghiên cứu và phân tích ngôn ngữ đối lập nhau, dẫn đến sự bỏ qua không xem xét mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và xã hội Không ít nhà nghiên cứu đã lưu ý đến tương tác xã hội và tìm hiểu các hành động xã hội Điều này khởi nguồn cho những nghiên cứu sau đó khi các học giả như Chouliaraki và Fairclough xác định diễn ngôn như là một tập quán xã hội Từ đó, CDA được coi như là một đường hướng liên ngành cả trong phương pháp và trong khung lý luận, vì CDA áp dụng nhiều lí thuyết của các ngành khác nhau như ngôn ngữ học, triết học, tâm lí học, xã hội học… Chính trong nội bộ đường hướng CDA đã bao hàm nhiều phạm trù khác nhau của ngôn ngữ học như ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, nghiên cứu liên văn bản… Nguyễn Hoà [42] đã tổng hợp các đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán chính của các tác giả có đóng góp lớn về phương pháp luận như sau:
- Jager U M với đường hướng CDA Duisburg;
- Van Dijk, T.A với đường hướng CDA nhận thức - xã hội;
- Wodak R với đường hướng CDA theo quan điểm lịch sử;
- Scollon, R với đường hướng CDA xã hội học vi mô; và
- Fairclough, N đại diện cho trường phái CDA theo quan điểm chức năng - hệ thống Trong hệ thống lý luận làm cơ sở cho việc phân tích diễn văn chính trị của luận án này, chúng tôi chọn đường hướng CDA theo mô hình của Fairclough Fairclough quan niệm rằng CDA cần làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các hệ thống kí hiệu (mà ngôn ngữ là một ví dụ) với các thành tố này của thực tiễn xã hội Các mặt kí hiệu này của thực tiễn xã hội tạo ra các thể loại văn phong khác nhau
Từ những quan niệm này, đường hướng CDA của Fairclough chủ yếu sử dụng khung lí thuyết của ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday Trong quy trình PTDNPP của đường hướng này, nhiều nhà nghiên cứu cùng quan điểm cho rằng trước hết cần (1) xác định các vấn đề quyền lực/ xã hội; (2) tìm hiểu hoàn cảnh của
Trang 3633
vấn đề và (3) phân tích diễn ngôn theo ba bước (đề nghị của Fairclough) bao gồm
miêu tả, hiểu, giải thích; và cuối cùng là (4) đánh giá công việc PTDNPP
1.2.3.3 Lý thuyết về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
a Khái niệm
Xưng hô là tất cả các hình thức, các phương tiện ngôn ngữ dùng để quy chiếu vào người nói và người nghe trong giao tiếp Theo Từ điển tiếng Việt [71] xưng hô là “Tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau” Định nghĩa xưng hô này đã chỉ ra hành động nói một cách khái quát Để hiểu rõ hơn, có thể xác định “xưng hô” như sau: Trong giao tiếp, “xưng” là hành động của người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng người nói đang nói và chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói ở ngôi thứ nhất “Hô” là hành động của người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói Như vậy, đặc điểm của xưng hô là tất yếu phải có sự tham gia của người nói và người nghe
Xưng hô là hoạt động diễn ra liên tục, thường xuyên trong khi giao tiếp có từ hai người trở lên Một người thường thực hiện cả hai hành động: xưng - tự quy chiếu đến mình, hô - quy chiếu đến người cùng giao tiếp Khi người nói lựa chọn từ ngữ để quy chiếu tức là xác lập khung quan hệ giữa mình và người cùng giao tiếp Các từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau như: gia đình, hàng xóm, nhà trường, công sở,
Trong tương tác, xưng hô được dùng để chỉ thị người nói và người nghe trong vai của người phát và người nhận xét trong quan hệ của hoạt động hoặc người hay vật được nói tới Trong cách phân định có tính chất truyền thống của ngữ pháp học, các nhân vật (chỉ chung cả người cùng sự vật) tham gia hoạt động này được
chia thành 3 ngôi (số đơn và số nhiều): người nói – ngôi thứ nhất, người nghe –
ngôi thứ hai, người hay vật được nói tới – ngôi thứ ba
Xưng hô được ý thức như là một hành vi ngôn ngữ rất phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao
Trang 3734
tiếp và tương quan, tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Đồng thời xưng hô cũng thể hiện khả năng ứng xử, văn hoá giao tiếp và trình độ tri thức của những người tham gia giao tiếp Nó gắn liền với các nhân tố khi giao tiếp là: người nói, người nghe, đối tượng được nói đến, hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp Trong đời sống, xưng hô với giao tiếp xã hội liên hệ với nhau như
là cái điều kiện và cái tiền đề Sự im lặng hay thiếu vắng lời xưng gọi, thay đổi cách xưng gọi so với cách xưng hô thường ngày cũng đều có một giá trị xã hội –
ngôn ngữ học nhất định
Theo Đỗ Hữu Châu [13], xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên nhân Việc lựa chọn sử dụng từ xưng hô ở một ngôi nào đó chính là việc thiết lập quan hệ liên nhân mà người nói muốn đạt được nhằm thực hiện mục đích giao tiếp Cũng theo GS Đinh Văn Đức, xưng hô là hành vi ngôn ngữ quan yếu nhưng nó lại phụ thuộc vào từng lối suy nghĩ và văn hoá bản ngữ Người Việt Nam khi xưng hô không đơn thuần dùng ngôi ngữ pháp mà còn phân loại đối tượng giao tiếp và nhận diện đối tác qua các cặp đối lập lựa chọn
Trong tiếng Việt, từ xưng hô rất phong phú và phức tạp So với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc… số lượng từ xưng hô của tiếng Việt đa dạng hơn nhưng đồng thời cũng tinh tế hơn rất nhiều Các từ xưng hô chỉ có nghĩa sở chỉ, không có nghĩa sở biểu Xưng hô không phải là yếu tố cố định, bất biến mà có sự thay đổi theo lịch sử, theo diễn biến của cuộc giao tiếp Để định vị nó trong cuộc thoại, nhất thiết phải xem xét nó trong một tình huống phát ngôn cụ thể Khi giao tiếp, để “xưng”, người Việt sử dụng nhiều phương tiện như: đại từ xưng hô (VD:
tôi, chúng tôi ), tên riêng, danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ chức danh,
danh ngữ xác định Tương đương như vậy, để “hô/gọi”, tiếng Việt có đại từ xưng
hô (mày, chúng mày ), tên riêng, danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ chỉ chức
danh, danh ngữ xác định
Tóm lại, từ xưng hô là những từ được dùng để chỉ ra hay quy chiếu đến người hoặc vật tham gia vào quá trình giao tiếp Cách thức mà người ta xưng hô với
Trang 38hô bằng họ và tên ở trên thì phổ biến nhất trong giao tiếp tiếng Việt là xưng hô bằng tên, được sử dụng hầu hết trong các mối quan hệ bạn bè hoặc vị thế ngang bằng
trong vai giao tiếp
b2 Dùng đại từ nhân xƣng
Đại từ nhân xưng là những từ dùng để chỉ hay thay thế cho một danh từ chỉ người hay vật khi ta không muốn đề cập trực tiếp hoặc nhắc lại Đại từ nhân xưng thể hiện tính tôn ti một cách chặt chẽ và phản ánh các quan hệ một cách chi tiết Trong tiếng Việt, đại từ nhân xưng được phân thành 3 loại (theo các ngôi giao tiếp
và mỗi loại lại chia ra số ít – số nhiều)
b3 Dùng các danh từ thân tộc để xƣng hô
Số lượng từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt có số lượng tương đối lớn
và được xem là nhóm từ đặc sắc về ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng Nghĩa của danh từ chỉ quan hệ thân tộc không chỉ chủng loại như các tiểu nhóm danh từ sự vật
và chỉ quan hệ giữa các đối tượng tham gia giao tiếp Sự phối hợp giữa xưng và hô
trong giao tiếp tiếng Việt là hết sức quan trọng Có thể chia các từ xưng hô bằng từ
thân tộc ra làm 2 loại: xưng hô tương ứng chính xác và xưng hô tương ứng không
chính xác Điều này cho thấy, việc xưng – hô tương ứng không chính xác thường
bao chứa một thái độ gắn với chiến lược giao tiếp
Việc sử dụng từ chỉ quan hệ thân tộc làm từ xưng hô trong gia đình và cả ngoài xã hội đã trở nên phổ biến đối với người Việt Nam Bằng trực giác của người bản địa, bất cứ người Việt nào cũng có thể dễ dàng thấy rằng, trong xưng hô, chúng
Trang 39hạn từ “chị” nếu được dùng để xưng, tức là để trỏ bản thân chủ thể giao tiếp,
ngoài việc quy chiếu chủ thể giao tiếp, người phát ra hành vi tự xưng, nó còn chỉ
ra vai của chủ thể đó là vai bề trên cùng thế hệ của đối tượng giao tiếp, là nữ giới Tất cả những yếu tố như giới tính, nam hay nữ, vai trên hay dưới, quan hệ giữa các đối tượng giao tiếp như thế nào được hàm chứa trong từ xưng hô tạo nên
dụng nhiều ở ba sắc thái biểu cảm là: lịch sự (khi các nhân vật giao tiếp “làm quen” với nhau…), trung hoà, vừa phải hay thân mật, suồng sã (khi mối quan hệ đã thân thiết) Những từ này không chỉ được sử dụng trong gia đình, họ hàng mà còn được
sử dụng rộng rãi và chiếm ưu thế trong các mối quan hệ xã hội
b4 Dùng danh từ chỉ chức vụ để xƣng hô
Việc xưng hô bằng danh từ chỉ chức vụ (chức danh) phần lớn được sử dụng trong môi trường giao tiếp công sở, công cộng Nó bao gồm các tiểu loại: gọi bằng một trong các chức danh hoặc gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh Lớp từ này
có thể đứng độc lập để xưng hô mà không cần yếu tố đi kèm Điều đặc biệt là lớp từ chỉ chức danh trong bối cảnh xã hội Việt Nam thường chỉ dùng ở một phía, khi
người ở chức vụ thấp dùng để gọi người có chức vụ cao hơn mình
b5 Dùng tên gọi địa danh, tổ chức, nhóm lâm thời để xƣng hô
Trong thực tế giao tiếp, không hiếm khi bắt gặp việc dùng tên của địa danh,
cơ quan, tổ chức, các nhóm lâm thời để xưng hô Hiện tượng này được GS Đinh Văn Đức gọi là ngôi hoá các danh từ Ví dụ:
Trang 4037
“Việt Nam ủng hộ và cam kết sẽ tập trung mọi nguồn lực cần thiết, huy động tất
cả các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cộng đồng và người dân để thực hiện thành công Chương trình nghị sự 2030 và tất cả các Mục tiêu phát triển bền vững” (Phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hội nghị thượng đỉnh LHQ 2015)
b6 Xƣng hô bằng sự vắng mặt của từ xƣng hô (nói trống không)
Xưng hô bằng sự thiếu vắng từ xưng hô tức là không xuất hiện từ xưng hô
trong giao tiếp hay cong gọi là hiện tượng nói trống không Tuy nhiên, trong sử
dụng kiểu xưng hô này cần chú ý vai giao tiếp của người cùng đối thoại bởi nếu sử dụng cách xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô với những người có vai giao tiếp lớn hơn sẽ bị cho là thiếu lễ phép, nói “hỗn” với người lớn hơn mình
Hầu hết các kiểu xưng hô trong tiếng Việt còn được sử dụng dựa trên cơ sở
sự phân bố theo thang độ quyền lực, thân hữu, lịch sự… ở cả trong xưng lẫn hô/gọi Thông qua cách sử dụng các từ xưng hô có thể thấy được thái độ, quan điểm của các đối tượng tham gia giao tiếp Người Việt Nam luôn có xu hướng quan tâm đến tuổi của khách thể giao tiếp (trong trường hợp mới làm quen, tiếp xúc lần đầu) để
có thể chủ động dần điều chỉnh cách xưng hô cho phù hợp với vai (tuổi hoặc vị thế) trong quá trình giao tiếp
Những mối quan hệ ràng buộc của nguồn phát và bên nhận là yếu tố chi phối việc lựa chọn cách dùng từ xưng hô Khi bắt đầu giao tiếp nói chung và phát biểu nói riêng là lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp với vai giao tiếp, sau đó mới sắp xếp nội dung giao tiếp Do vậy, từ xưng hô là yếu tố quan trọng đầu tiên để xác lập cuộc giao tiếp và tiến hành những hành động ngôn ngữ để thực hiện mục đích giao tiếp
1.2.3.4 Lý thuyết lập luận
a Khái niệm và vai trò của lập luận
Ngữ dụng học của ngôn ngữ học hiện đại chỉ ra rằng: lập luận có mặt khắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, đặc biệt trong các diễn ngôn đời thường Không phải chỉ khi nào cần tranh luận với nhau chúng ta mới dùng lập luận Khi chúng ta
kể lại một sự việc, miêu tả một hiện thực, chúng ta cũng thực hiện một hành vi lập luận Lập luận là một hành vi ở lời có tính thuyết phục Việc định nghĩa một cách