1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại quần thể danh thắng hương sơn, huyện mỹ đức, thành phố hà nội

116 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những tài liệu có giá trị trên toàn thế giới về đánh giá tính bền vững là: Sách hướng dẫn của UNWTO về các chỉ tiêu về PTBV cho các điểm đến du lịch2004 được thiết kế để giúp x

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

LÊ THANH XUÂN

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

TẠI QUẦN THỂ DANH THẮNG HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

LÊ THANH XUÂN

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

TẠI QUẦN THỂ DANH THẮNG HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG

Mã số: chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Việt Dũng

Hà Nội - 2017

Trang 3

- 1 -

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Trương Việt Dũng, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy định

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Lê Thanh Xuân

Trang 4

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và gia đình

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Trương Việt Dũng người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các cán bộ đang công tác tại Ban Quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn, Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh dịch vụ tại quẩn thể di tích và danh thắng Hương Sơn đã hỗ trợ tác giả trong quá trình khảo sát, nghiên cứu tại chùa Hương, cung cấp tài liệu, thông tin để tác giả khai thác, sử dụng trong quá trình viết luận văn

Bên cạnh đó, tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy lớp Khoa học bền vững - Khóa 2, các thầy cô giáo trong Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập cũng như khi thực hiện luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Lớp Khoa học bền vững – Khóa 2,

đã chia sẻ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Vì điều kiện thời gian và năng lực cá nhân còn có những hạn chế nhất định, vì vậy luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Tác giả

Lê Thanh Xuân

Trang 5

- 3 -

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 1

DANH MỤC BẢNG 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Định nghĩa và khái quát về PTBV 5

1.1.2 Tính bền vững và đánh giá tính bền vững 8

1.1.3 Du lịch và du lịch bền vững 11

1.1.4 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch 15

1.1.5 Hệ thống khái niệm của đề tài 18

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 19

1.2.1 Khái quát về chùa Hương 19

1.2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên xã Hương Sơn 20

1.2.3 Đặc điểm KT-XH 22

1.3 Tổng quan tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu 22

1.3.1 Các tài liệu về đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch 22

1.3.2 Các tài liệu liên quan đến du lịch tại Việt Nam và chùa Hương 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 27

2.3.2 Cách tiếp cận 27

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương 30

2.4.1 Cơ sở khoa học 30

2.4.2 Nội dung tiêu chí 31

Chương 3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CHÙA HƯƠNG 36

3.1 Khái quát tài nguyên du lịch tại chùa Hương 36

3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 36

3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 36

3.1.3 Lễ hội chùa Hương 37

3.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại chùa Hương 38

3.2.1 Tăng trưởng du lịch tại chùa Hương 38

Trang 6

- 4 -

3.2.2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ du lịch 44

3.3 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương 48

3.3.1 Tính bền vững về kinh tế 48

3.3.2 Tính bền vững của văn hóa - xã hội 56

3.3.3 Tính bền vững của môi trường 67

3.3.4 Đánh giá sức chứa du lịch (ngưỡng chịu tải) của chùa Hương 79

3.3.5 Phân tích S.W.OT 81

3.4 Tiểu kết 84

3.4.1 Những vấn đề về kinh tế 84

3.4.2 Những vấn đề về văn hóa - xã hội 85

3.4.3 Những vấn đề về môi trường tự nhiên 86

Chương 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH BỀN VỮNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CHÙA HƯƠNG 88

4.1 Giải pháp đảm bảo tính bền vững về kinh tế 88

4.1.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 88

4.1.2 Nhóm giải pháp về đầu tư phát triển du lịch 88

4.1.3 Đa dạng các sản phẩm du lịch 90

4.1.4 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về du lịch 91

4.1.5 Giải pháp về quy hoạch 92

4.1.6 Nhóm giải pháp về quảng bá, xúc tiến liên kết phát triển du lịch 92

4.2 Giải pháp đảm bảo tính bền vững về văn hóa - xã hội 94

4.2.1 Đảm bảo sự công bằng trong khai thác tài nguyên phát triển du lịch 94

4.2.2 Hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tham gia hoạt động du lịch 95

4.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý 95

4.2.4 Giải pháp đảm bảo an ninh an toàn cho du khách 95

4.3 Đề xuất giải pháp đảm bảo tính bền vững của môi trường tự nhiên 96

4.3.1 Nâng cao năng lực của hoạt động thu gom xử lý chất thải 96

4.3.2 Giải pháp nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng 98

4.3.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường 99

4.4 Tiểu kết 100

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

- 5 -

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 8

1

DANH MỤC HÌNH

Hình 3 1 Số lượng khách đến chùa Hương 2012 - 2016 38

Hình 3 2 Tỷ lệ tăng trưởng du lịch giai đoạn 2012 - 2016 39

Hình 3 3 So sánh lượng khách đến chùa Hương cả năm và các tháng lễ hội 40

Hình 3 4 Thời gian lưu trú của du khách tại chùa Hương 40

Hình 3 5 Tổng thu từ du lịch dịch vụ tại địa phương 2012 -2016 41

Hình 3 6 Tỷ trọng du lịch dịch vụ trong cơ cấu kinh tế tại địa phương 42

Hình 3 7 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn và hình thức hoạt động 44

Hình 3 8 Nhà hàng phục vụ ăn uống 47

Hình 3 9 Tỷ lệ khách đến chùa Hương trong mùa cao điểm và thấp điểm 49

Hình 3 10 So sánh chi tiêu bình quân trong một ngày của du khách 50

Hình 3 11 So sánh giá Tour của chùa Hương và Tràng An - Bái Đính, Yên Tử 51

Hình 3 12 Thu nhập bình quân đầu người tại xã Hương Sơn 57

Hình 3 13 Phỏng vấn nhà sư và du khách 61

Hình 3 14 Dự kiến của du khách về việc quay lại chùa Hương 62

Hình 3 15 Cảm nhận của du khách về chùa Hương so với lần trước 63

Hình 3 16 Diễn biến tình hình an ninh trật tự 66

Hình 3 17 Bể chứa nước mưa sinh hoạt khu vực Thiên Trù 69

Hình 3 18 Nhà máy xử lý rác thải Mả Mê 73

Hình 3 19 Lò đốt rác và bãi chứa rác động Hương Tích 74

Hình 3 20 Thiết bị thu gom rác tại chùa Hương 74

Hình 3 21 Kinh phí cho công tác vệ sinh môi trường giai đoạn 2012 - 2016 76

Hình 3 22 Biển thông tin tuyên truyền và chỉ dẫn môi trường 78

Trang 9

2

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Mục tiêu của du lịch bền vững 13

Bảng 1 2 Các giai đoạn của việc đánh giá tính bền vững du lịch 17

Bảng 2 1 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương 32 Bảng 3 1 Lượng khách đến chùa Hương hàng năm và trong mùa lễ hội 39

Bảng 3 2 Tương quan giữa hoạt động và kinh tế của địa phương 41

Bảng 3 3 Mức chi tiêu của du khách tại chùa Hương 43

Bảng 3 4 Mức giá Tour chùa Hương của một số công ty du lịch 43

Bảng 3 5 Mức độ hài lòng của du khách 61

Bảng 3 6 Kết quả phân tích mẫu đất tại chùa Hương 67

Bảng 3 7 Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại chùa Hương 68

Bảng 3 8 Số lượng khách đến với chùa Hương trong giai đoạn 2012 - 2016 79

Trang 10

3

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Quần thể di tích và thắng cảnh Hương Sơn (sau đây được viết là chùa Hương),

là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hoá, tín ngưỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung, trong mùa lễ hội xuân hằng năm, chùa Hương đã trở thành một địa chỉ quen thuộc đối với nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi mùa lễ hội

Chùa Hương chỉ cách Hà Nội 60 km về phía Tây Nam nhưng lại hội đủ loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động Lễ hội chùa Hương được bắt đầu từ Tết Nguyên đán, kéo dài trong 3 tháng, thu hút phần lớn khách du lịch đến với chùa Hương trong cả năm Với những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đặc sắc, giao thông thuận tiện, chùa Hương là một điểm đến thu hút nhiều khách du lịch, tham quan trong và ngoài nước Điều này khiến cho du lịch tại đây phát triển mạnh, đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Đồng thời, nguồn thu từ du lịch cũng đã được đầu tư cho công tác bảo tồn, tôn tạo di tích nói chung, trong đó có công tác bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, do lễ hội mang tính mùa vụ, du khách đến với chùa Hương tập trung trong 3 tháng đầu năm, điều này dẫn đến áp lực rất lớn đối với môi trường tự nhiên Đồng thời, trong mùa lễ hội cũng phát sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực từ phía du khách, cộng đồng địa phương tham gia kinh doanh phục vụ hoạt động du lịch, làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường văn hóa - xã hội tại chùa Hương Những vấn đề trên đã và đang làm giảm đi sức hút đối với khách du lịch của chùa Hương, ảnh hưởng đến tính bền vững trong hoạt động phát triển du lịch những năm gần đây và trong những năm tới nếu không có những giải pháp kịp thời, hiệu quả

Hương trong những năm tới đây là phải tăng cường hơn nữa tính bền vững trong phát triển du lịch nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển du lịch, bảo vệ môi trường, bảo

vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong những năm tới đây

của hoạt động du lịch tại quần thể danh thắng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố

Hà Nội để làm luận văn tốt nghiệp

Trang 11

4

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương; Đánh giá được thực trạng tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương; Đề xuất được các giải pháp đảm bảo tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương

Câu hỏi nghiên cứu

Tính bền vững trong hoạt động du lịch tại chùa Hương bao gồm những yếu tố nào, để đánh giá được tính bền vững hệ thống tiêu chí cần thỏa mãn được các yêu cầu gì? Phát triển du lịch tại chùa Hương những năm qua có tác động như thế nào đến môi trường tự nhiên và văn hóa - xã hội tại địa phương?

Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động du lịch tại chùa Hương ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và văn hóa - xã hội, khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn còn chưa hợp lý

Giả thiết nghiên cứu

Số lượng mẫu phiếu điều tra có thể đại diện cho lượng khách du lịch đến với chùa Hương; Các số liệu từ địa phương cung cấp cho tác giả có tính xác thực

Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Đánh giá hiện trạng và tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương

Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 12

Báo cáo có tựa đề “Tương lai của chúng ta”của Ủy ban Quốc tế về Môi trường

và Phát triển (WCED), một tổ chức của Liên Hợp Quốc, được công bố năm 1987 đã

định nghĩa: "PTBV là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng (tổn thương) đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của chính họ" Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio - 92 (Hội

nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc) và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg - 2002 (Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững):

“PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Tại Việt Nam, PTBV được định nghĩa là: "Phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến

bộ xã hội và bảo vệ môi trường" (Luật bảo vệ môi trường, 2014)

1.1.1.2 Khái quát về PTBV

a) Trên thế giới

Trong những năm trước đây, cụ thể là từ cuối thế kỷ XIX đến tận cuối thế kỷ thứ XX, phát triển truyền thống vẫn được coi là xu thế chủ đạo của kinh tế thế giới, với đặc trưng cơ bản là phát triển chú trọng đến yếu tố tăng trưởng kinh tế, mà không chú trọng nhiều đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Trong điều kiện của thế giới khi đó vốn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn nhiều, phong phú, nhu cầu về của cải vật chất và hàng hóa là rất lớn Đồng thời, những tiềm ẩn nguy cơ về môi trường chưa

rõ ràng, con người chưa nhận thức được đầy đủ những tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường, biến đổi khi hậu mang lại Mặt khác, với hoàn cảnh lịch sử trong thời kỳ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các cường quốc trên thế giới muốn thể hiện sức mạnh quốc gia thường gắn liền sức mạnh về kinh tế bên cạnh tiềm lực về quốc phòng Chính vì vậy, phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu, mô hình phát triển truyền thống đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới xem trọng Trong một thời

Trang 13

6

gian dài theo mô hình phát triển truyền thống, thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về khoa học, kỹ thuật, kinh tế…Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng khiến cho thế giới phải đối mặt với những hệ lụy tiêu cực về môi trường, cụ thể là: Tiêu tốn nhiều năng lượng, nhiên liệu, tài nguyên thiên nhiên, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; gia tăng phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu, sự phân hóa về tầng lớp trong xã hội ngày càng sâu, rộng…

Trước thực trạng trên, một số tổ chức và cá nhân trên thế giới đã những hành đồng nhằm thay đổi bản chất của sự phát triển trên thế giới, từ phát triển truyền thống sang PTBV Một trong những tổ chức sử dụng thuật ngữ ”bền vững” đầu tiên theo nghĩa hiện đại là Câu lạc bộ Roma, một tổ chức phi chính phủ, đã viết trong báo cáo về:

Giới hạn tăng trưởng (1972),”Chúng tôi đang tìm kiếm một mô hình đầu ra đại diện

cho cho một hệ thống thế giới bền vững mà không bị sụp đổ đột ngột, không kiểm soát

được và có khả năng đáp ứng các nguyên liệu cơ bản của tất cả mọi người” Cũng trong báo cáo này các tác giả cũng dự đoán rằng: “việc tăng trưởng kinh tế không thể tiếp tục vô thời hạn vì nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, đặc biệt là Dầu”

Sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành và thúc đẩy sự PTBV của thế giới đó là việc Liên Hợp Quốc thành lập Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED) hay còn được biết tới với tên Ủy ban Brundtland vào năm 1984 Hoạt động của Ủy ban có tính ảnh hưởng tới toàn thế giới là việc công bố báo cáo có

tựa đề “Tương lai của chúng ta” Chính trong báo cáo này, thuật ngữ PTBV đã được định nghĩa và thừa nhận rộng rãi

Trong khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của nhân loại, trước những thực tế tác động tiêu cực của phát triển kinh tế dựa trên nền tảng khai thác tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống và dẫn đến biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu Thế giới đã nhận thức được đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của sự PTBV đối với loài người, PTBV là một xu thế tất yếu và là lựa chọn duy nhất của con người trong hiện tại và tương lai nếu muốn tiếp tục duy trì sự sống trên hành tinh Trong quãng thời gian chưa đầy nửa thế kỷ, thế giới đã đạt được thành tựu

to lớn, quan trọng nhất là sự thống nhất về quan điểm nhận thức về PTBV, đó là tiền

đề cơ bản cho kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia và những hành động chung của toàn thế giới

Trang 14

7

b) Tại Việt Nam

Nhận thức tầm quan trọng của sự PTBV, Việt Nam đã sớm đề ra một chiến lược cho PTBV nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai cho thế hệ sau Đồng thời có sự tham gia tích cực trong các hoạt động PTBV của thế giới và có những bước đi cụ thể, quyết liệt và hiệu quả cho sự PTBV của Việt Nam

Ngay từ năm 1991, khái niệm PTBV còn mới được phổ biến trên phạm vi thế giới, đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam còn có rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với thế giới do lệnh cấm vận tồn tại từ sau chiến tranh Việt Nam và hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Âu bị sụp đổ Việt Nam đã lần đầu tiên chính thức đề cập tới chủ chương PTBV thông qua việc ban hành Bản kế hoạch chiến lược quốc gia về môi trường và PTBV giai đoạn 1991 - 2000 (1991) Kế hoạch có mục đích tạo nên khuôn khổ hành động cho việc quy hoạch và quản lý môi trường ở cấp quốc gia, địa phương, và ngành, từ đó xác định các các hoạt động cụ thể

về bảo vệ môi trường và PTBV trong giai đoạn 1991-2000 Hai mục tiêu lớn của Kế hoạch là: thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về cuộc sống vật chất, tinh thần và văn hóa của các thế hệ người Việt Nam hiện tại và tương lai; xây dựng và thực hiện chính sách,

kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức đảm bảo PTBV Về nội dung cụ thể Kế hoạch

có 3 phần lớn: khuôn khổ về thể chế, luật pháp và chính sách; chương trình hành động

và chương trình hỗ trợ

Trong những năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục ban hành những văn bản chỉ đạo, hoàn thiện thể chế về bảo vệ môi trường và PTBV Đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất năm 1992 và kí kết Chương trình nghị sự 21 Điều

đó cho thấy Việt Nam đã xác nhận và cam kết với thế giới về PTBV, tiến hành các hoạt động cụ thể để tổng hòa những nhu cầu về kinh tế, xã hội và môi trường quốc gia Chiến lược phát triển KT-XH 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với PTBV, PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” PTBV đã trở thành đường lối, quan điểm chỉ đạo của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước, Chính phủ Việt Nam (2004) đã ban hành: Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Trong đó khẳng định, PTBV được xem là sự phát triển hài hòa về 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế xã hội mai sau… Điều đó cho thấy,

Trang 15

8

quan điểm về PTBV của Việt Nam đã thể hiện một cách tương đối đầy đủ và cụ thể quan điểm về sự PTBV của Liên Hiệp Quốc Chương trình nghị sự 21 của một số ngành và địa phương cũng đã được xây dựng và ban hành Trong những năm qua, nhất

là sau khi ban hành Định hướng chiến lược PTBV, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong cả ba trụ cột về kinh tế, xã hội và môi trường của PTBV (Chính phủ Việt Nam, 2012)

1.1.2 Tính bền vững và đánh giá tính bền vững

1.1.2.1 Khái quát và định nghĩa tính bền vững

Ý tưởng về tính bền vững (sustainability) bắt nguồn từ khái niệm PTBV, khái niệm này đã trở nên phổ biến và đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Tính bền vững hay ý nghĩa của sự bền vững là gì? Điều này đã và đang được nhiều quan điểm trình bày và diễn đạt theo những cách khác nhau, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm mang tính chung nhất và được thừa nhận rộng rãi nhất

Trên thế giới hiện nay, tùy theo mỗi lĩnh vực lại có các nhìn nhận riêng về tính bền vững Từ góc độ sinh thái học, tính bền vững được hiểu là: Mức độ các hệ thống sinh học duy trì tính đa dạng và khă năng sản xuất Nói chung, tính bền vững là độ bền của hệ thống và quy trình Các nguyên tắc tổ chức cho sự bền vững bao bồm bốn

lĩnh vực kết nối với nhau: Sinh thái, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa Thuật ngữ 'tính bền vững' cần được xem như là mục tiêu của con người về sự cân bằng hệ sinh thái con người (homeostasis), trong khi PTBV đề cập đến cách tiếp cận toàn diện và các quá trình thời gian dẫn chúng ta tới điểm kết thúc của tính bền vững (Shaker, 2015) Tính

bền vững ở đây được thể hiện qua việc duy trì các quá trình sản xuất và tái sản xuất: không gây suy thoái, nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên; thay thế nguồn tài nguyên mà con người sử dụng bởi các nguồn tài nguyên có giá trị tương đương hoặc cao hơn cho cùng hoạt động mà không làm suy thoái, gây nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên

Mặc dù hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về tính bền vững, thậm chí

có những quan điểm trái ngược, nhưng giống như PTBV, tính bền vững cũng được tiếp cận, xem xét với ba trụ cột là xã hội, môi trường và kinh tế Trong đó:

- Tính bền vững xã hội là khả năng của một hệ thống xã hội, như một quốc gia, gia đình hoặc tổ chức, để hoạt động ở một mức độ xã hội tốt đẹp và hài hòa Các vấn

Trang 16

9

đề như chiến tranh, đói nghèo, bất bình đẳng, mù chữ là những biểu hiện của một hệ thống xã hội không bền vững

- Tính bền vững về môi trường là khả năng của môi trường để hỗ trợ một mức

độ chất lượng môi trường và tỷ lệ khai thác nguồn tài nguyên một cách xác định vô thời hạn Đây là vấn đề thực tế lớn nhất trên thế giới, tuy nhiên nó chưa nhận được sự

ưu tiên thỏa đáng để giải quyết

- Tính bền vững kinh tế là khả năng của một nền kinh tế để hỗ trợ một mức độ sản xuất kinh tế xác định trong thời gian lâu dài

Từ những cơ sở trên, trong phạm vi luận văn này, khái niệm tính bền vững được

hiểu là: Những đặc trưng, tính chất có thể phản ánh sự PTBV của một đối tượng cụ thể, đối tượng này có thể là thế giới, một quốc gia, một doanh nghiệp, tổ chức thậm chí

là một cá thể Nói một cách khác, PTBV là thể hiện về mặt hình thức, tính bền vững là

sự phản ánh cái bên trong, thể hiện mức độ bền vững của sự phát triển Tính bền vững bắt nguồn (được sinh ra) từ khái niệm PTBV nhưng cần lưu ý hai khái niệm này xuất hiện đồng thời Chính vì điều này và cũng bởi chưa có một định nghĩa chung và đầy

đủ nhất, nên trong nhiều trường hợp hai khái niệm PTBV và tính bền vững dễ bị nhầm lẫn Ngay cả về mặt ngữ nghĩa, tính bền vững “sustainability” cũng được hợp thành từ sustain (bền vững) và ability (khả năng), hay nói cách khác: Tính bền vững có thể được hiểu là khả năng bền vững

1.1.2.2 Định nghĩa và khái quát về đánh giá tính bền vững

Chính bởi sự liên quan giữa tính bền vững và sự PTBV, nên khi xem xét sự phát triển của một đối tượng có bền vững hay không, ta có thể đánh giá tính bền vững của

nó, hay nói cách khác tính bền vững thể hiện sự PTBV của một đối tượng Khi đánh giá tính bền vững người ta có thể sử dụng các phương pháp định tính và định lượng, cách phổ biến hiện nay trên thế giới là sử dụng các bộ chỉ số để có thể đo lường (định lượng) một cách chính xác nhất tính bền vững Khi đánh giá tính bền vững có thể giúp ta hiểu được mức độ PTBV đang ở đâu, phương pháp PTBV có phù hợp hay không? Nó cũng

có thể chỉ ra nguyên nhân của việc phát triển không bền vững và giúp ta biết phải làm

gì để khắc phục những vấn đề đó, nhằm hướng đến mục tiêu PTBV Chính vì vậy một chỉ số bền vững cần phải được xem xét bởi nhiều các yếu tố nội tại và có liên quan của PTBV, cụ thể là môi trường, xã hội và kinh tế, cả cá nhân và đặc biệt nó cần phải xem xét trong mối quan hệ giữa các lĩnh vực đó trong quá trình PTBV

Trang 17

10

Đánh giá tính bền vững là " Một công cụ có thể giúp các nhà hoạch định chính sách quyết định những hành động họ nên hay không nên làm để làm cho xã hội bền vững hơn".(Devuyst và nnk, 2001)

Để xây dựng được công cụ đó, thì các yếu tố đầu tiên được xác định là các chỉ tiêu và chỉ số Các chỉ số là các biện pháp đơn giản, thường là định lượng đại diện cho một trạng thái phát triển kinh tế, xã hội hoặc môi trường trong một khu vực xác định

có thể là một quốc gia hay một khu vực Khi các chỉ số được tổng hợp theo cách xác định thì cho ra kết quả là những chỉ tiêu cụ thể

Các chỉ số PTBV (Sustainable Development Indicators viết tắt là SDI) là các biện pháp nhằm đánh giá về tính bền vững và các SDI thường cố gắng định lượng một cách tối đa Mặc dù có những quan điểm khác nhau trong việc xây dựng và sử dụng các SDI, do mục đích sử dụng và đặc điểm của mỗi lĩnh vực có sự khác biệt Tuy nhiên, các nguyên tắc hoặc các chỉ số về cách đo khái niệm này tương đối thống nhất

Mục tiêu chính của các chỉ số bền vững là thông tin cho việc hoạch định chính sách phát triển như là một phần của quá trình quản lý bền vững Các chỉ số về tính bền vững có thể cung cấp thông tin về bất kỳ khía cạnh nào của sự tác động lẫn nhau giữa môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội Việc sử dụng chỉ số về tính bền vững, chỉ

số và các hệ thống báo cáo ngày càng trở nên phổ biến ở cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, tuy nhiên hiệu quả của chúng trong việc ảnh hưởng đến chính sách và thực tiễn thực tế vẫn còn hạn chế Chẳng hạn, khi xem xét các chỉ số PTBV, một số quốc gia

đã thấy được các chỉ số về môi trường đã vượt ngưỡng an toàn, tuy nhiên vì nhiều lý do đặc biệt là kinh tế việc ưu tiên cho phát triển kinh tế vẫn được xem trọng hơn

Việc xây dựng các bộ chỉ số nhằm đánh giá sự PTBV đã được nhiều nước, tổ chức trên thế giới sử dụng Đầu tiên phải kể đến bộ chỉ số về PTBV của Liên Hợp Quốc, thường được biết đến với tên gọi, Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) được xây dựng và ban hành năm 2000, đây không phải là bộ chỉ

số đánh giá PTBV đầu tiên trên thế giới, nhưng nó được coi là bộ chỉ số mang tính toàn cầu Mặc dù được ban hành dưới dạng mục tiêu nhưng kèm theo đó là các chỉ số

để đánh giá việc đạt được hay hoàn thành các mục tiêu đó, ngoài ra nó còn quy định về mặt thời gian để hoàn thành và điều quan trọng nó không phải là văn bản pháp lý mang tính ràng buộc nhưng nó được thừa nhận bởi nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên thế giới

Trang 18

11

Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đã hết hạn vào cuối năm 2015, để thay thế Liên Hợp Quốc đã đưa ra mục tiêu PTBV (Sustainable Development Goals) được thông qua bởi 189 quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc vào thời điểm đó và hơn hai mươi tổ chức quốc tế, các mục tiêu này được nâng cao để đạt được các tiêu chuẩn PTBV sau vào năm 2015 Các mục tiêu PTBV bao gồm mười bảy mục tiêu phát triển bền vững, 169 chỉ số được đề xuất cho các mục tiêu này và 304 chỉ số được đề xuất để đánh giá việc thực thi và hoàn thành các mục tiêu này

Nhìn chung cùng với sự xuất hiện của khái niệm PTBV là sự ra đời của khái niệm tính bền vững nhằm đánh giá mức độ PTBV Trong những năm vừa qua, để phục

vụ cho việc đánh giá tính bền vững các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế đã xây dựng các bộ chỉ số về PTBV, thông qua đó đánh giá tính bền vững của sự phát triển Mặc dù mỗi bộ chỉ số đều có những hạn chế nhất định do các lý do khác nhau, nhưng không thể phủ nhận tầm quan trọng và sự cần thiết của chúng khi cung cấp thông tin cho các bên liên quan trong việc đánh giá tính bền vững qua đó có thể xây dựng, điều chỉnh quá trình PTBV

1.1.3 Du lịch và du lịch bền vững

Có nhiều tổ chức, cá nhân đã định nghĩa về du lịch, nhưng về cơ bản giống nhau ở các điều kiện là có sự dịch chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên, có mục đích của chuyến đi và có giới hạn về thời gian

Tại Việt Nam, du lịch được hiểu là: "các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định"(Luật du

lịch, 2005)

Du lịch bền vững không thể tách rời khỏi hoạt động du lịch, nó không phải là một tập hợp các sản phẩm thích hợp, mà là một điều kiện để hoạt động du lịch bền vững hơn Ngoài ra, du lịch bền vững cũng nằm trong nội hàm của phát triển bền

vũng, chính vì vậy nó được định nghĩa là: sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai (Luật du lịch, 2005)

1.1.3.2 Khái quát về du lịch và du lịch bền vững

a) Hoạt động du lịch

Trang 19

12

Theo UNWTO (2016) trong những thập kỷ vừa qua, du lịch đã tiếp tục tăng trưởng và đa dạng hóa sâu rộng để trở thành một trong những khu vực kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới Du lịch hiện đại gắn liền với phát triển và bao gồm một

số lượng ngày càng tăng các điểm đến mới Động thái này đã biến du lịch trở thành động lực chính cho sự tiến bộ kinh tế xã hội Theo báo cáo thống kê của UNWTO (2016), tổng lượng khách du lịch quốc tế đã tăng từ 25 triệu trên toàn cầu vào năm

1950 lên 278 triệu vào năm 1980, 674 triệu vào năm 2000 và 1.186 triệu vào năm

2015 Cùng với đó là các khoản thu du lịch quốc tế thu được từ các điểm đến trên toàn thế giới đã tăng từ 2 tỷ đô la Mỹ (USD) năm 1950 lên 104 tỷ USD vào năm 1980, 495

tỷ USD năm 2000 và 1.260 tỷ USD vào năm 2015 Theo dự báo của UNWTO, số lượng khách du lịch trên toàn thế giới sẽ tăng lên 1.800 triệu người vào năm 2030

Tại Việt Nam, du lịch đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, có đóng góp không nhỏ trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt trong những năm gần đây Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm Năm 2016, số lượng khách du lịch quốc tế đạt 10 triệu lượt người, tăng hơn 4,3 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 62 triệu lượt người, tăng 5,3 lần so với năm 2001; đóng góp trực tiếp ước đạt 6,8% GDP, cả gián tiếp và lan toả đạt 14% GDP (Tổng cục Du lịch, 2017)

Với tài nguyên du lịch và nhân văn phong phú, đặc biệt Việt Nam có bờ biển dài (khoảng 3200km) đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp.Việt Nam là một trong mười hai quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang; cả nước có 28/63 tỉnh với 123 huyện có bờ biển và hải đảo là những địa bàn có tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên

và nhân văn; hàng năm, các khu du lịch ven biển đã thu hút 2/3 số lượng khách du lịch đến tham quan du lịch và nghĩ dưỡng Ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu khoảng 4 vạn di tích (di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh), trong đó có hơn 3 ngàn di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia Trong số này có 85 di tích Quốc gia đặc biệt được xếp loại qua 7 đợt xếp loại Hiện cả nước Việt Nam có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%) Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi miền đất nước (Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2008)

Mặc dù có tài nguyên du lịch và nhân văn phong phú như vậy, nhưng du lịch Việt Nam còn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và kỳ vọng của xã

Trang 20

13

hội Bản thân hoạt động du lịch còn tồn tại nhiều hạn chế về sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ, nhân lực du lịch, công tác quản lý, môi trường du lịch…

b)Du lịch bền vững

Nếu như hoạt động du lịch là một lĩnh vực được coi là ngành kinh tế tổng hợp

có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hoá cao, có mối liên hệ mật thiết với môi trường, thì hoạt động du lịch bền vững lại càng thể hiện rõ mối tương tác của du lịch đối với môi trường Du lịch bền vững bao gồm ba trụ cột chính: công bằng xã hội, phát triển kinh tế, và toàn vẹn môi trường

- Về kinh tế: Tăng cường sự thịnh vượng của địa phương bằng cách tối đa hóa

đóng góp của du lịch cho sự thịnh vượng về kinh tế tại điểm đến, bằng số tiền mà khách du lịch sẽ chi tiêu tại địa phương Du lịch tạo thu nhập và việc làm ổn định cho người lao động mà không ảnh hưởng tới môi trường và văn hóa của điểm du lịch; đảm bảo tính khả thi và tính cạnh tranh của điểm du lịch và các doanh nghiệp để họ có thể phát triển tốt và mang lại lợi ích lâu dài

- Về môi trường: Du lịch bền vững cần sử dụng một cách tối ưu nhất tài nguyên

môi trường, yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, duy trì các quá trình sinh thái cần thiết và giúp bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học

- Về văn hoá, xã hội: Du lịch bền vững phải tôn trọng các giá trị văn hóa xã hội

của cộng đồng địa phương, bảo tồn các di sản văn hóa và giá trị truyền thống lâu đời, góp phần vào hội nhập và giao lưu văn hóa trong khi vẫn đảm bảo các hoạt động kinh

tế bền vững lâu dài, tạo nên sự cân bằng về lợi ích kinh tế xã hội cho các bên liên quan, bao gồm việc làm ổn định, cơ hội thu nhập, dịch vụ xã hội cho cộng đồng địa phương và góp phần xóa đói giảm nghèo

Một yêu cầu cơ bản của ngành du lịch là phải nắm vững các nguyên tắc của du lịch bền vững và tập trung vào việc đạt được các mục tiêu PTBV Theo UNWTO (2004) mục tiêu cho du lịch bền vững được thể hiện như sau:

Bảng 1 1 Mục tiêu của du lịch bền vững (nguồn UNWTO, 2004)

1 Duy trì kinh tế

Để đảm bảo khả năng tồn tại và tính cạnh tranh của các điểm đến du lịch và doanh nghiệp, để họ có thể tiếp tục phát đạt và mang lại lợi ích trong dài hạn

2 Sự phồn thịnh Để tối đa hóa sự đóng góp của du lịch vào sự thịnh vượng

Trang 21

14

của địa phương của địa điểm chủ nhà, bao gồm tỷ lệ chi tiêu của du khách

được giữ lại tại địa phương

3 Chắt lượng nhân

lực

Để tăng cường số lượng và chất lượng của việc làm tại địa phương tạo ra và hỗ trợ bởi du lịch, bao gồm mức lương, điều kiện của dịch vụ và tiện ích cho tất cả mọi người mà không phân biệt đối xử theo giới tính, chủng tộc, khuyết tật hoặc theo cách khác

4 Công bằng xã hội

Tìm kiếm sự phân bổ rộng rãi các lợi ích kinh tế và xã hội

từ du lịch trong cộng đồng người nhận, bao gồm việc cải thiện cơ hội, thu nhập và dịch vụ dành cho người nghèo

7 Hạnh phúc của

cộng đồng

Duy trì và củng cố chất lượng cuộc sống ở các cộng đồng địa phương, bao gồm các cấu trúc xã hội và tiếp cận các nguồn tài nguyên, tiện nghi và các hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh bất kỳ hình thức suy thoái xã hội hoặc khai thác

Để hỗ trợ việc bảo tồn các khu tự nhiên, môi trường sống

và động vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại cho chúng

11 Hiệu quả tài Để giảm thiểu việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm và

Trang 22

Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước và đất đai và việc tạo

ra chất thải của các doanh nghiệp du lịch và du khách

Tại Việt Nam, cùng với sự ra đời của thuật ngữ du lịch bền vững trên thế giới, việc tiếp nhận, thực thi cơ sở lý luận phương pháp xây dựng và phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam gần như đồng thời với PTBV Tuy nhiên, từ trước đó các loại hình

du lịch mà sau này được xác định là một trong những loại hình du lịch bền vững tại Việt Nam, đã xuất hiện từ khá lâu, như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Mặc dù chưa được định hình về cơ sở lý luận hay cách thức tổ chức và phát triển thường mang tính tự phát, chẳng hạn du lịch cộng đồng tại Bản Lác, Sa Pa đã manh nha xuất hiện từ những năm 60, hay tại Đà Lạt và một số các điểm du lịch là Vườn quốc gia (như Cúc Phương, Cát Bà…) loại hình du lịch sinh thái cũng đã xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ trước

Như vậy có thể nói, du lịch bền vững tại Việt Nam đã được tiếp cận gần như đồng thời với thế giới, việc triển khai các bước đi mang tính quản lý và phát triển du lịch bền vững còn muộn và tương đối chậm Tuy nhiên có một thực tế là khi du lịch bền vững chưa được luật hóa và triển khai dưới dạng văn bản chính sách ở tầm quốc gia (hay nói cách khác là ở trong giai đoạn tự phát) thì môi trường trong du lịch còn được đảm bảo Nhưng khi du lịch bền vững được biết đến và thừa nhận rộng rãi, cũng

là lúc kinh tế Việt Nam nói chung và du lịch nói riêng phát triển nhanh và nóng, thì các yếu tố bền vững trong du lịch (môi trường, xã hội) lại không được quan tâm, bị xem nhẹ so với tăng trưởng du lịch Điều đó cho thấy khoảng cách khá xa trong việc xây dựng và thực thi chính sách trong phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam Đây

có thể coi là thách thức không nhỏ của Việt Nam trong việc đảm bảo tính bền vững trong hoạt động du lịch

1.1.4 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch

1.1.4.1 Định nghĩa

Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch có thể được hiểu là: Sự đo lường tính bền vững của hoạt động du lịch, việc đo lường này thường được thông qua việc xây dựng các chỉ số bền vững trong hoạt động du lịch

Trang 23

16

Các chỉ số được xác định là "các biện pháp về sự tồn tại hoặc mức độ nghiêm trọng của các vấn đề hiện tại, tín hiệu của các tình huống hoặc vấn đề sắp tới, các biện pháp về rủi ro và nhu cầu cần thực hiện, và các phương tiện để xác định và đo lường kết quả hành động của chúng ta Các chỉ số là các bộ thông tin được lựa chọn chính thức để sử dụng thường xuyên để đo lường những thay đổi có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch hoặc quản lý du lịch" (UNWTO, 2004) Được sử dụng

đúng cách, các chỉ số có thể trở thành công cụ quản lý chính - các biện pháp thực hiện cung cấp thông tin thiết yếu cho cả nhà quản lý và tất cả các bên liên quan đến du lịch Các chỉ số tốt có thể cung cấp thông tin kịp thời để giải quyết các vấn đề cấp bách và

để giúp hướng sự PTBV của một điểm đến Tại mỗi điểm du lịch có dữ liệu và thông tin nhất định có thể đóng vai trò là các chỉ số bền vững nếu hiểu được sự liên quan của chúng Các chỉ số được sử dụng và hiểu rõ nhất bao gồm khối lượng, bao gồm khách

du lịch, quá thời gian sử dụng và khả năng chỗ ở, hoặc kinh tế, như thu nhập và chi tiêu du lịch Đây là những điểm tham khảo cho các quyết định kinh doanh và quản lý liên tục Có nhiều chỉ số hiện có có thể được sử dụng như các chỉ số bền vững, khi chúng được hiểu về sự liên quan của chúng đến các vấn đề bền vững

1.1.4.2 Khái quát về đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch

a) Trên thế giới

các chỉ số nhằm hỗ trợ PTBV du lịch tại các điểm đến khác nhau Một trong những tài liệu có giá trị trên toàn thế giới về đánh giá tính bền vững là: Sách hướng dẫn của UNWTO về các chỉ tiêu về PTBV cho các điểm đến du lịch(2004) được thiết kế để giúp xác định các vấn đề chính và các chỉ số có thể giúp các nhà quản lý phản ứng hiệu quả với họ và duy trì những gì làm cho điểm đến trở nên khả thi và hấp dẫn Hướng dẫn tập trung vào việc áp dụng chỉ số tại các điểm đến địa phương, nhưng cũng

bao gồm các ứng dụng ở cấp khu vực và quốc gia Nó bao gồm: Thứ nhất, tổng quan

chung về việc sử dụng các chỉ số và vai trò của họ trong chính sách và kế hoạch du

lịch; Thứ hai, nó đề xuất một thủ tục để phát triển các chỉ số; Thứ ba, nó trình bày

danh sách phân loại các vấn đề phổ biến và các chỉ số liên quan đến hầu hết các loại điểm đến, và cuối cùng là nó minh hoạ cho các ứng dụng chỉ số tại một số loại điểm đến (ví dụ như bờ biển và đảo, du lịch sinh thái, đô thị, nông thôn )

Trang 24

1 Định nghĩa / mô tả điểm đến

2 Sử dụng các quá trình có sự tham gia

9 Đánh giá tính khả thi / thực hiện

10 Thu thập và phân tích dữ liệu

11 Trách nhiệm, truyền thông và báo cáo

12 Giám sát và đánh giá các chỉ số Đồng thời, các chỉ số đánh giá tính bền vững, cơ bản được xây dựng dựa trên các mục tiêu của PTBV du lịch (bảng 1.1), sự khác biệt chính là những chỉ tiêu phản ánh về đặc điểm kinh tế, xã hội, môi trường của mỗi quốc gia, vùng miền, điểm đến b) Tại Việt Nam

Trong hoạt động du lịch tại Việt Nam, việc xây dựng các bộ chỉ số để đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại điểm đến chưa được quan tâm nhiều, bằng chứng là có rất ít các nghiên cứu, bài báo khoa học về lĩnh vực này, đặc biệt là việc xây dựng chính sách dựa trên các kết quả đánh giá tính bền vững trong hoạt động du lịch Nếu có mới chỉ dừng lại ở mục đích nhằm đánh giá khả năng thu hút của điểm đến đối với du khách Một số công trình khoa học có quan tâm đến việc xây dựng tiêu chí của các loại hình du lịch chẳng hạn: xây dựng tiêu chí tiêu chí xây dựng các khu, điểm du lịch, tiêu chí xây dựng các đô thị du lịch, tiêu chuẩn quy hoạch ngành…hay việc xây dựng các tiêu chí khu du lịch sinh thái, du lịch bền vững, du lịch có trách nhiệm ở Việt Nam Tuy nhiên việc xây dựng các bộ tiêu chí này mới chỉ dừng lại ở việc nhận dạng đặc điểm của các loại hình du lịch nói trên mà chưa đạt được yêu cầu của bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của du lịch như hướng dẫn của UNWTO

Trang 25

18

Thành công của việc xây dựng các tiêu chí tại Việt Nam, cho dù không nhiều,

là việc góp phần thể hiện trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch của ngành, địa phương, khu điểm du lịch quốc gia Trong một số văn bản như Luật, Nghị định, các tiêu chí đã được sử dụng để công nhận (xếp loại) các khu, điểm du lịch cấp quốc gia, cấp địa phương Chẳng hạn trong Nghị định 92 hướng dẫn Luật du lịch năm

2005, có 07 tiêu chí đã được đưa ra để công nhận khu du lịch quốc gia, các tiêu chí được định lượng, tuy nhiên, nó mới phục vụ cho việc phát triển du lịch đơn thuần đáp ứng nhu cầu của du khách, mà chưa có tiêu chí đánh giá sự PTBV

Việc áp dụng các tiêu chí để đánh giá xếp loại trong du lịch Việt Nam, được thể hiện rõ nhất là trong việc xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch Tuy nhiên, việc xếp loại này vẫn chủ yếu hướng tới mục đích kinh doanh dịch vụ phục vụ du lịch mà chưa thỏa mãn được các yêu cầu về PTBV Một tín hiệu đáng mừng đối với du lịch Việt Nam trong những năm qua là việc các ngày càng có sự quan tâm nhiều hơn tới các nhãn hiệu du lịch bền vững như nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh do Tổng cục Du lịch xây dựng Tuy nhiên các nhãn hiệu này chỉ sử dụng trong lĩnh vực lưu trú, đồng thời chỉ mang tính tự nguyện vì vậy hiệu quả trong thực tiễn là chưa cao

Như vậy, việc sử dụng các chỉ số bền vững trong trong hoạt động du lịch còn hạn chế và chưa được vận dụng nhiều trong việc xây dựng và thực thi chính sách tại Việt Nam Điều này dẫn đến việc PTBV của du lịch Việt Nam còn nặng tính hình thức

mà chưa có giá trị thực tiễn và hiệu quả

1.1.5 Hệ thống khái niệm của đề tài

Trên cơ sở các khái niệm có liên quan được trình bày ở những phần trên, tác giả

sử dụng và đưa ra các khái niệm có liên quan để phục vụ cho nghiên cứu này

Du lịch bền vững tại Chùa Hương: là hoạt động du lịch diễn ra tại chùa Hương thông qua việc khai thác giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, mang lại nguồn lợi cho các bên liên quan, nhưng không làm ảnh hưởng đến di tích danh thắng, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, xã hội tại chùa Hương và địa phương trong thời điểm hiện tại và trong tương lai

Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương: là sự đo lường tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương thông qua việc xây dựng các chỉ

số bền vững trong hoạt động du lịch

Trang 26

19

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.1 Khái quát về chùa Hương

Chùa Hương được biết đến như một trong những điểm hành hương gắn liền với

lễ hội, một trong di tích được biết đến nhiều nhất của Việt Nam Nơi đây, gần như có đầy đủ đặc điểm tiêu biểu của các giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại Việt Nam Với hệ thống đền, chùa đặc sắc, hang động đa dạng, nổi tiếng nhất

là động Hương Tích, hệ thống sông suối, với suối Yến, đường giao thông chính và độc đáo dẫn du khách vào với các các điểm di tích, thắng cảnh nổi tiếng Rừng đặc dụng Hương Sơn có tính đa dạng sinh học rất cao, đồng thời cũng tạo ra không gian, cảnh quan hùng vĩ Ngoài ra, tại một số hang động của chùa Hương, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều di chỉ khảo cổ Không nhiểu điểm du lịch trên Việt Nam được thiên nhiêu ưu ái có cả sông suối, hang động, rừng như ở chùa Hương

Trong Quy hoạch phát triển du lịch quốc gia, chùa Hương được nằm trong khu vực vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc với 11 tỉnh/thành phố Trong

đó, Thủ đô Hà Nội được xác định là gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành

và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận chùa Hương được định hướng là điểm du lịch

có tiềm năng phát triển thành điểm du lịch quốc gia

Trong quy hoạch phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, điểm du lịch chùa Hương (được xác định phát triển là điểm du lịch quốc gia) hướng khai thác được xác định gắn với tham quan di tích, thắng cảnh kết hợp lễ hội, tâm linh Đồng thời, chùa Hương cũng là điểm khởi đầu cho tuyến du lịch chuyên

đề “Lễ hội, tâm linh”: Chùa Hương - Tam Chúc - Bái Đính - Đền Trần, Phủ Giầy (Nam Định) - Đền Trần, Chùa Keo (Thái Bình) - Yên Tử

Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, đặt mục tiêu là đến năm 2020 du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại Trong đó, huyện Mỹ Đức được quy hoạch là phát triển cụm du lịch Hương Sơn - Quan Sơn với các sản phẩm du lịch chính: Du lịch văn hóa tâm linh lễ hội; Du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần và sinh thái; Du lịch thể thao cao cấp với các sản phẩm Golf, thể thao nước; Du lịch văn hóa

Trên thực tế, trong những năm qua chùa Hương không chỉ là điểm nhấn quan trọng, góp phần thu hút khách du lịch cho Thủ đô Hà Nội, đồng thời cũng đã góp phần

Trang 27

Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là xã đồng chiêm trũng nằm

ở phía nam huyện Mỹ Đức, cách trung tâm huyện 11 km, nằm ven sông Đáy, ven núi,

là một xã thuần nông, nhưng nhờ có quần thể di tích danh thắng Hương Sơn mà trong những năm qua đã phát triển mạnh về du lịch, dịch vụ thương mại Xã Hương Sơn nằm dọc theo tỉnh lộ 419 từ trung tâm huyện đi tỉnh Hà Nam, không chỉ tiếp giáp với các xã và huyện khác của Hà Nội mà còn tiếp giáp với các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình Vì vậy, hệ thống giao thông ở đây tương đối thuận lợi cho việc phát triển du lịch

1.2.2.2 Địa hình

Quần thể di tích danh thắng Hương Sơn thuộc vùng núi phía Đông Bắc đồng bằng Bắc bộ, có nhiều núi cao hiểm trở, địa hình chia cắt mạnh, xen kẽ núi cao là những vực sâu, nhiều núi đá dựng đứng có độ cao từ 42.10 - 332m, phủ phía trên bề mặt có nhiều cây cối của rừng nguyên sinh với vách đá kề sát tạo nhiều nhiều hang động Chùa Hương nằm ở vùng cuối của hệ thống núi và cao nguyên đá vôi Đông Bắc (thuộc hệ Sơn Mộc Châu), tiếp giáp với vùng đồng bằng Bắc Bộ Các dãy núi có đặc điểm là độ cao thấp (đỉnh cao nhất là 381m), tuy nhiên địa hình bị chia cắt mạnh, xen

kẽ giữa những dẫy núi cao là vực sâu, với các vách đá kề sát tạo nên hệ thống hang động khá phong phú Địa hình, địa mạo Hương Sơn được tạo nên do 2 nhóm yếu tố chủ yếu bao gồm địa hình Caster là quá trình hòa tan của đá vôi cùng với các quá trình

cơ học khác như sự đổ vỡ, xâm thực vào quá trình xói mòn, tạo nên các hang động như Hương Tích, Long Vân Các hang thường có đường ngắn theo dạng núi, dạng núi phát triển trên bề mặt và dọc khe nứt tạo thành các hang hình vòm Hang động thường

có cấu trúc đơn giản không phân nhóm phức tạp và nhiều bậc Trầm tích hang động ở đây chủ yếu cấu tạo thành nhà đá, măng đá và cột đá, tạo nên những hình thù kỳ thú trong hang.Xen kẽ giữa các dãy núi là vùng thung lũng bằng phẳng, khá rộng, có nhiều dòng suối nhỏ chảy trong nội đồng, thuận lợi cho việc canh tác Các cánh đồng Caster xen kẽ núi đá vôi này là kết quả của quá trình kiến tạo địa chất qua nhiều giai đoạn khác nhau (Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, 2014)

1.2.2.3 Địa chất

Trang 28

21

Khu vực xã Hương Sơn bao gồm vùng núi đá, đá vôi và đất nền do phù sa Sông Đáy tạo thành Do tác động của nhiều yếu tố, bề mặt thổ nhưỡng ở một số khu vực đã

bị xói mòn, sụt lở Địa chất khu vực Hương sơn được chia thành hai khu vực:

Khu vực thung lũng chùa Hương là cánh đồng trũng có diện tích khoảng 10ha nằm hai bên bờ suối Yến Địa hình ở đây khá bằng phẳng với độ cao trung bình là 13,6m, phía Đông và phía Tây được bao bọc bởi 2 dẫy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Các cánh đồng này thường bị lầy hóa quanh năm do nước thoát chậm và do nước ngầm từ các khối núi đá vôi xung quanh đổ vào suối Yến

Khu vực cánh đồng Hội Xá, có diện tích khoảng 30ha, có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ cao 2.6m Cấu tạo địa chất khu vực này tương đối đồng nhất Nằm trên lớp đá vôi là tầng đất trầm tích dày khoảng 20 - 60m, thành phần chủ yếu là đất sét màu nâu gụ, xám nâu, xám xanh

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 4 mùa rõ rệt với các đặc trưng khí hậu chính như sau: Nhiệt độ không khí: bình quân năm là 23,1ºC,

Trang 29

22

trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 13,6ºC, thường vào tháng 1 Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 33,2ºC, thường vào tháng 7 (Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, 2012)

1.2.3 Đặc điểm KT-XH

1.2.3.1 Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên là 4.284,73 ha,trong đó:

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản là 952,0 ha

- Diện tích đất lâm nghiệp là 2.760,44 ha

- Diện tích đất phi nông nghiệp là 488,54 ha

- Diện tích đất chưa sử dụng là 83,75 ha

1.2.3.2 Dân số và lao động:

Khoảng 23.000 khẩu, 6.016 hộ được phân bố 06 thôn và chia thành 19 xóm để quản lý, điều hành các mặt xã hội và sản xuất nông nghiệp Hầu hết người dân là lao động nông nghiệp và tham gia làm các dịch vụ phục vụ du khách tham quan khu thắng cảnh chùa Hương (UBND xã Hương Sơn, 2016)

1.2.3.3 Tình hình kimh tế

Năm 2016, xã Hương Sơn đạt tăng trưởng là: 11,42 %, tổng giá trị thu nhập cả năm: 728.046.000.000 đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 33.000.000 đồng Du lịch - thương mại luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của một xã thuần nông như Hương Sơn (khoảng 70%) Điều này có nguyên nhân xuất phát từ hoạt động kinh doanh phục vụ du lịch tại chùa Hương (UBND xã Hương Sơn, 2016)

1.3 Tổng quan tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Các tài liệu về đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch

Tài liệu quan trọng và đầy đủ nhất trong vấn đề này chính là tài liệu hướng dẫn: Các chỉ tiêu về PTBV cho các điểm đến du lịch do UNWTO xây dựng và phát hành,

nhằm giúp các nhà quản lý của các công ty du lịch và các điểm đến, đối tác và các bên liên quan khác đưa ra quyết định tốt hơn về du lịch Nó tập trung vào việc sử dụng các chỉ số như một công cụ trung tâm để cải tiến quy hoạch và quản lý, đưa các nhà quản

lý thông tin họ cần, khi cần thiết, và trong một hình thức sẽ giúp quyết định tốt hơn

Bộ tài liệu này, thực sự đã làm rất tốt chức năng của nó khi được rất nhiều quốc gia, địa phương, điểm đến sử dụng để làm cơ sở cho việc xây dựng chỉ số đánh giá tính bền vững trong hoạt động du lịch, để thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân sử dụng, tránh sự nhầm lẫn về dữ liệu PTBV của ngành du lịch, để có thể so sánh được với các điểm đến

Trang 30

23

du lịch và các nước khác nhau, UNWTO đã đề cập đến 12 vấn đề cơ bản và 29 chỉ số

cơ bản cho du lịch bền vững các điểm đến du lịch

Một số báo cáo, kỷ yếu của các Hội thảo về việc sử dụng các chỉ số nhằm đánh giá du lịch bền vững và quản lý tại điểm đến của được xuất bản, có thể sử dụng làm tài liệu để tham khảo trong quá trình xây dựng các chỉ số đánh giá tính bền vững của điểm đến, chẳng hạn Báo cáo của Hội thảo về Chỉ số du lịch bền vững và quản lý điểm đến tại Montenegro, do Bộ Du lịch và Môi trường Montenegro phối hợp với Tổ chức du lịch thế giới tổ chức năm 2007 Sản phẩm chính của Hội thảo là đề xuất được một bộ công cụ để đánh giá du lịch bền vững của Montenegro Đây là tài liệu giúp các nước trong khu vực có điều kiện tương đồng có thể tham khảo hoặc sử dụng

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đề cập đến vấn

đề này, chẳng hạn công trình: Đánh giá tính bền vững của du lịch sinh thái từ quan điểm tích hợp của nguồn lực, cộng đồng và du lịch, Tsaur và cộng sự (2006) đã đánh

giá các điểm du lịch sinh thái dựa trên các chỉ số và điểm chuẩn, nghiên cứu đã sử dụng các quan điểm của các nhà nghiên cứu để phân tích mối quan hệ giữa tài nguyên, cộng đồng và du lịch tại du lịch sinh thái bền vững Từ đó đưa ra các chỉ số đánh giá các điểm du lịch sinh thái, kết quả công trình này có thể sử dụng để phát ánh các vấn

đề như kinh tế, xã hội, môi trường tại địa phương, đồng thời có thể áp dụng việc đánh giá đối với các điểm du lịch sinh thái khác có cùng điều kiện tương đồng

Một nghiên cứu khác là: Đánh giá tính bền vững của du lịch ở thung lũng Ihlara và các đề xuất, Uzun và Somuncu (2015), đã đánh giá tính bền vững của một

điểm du lịch là thung lũng Ịhlara, nằm ở vùng Cappadocia của Thổ Nhĩ Kỳ và có những khuyến nghị để khu vực này có sự phát triển du lịch bền vững Ttuy nhiên với đặc thù là một khu vực có nhiều di sản văn hóa, việc đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch đã được xây dựng phù hợp với đặc điểm riêng của khu vực

Bài báo khoa học: Các chỉ tiêu phát triển du lịch bền vững ở Macedonia,

(Dimoska và Petrevska, 2012) cũng đã đề xuất một bộ chỉ số để đánh giá tính bền vững trong du lịch tại Macedonia Mặc dù các tác giả cũng nhận thấy hạn chế về nghiên cứu chủ yếu là tính sẵn có của bộ dữ liệu, điều này ngăn cản các phân tích sâu hơn về mức độ bền vững về du lịch ở Macedonia, bài báo cũng chỉ ra rằng sự hiện diện của nó ở mức khiêm tốn Cụ thể là, mặc dù có sự PTBV về du lịch ở Macedonia, nghiên cứu chỉ ra rằng nó vẫn đang trong giai đoạn đầu của nó Hơn nữa, tính bền

Trang 31

24

vững hiện tại đề cập đến khía cạnh sinh thái và văn hoá xã hội của sinh sống, nhưng không phải là mức độ bền vững về kinh tế của du lịch Vì có kết quả rất khiêm tốn nên bài viết kêu gọi sự cần thiết phải thực hiện các biện pháp để cải thiện tính bền vững nói chung và đặc biệt để cải thiện tính bền vững trong lĩnh vực du lịch của tất cả các bên liên quan đến quá trình du lịch ở Macedonia

Một số các nghiên cứu khác có liên quan đến đánh giá tính bền vững của các khu điểm du lịch cụ thể trên thế giới, đặc biệt là các khu điểm có gắn với các tài nguyên du lịch nhân văn như các lễ hội, di tích, nhằm phát triển du lịch gắn với bảo

vệ môi trường tự nhiên, khai thác và bảo vệ di sản văn hóa, phát triển kinh tế của người bản địa

Như vậy có thế thấy trên cơ sở hướng dẫn của UNWTO, nhiều quốc gia, địa phương, hay khu điểm du lịch đã xây dựng cho mình các bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của du lịch phù hợp với đặc điểm thực tế tại điểm đến Cho dù có những khác biệt nhất định về đặc điểm cụ thể, nhưng phương pháp tiếp cận khi xây dựng các bộ chỉ số nhìn chung đều được tiến hành theo từng giai đoạn, dẫn đến các chỉ số hoạt động cho một điểm đến, đây là sự kết hợp lý tưởng với quá trình lập kế hoạch và quản

lý đang diễn ra nhằm tăng cường hiệu quả của nó

1.3.2 Các tài liệu liên quan đến du lịch tại Việt Nam và chùa Hương

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về du lịch bền vững tại Việt Nam nói chung và các khu điểm du lịch cụ thể hoặc PTBV các loại hình du lịch cụ thể, như

du lịch cộng đồng, sinh thái, nông thôn… Tuy nhiên một trong những vấn đề của các nghiên cứu tại Việt Nam là chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tính bền vững hoặc đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch Điều này dẫn đến việc công tác kiểm tra, đánh giá việc thực thi các mục tiêu, nguyên tắc của du lịch bền vững chưa được làm rõ Hay nói cách khác, việc PTBV du lịch mới chỉ có về mặt lý thuyết mà việc áp dụng vào thực tế còn chưa được quan tâm Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động du lịch còn nhiều bất cập trong thời gian vừa qua

Công trình nghiên cứu khoa học có thể nói là đầu tiên và mang tính xây dựng nền tảng cho việc PTBV du lịch tại Việt Nam là: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà

nước "Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam" của Phạm

Trung Lương và cộng sự (2002) Công trình đã tổng quan và hệ thống hoá những vấn

đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững; Nghiên cứu và xác định được những

Trang 32

25

vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam; Đã tổng quan có

hệ thống kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của các nước trong khu vực, về phát triển du lịch bền vững; Đề xuất nhằm phát huy những lợi thế và hạn chế những bất cập để góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam theo những nguyên lý đã được xác định Tuy nhiên, một trong những vấn đề chưa được đề cập trong công trình là việc đánh giá tính bền vững thông qua hệ thống các tiêu chí cụ thể

Có thể đây là một đề tài mang tính xây dựng cơ sở lý luận và định hướng nghiên cứu, thực hiện trong thực tiễn, trong khi đó việc đánh giá tính bền vững cần có những định lượng, chỉ tiêu cụ thể, vì vậy trong công trình này chưa đặt ra yêu cầu này

Trong những nghiên cứu sau này, một số các đề tài cũng đã đề cập tới việc xây dựng các tiêu chí cho các khu tuyến điểm du lịch, cụ thể là: Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Bộ "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam"

Nguyễn Thăng Long (2004) Đề tài đã đưa ra khái niệm về khu, tuyến, điểm du lịch; vai trò, ý nghĩa của các khu, tuyến, điểm du lịch đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam; Các điều kiện để hình thành, phát triển và quản lý các khu, tuyến, điểm du lịch; Đánh giá hiện trạng phát triển các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam qua các khía cạnh chính; Thực trạng công tác phát triển và khai thác các khu, tuyến, điểm du lịch;

Đề tài cũng đã đề xuất được hệ thống tiêu chí xây dựng các khu, tuyến, điểm du lịch Đóng góp của đề tài là tương đối cụ thể trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, các khu điểm du lịch cụ thể Tuy nhiên, tiêu chí

về tính bền vững đối với các khu tuyến điểm du lịch chưa được thể hiện cụ thể, rõ ràng, mang tính chuyên sâu

Đối với khu vực nghiên cứu là chùa Hương, đã có rất nhiều tác phẩm văn học, tài liệu nghiên cứu về danh thắng về chùa Hương Ngoài ra có có các nghiên cứu về địa chất, địa tầng, thổ nhưỡng, môi trường tại đây Từ các nghiên cứu, tài liệu phong phú và đa dạng về các đặc điểm của chùa Hương đã phản ánh tương đối đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển của chùa Hương

Liên quan đến hoạt động du lịch tại khu vực chùa Hương có nhiều đề tài, dự án, luận văn, các bài báo đề cập, một trong số đó là công trình nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương-

Hà Tây” Võ Quế (2004) Đề tài đã nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch và cộng

đồng dân cư tại chùa Hương nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về

Trang 33

Ngoài ra còn có một số luận văn, đề án khoa học của các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học do một số tác giả quan tâm nghiên cứu về chùa Hương Nhìn chung, tài liệu trong nước liên quan đến khu vực nghiên cứu chủ yếu tiếp cận theo hướng xác định thực trạng du lịch tại chùa Hương, làm rõ được lợi thế để phát triển du lịch với tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, chỉ ra được những mặt thành tựu cũng như hạn chế tồn tại của du lịch tại chùa Hương, đồng thời tìm ra những nguyên nhân và đề xuất giải pháp phát triển du lịch, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, bảo vệ môi trường tự nhiên và văn hóa - xã hội tại chùa Hương Tuy nhiên, chưa có nhiều tài liệu chuyên sâu nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống, đặc biệt là các tài liệu đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch Các nghiên cứu đã có thường tiếp cận theo hướng đơn ngành, chưa có nhiều phân tích đánh giá về mối quan

hệ giữa các lĩnh vực có liên quan (phát triển du lịch, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, bảo vệ môi trường) Ngoài ra, việc xem xét các quan hệ giữa các bên liên quan trong hoạt động du lịch, cũng chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu Chính vì vậy, tại các nghiên cứu chưa có những giải pháp hiệu quả mang tính tổng thể, tổng hòa các mối quan hệ trong phát triển du lịch tại chùa Hương

Như vậy việc đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại Chùa Hương còn

là một khoảng trống trong các nghiên cứu, điều này đồng nghĩa với việc chưa có câu trả lời thỏa đáng về việc hoạt động du lịch tại Chùa Hương đã bền vững hay chưa? Nếu có bền vững thì hiện đang ở mức độ như thế nào?

Nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp cho các nhà quản lý, các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động du lịch tại Chùa Hương một cái nhìn toàn diện hơn về tính bền vững của hoạt động du lịch, từ đó giúp các bên liên quan có sự điều chỉnh về chính sách quản lý, chiến lược kinh doanh trong hoạt động du lịch tại đây

Trang 34

27

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động du lịch tại chùa Hương, cụ thể là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức,

cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch tại chùa Hương

Tiếp cận hệ thống: Là việc xem xét, đánh giá việc phát triển du lịch tại chùa

Hương trong những năm qua về cả 3 thành tố liên quan chặt chẽ với nhau: (1) Người dân (người du lịch, người dân trong khu vực, tăng ni của các chùa); (2) Người tổ chức, cung cấp dịch vụ du lịch (các công ty du lịch, dịch vụ đi kèm) ; (3) Người quản lý (địa phương, cơ quan quản lý), ban ngành (sở ngành, đại diện tôn giáo, an ninh, môi trường trong tỉnh, huyện) thông qua các thông tin (định tính), số liệu (định lượng) thu thập được, trên cơ sở đó đối chiếu so sánh với các tiêu chí về tính bền vững và so sánh xu hướng biến động (của một số chỉ số bền vững ) theo thời gian, so sánh với những địa điểm du lịch khác trong nước đưa ra nhận định về những yếu tố liên quan đến tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương, cuối cùng là đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm đảm bảo tính bền vững trong hoạt động du lịch tại chùa Hương

Tiếp cận liên ngành:Trên các phương pháp luận và kiến thức của các lĩnh vực

khác nhau, cụ thể là hoạt động du lịch, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, có sự nghiên cứu tổng hòa các mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong việc PTBV du lịch tại chùa Hương

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp

Tổng hợp và xử lý các tài liệu đã thu thập được để xây dựng các nội dung nhiệm vụ, bao gồm một số các tài liệu sau: Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học ,có liên quan đến lĩnh vực và địa bàn nghiên cứu.; Tài liệu chuyên ngành về du lịch,

Trang 35

- So sánh, phân tích và tổng hợp thông tin từ các nguồn thứ cấp

2.3.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Khảo sát trực tiếp để đánh giá hiện trạng môi trường, cảnh quan, ý thức và trách nhiệm trong công tác bảo vệ cảnh quan, môi trường của di tích

Việc điều tra xã hội học được tiến hành theo cách thu thập thông tin qua bảng hỏi được trực tiếp hỏi và ghi chép Đối tượng điều tra xã hội học là khách du lịch Mẫu phiếu được xây dựng trên cơ sở bộ chỉ số đánh giá tính bền vững trong hoạt động du lich tại chùa Hương, trong đó đặc biệt là một số thông tin liên quan đến sự hài lòng của

du khách Việc điều tra phỏng vấn sâu tập trung ở một số khía cạnh có liên quan đến tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương về một số lĩnh vực mà bảng hỏi chưa đề cập Đối tượng điều tra phỏng vấn sâu là đại diện các cơ quan quản lý, trụ trì

cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch

Tác giả đã tiến hành 02 đợt khảo sát thực địa, thu thập tài liệu và tiến hành điều tra xã hội học vào tháng 3 và tháng 4 năm 2017 Do sự có hạn về mặt thời gian và các yếu tố khác, nghiên cứu này chỉ có thể tiến hành điều tra 50 khách du lịch Nội dung phiếu phỏng vấn chủ yếu thu thập thông tin về chuyến đi của du khách (số lần đến, thời gian lưu trú, chi tiêu, dịch vụ …), qua đó đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với hoạt động du lịch tại chùa Hương

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phỏng vấn một số hộ tham gia hoạt động kinh doanh phục vụ du lịch, nhằm tìm hiểu việc tiếp cận khai thác tài nguyên, thu nhập từ

du lịch và chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch Về phía cơ quan quản lý, tác giả đã phỏng vấn một số cán bộ của Ban quản lý danh thắng Hương Sơn nhằm đánh giá về công tác quản lý nói chung và công tác quản lý về du lịch, ngoài ra còn có các hoạt động khác như tài chính, bảo vệ môi trường… Về phía các cơ sở tôn giáo, tác giả cũng

đã trao đổi, phỏng vấn các nhà sư trụ trì chùa Thiên Trù, chùa Trong (động Hương

Trang 36

29

Tích) để tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến việc phối hợp với các bên liên quan trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích

2.3.3.4 Phương pháp phân tích S.W.O.T

Trước khi bắt đầu chọn các chỉ số, rất hữu ích để đánh giá Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức (S.W.O.T) của điểm đến Một phân tích S.W.O.T đánh giá tiềm năng du lịch và giúp các nhà quản lý quyết định loại chỉ số nào sẽ hữu ích trong việc theo dõi các xu hướng và tiến bộ đạt được các mục tiêu du lịch của điểm đến Nói cách khác, "Chúng ta có gì, chúng ta muốn làm gì với nó và chúng ta đo lường thành công như thế nào?" Một phân tích S.W.O.T đưa ra một bức tranh ngắn gọn về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và những hạn chế của chùa Hương, đồng thời xác định những cơ hội và thách thức mà chùa Hương phải đối mặt trong những năm tiếp theo

Nó sẽ giúp làm rõ các vấn đề và các loại chỉ số có giá trị Đó là thông tin quan trọng có thể giúp tạo ra sự thống nhất trong việc xác định những vấn đề và nguy cơ nào là quan trọng nhất và đối với các đối tượng có liên quan Phân tích S.W.O.T giúp làm rõ những nguy cơ và cơ hội đồng thời có thể hỗ trợ thảo luận về các chỉ số nào có thể sẽ được sử dụng để giải quyết sự bền vững của chùa Hương và đạt được sự bền vững trong hoạt động du lịch

2.3.3.5 Phương pháp tính sức chứa của điểm du lịch

Sức chứa hay ngưỡng chịu tải của một điểm du lịch là sự phản ảnh khả năng tập trung của du khách tại một khu vực trong một thời điểm được xác định Chỉ số này rất có ý nghĩa trong việc quy hoạch phát triển du lịch cũng như quản lý, khai thác bền vững tài nguyên của điểm đến Trong thực tế du lịch tại Việt Nam, có rất nhiều trường hợp những người làm du lịch không để ý đến khả năng chịu tải của điểm đến mà chỉ chú ý đến chỉ tiêu tăng trưởng (số lượng du khách), điều này dẫn đến việc quá tải tại các khu điểm du lịch trong mùa cao điểm Đây là một vấn đề đã, đang và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều khu, điểm du lịch

UNWTO (1981) đã định nghĩa về sức chứa du lịch là:Số người tối đa có thể đến thăm một điểm đến du lịch cùng một lúc, mà không gây phá hủy môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hoá-xã hội và đảm bảo du khách có sự hài lòng chấp nhận được

Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về sức chứa du lịch là: Sức chứa có thể được coi là số lượng người tối đa có mặt tại một điểm đến mà không gây ra các tác động không thể đảo ngược được đối với môi trường của điểm đến và không làm giảm

Trang 37

30

giá trị trải nghiệm của khách du lịch (Mathieson & Wall, 1982)

Như vậy, theo các định nghĩa trên, sức chứa du lịch của một điểm đến thường được biết đến trên bốn khía cạnh vật lý, kinh tế, xã hội, tâm lý, trong nghiên cứu này, các khái niệm về sức chứa du lịch tại chùa Hương có thể được hiểu như sau

* Sức chứa vật lý: là khả năng tiếp nhận tối đa lượng khách du lịch (hay lượng

khách du lịch tối đa có thể chứa được) của khu vực tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định

Trong thực tế, có nhiều công thức tính toán sức chứa vật lý, tuy nhiên về bản chất

là giống nhau, vì vậy để đơn giản khi áp dụng tính toán trong trường hợp này, tác giả đề xuất lựa chọn theo nghiên cứu của Fred Lawson và Manuel Baud-Bovy, cụ thể là:

Cpi = S/a, trong đó:

Cpi (Carrying Capacity Instantaneous): Sức chứa thường xuyên (hay sức chứa tức thời), đơn vị tính người khách;

S: Diện tích khu vực được nghiên cứu tính toán

a: Tiêu chuẩn về không gian (diện tích) trung bình cho mỗi khách du lịch, đơn

vị tính: m2/ người

Cpd= Cpi x f: Trong đó Cpd là sức chứa trong ngày và f là tần số sử dụng dịch

vụ trong ngày

*Sức chứa xã hội:Thể hiện qua việc hoạt động du lịch có làm nảy sinh những

hiện tượng tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá-xã hội của địa phương

*Sức chứa tâm lý: Đánh giá qua mức độ thoải mái, hài lòng của du khách cũng

như của người dân địa phương sau chuyến du lịch của du khách tới chùa Hương

*Sức chứa kinh tế: Khả năng đáp ứng các nhu cầu về mặt kinh tế của du khách

tại địa phương

Dựa trên các công thức về tính toán sức chứa vật lý và các thông tin thu thập được có thể đánh giá về ngưỡng chịu tải của chùa Hương, đặc biệt là tại các điểm du lịch có nhiều du khách tham quan, chiêm bái Đây cũng là thông tin có ý nghĩa trong việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại chùa Hương

2.4 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương 2.4.1 Cơ sở khoa học

Trong mục 1.1.4 tác giả đã định nghĩa và khái quát về đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch, việc đánh giá này được thông qua các chỉ số tính bền vững, các

Trang 38

31

chỉ số này được định nghĩa là các công cụ định lượng giúp phân tích và đánh giá thông tin để các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định đúng đắn(UNWTO, 2004) Điều này cho thấy tầm quan trọng của các chỉ số về quản lý công, cũng như nguyên tắc phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên trong lĩnh vực du lịch cần phải tính đến các đặc điểm khác nhau khi xác định các chỉ số về tính bền vững đối với một điểm đến Thông

thường, các điểm đến tại Việt Nam thường có ba đặc điểm chính Thứ nhất là các điểm

đến thường nằm trong hoặc gần khu vực nhạy cảm về mặt sinh thái như các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc nhạy cảm về văn hoá, điển hình là các di tích lịch

sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có gắn với yếu tố tâm linh, tín ngưỡng, vì vầy trong

tiêu chí đánh giá có thể xuất hiện các tiêu chí mang tính định tính; Thứ hai là: các

điểm đến được đặc trưng bởi sự năng động cao và phát triển du lịch vốn đã không ổn định, thường không thể đoán trước, điều này xuất phát từ việc phục vụ nhu cầu của

khách du lịch và tính mùa vụ của du lịch; Thứ ba là: điểm đến được tạo ra bởi các tập

đoàn, doanh nghiệp du lịch hoặc của nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc lẫn nhau, thí dụ điển hình là các khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng Vì vậy, yêu cầu đối với các chỉ số đánh giá tính bền vững phải có khả năng cung cấp thông tin, đồng thời có giá trị về phương pháp luận và khoa học Đồng thời nó cũng cần dễ dàng áp dụng và kết quả của họ dễ dàng được phổ biến Nói chung, các chỉ số cần phải đơn giản và có định hướng rõ ràng để có thể giúp cho các nhà quản lý trong quá trình lập kế hoạch và quản lý (Valentin & Spangenberg, 2000)

2.4.2 Nội dung tiêu chí

Căn cứ các hướng dẫn và các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng các chỉ tiêu về PTBV cho các điểm đến du lịch củaUNWTO (2004), đồng thời căn cứ các đặc điểm, điều kiện thực tế tại chùa Hương, tác giả xây dựng và đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương dựa trên các tiêu chí như sau:

Tiêu chí về kinh tế: Trong trường hợp này là những lợi ích thu được từ phát

triển du lịch có ảnh hưởng gì đến kinh tế xã hội tại địa phương Sự tăng trưởng của hoạt động du lịch, cơ cấu du lịch trong tỷ trọng kinh tế của địa phương, sự hài lòng của

du khách

Tiêu chí về văn hóa - xã hội: Phân bổ các lợi ích kinh tế và xã hội từ du lịch

cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là việc cải thiện cơ hội, thu nhập và dịch vụ dành cho người nghèo Sự tham gia của các bên liên quan, trong đó người dân trong việc lập

Trang 39

32

kế hoạch, quyết định về quản lý, phát triển du lịch trong tương lai tại chùa Hương Tình trạng an ninh trật tự tại địa phương, an ninh an toàn cho du khách Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống

Tiêu chí về môi trường: Trong đó có các chỉ tiêu định lượng về thu gom, xử lý

chất thải, hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học

Bảng 2 1 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch tại chùa Hương (nguồn tác giả xây dựng trên cơ sở tài liệu hướng dẫn của UNWTO, 2017)

A1 Tăng trưởng du lịch

năm trở lại đây

Năm sau không giảm hơn so với năm trước

của địa phương

Đóng góp 50% tổng thu nhập tại địa phương

du lịch

Không nhỏ hơn mức bình quân trên

cả nước và khu vực A2.3

Chi phí cho du lịch tại Chùa Hương

so với các điểm đến có đặc điểm

hoạt động du lịch tại địa phương

50% Tổng số doanh nghiệp tại xã Hương Sơn

Trang 40

33

tác động của du lịch tới địa phương

Đóng góp của du lịch trong việc tăng thu nhập bình quân hàng năm

B2 Tác động của du lịch đối với đời

sống sinh hoạt người dân

phương trong mùa du lịch

Không tăng quá 5% so với mùa thấp điểm về du lịch

B2.3

Tần suất và thời gian thiếu các dịch

vụ cơ bản (nước, điện, thu gom rác)

trong giai đoạn cao điểm

Không thấp hơn những thời điểm khác trong năm

cho việc bảo tồn di sản văn hóa

50% số tiền thu được từ bán vé tham quan

B3 Chỉ số về c ng bằng xã hội

du lịch

Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội tại địa phương được đầu tư nâng cấp

Ngày đăng: 29/12/2017, 19:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w