Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (LV thạc sĩ)
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN BẮC TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
ĐẶNG HỮU NGHĨA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mã số: 60340102
Họ và tên học viên: Đặng Hữu Nghĩa Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Nâng cao năng lực cạnh tranh củaCông ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là dotác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy
Những kết quả nghiên cứu của cá nhân đều được chỉ ra rõ ràng trong luận văn.Các thông tin tổng hợp hay các phân tích, ví dụ lấy từ nhiều nguồn tài liệu khác đềuđược trích dẫn đầy đủ và hợp lý Tất cả tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng vàđược trích dẫn hợp pháp
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2017
Tác giả
Đặng Hữu Nghĩa
Trang 5Tác giả cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc vàcác đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình nghiêncứu, thu thập số liệu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ở bên chămsóc, tạo điều kiện để tác giả có thể tập trung hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn thiện nhất, song
vì hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên tác giả không tránh khỏi những sai sótnhất định Tác giả rất mong được sự góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn để luậnvăn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2017
Tác giả
Đặng Hữu Nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ v
TÓM TẮT LUẬN VĂN vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 7
1.1 Cơ sở lý luận và khái niệm 7
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 7
1.1.2 Vai trò của cạnh trạnh 10
1.1.3 Năng lực cạnh tranh 14
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16
1.2.1 Môi trường vĩ mô 16
1.2.2 Môi trường ngành 19
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 23
1.3.1 Nguồn nhân lực 24
1.3.2 Năng lực tài chính 24
1.3.3 Trình độ tổ chức quản lý 24
1.3.4 Trình độ công nghệ 25
1.3.5 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ 26
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN BẮC 28
2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty CP Vận tải Biển Bắc 28
2.1.1 Giới thiệu về công ty 28
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 28
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty 31
2.1.4 Lĩnh vực kinh doanh 37
2.1.5 Năng lực sản xuất 38
Trang 72.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2012-2016 40
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc 41
2.2.1 Môi trường vĩ mô 41
2.2.2 Môi trường ngành 50
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn từ môi trường vĩ mô và môi trường ngành đối với công ty 56
2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc 57
2.3.1 Nguồn nhân lực 57
2.3.2 Năng lực tài chính 60
2.3.3 Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp 61
2.2.4 Trình độ công nghệ 61
2.3.5 Chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp 61
2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của công ty 63
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN BẮC 65
3.1 Định hướng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh 65
3.1.1 Định hướng chiến lược phát triển Vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 .65
3.1.2 Định hướng chiến lược nâng cao năng lưc cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong điều kiện hội nhập quốc tế 66
3.2 Kinh nghiệm trên thế giới về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Vận tải biển trong điều kiện hội nhập quốc tế 68
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc 71
3.3.1 Tái cơ cấu Vận tải biển 71
3.3.2 Phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới, đại lý 76
3.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ thuyền viên 78
3.4 Các kiến nghị, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước 78
Trang 8KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter 20
Bảng 2.1: Đội tàu của công ty 39
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh từ 2012-2016 40
Bảng 2.3: Số lượng người lao động trong Công ty 57
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu tài chính 60
Bảng 2.5: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2016 60
Biểu 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa từ năm 2006-2016 44
Biểu 2.2: Biến động BDI và Giá dầu thế giới từ tháng 7/2015 đến nay 46
Biểu 2.3: Cơ cấu đội tàu Việt Nam năm 2016 50
Biểu 2.4: Tổng sản lượng vận tải của đội tàu biển Việt Nam qua các năm 51
Biểu 2.5: Thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam hiện nay 52
Biểu 2.6: Thị phần một số tuyến vận chuyển chính trong nước 54
Biểu 3.1: Cơ cấu đội tàu Việt Nam đến năm 2020 66
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty 36
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nâng cao năng lực cạnh tranh luôn là yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệptrong mọi thời điểm Công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc là một trong những doanhnghiệp vận tải biển hàng đầu của Việt Nam nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu Doảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, cạnh tranh trong ngành gay gắt, ngoài việcphải phát huy tối đa hiệu quả sản xuất kinh doanh trên thị trường vốn có, công tycòn cần phải mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, nâng cao năng lực cạnhtranh của đội tàu Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế” nhằm phântích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty và đề xuất những giải pháp nâng caonăng lực cạnh tranh
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các dữ liệu thu thập từ cácbáo cáo, tài liệu của công ty và các nguồn tư liệu tổng hợp khác Ngoài lời mở đầu,kết luận, danh mục các bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, nội dung của luận vănđược chia làm ba chương:
Chương I: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Tác giả đưa ra các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và yếu tố ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó đưa ra các tiêu chí đánh gía
và phương pháp đánh giá để tìm hiểu năng lực cạnh tranh của công ty ở chương sau
Chương II: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc
Tác giả giới thiệu khái quát về công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc như quá trìnhhình thành và phát triển; các lĩnh vực hoạt động; tình hình sản xuất kinh doanh.Tiếp theo, căn cứ vào các cơ sở lý thuyết và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnhtranh ở chương 1, tác giả tiến hành tìm hiểu thực trạng năng lực cạnh tranh củacông ty
Chương III: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc
Trang 11Trong chương này, tác giả giới thiệu định hướng chiến lược của ngành vận tảibiển trong thời gian tới Tác giả cũng giới thiệu một số kinh nghiệm nâng cao nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải biển trên thế giới Cuối cùng tác giả đề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời gian tớitrên cơ cở điểm mạnh-điểm yếu của công ty.
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để tài
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, từ giữa năm 2014 đến nay,kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu vẫn ảm đạm khiến nhu cầu vận chuyển hànghóa đường biển tăng trưởng chậm, trong khi công suất của các hãng tàu vẫn đangquá dư thừa Theo Reuters, chỉ số thuê tàu hàng khô Baltic (Baltic Dry Index –BDI: chỉ số phản ánh mức cước vận chuyển trung bình theo trọng số của thị trườnghàng rời khô) , cho thấy xu thế đi xuống của ngành vận tải biển vẫn kéo dài từ giữa
2014 tới nay Khủng hoảng ngành vận biển hứng chịu thêm cú sốc khi tháng 9 năm
2016, hãng tàu biển lớn nhất Hàn Quốc - Hanjin tuyên bố phá sản sau một thời gianphải bù lỗ cho hoạt động kinh doanh Chưa hết khó khăn, theo quy định mới được
Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thông qua hồi tháng 10 năm 2016, từ năm 2020,các hãng tàu biển trên thế giới sẽ phải cắt giảm lượng khí thải sulfur Điều này đồngnghĩa với việc các hãng này sẽ phải chi thêm nhiều tiền để mua nhiên liệu chấtlượng cao hơn Trong bối cảnh như vậy, lợi nhuận của các hãng tàu giảm trung bình70% so với trước khủng hoảng kinh tế 2008 - 2009, việc phải tăng thêm chi phí vậnhành sẽ đè thêm gánh nặng lên nhiều hãng tàu
Năm 2016 các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt vớihàng loạt khó khăn khi thị trường vận tải biển chưa hồi phục trở lại, lượng hàng ít,giá cước thấp trong khi mức độ cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt Phần lớncác doanh nghiệp đều hoạt động không hiệu quả và thua lỗ Theo Báo cáo tài chínhquý 3-2016, công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam (VOSCO) lỗ hơn 110 tỉ đồng(lũy kế chín tháng lỗ hơn 236 tỉ), công ty cổ phần Vận tải biển Vinaship(VINASHIP) lỗ 18 tỉ đồng (lỗ ròng chín tháng là hơn 47 tỉ), công ty cổ phần Vận tải
và Cho thuê tàu biển Việt Nam (VITRANSCHART) lỗ 75 tỉ đồng (lũy kế chíntháng gần 963 tỉ) Thị trường quốc tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp vận tải ViệtNam đưa tàu quay về tham gia vận chuyển nội địa, song cũng không đơn giản khi
có quá nhiều tàu về tham gia dẫn đến cạnh tranh về giá cước, về nguồn hàng, vềlượt ưu tiên ra vào cảng, xếp dỡ hàng
Trang 13Công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc - thành viên của Tổng công ty Hàng hảiViệt Nam, là một trong chín hãng tàu hàng rời lớn nhất Việt Nam, cũng không thoátkhỏi ảnh hưởng xấu của thị trường Năm 2016, công ty ghi nhận khoản lỗ hơn 343,7
tỉ đồng Đội tàu rơi vào tình trạng nguồn thu không đủ bù đắp chi phí thiết yếu chođội tàu như: tiền lương, bảo hiểm, nhiên liệu, vật tư, sửa chữa… Trước những khókhăn đó, nhu cầu tái cơ cấu đội tàu và nâng cao năng lực cạnh tranh của công tyđược đặt ra một cách cấp thiết
Tác giả chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Vậntải Biển Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế” không chỉ phù hợp với tình hình thực
tế của doanh nghiệp mà còn phù hợp với khả năng, kiến thức của tác giả qua quátrình làm việc cũng như học tập tại trường Đại học Ngoại thương Bằng việc làm rõ
cơ sở lý luận, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và thực trạng năng lựccạnh tranh của công ty, tác giả đưa ra các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằmnâng cao sức cạnh tranh trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty trongthời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là một chủ đề nghiên cứu không phải là mới Nó đã được nhiều cánhân và tổ chức nghiên cứu cả về những vấn đề chung, bao quát cho một quốc giacho đến một lĩnh vực, một ngành, một doanh nghiệp cụ thể Tuy nhiên, việc nghiêncứu này ở mỗi thời kỳ khác nhau, có các ý nghĩa thực tiễn khác nhau
Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Việt Nam rải rác trong những nămqua Ở ngoài nước, có thể kể đến Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu do Diễn đànkinh tế thế giới (WEF) công bố hằng năm hay Báo cáo năng lực cạnh tranh của cácnước ASEAN do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á chủ trì và Công ty tư vấnMcKinsey (Hoa Kỳ) thực hiện và công bố năm 2003 Ở trong nước, đó là Chỉ sốnăng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam (VCCI) và Dự án sáng kiến năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) phối hợpthực hiện và công bố hàng năm cũng như một số các nghiên cứu, Hội thảo khoa họckhác về năng lực cạnh tranh
Trang 14Dự án nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống giao thông vậntải ở Việt Nam (VISTRANSS2-2010), do Bộ Giao Thông Vận Tải phối hợp với cơquan hợp tác Quốc tế Nhật Bản thực hiện Dự án đã rà soát lại hoạt động chuyênngành trong thời gian qua, xem xét hiện trạng phát triển và đưa ra triển vọngphát triển của chuyên ngành Cảng và Vận tải biển của Việt Nam Các vấn đềchiến lược được xem xét trong nền kinh tế định hướng xuất khẩu dựa vào đầu tưtrực tiếp nước ngoài và vai trò chính của vận tải biển trên hành lang vận tải Bắc -Nam Các dự án đề xuất của chuyên ngành được rà soát và phân loại thứ tự ưutiên dựa trên khung phát triển chung của quốc gia.
Một báo cáo chuyên sâu nữa mà chúng ta không thể không nhắc đến đó làBáo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 Báo cáo này là sản phẩm nghiên cứuchung giữa Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kếhoạch và Đầu tư Việt Nam và Học viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á (ACI) thuộcTrường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Xingapo Giáo sưMichael E Porter và các cộng sự của ông tại Học viện Chiến lược và Năng lựccạnh tranh của Đại học Harvard đã cung cấp khung phân tích và sự giúp đỡ về mặtchuyên môn cho nhóm tác giả báo cáo nhằm cung cấp những thông tin đầu vàoquan trọng và hữu ích cho quá trình xây dựng chiến lược và hoạch định chính sáchcủa Chính phủ cũng như quá trình ra quyết định của các doanh nghiệp Đây là báocáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam nhằm đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranhtrên mọi khía cạnh, từ cấp độ vi mô tới vĩ mô
Cũng có những ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâu, phân tích và đưa ra nhữngphương pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, phải kể đến đó là: “ Lợi thế cạnhtranh của Quốc gia” - Michael E Porter, đã đưa ra lý thuyết đầu tiên về sức cạnhtranh dựa trên năng suất, nhờ đó các công ty cạnh tranh với nhau, cuốn sách giớithiệu mô hình “hình thoi” của Porter, một phương pháp mới để hiểu vị trí cạnh tranhcủa một quốc gia (hay một đơn vị địa lý khác) trong cạnh tranh toàn cầu, mô hìnhgiờ đây đã trở thành một phần trong tư duy kinh doanh quốc tế
Ngoài ra, còn có các cuốn “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệpthương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Nguyễn Vĩnh Thanh,
Trang 15NXB Lao động - xã hội (2005), “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệptrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Vũ Trọng Lâm, NXB Chính trịquốc gia (2006), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầuhóa” của tác giả Trần Sửu Những ấn phẩm này đã trình bày lý luận về sức cạnhtranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường,trình bày kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của doanhnghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanhnghiệp thương mại Việt nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề xuất giải phápnâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh những báo cáo, những ấn phẩm chuyên sâu của các chuyên gia hàngđầu trong lĩnh vực nâng cao năng lực cạnh tranh tại Doanh nghiệp, thì cũng cókhông ít các học giả thể hiện niềm đam mê nghiên cứu về chủ đề này như:
Các luận án tiến sĩ kinh tế “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranhcho cà phê Việt Nam” của TS Trần Ngọc Hưng năm 2003; “Nâng cao năng lựccạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế” của TS Hoàng Thị Hoan năm 2004; “Nâng cao năng lực cạnh tranh vàhội nhập của các ngân hàng thương mại đến năm 2010” của TS Trịnh Quốc Trungnăm 2004; “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mạiViệt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Lê Đình Hạc năm2005; “National competitiveness of Vietnam: determinations, emergerging keyissues and recommendations” của TS Nguyễn Phúc Hiền năm 2008; “Giải pháp tàichính nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Giấy Việt Nam trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế” của TS Vũ Duy Vĩnh năm 2009; “Nâng cao nănglực cạnh tranh của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam” của TS Phạm Văn Công năm2009; “Hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập” của TS Đinh Thị Nganăm 2010 Kết quả nghiên cứu của các luận án nêu trên đã tập trung vào việc đánhgiá thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành,một lĩnh vực hoặc một số dịch vụ cơ bản như công nghiệp điện tử, cà phê, giấy,
Trang 16xăng dầu và ngân hàng thương mại và một số luận án tập trung đề xuất năng lựccạnh tranh của một quốc gia
Tuy nhiên, với một doanh nghiệp đặc thù như Công ty Cổ phần Vận tải BiểnBắc (Nosco) vẫn thiếu vắng một nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về năng lựccạnh tranh cũng như những nền tảng cốt lõi cấu thành nên năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Với niềm đam mê cá nhân cũng như sự thiết thực của vấn đề vận tảitrong hội nhập quốc tế, vì thế tác giả đã chọn vấn đề này để làm để tài luận văn thạc
sỹ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đich nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh và đánh giá thựctrạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc, từ đó đề xuất giảipháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra khung lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phầnVận tải Biển Bắc
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Vận tải BiểnBắc, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu trong năng lực cạnh tranh của công ty theo cácyếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh, đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty làm
cơ sở đề xuất các giả pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng caonăng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Không gian nghiên cứu và thu thập số liệu phân tíchchủ yếu là các hoạt động vận tải hàng hóa của đội tàu công ty trong nước và quốc tế
- Phạm vi về thời gian: Số liệu phân tích được thu thập từ năm 2012 đến 2016
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh tranh củacông ty và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài giải quyết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đưa ra khung
lý thuyết về năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Từ đó áp dụng vào phân tích công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc theo phương phápđịnh tính
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản dựa trên các số liệuthứ cấp thu thập được từ mạng Internet về ngành vận tải biển Việt Nam và các sốliệu, sơ đồ, bảng biểu từ báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo kết quả sản xuất kinhdoanh của Công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc qua các năm
Nhằm đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty: Tác giả sử dụngphương pháp thống kê so sánh, làm rõ năng lực của công ty trong mối tương quanvới các doanh nghiệp cùng ngành; sử dụng mô hình “5 áp lực cạnh tranh” củaMichael Porter, xem xét mức độ cạnh tranh và các áp lực cạnh tranh tác động tớicông ty; sử dụng bảng phân tích SWOT để chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơhội và thách thức đối với công ty
Việc sử dụng các phương pháp trên có phân tích và so sánh sao cho phù hợpvới nội dung cần nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là có kế thừa, sử dụng các kếtquả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, các tư liệu hiện có trong sách báo,tạp chí, Internet và các báo cáo nghiên cứu chuyên sâu
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc
Chương III: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận và khái niệm
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm cónhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanhnghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia…điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra, ở quy mô doanh nghiệp hay ở quốcgia Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợinhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu
là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân …
- Theo K Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tưbản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
- Theo Từ điển kinh doanh xuất bản năm 1992 ở Anh thì cạnh tranh trong cơchế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinhdoanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”(Bryan A Garner, Black’ Law Dictionary (St Paul, 1999), tr 278.)
- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranhđua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanhtrong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành cácđiều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổchức quản lí để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổimẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp
vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăngdoanh lợi
Dù còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua cácđịnh nghĩa trên, ta có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau:
Trang 19Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh
Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại nhữngtiền đề nhất định sau đây:
- Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hìnhthức sở hữu khác nhau Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủthể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tạicủa nhiều doanh nghiệp trên thị trường Một khi trong một thị trường nhất định nào
đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnhtranh nảy sinh và phát triển Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp,song chúng chỉ thuộc về một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳngcòn ý nghĩa gì Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanhnghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tếkhác nhau với những lợi ích và tính toán khác nhau (PGS Nguyễn Như Phát, TS.Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam,NXB Công an nhân dân, 2001)
- Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trênthị trường Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho cácdoanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội pháttriển trên thương trường Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù đượcthực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh.Khi đó, mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống như những động thái của cácdiễn viên đã được đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của cácdoanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thươngtrường không được đảm bảo
Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng (PGS Nguyễn Như Phát & Ths Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây
Trang 20dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB Công an nhân dân, 2001)
Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo
sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp Kinh tế chính trịMacxít đã chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản tìm kiếmđược trong các chu trình của quá trình sản xuất, chuyển hoá giữa tiền - hàng
Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thịtrường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai Ở đó mức thụ hưởng
về lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họtrong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội
Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách hàng Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách
hàng Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm chomình Quan hệ này cũng sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhautranh giành một nguồn nguyên liệu
Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thịtrường Từng thủ đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranhcủa doanh nghiệp Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiếnthắng mở rộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mấtkhách hàng và phải rời khỏi thị trường
Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm
Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luônganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường Với sựgiúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họlợi ích mà họ mong muốn Việc có cùng chung lợi ích để tranh giành làm cho cácdoanh nghiệp trở thành là đối thủ của nhau Lý thuyết cạnh tranh xác định sự tồn tạicủa cạnh tranh giữa các doanh nghiệp theo hướng xác định sự tồn tại của thị trường
Trang 21liên quan đối với các doanh nghiệp Việc họ có cùng một thị trường liên quan làmcho họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau
Nói tóm lại, chỉ khi nào xác định được các doanh nghiệp cùng trên một thịtrường liên quan mới có thể kết luận được rằng các doanh nghiệp đó là đối thủ cạnhtranh của nhau Khi họ có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chungmột nguồn lợi ích để hướng đến mới có căn nguyên nảy sinh ra sự ganh đua giữa họvới nhau
Dấu hiệu mục đích vì lợi nhuận và vì thị trường phản ánh bản chất kinh tế củahiện tượng cạnh tranh Từ đó có thể phân biệt cạnh tranh với các hiện tượng xã hộikhác có cùng biểu hiện của sự ganh đua Cạnh tranh đem về thị trường, khách hàng
và các yếu tố kinh tế của thị trường của người thua cuộc cho doanh nghiệp thắngcuộc Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên thương trường luônđưa đến kết quả bàn tay vô hình của thị trường sẽ lấy lại phần thị trường, lấy lại cácyếu tố thị trường như vốn, nguyên vật liệu, lao động… của người yếu thế và kinhdoanh kém hiệu quả hơn để trao cho những doanh nghiệp có khả năng sử dụng hiệuquả hơn Như thế, sẽ có kẻ mất và người được trong cuộc cạnh tranh Người được sẽtiếp tục kinh doanh với những gì đã gặt hái, còn doanh nghiệp thua cuộc phải thu hẹphoạt động kinh doanh, thậm chí phải rời bỏ thị trường Có thể nói, với đặc trưng này,cạnh tranh được mô tả như quy luật đào thải rất tự nhiên diễn ra trên thương trường
1.1.2 Vai trò của cạnh trạnh
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả làdiện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường Nhờ có cạnh tranh, với sự thayđổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thịtrường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt mà loài người chưa từng có đượctrong các hình thái kinh tế trước đó Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợinhuận của nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạokhông mệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển Theo đó,cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây:
Trang 22Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm, họ được cungphụng bởi các bên tham gia cạnh tranh Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốtnhất mà thị trường có thể cung ứng, bởi họ là người có quyền bỏ phiếu bằng đồngtiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi Nói khác đi, cạnhtranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái mà họ muốn Một nguyên lý của thịtrường là ở đâu có nhu cầu, có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặt các nhà kinhdoanh, người tiêu dùng không còn phải sống trong tình trạng xếp hàng chờ mua nhuyếu phẩm như thời kỳ bao cấp, mà ngược lại, nhà kinh doanh luôn tìm đến để đápứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất
Với sự ganh đua của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm mọicách hạ giá thành sản phẩm nhằm lôi kéo khách hàng về với mình Sự tương tácgiữa nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong điềukiện cạnh tranh đã làm cho giá cả hàng hoá và dịch vụ đạt được mức rẻ nhất có thể;các doanh nghiệp có thể thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong khả năng chitiêu của họ Với ý nghĩa đó, cạnh tranh loại bỏ mọi khả năng bóc lột người tiêudùng từ phía nhà kinh doanh
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng
về trình độ công nghệ của người sản xuất Trong mối quan hệ đó, sở thích củangười tiêu dùng là động lực chủ yếu của yếu tố cầu; công nghệ sẽ quyết định về yếu
tố cung của thị trường Tùy thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu, người tiêudùng sẽ quyết định việc sử dụng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể Phụ thuộc vào nhữngtính toán về công nghệ, về chi phí…nhà sản xuất sẽ quyết định mức độ đáp ứng nhucầu về loại sản phẩm, về giá và chất lượng của chúng Thực tế đã cho thấy, mức độthỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng phụ thuộc vào khả năng tài chính, trình độcông nghệ của doanh nghiệp Những gì mà doanh nghiệp chưa thể đáp ứng sẽ là các
đề xuất từ phía thị trường để doanh nghiệp lên kế hoạch cho tương lai Do đó, có thể
nói nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng (đại diện cho thị trường) có vai trò địnhhướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (PGSTS Lê Danh Vĩnh, Ths
Trang 23Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình “Luật cạnh tranh”, Đại họckinh tế Luật – ĐHQGHN, 2006, tr13.)
Kinh tế học đánh giá hiệu quả của một thị trường dựa vào khả năng đáp ứngnhu cầu cho người tiêu dùng Thị trường sẽ được coi là hiệu quả nếu nó cung cấphàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng với giá trị cao nhất Thị trường sẽ kémhiệu quả nếu chỉ có một người bán mà cô lập với các nhà cạnh tranh khác, cáckhách hàng khác
Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường
Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập
và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng vàbản lĩnh trong kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạmdụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh và bóc lột khách hàng Vaitrò điều phối của cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnhtranh Dẫu biết rằng, cạnh tranh là một chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không
có điểm dừng diễn ra trong đời sống của thương trường, song được các lý thuyếtkinh tế mô tả bằng hình ảnh phát triển của các chu trình theo hình xoắn ốc (PGSTS
Lê Danh Vĩnh, Ths Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình “Luật cạnhtranh”, Đại học kinh tế Luật – ĐHQGHN, 2006, tr14.)
Theo đó, chu trình sau có mức độ cạnh tranh và khả năng kinh doanh cao hơn sovới chu trình trước Do đó, khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc,người chiến thắng sẽ có được thị phần (kèm theo chúng là nguồn nguyên liệu, vốn vàlao động…) lớn hơn điểm xuất phát Thành quả này lại được sử dụng làm khởi đầucho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinhdoanh và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ dần trong quátrình kinh doanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường.Trong cuộc cạnh tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đimọi nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao chonhững người có khả năng sử dụng một cách tốt hơn Sự dịch chuyển như vậy đảmbảo cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu
Trang 24Cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất
Những nỗ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hoá, dịch vụ đãbuộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệmbằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ có được Mọi sựlãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đếnnhững thất bại trong kinh doanh Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh làđộng lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên,nhiên, vật liệu được sử dụng tối ưu
- Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh
Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng ápdụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm,giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thị trường, monggiành phần thắng về mình Cứ như thế, cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp sẽthúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật trong đời sống kinh tế và
xã hội Trên thực tế, sự thay đổi và phát triển liên tục của các thế hệ máy vi tính và
sự phát triển của hệ thống viễn thông quốc tế hiện đại cho thấy rõ vai trò của cạnhtranh trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật
Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội
Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là quyền tự do trong kinhdoanh và sự độc lập trong sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp Khi sự tự do kinhdoanh bị tiêu diệt, mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo phong trào, khôngthể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước vàpháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh Trong sự tự do kinh doanh, quyềnđược sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luônđược đề cao như một kim chỉ nam của sự phát triển Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh
Trang 25diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng củanền kinh tế.
Với ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn
là đối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Sau vài thế kỷthăng trầm của của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kếhoạch hoá tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ýnghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế Do đó, đã cónhiều nỗ lực xây dựng và tìm kiếm những cơ chế thích hợp để duy trì và bảo vệ chocạnh tranh được diễn ra theo đúng chức năng của nó
1.1.3 Năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểumột cách thống nhất Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp đáng chú ý:
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thịphần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiệnnay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đốithủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quan niệm này có thể gặptrong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley(1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban quốc gia vềHợp tác Kinh tế Quốc tế) Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cậnthương mại truyền thống đã nêu trên Hạn chế trong cách quan niệm này là chưabao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanhcủa doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấncông của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹđưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụtrên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) chorằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh
Trang 26nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh nhưvậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.
- Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợptác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sảnxuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quảlàm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnhtranh (Michael E Porter (1996), Chiến lược cạnh tranh, NXB Khoa học và Kỹ thuật
Hà Nội) Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu
và nhiệm vụ của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh củadoanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất vàchất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao
và phát triển bền vững
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vớinăng lực kinh doanh Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất
Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cầnlưu ý thêm một số vấn đề sau đây
- Năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triểntrong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnhtranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việcbán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnhtranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa háo số lượng hàng hóa nên năng lựccạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnhtranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh
Trang 27không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về nănglực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới.
- Năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về cácdoanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khảnăng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm,khả năng sáng tạo sản phẩm mới
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnhtranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phươngthức hiện đại - không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựavào quy chế
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nângcao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thuhút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảmbảo sự phát triển kinh tế bền vững
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Môi trường vĩ mô
1.2.1.1 Môi trường chính trị và pháp luật
Về môi trường chính trị, sự ổn định của hệ thống chính trị của một quốc gia sẽtạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp do có sự ổn định hoặc rõ ràngtrong việc đưa ra các chính sách giám sát, điểu tiết và thực hiện pháp luật Một quốcgia thường xuyên có bạo động, biếu tình hoặc tranh chấp giữa các phe phái, đảngđối lập sẽ đưa đến rất nhiều nguy cơ cho doanh nghiệp Hay sự thay đổi về chínhsách ngoại giao của một quốc gia cũng có thể tạo cơ hội thâm nhập thị trường củaquốc gia này hay đóng cửa hoàn toàn thị trường trong nước Sự thay đổi về hệ thốngchính trị, pháp luật sẽ dẫn đến những biến động của môi trường kinh doanh, tạo ra
cơ hội hoặc thách thức cho các doanh nghiệp
Môi trường pháp luật bao gồm luật và các văn bản dưới luật Luật gồm có luậttrong nước và luật quốc tế, các văn bản dưới luật cũng vậy, có những quy định do
Trang 28Chính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ chức quốc tế (WTO,AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hộinhập và toàn cầu hoá phải tuân theo Mọi quy định và luật lệ trong hợp tác kinhdoanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, nótác động trực tiếp đến mọi phương diện như tín dụng, thuế, chống độc quyền, bảo
hộ, ưu đãi, bảo vệ môi trường, những chính sách này khi tác động lên nền kinh tế
sẽ ra cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng sẽ tăng nguy cơ cho doanhnghiệp khác
Sự ổn định của môi trường pháp lý cũng như sự ổn định chính trị sẽ là một nhân
tố thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp đồng thời góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia.Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp phải nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thayđổi liên tục của pháp luật, dẫn đến suy yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1.2 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh đến hoạt động của doanhnghiệp so với các yếu tố khác của môi trường vĩ mô Các yếu tố kinh tế như chínhsách tài chính tiền tệ, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, tốc độ tăng trưởng GDP…chi phối trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp Ví dụ, lãi suất ngân hàng tănglên sẽ tác động đến chi phí vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Có thểnói, môi trường kinh tế thể hiện bản chất, mức độ tăng trưởng và định hướng pháttriển của nền kinh tế Các nghiệp tố kinh tế tương đối rộng nên doanh nghiệp cầnchọn lọc để biết các tác động cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp nhất của các nghiệp tố này.Những yếu tố quan trọng mà doanh nghiệp cần phải lưu ý đến liên quan đến tốc độtăng trưởng kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: số liệu về tỷ lệ tăng GDP hàng năm sẽ cho biết tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế Một nền kinh tế phát triển sẽ tạo cơ hội tăng nhucầu về sản phẩm hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp trong các ngành liên quan Khi
cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp được mở rộng, áp lực cạnh tranh trongngành kinh doanh sẽ giảm bớt Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thấp sẽ tạonên áp lực cho doanh nghiệp do việc giảm nhu cầu của người tiêu dùng Điều này
Trang 29làm cho áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành kinh doanh sẽ tăng lên (PGS TS NgôKim Thanh, Giáo trình “Quản trị chiến lược”, Đại học Kinh Tế Quốc Dân).
1.2.1.3 Môi trường xã hội
Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian nên đôi khikhó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà bất cứ doanh nghiệpnào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó cho dù có muốn sống haykhông Nhân tố xã hội có thể bao gồm: Lối sống, phong tục, tập quán, thái độ tiêudung, trình độ dân trí, ngôn ngữ, tôn giáo, thẩm mỹ
Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về sản phẩm,dịch vụ, chúng là những điều mà không ai có thể đi ngược lại được nếu muốn tồntại trong thị trường đó Sự khác biệt về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm củaDoanh nghiệp khi xuất sang thị trường nước ngoài đó có được thị trường đó chấpnhận hay không cũng như việc liệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp được yêucầu của thị trường mới hay không Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiếu nghiêncứu kỹ các yếu tố xã hội tại thị trường mới cũng như thị trường truyền thống để từ
đó tiến hành phân đoạn thị trường, đưa ra được những giải pháp riêng Đáp ứngthị trường tốt nhất yêu cầu của thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp
Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc khókhăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh vị trí địa lý thuận lợi ở trung tâm côngnghiệp hay gần nhất nguồn nguyên liệu, nhân lực trình độ cao, lành nghề hay cáctrục đường giao thông quan trọng sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển,giảm được chi phí
1.2.1.4 Môi trường công nghệ
Sự phát triển của khoa học và kỹ thuật buộc các doanh nghiệp phải luôn đối đầuvới sự thay đổi không ngừng của công nghệ ngày càng hiện đại và phức tạp Nghiệp
tố công nghệ không chỉ có tác động đến các doanh nghiệp lớn mà cả những doanhnghiệp nhỏ Sự thay đối công nghệ có thể làm thay đổi các nghiệp tố đầu vào củamột ngành sản xuất hoặc tạo những sản phẩm với tính năng công dụng mới
Trang 30Sử dụng công nghệ phù hợp, có thể làm thay đổi vị thế cạnh tranh của doanhnghiệp Đối với doanh nghiệp, các nghiệp tố công nghệ hoặc liên quan đến côngnghệ như hoạt động nghiên cứu và phát triển, bí quyết công nghệ, bản quyền côngnghệ, đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ,… đều có thể vừa là cơ hội vừa lànguy cơ đe dọa và cần được quan tâm xem xét đúng mức Doanh nghiệp luôn phảicảnh giác đòi với những công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm của mình bị lạchậu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thậm chí có thể làm mất hẳn thị trường hiệntại của doanh nghiệp.
1.2.2 Môi trường ngành
Môi trường ngành (môi trường tác nghiệp) là môi trường phức tạp nhất và cũngảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh Sự thay đổi có thể diễn ra thường xuyên vàkhó sự báo chính xác được, khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành khôngđược tổng hợp từ những quy định, quy luật mà nó đậm tính thời điểm nhất định.Micheal Porter đã đưa ra khái niêm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranhtrong một ngành phụ thuộc vào 5 lực lượng: Các đối thủ tiềm năng, sản phẩm thaythế, người cung ứng, khách hàng và những đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành
Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Theo nghiên cứu của Pankaj Ghemawat, về phía đối thủ cạnh tranh yếu tố quyếtđịnh chủ yếu năng lực bắt chước của họ đối với lợi thế cạnh tranh của một doanhnghiệp khác là do bản chất của những cam kết chiến lược trước đó của đối thủ cạnhtranh Quan điểm của Ghemawat là một khi công ty đã tạo ra một cam kết chiếnlược, nó sẽ rất khó khăn trong việc tìm cách đáp ứng với sự cạnh tranh mới nếu nóphải từ bỏ sự cam kết này Do đó, khi các đối thủ cạnh tranh đã hoàn toàn gắn vớicác cam kết được thiết lập lâu dài với một cách thức kinh doanh, nó có thể bắtchước rất chậm với một sự cải tiến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó nănglực cạnh tranh sẽ tương đối bền Một yếu tố khác quyết định khả năng của các đốithủ cạnh tranh đối phó với năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng
Trang 31hấp thụ, đó là khả năng của một doanh nghiệp có thể nhận diện, đánh giá, đồng hoá,
và sử dụng các kiến thức mới
Bảng 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, TS Đỗ Thị Hải Hà - Giáo trình Quản lý học, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2012)
Ví dụ, Hiện nay thị phần vận tải đối với hàng xuất nhập khẩu từ Việt Nam, đặcbiệt là hàng container chủ yếu do các hãng tàu nước ngoài chi phối, đội tàu treo cờViệt Nam chỉ chiếm được từ 20% - 30% thị phần hàng hóa đi/về Việt Nam Riêngđối với hàng container thì tỷ lệ này chắc chắn thấp hơn Thực trạng đội tàu của ViệtNam chủ yếu là tàu hàng khô, trừ một số tàu mới được đầu tư gần đây, còn đa số làcác tàu từ thế hệ cũ, trọng tải nhỏ, năng lực quản lý kém nên nhiều công ty khai tháctàu biển hoạt động không hiệu quả… làm hạn chế khả năng kết nối vận tải biển nênsức cạnh tranh kém
Nói cách khác, tính hình nội bộ có thể gây ra khó khăn cho các đối thủ cạnhtranh để đáp ứng với một đối thủ khác đang chiếm vị thế cạnh tranh về sản phẩmmới hay quá trình mới - hay trên cơ sở cải tiến Pha trộn cả hai nhân tố cam kếtchiến lược và khả năng hấp thụ kém sẽ hạn chế khả năng của các đối thủ cạnh tranhbắt chước lợi thế cạnh tranh của một đối thủ khác, đặc biệt khi lợi thế cạnh tranh
Trang 32phát sinh từ cải tiến sản phẩm hay quá trình Đây chính là lý do tại sao, khi các cảitiến định dạng lại các qui tắc cạnh tranh trong một ngành giá trị thường di trú từ taycác đối thủ cạnh tranh cũ đến những doanh nghiệp mới đang hoạt động với mô hìnhkinh doanh mới.
Đối thủ tiềm năng
Đối thủ tiềm năng là những người mà ý tưởng “nhảy vào cuộc” của họ đượchình thành trong quá trình theo dõi, chứng kiến, phân tích và đi đến những nhậnđịnh cuộc cạnh tranh hiện đại Tính không hiện diện như là một bức bình phong chechắn cho hướng suy tính và hành động của đối thủ tiềm năng
Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường thực hiệncác chiến lược phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung thêm những đặcđiểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm chosản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội trên thị trường, hoặcphấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ
Sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến độngcủa nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấphơn và chính đó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thay thế
Các sản phẩm được thay thế đáng quan tâm nhất là: Những sản phẩm thuộc về
xu thế cải thiện việc đánh đổi tình hình giá cả của chung lấy của ngành và hai là dongành có lợi nhuận cao Trong trường hợp sau, các sản phẩm thay thế sẽ ồ ạt nhảyvào cuộc nếu sự phát triển trong bản thân ngành do làm tăng cường độ cạnh tranhtrong nội bộ ngành và đòi hỏi giảm giá hoặc cải thiện tình hình hoạt động
Sản phẩm thay thế thường có sức cạnh tranh cao hơn do được sản xuất trênnhững dây truyền sản xuất tiên tiến hơn Mặc dù phải chịu sự chống trả của các sảnphẩm bị thay thế nhưng các sản phẩm thay thế có nhiều ưu thế hơn, do đó sẽ dầndần thu hẹp thị trường của các sản phẩm bị thay thế (đặc biệt là các sản phẩm mànhu cầu thị trường xã hội bị chặn) Sản phẩm thay thế phát triển sẽ làm giảm khả
Trang 33năng cạnh tranh của sản phẩm bị thay thế Cách khắc phục của doanh nghiệp này làhướng tới sản phẩm mới hay các khách hàng tìm kiếm độ thoả dụng mới.
Sức ép của người cung ứng
Với vai trò là người cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyềnlực của nhà cung ứng được thể hiện thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu Một sốnhững đặc điểm sau của nhà cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cạnh tranhtrong ngành:
Số lượng người cung ứng: Thể hiện mức cung nguyên vật liệu và mức độ lựachọn nhà cung ứng của các doanh nghiệp cao hay thấp Nhiều nhà cung ứng tạo ra
sự cạnh tranh trên thị trường nguyên vật liệu, nó có tác dụng làm giảm chi phí đầuvào cho các nhà sản xuất
Tính độc quyền của nhà cung ứng: Tạo ra cho họ những điều kiện để ép giá cácnhà sản xuất, gây ra những khó khăn trong việc cạnh tranh bằng giá cả
Mối liên hệ giữa các nhà cung ứng và nhà sản xuất: Khi mà cung ứng đồng thời
là một đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một tổ chức với nhà sản xuất thì tínhliên kết nội bộ được phát huy tạo cho các nhà sản xuất có điều kiện thực hiện cạnhtranh bằng giá
Để giảm bớt các ảnh hưởng xấu từ phía các nhà cung ứng, các doanh nghiệpcần phải có mối quan hệ tốt với họ, hoặc mua của nhiều người trong đó chọn rangười cung cấp chính đồng thời tích cực nghiên cứu tìm nguyên vật liệu thay thế,
dự trữ nguyên vật liệu hợp lý
Khách hàng
Một doanh nghiệp đáp ứng khách hàng tốt phải có khả năng nhận diện và thoảmãn nhu cầu khách hàng tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh Có như vậy kháchhàng sẽ cảm nhận giá trị sản phẩm của doanh nghiệp, và doanh nghiệp có lợi thếcạnh tranh trên cơ sở khác biệt Sự cải thiện về chất lượng cung cấp sản phẩm giúpdoanh nghiệp đáp ứng khách hàng bằng cách pháttriển sản phẩm mới với những đặctính mà sản phẩm hiện tại không có Nói cách khác, việc đạt được chất lượng vượt
Trang 34trội và cải tiến là một bộ phận cần thiết để thực hiện đáp ứng khách hàng một cáchvượt trội Khía cạnh nổi bật thứ hai trong đáp ứng khách hàng là cung cấp các hànghoá và dịch vụ theo nhu cầu độc đáo của các khách hàng hay nhóm khách hàng cábiệt Khía cạnh thứ ba của đáp ứng khách hàng là quan tâm đến thời gian đáp ứngkhách hàng, đó chính là thời gian để giao hang, hay để thực hiện một dịch vụ Bêncạnh đáp ứng chất lượng, đáp ứng theo yêu cầu, và đáp ứng thời gian, thiết kế vượttrội, dịch vụ vượt trội, dịch vụ hậu mãi và hỗ trợ vượt trội là những nguồn khác đểtăng cường đáp ứng khách hàng Tất cả các yếu tố này tăng cường sự đáp ứngkhách hàng và cho phép doanh nghiệp tạo ra khác biệt so với các đối thủ ít đáp ứnghơn Cuối cùng, sự khác biệt này lại cho phép doanh nghiệp tạo lập lòng trung thànhnhãn hiệu và có thể đòi hỏi một mức giá tăng thêm cho sản phẩm của mình Tómlại, hiệu quả, chất lượng, sự đáp ứng khách hàng, và cải tiến là tất cả các nhân tốquan trọng để có được năng lực cạnh tranh Hiệu quả vượt trội cho phép doanhnghiệp giảm thấp hơn chi phí; chất lượng vượt trội cho phép doanh nghiệp vừa cóthể đòi hỏi mức giá cao hơn, vừa hạ thấp chi phí; đáp ứng khách hàng vượt trội chophép đòi hỏi mức giá cao hơn; sự cải tiến có thể dẫn tới giá cao hơn và chi phí đơn
vị thấp hơn Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể sản xuất kinh doanh có hiệu quảcao hơn, chất lượng hơn, cải tiến và đáp ứng khách hàng nhanh hơn đòi hỏi Doanhnghiệp phải có khả năng đặc biệt, các nguồn lực và khả năng nhất định
Nhận xét chung, các yếu tố vi mô tác động trực tiếp đến hoạt động khai tháccủa doanh nghiệp, nghiên cứu sự tác động riêng lẻ và tác động qua lạ tương quanđến các hoạt động của doanh nghiệp để nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của mình.Qua đó doanh nghiệp có cơ sở xây dựng ma trận đánh giá các yếu tố bên trong
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có rất nhiều tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tuynhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình thực tế mỗi lĩnh vựchoạt động có thể sẽ sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi đề tài chưa thể bao quátđầy đủ Dưới đây là một số nhóm yếu tố chủ yếu thường được xem xét khi đánh giá
về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp sản xuất
1.3.1 Nguồn nhân lực
Trang 35Con người là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Trình độ, chất lượng của đội ngũ lao động ảnh hưởng đến chất lưởng sảnphẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình
độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên,trình độ tư tưởng văn hóa của mọi thành viên trong doanh nghiệp Trình độ nguồnnhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kếtcấu kĩ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng… và từ đó uy tín, danh tiếng của sảnphẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trênthương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững Các tiêuchí để phân tích nguồn nhân lực bao gồm: tuổi và cơ cấu độ tuổi; giới tính; thâmniên; trình độ học vấn, kĩ thuật
1.3.2 Năng lực tài chính
Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh được trước hết phải có đủ năng lực về tàichính Đây là một trong những điều kiện cần để doanh nghiệp duy trì và mở rộnghoạt động của mình Khả năng huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả cũng nângcao năng lực tài chính của doanh nghiệp Phân tích năng lực tài chính của doanhnghiệp là việc đánh giá tình hình tài chính trên ba khía cạnh bao gồm: khả năngthanh toán, khả năng quản lý tài sản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp Việcphân tích tài chính cần phải dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhưbảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh
1.3.3 Trình độ tổ chức quản lý
Đây là tiêu chí đánh giá trình độ quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp trong tổchức sản xuất kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp Tiêu chí này được xác định bởihiệu quả của các chiến lược, chính sách kinh doanh như: chiến lược cạnh tranh, tìmkiếm thị trường, các chính sách marketing, chính sách đào tạo và phát triển nguồnnhân lực, chính sách đầu tư Tăng cường năng lực quản lý và điều hành doanhnghiệp sẽ góp phần quan trọng trong việc đưa doanh nghiệp giành thắng lợi trênthương trường trước các áp lực cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp trong vàngoài nước Điều này thể hiện ở việc ban hành các công cụ quản lý, các chế độ
Trang 36chính sách, các chiến lược kinh doanh và phối hợp các nguồn lực của doanh nghiệpnhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.
Khi nói đến sự thay đổi trong một tổ chức, cần phải hiểu đó là sự thay đổicủa tất cả mọi quá trình, cải tổ một cách chủ động nhằm mục đích tạo sức cạnhtranh lớn hơn cho doanh nghiệp, cho tổ chức, từ việc áp dụng công nghệ mới,những bước dịch chuyển có tính chất chiến lược, tổ chức lại dây chuyền sản xuất,liên kết hoặc hợp nhất với doanh nghiệp khác, tái cơ cấu các bộ phận kinh doanh,đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa tập đoàn Tuy nhiên, trong thực tế chúng
ta vẫn thường gặp những nhà quản trị kém hiệu quả, họ không được nể trọng vàluôn làm ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của tổ chức Một công ty có chế độ trảlương cao, chính sách quản lý thân thiện và những yếu tố khác thuận lợi thì có thểgiữ chân nhân viên, cũng như khiến họ trung thành với tổ chức Nhưng tất cả nhữngyếu tố thuận lợi ấy cũng trở nên vô nghĩa, nếu tổ chức đó có những người quản lýkém cỏi Hơn nữa ở những vị trí then chốt, người lãnh đạo thiếu năng lực sẽ gây trởngại cho các kế hoạch đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, nhằm nâng cao hiệu suất làmviệc Khi viết về vấn đề “những người thực hiện loại C” Thực tế hiện nay có nhiềucông ty chuyển đổi rất nhanh chóng, từ nguy cơ phá sản chuyển sang làm ăn phátđạt Một trong những động cơ của quá trình chuyển đổi này là sự thay đổi văn hoá
tổ chức quản lý Trong tổ chức thì chủ thể quản lý chính là người tiên phong đi đầu
để chuẩn bị mọi điều kiện cho quá trình thực hiện sự thay đổi của tổ chức đó Một
tổ chức muốn thành công phải có những chủ thể quản lý sự thay đổi tuyệt vời cótrách nhiệm với thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai (ThS Nguyễn Văn Điềm,PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, Giáo trình “Quản trị nhân lực”, NXB Lao động Xãhội, 2004)
1.3.4 Trình độ công nghệ
Đây là yếu tố phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ cho sản xuất, trình
độ tổ chức sản xuất, trình độ tổ chức quản lý Nếu máy móc thiết bị được trang bịhiện đại, trình độ tay nghề của công nhân cao phù hợp với trình độ máy móc thiết bị
và có trình độ tổ chức, quản lý tốt thì công việc quản lý kinh doanh sẽ suôn sẻ, tạo
ra được nhiều lợi thế so với đối thủ, khẳng định khả năng cạnh tranh của Doanh
Trang 37nghiệp trên thị trường Để đạt được điều đó cần phải kết hợp nhuần nhuyễn cả bayếu tố trên Thiếu một trong ba yếu tố ; máy móc thiết bị, lao động và tổ chức quản
lý thì có đạt được một sức mạnh cạnh tranh có thế chiến thắng trên thương trường
1.3.5 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện ở hai khía cạnh: chấtlượng về mặt vật lý, kỹ thuật của sản phẩm và chất lượng trong khâu phục vụ (cácdịch vụ đi kèm bán hàng và sau bán hàng) Để có thể tồn tại và đứng vững trongđiều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường, chất lượng sản phẩm dịch vụ là vấn đềluôn được coi trọng Đối với các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm là dịch vụ nhưdoanh nghiệp vận tải thì chất lượng sản phẩm dịch vụ được thể hiện qua khả năngđáp ứng yêu cầu của khách hàng, thời gian và giá cung cấp dịch vụ, mức độ hàilòng của khách hàng Bên cạnh các yếu tố đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ, cácdoanh nghiệp còn phải lưu ý đến dịch vụ sau bán hàng như dịch vụ đại lý, kho vận,thủ tục hải quan Nó đảm bảo cho Doanh nghiệp mở rộng được phần thị trường, tiêuthụ sản phẩm nhiều hơn đảm bảo thu hồi vốn nhanh để sản xuất
***
Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh là những khái niệm vẫn chưa được định nghĩa một cách chính xác, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu về các khái niệm này Theo tác giả, có thể hiểu một cách tổng quát: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có
Với khái niệm năng lực cạnh tranh, luận văn chỉ đề cập tới năng lực cạnh tranh
ở cấp độ doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi của các nhà tài trợ, đồng thời đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đã đặt ra Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trang 38Bằng việc nghiên cứu lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, để nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Vận tải Biển Bắc ở các chương sau, tác giả sử dụng các chỉ tiêu như: Nguồn nhân lực, Năng lực tài chính, Trình độ tổ chức quản lý, Trình độ công nghệ, Chất lượng sản phẩm dịch vụ và Uy tín của doanh nghiệp Từ đó là cơ sở giúp tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
Trang 39CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN BẮC
2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty CP Vận tải Biển Bắc
2.1.1 Giới thiệu về công ty
Tên công ty: Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc Tên tiếng Anh: ORTHERNSHIPPING JOINT STOCK COMPANY (NOSCO)
Công ty có trụ sở chính tại số 278 Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội
Thông tin liên hệ: Điện thoại: 043.8512688; Fax: 043.8569967;
Email: nosco@nosco.com.vn Website: www.nosco.com.vn
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc, tiền thân là Công ty Vận tải Thủy Bắc,thuộc Cục Đường sông Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 1108/QĐ-TCCB-LĐ ngày 03/06/1993 của Bộ Giao thông Vận tải trên cơ sở chuyển đổi tổchức Văn phòng Tổng công ty Vận tải sông I
Theo Quyết định số 598/TTg ngày 30/07/1997 của Thủ tướng Chính phủ, Công
ty chuyển về trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam Đến năm 2004, Công tyVận tải Thủy Bắc được đổi tên thành Công ty Vận tải Biển Bắc theo quyết định số219/QĐ-HĐQT ngày 01/04/2004 của Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Hàng hải ViệtNam và vẫn trực thuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam
Ngày 28/11/2006, Bộ Giao thông Vận tải ra quyết định số 2581/QĐ-BGTVTphê duyệt phương án và chuyển Công ty Vận tải Biển Bắc thành Công ty Cổ phầnVận tải Biển Bắc (NOSCO) Sau một thời gian thực hiện phương án cổ phần hóa,ngày 08/07/2007 Công ty tổ chức Đại hội đồng cổ đông phiên thành lập và làm cácthủ tục kinh doanh Công ty chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổphần từ 01/08/2007
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Vận tải Biển Bắc vớinhững dấu ấn thăng trầm và biến động trong suốt 15 năm qua có thể chia thành 03giai đoạn:
Trang 40Giai đoạn 1993-1997: Giai đoạn đi vào hoạt động và ổn định tổ chức
Thời điểm này, Nhà nước đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa chuyển sang cơ chếthị trường Trong bối cảnh khó khăn cộng với cơ sở vật chất ban đầu rất hạn chế:đội tàu mỏng, trọng tải nhỏ, không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu SXKD; đội ngũCBCNV chưa theo kịp với đòi hỏi của thực tế; lực lượng thuyền viên chủ yếu khaithác và vận hành các tàu trọng tải nhỏ, chưa quen với tác phong công nghiệp, kinhnghiệm và trình độ hạn chế nên có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triểncủa Công ty Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Công ty quyết định chuyển hướngkinh doanh từ vận tải sông sang vận tải biển, đồng thời mở rộng loại hình kinhdoanh sang xuất nhập khẩu máy thủy và kinh doanh đa ngành nghề nhằm hỗ trợ cholĩnh vực sản xuất chính Công ty tập trung mọi lực lượng, tranh thủ sự hỗ trợ củacác cấp, các ngành, mạnh dạn vay vốn đầu tư mua tàu biển, nâng đội tàu biển củaCông ty lên 6 chiếc với tổng trọng tải 8.600 tấn Một bước ngoặt lớn của Công tytrong giai đoạn này là trở thành thành viên của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam(VINALINES) theo Quyết định 598/TTg của Thủ tướng Chính phủ
Bên cạnh đầu tư phát triển lĩnh vực vận tải biển, Công ty đã tận dụng năng lựcsẵn có tiếp tục tổ chức kinh doanh máy thủy, cung cấp phụ tùng vật tư cho thịtrường nội địa và đặt cơ sở cho sự phát triển xuất nhập khẩu máy thủy sau này Đặcbiệt, Công ty cũng là đơn vị đầu tiên ở miền Bắc triển khai kinh doanh vận tải kháchthủy bằng tàu cao tốc trên tuyến Hải Phòng-Cát Bà (năm 1996) mang lại hiệu quảkhả quan; đồng thời mở đường cho kế hoạch vận tải khách bằng tàu cao tốc củanước nhà
Giai đoạn 1998-2006: Giai đoạn khởi đầu cho những thay đổi trong lịch sử hìnhthành và phát triển của NOSCO
Bên cạnh lĩnh vực vận tải biển, Công ty mở rộng các loại hình kinh doanh khácnhư dịch vụ du lịch, đặc biệt là xuất khẩu lao động được triển khai cuối năm 1998.Đặc biệt, cuối năm 2006, Công ty đã có sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo - một Banlãnh đạo trẻ, năng động, chủ động đã tạo ra thế và lực để đưa Công ty phát triển lêntầm cao mới