1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)

179 246 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM (LV thạc sĩ)

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN

THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP

KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

VŨ MẠNH HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 60310106

Họ và tên học viên: VŨ MẠNH HÀ

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 4

Tôi tên là Vũ Mạnh Hà, là học viên lớp Cao học CH22KTQT01, chuyên ngành kinh tế quốc tế tại trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2 Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

TỚI VIỆC KHAI SAI HÓA ĐƠN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà

Các số liệu, thông tin, tài liệu để thực hiện luận văn là trung thực, chính xác

và có ghi nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tác giả Luận văn

Vũ Mạnh Hà

Trang 5

Sau một thời gian học tập tại Trường Đại học Ngoại thương, đến nay tác giả

đã nghiên cứu và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các Thầy Cô trong Ban Lãnh đạo nhà trường, Quý Thầy Cô khoa sau đại học đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, luôn động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả cũng như các học viên khác trong suốt quá trình học tập chương trình cao học tại Nhà trường

Đặc biệt tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, người đã dành nhiều thời gian tâm huyết hướng dẫn trực tiếp luận văn,

đã có những góp ý rất quý giá cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện

đề tài được giao một cách tốt nhất

Cuối cùng tác giả cũng xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên và cỗ vũ tinh thần trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo, bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn Xin trân trọng cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 09 năm 2017 Tác giả

Vũ Mạnh Hà

Trang 6

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các sơ đồ, hình vẽ, bảng biểu

Tóm tắt kết quả nghiên cứu luận văn

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do thực hiện đề tài 1

1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

1.2.1 Nghiên cứu trong nước 8

1.2.2 Nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 13

1.3.1 Mục tiêu tổng quát 13

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 13

1.4 Các câu hỏi nghiên cứu 13

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 14

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 14

1.6 Phương pháp nghiên cứu 14

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 15

1.8 Kết cấu của luận văn 16

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 17

2.1 Cơ sở lý thuyết về khai sai hóa đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa 17

2.1.1 Khái niệm về hóa đơn thương mại 17

2.1.2 Khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá 18

Trang 7

2.1.3.1 Khái niệm về khai báo sai hóa đơn thương mại 18

2.1.3.2 Các hình thức khai báo sai hóa đơn thương mại 20

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại 22

2.2.1 Gánh nặng thuế 22

2.2.2 Tham nhũng 25

2.2.3 Khả năng kiểm toán 25

2.2.4 Lạm phát 26

2.2.5 Ðộ mở thương mại của nền kinh tế 26

2.2.6 Thâm hụt tài khoản vãng lai 27

2.2.7 Lãi suất 28

2.2.8 Tỷ giá hối đoái 29

2.2.9 Độ mở tài khoản vốn 29

2.2.10 Chênh lệch tỷ giá hối đoái thị trường chợ đen 30

2.2.11 Sự ổn định chính trị 30

2.2.12 Nợ công 31

2.2.13 Các yếu tố khác 31

2.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN DỮ LIỆU 35

3.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu 35

3.2 Mẫu nghiên cứu, mô tả các biến và nguồn dữ liệu 37

3.2.1 Mẫu nghiên cứu 37

3.2.2 Biến phụ thuộc 38

3.2.3 Biến độc lập 39

3.2.3.1 Cân bằng tài khoản vãng lai (CAB) 39

3.2.3.2 Tự do hóa tài chính (FIF) 40

3.2.3.3 Thuế đánh vào hàng nhập khẩu (TOI) 40

3.2.3.4 Thuế đánh vào hàng xuất khẩu (TOE) 41

Trang 8

3.2.3.7 Sự ổn định chính trị (POS) 41

3.2.3.8 Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) 42

3.3 Giả thuyết nghiên cứu 43

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 44

3.4.1 Phân tích thống kê mô tả 44

3.4.2 Phân tích hồi quy dữ liệu bảng 45

3.4.3 Các kiểm định của mô hình dữ liệu bảng 46

3.4.3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình 46

3.4.3.2 Kiểm định sự vi phạm các giả định của mô hình 47

3.4.4 Hồi quy Robust khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi của mô hình 48

3.4.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình tổng thể 48

3.4.5.1 Kiểm định giả thuyết về hệ số hồi qui của các biến giải thích 48

3.4.5.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 49

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 49

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50

4.1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 50

4.1.1 Thống kê mô tả các biến 50

4.1.2 Phân tích ma trận tương quan 55

4.1.3 Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy 57

4.1.3.1 Mô hình khai thấp hóa đơn thương mại hàng XK (mô hình 1) 58

4.1.3.2 Mô hình khai cao hóa đơn thương mại hàng XK (mô hình 3) 58

4.1.3.3 Mô hình khai thấp hóa đơn thương mại hàng NK (mô hình 2) 59

4.1.3.4 Mô hình khai cao hóa đơn thương mại hàng NK (mô hình 4) 59

4.1.4 Kiểm định sự vi phạm các giả định của mô hình 60

4.1.4.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 60

4.1.4.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 60

4.1.4.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 60

Trang 9

4.1.6 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 61

4.1.7 Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy 04 mô hình, kiểm định giả thuyết về hệ số hồi quy của các biến giải thích 62

4.2 Thảo luận kết quả 64

4.2.1 Cân bằng tài khoản vãng lai 64

4.2.2 Sự tự do tài chính 65

4.2.3 Thuế đánh vào hàng nhập khẩu 66

4.2.4 Lãi suất tiền gửi 67

4.2.5 Tự do hoá thương mại 69

4.2.6 Sự ổn định chính trị 72

4.2.7 Tỷ giá hối đoái thực đa phương 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 74

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 75

5.1 Khuyến nghị liên quan đến tài khoản vãng lai của Việt Nam 75

5.2 Khuyến nghị liên quan đến nhân tố tự do tài chính 78

5.3 Khuyến nghị liên quan đến chính sách thuế và chính sách thương mại 79

5.3.1 Khuyến nghị đối với Chính phủ, Bộ Tài chính 79

5.3.2 Khuyến nghị với Tổng Cục Hải quan 81

5.4 Khuyến nghị liên quan đến chính sách lãi suất 91

5.5 Khuyến nghị liên quan đến việc ổn định tình hình chính trị 92

5.6 Khuyến nghị liên quan đến chính sách tỷ giá 94

5.7 Một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 94

5.7.1 Một số hạn chế của đề tài 94

5.7.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 5 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

Từ viết tắt Diễn giải từ viết tắt

AANZFTA Hiệp định khu vực thương mại tư do Asean - Úc và Niu Di Lân ACFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc

ADB The Asian Development Bank: Ngân hàng Phát triển Châu Á

AFTA ASEAN Free Trade Area: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

AITIG Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN - Ấn Độ

AJCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản

AKFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế

châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á ASEM The Asia-Europe Meeting: Diễn đàn hợp tác Á-Âu

BTA Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ

CIF Cost-Insurance and Freight: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí CPI Consumer Price Index: Chỉ số giá tiêu dùng

EEU Hiệp định Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu

FDI Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FEM Fixed Effect Model: Mô hình theo phương pháp tác động cố định FOB Free on Board: Giao hàng lên tàu

FTA Free Trade Agreement: Hiệp định khu vực thương mại tự do GATT General Agreement on Tariffs and Trade: Hiệp định chung về

thuế quan và thương mại GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm trong nước

HS Harmonized Commodity Decription and Coding System: Hệ

thống hài hoá mô tả và mã hoá hàng hoá

ID Identification: Là mã tài khoản để nhận dạng, quản lý

IMF International Monetary Fund: Quỹ Tiền tệ quốc tế

ITC International Trade Centre: Trung tâm Thương mại Quốc tế

MIMIC Multiple Indicators and Multiple Causes: Mô hình nguyên nhân

và kết quả

Trang 11

NTB Non-Tariff Barrier: Hàng rào phi thuế quan

OECD Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế REER Real effective exchange rate: Tỷ giá hối đoái thực đa phương REM Random Effect Model: Mô hình theo phương pháp tác động ngẫu

nhiên SEM Structural Equation Modeling: Mô hình phương trình cấu trúc

The United Nations Commodity Trade Statistics Database: Cơ sở

dữ liệu thống kê thương mại về hàng hoá của Liên hiệp quốc UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization:

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNODC United Nations Office on Drugs and Crime: Cơ quan Phòng

chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hiệp quốc USD United States Dollar: Đồng đô la Mỹ

VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry: Phòng Thương

mại và Công nghiệp Việt Nam VCFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile

VCIS Vietnam Customs Intelligence Information System: Hệ thống

thông tin tình báo Hải quan Việt nam VIF Variance Inflation Factor: Hệ số phóng đại phương sai

VJEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản

VKFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc

VNACCS Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated System: Hệ

thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam

WCO World Customs Organization: Tổ chức Hải quan thế giới

WDI World Development Indicators: Các chỉ số phát triển thế giới WTO World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

Bảng 1.1 Trị giá khai sai hoá đơn TM tại Việt Nam giai đoạn

Bảng 1.2 Khai báo sai hóa đơn TM theo mức độ tổng kim ngạch XNK theo quốc gia từ năm 2011-2016 3 Bảng 3.1 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy 42-43

Bảng 4.5 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 1 55 Bảng 4.6 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 3 55 Bảng 4.7 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 2 56 Bảng 4.8 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 4 57 Bảng 4.9 Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy cho mô

Bảng 4.18 Kết quả hồi quy bằng phương pháp REM và ROBUST 62 Hình 1.1 Biểu đồ minh họa việc khai thấp hóa đơn TM đối với hàng

Trang 13

Báo cáo của Tổ chức Liêm chính Tài chính toàn cầu về “Dòng chảy tài chính bất hợp pháp từ các nước đang phát triển giai đoạn 2004 - 2013” đã cho thấy việc khai báo sai hoá đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tại các quốc gia đang phát triển trên toàn thế giới ngày càng nghiêm trọng, đã đặt ra rất nhiều thách thức cho các nhà làm chính sách tại các quốc gia này và đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế trong thời gian qua Tuy nhiên, tại Việt Nam vấn đề này chưa được nghiên cứu và xem xét một cách đầy đủ

Mục tiêu của tác giả trong nghiên cứu này là nhằm ước lượng mức độ khai báo sai hoá đơn thương mại và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai báo sai hoá đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tại Việt Nam với 91 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2016 Nghiên cứu được thực hiện trên cả 04 mô hình là khai thấp và khai cao hoá đơn thương mại đối với hàng xuất khẩu, khai thấp và khai cao hoá đơn thương mại đối với hàng nhập khẩu Dữ liệu thương mại được sử dụng để phân tích, ước lượng, kiểm định là dữ liệu kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu cộng gộp hàng năm và dữ liệu kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của một số mặt hàng lớn giữa Việt Nam và 91 nước đối tác Kết quả ước lượng cho thấy tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu khai báo sai hóa đơn thương mại ở Việt Nam 16 năm từ năm 2001 - 2016 là 620,2 tỷ USD, trung bình mỗi năm

là 38,7 tỷ USD Tổng tổn thất thuế gộp do hành vi khai báo sai hoá đơn thương mại trong giai đoạn trên là 40,09 tỷ USD, tổng tổn thất thuế dòng do trốn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp trong cùng giai đoạn là 27,9 tỷ USD

Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy có ba yếu tố ảnh hưởng tới việc khai thấp hóa đơn thương mại hàng xuất khẩu là: độ mở thương mại của nền kinh tế, sự ổn định chính trị, tỷ giá hối đoái thực đa phương; có năm yếu tố ảnh hưởng tới việc khai cao hóa đơn thương mại hàng xuất khẩu là: thâm hụt tài khoản vãng lai, tự do tài chính, lãi suất huy động của ngân hàng, độ mở thương mại của nền kinh tế và tỷ

Trang 14

đánh vào hàng NK, lãi suất huy động của ngân hàng, độ mở thương mại của nền kinh tế và sự ổn định chính trị; có hai yếu tố ảnh hưởng tới việc khai cao hóa đơn thương mại hàng nhập khẩu là: lãi suất huy động của ngân hàng và tỷ giá hối đoái thực đa phương

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị về chính sách và biện pháp cho các cơ quan hữu quan trong việc quản lý nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi khai báo sai hoá đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp tại Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do thực hiện đề tài

Trong nhiều năm qua, để thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc

và tự do hóa thương mại Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, tiến hành gia nhập nhiều tổ chức quốc tế, ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương Gần đây nhất Việt Nam đã tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) Nhờ việc tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa của nước

ta tăng trưởng liên tục, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Số liệu thống kê cho thấy, năm 2001 tổng trị giá hàng hóa XNK của Việt Nam đạt 31,24 tỷ USD, thì đến năm 2016 tổng trị giá hàng hóa XNK đã đạt con số 351,38 tỷ USD, cao gấp hơn 11,24 lần so với năm 2001 Kim ngạch xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK) năm 2009, có giảm so với năm 2008 nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng đã tăng vào các năm sau

đó khi tình hình kinh tế thế giới và trong nước phục hồi (Xem kim ngạch XNK của Việt Nam tại phụ lục 1)

Bên cạnh cơ hội thì xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng các loại tội phạm, hành vi gian lận có yếu tố nước ngoài như: buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, tham nhũng, trốn thuế, chuyển giá, khai báo sai hóa đơn thương mại (TM) khi xuất trình, làm thủ tục hải quan (Nguyễn Mại,

tr 257-258; Nguyễn Xuân Trường, tr 59-60) Tháng 12/2015, Tổ chức Liêm chính Tài chính toàn cầu (Global Financial Integrity, gọi tắt là GFI) đã công bố báo cáo

“Illicit Financial Flows from Developing Countries: 2004 - 2013” (Dòng chảy tài chính bất hợp pháp từ các nước đang phát triển giai đoạn 2004 - 2013” Báo cáo cho thấy lượng tiền thất thoát của Việt Nam ra nước ngoài trong một thập kỷ vừa qua (2004 - 2013) là 92,9 tỷ USD, trung bình mỗi năm là 9,29 tỷ USD Tổng trị giá khai báo sai hóa đơn thương mại qua hoạt động XK, NK hàng hóa tại Việt Nam khi so

Trang 16

sánh với dữ liệu thương mại của các nước phát triển trong giai đoạn từ 2004 - 2013

là 225.149 triệu USD, cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Trị giá khai sai hoá đơn TM tại Việt Nam giai đoạn 2004 - 2013

Đơn vị tính: triệu USD

Quốc gia

vào khai sai hóa đơn (b+c)

Tổng dòng

ra khai sai hóa đơn (a+d)

Tổng gộp chung khai sai hóa đơn (a+b+c+d)

Khai vượt

hóa đơn

(a)

Khai thấp hóa đơn (b)

Khai vượt hóa đơn (c)

Khai thấp hóa đơn (d)

Việt

Nguồn: Illicit Financial Flows from Developing Countries: 2004 - 2013

Cuối tháng 01/2016, các lực lượng chức năng Việt Nam phát hiện một vụ gian lận 7.502 tấn xăng do Công ty Cổ phần Dương Đông Hòa Phú thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Thuận thông qua thủ đoạn khai báo trên tờ khai hải quan và các chứng từ thương mại số lượng hàng hoá thấp hơn lượng hàng thực tế NK về (Tổng cục Hải quan, Báo cáo công tác kiểm soát hải quan năm 2016, tr 7) Doanh nghiệp khai thấp trị giá hàng NK là xe ô tô dưới hình thức quà biếu tặng: Tính từ ngày 01/01/2016 đến 30/09/2016, đã phát sinh 1.072 xe ô tô nhập khẩu qua các cửa khẩu của Việt Nam dưới dạng quà biếu, quà tặng, số thuế doanh nghiệp khai báo là 1.576,9 tỷ đồng, trong đó: thuế nhập khẩu 492 tỷ đồng, thuế tiêu thụ đặc biệt 856,2

tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 228,7 tỷ đồng Nhận thấy giá khai báo của doanh nghiệp bất hợp lý, thấp hơn giá thực tế giao dịch trên thị trường cơ quan Hải quan

đã tiến hành xác định lại trị giá tính thuế tăng so với trị giá khai báo đối với 871 xe ôtô, số thuế tăng thêm so với số thuế khai báo của doanh nghiệp là 887,9 tỷ đồng, trong đó thuế NK: 277,5 tỷ đồng, thuế tiêu thụ đặc biệt là 481,8 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 128,6 tỷ đồng (Minh Phương, 871 ô tô NK bị tăng thu thuế gần 888 tỷ đồng)

Để thấy được thực trạng mức độ khai báo sai hoá đơn thương mại theo đối tác

và mặt hàng, tác giả dựa trên phương pháp của Tehseen Ahmed Qureshi và Zafar Mahmood; Léonce Ndikumana và James K Boyce; Ila Patnaik, Abhijit Sen Gupta

và Ajay Shah, qua tính toán cho thấy tổng trị giá hàng hóa XNK khai sai hóa đơn

TM trong giai đoạn 16 năm từ năm 2001 - 2016 gộp chung của tất cả sản phẩm tại Việt Nam khi so sánh với dữ liệu TM của 91 nước đối tác là 620,3 tỷ USD, trung

Trang 17

bình mỗi năm là 38,8 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 30,1% GDP hàng năm, chiếm 21% kim ngạch XNK hàng hóa hàng năm

Bảng 1.2: Khai báo sai hóa đơn TM theo mức độ tổng kim ngạch XNK theo

quốc gia từ năm 2001 - 2016

Đơn vị tính: triệu USD

Năm

Tổng trị giá khai sai hóa đơn thương mại

Tổng trị giá khai sai hóa đơn thương mại/GDP (%)

Tổng trị giá khai sai hóa đơn thương mại/kim ngạch XNK (%)

Khai

thấp hóa

đơn

Khai cao hóa đơn

Khai thấp hóa đơn

Khai cao hóa đơn

NK thấp hóa đơn thương mại liên tục tăng qua các năm, bắt đầu tăng mạnh từ năm

2007 Trong khi đó trị giá hàng NK vượt hóa đơn chỉ chiếm tỷ lệ 6,9% (tương đương 43 tỷ USD) Điều này chứng tỏ rằng việc doanh nghiệp khai báo sai hóa đơn thương mại đối với hàng NK ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc khai thấp hóa đơn thương mại hàng NK nhằm mục đích trốn thuế đánh vào hàng NK Trị giá hàng

Trang 18

XK khai báo thấp hóa đơn thương mại là 162,3 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 26,2% tổng trị giá hàng hóa XNK khai báo sai hóa đơn thương mại Trong khi đó trị giá hàng XK khai báo cao hóa đơn thương mại là 93,8 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 15,1% tổng trị giá hàng hóa XNK khai báo sai hóa đơn thương mại Như vậy, việc doanh nghiệp khai thấp hóa đơn thương mại đối với hàng XK sẽ làm giảm doanh thu phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm số tiền thuế XK phải nộp Việc doanh nghiệp khai báo trị giá hàng XK cao hơn trên hóa đơn thương mại so với thực tế XK doanh nghiệp sẽ đạt được mục đích được hoàn số tiền thuế NK đã tạm nộp hoặc không thu số tiền thuế NK phải nộp, hợp thức hóa số nguyên liệu đầu vào NK ưu đãi, miễn thuế do tiêu thụ nội địa khi doanh nghiệp mở tờ khai đăng ký theo loại hình nhập sản xuất

XK, khi doanh nghiệp hoạt động theo loại hình nhập gia công

Hình 1.1: Biểu đồ minh họa việc khai thấp hóa đơn TM đối với hàng NK

Nguồn: Tính từ dữ liệu của UN Comtrade, IMF (DOTS), ITC, TCTK và TCHQ

Biểu đồ trên cho biết 10 quốc gia lớn nhất là các đối tác Việt Nam NK hàng hóa có trị giá khai thấp hóa đơn thương mại hàng NK lớn nhất Trong đó Trung quốc là quốc gia có lượng hàng hóa NK khai thấp trị giá nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 8,35% tổng kim ngạch NK Việc này hoàn toàn có thể lý giải được là hiện nay Trung Quốc vẫn là thị trường cung cấp chủ yếu cho Việt Nam các mặt hàng nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu

Trang 19

Trong năm 2016 kim ngạch NK hàng hóa của Việt Nam từ Trung Quốc đạt 50,02 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 28,6% trong tổng kim ngạch NK Các đối tác còn lại cũng là những thị trường chính cung cấp hàng hoá cho Việt Nam

Hình 1.2: Biểu đồ minh họa việc khai cao hóa đơn TM đối với hàng NK

Nguồn: Tính từ dữ liệu của UN Comtrade, IMF (DOTS), ITC, TCTK và TCHQ

Thụy sỹ, Cô Oét, Campuchia là 03 quốc gia Việt Nam NK hàng hóa có trị giá khai cao hóa đơn lớn nhất

Hình 1.3: Biểu đồ minh họa việc khai thấp hóa đơn TM đối với hàng XK

Nguồn: Tính từ dữ liệu của UN Comtrade, IMF (DOTS), ITC, TCTK và TCHQ

Trang 20

Trung Quốc, Đức, Pháp là 03 quốc gia nơi đến của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có trị giá khai thấp hóa đơn lớn nhất

Hình 1.4: Biểu đồ minh họa việc khai cao hóa đơn TM đối với hàng XK

Nguồn: Tính từ dữ liệu của UN Comtrade, IMF (DOTS), ITC, TCTK và TCHQ

Campuchia, Trung Quốc, Hà Lan là 03 quốc gia nơi đến của hàng hóa XK của Việt Nam có trị giá khai cao hóa đơn lớn nhất

Trong giai đoạn từ năm 2001 - 2015, các mặt hàng NK khai báo trị giá hóa đơn thấp hơn thực tế lớn nhất gồm có: mặt hàng xăng dầu (mã HS 271011, 271012, 271019) có tổng trị giá khai báo sai là 13.754 triệu USD; bộ phận của điện thoại, thiết bị khác để truyền hoặc nhận tiếng, hình ảnh (mã HS 851770) có tổng trị giá khai báo sai là 6.322 triệu USD; xe ô tô các loại (mã HS 870321, 870322, 870323)

có tổng trị giá khai báo sai là 2.467 triệu USD; vải dệt kim hoặc dệt móc (mã HS 600622) có tổng trị giá khai báo sai là 3.310 triệu USD Các mặt hàng NK khai báo cao trị giá hóa đơn chủ yếu tập trung vào nhóm mặt hàng: bộ phận của điện thoại, thiết bị khác để truyền hoặc nhận tiếng, hình ảnh (mã HS 851770) có tổng trị giá khai báo sai là 7.931 triệu USD; Polypropylen (mã HS 390210) có tổng trị giá khai báo sai là 1.808 USD; thuốc phòng bệnh (mã HS 300490) có tổng trị giá khai báo sai là 1.189 USD (Chi tiết tại phụ lục 3)

Các mặt hàng XK khai báo trị giá hóa đơn thấp hơn thực tế lớn nhất gồm có: giày dép (mã HS 640399), điện thoại di động (mã HS 851712), đồ nội thất bằng gỗ

Trang 21

(mã HS 940360), áo các loại (mã HS 611020), với trị giá khai thấp hóa đơn lần lượt

là 9.706 triệu USD, 9.650 triệu USD, 3.745 triệu USD và 3.039 triệu USD 03 mặt hàng XK khai cao hóa đơn thương mại lớn nhất gồm điện thoại di động (mã HS 851712), dầu thô (mã HS 270900), hạt điều đã bóc vỏ (mã HS 080132), với trị giá khai thấp hóa đơn lần lượt là 10.155 triệu USD, 8.459 triệu USD và 3.353 triệu USD (Chi tiết tại phụ lục 3)

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng khai báo sai hóa đơn TM hàng hóa XNK, trong đó chủ yếu xuất phát từ yêu cầu đổi mới, hội nhập trong lĩnh vực hải quan nhằm tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư; năng lực quản lý của cơ quan Thuế, Hải quan còn hạn chế trong khi các thủ đoạn khai báo sai hóa đơn thương mại của doanh nghiệp ngày càng tinh vi, phức tạp; thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp còn bất cập và chưa đầy đủ; chính sách ưu đãi về thuế của Nhà nước; tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp còn thấp; kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, nhiều giai đoạn khó khăn khiến doanh nghiệp phải tìm đến các phương thức khai báo sai hóa đơn thương mại để gia tăng lợi nhuận hoặc giảm thiệt hại,…

Việc khai sai hoá đơn thương mại đã gây tổn thất thuế thực đối với ngân sách nhà nước từ năm 2001 - 2016 trong hình thức thuế XK, thuế NK và thuế thu nhập/lợi nhuận doanh nghiệp là 27,94 tỷ USD, trung bình hàng năm là 1,75 tỷ USD (Tác giả tính theo phương pháp của Tehseen Ahmed Qureshi and Zafar Mahmood; Dev Kar and Brian LeBlanc, chi tiết tại phụ lục 4) Ngoài ra, khai sai hóa đơn TM còn tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo ra cơn sốt về giá cả, hàng hóa, gây mất ổn định cho nền kinh tế, làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên trong nước, tạo ra giá trị ảo về vốn đầu tư của các doanh nghiệp FDI Đặc biệt nguy hiểm khi các hành vi khai sai hóa đơn thương mại đi kèm với hành vi tiêu cực, tham nhũng, sẽ làm giảm sút lòng tin chính trị của nhân dân đối với Đảng, đe doạ chủ quyền và an quốc gia, thể hiện sự bất lực của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật, đồng thời cũng làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân

Trước tình hình đó tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng tới việc khai

sai hóa đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của

Trang 22

doanh nghiệp ở Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu, làm sáng tỏ những nguyên

nhân, những nhân tố ảnh hưởng dẫn đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại của doanh nghiệp để có giải pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng gian lận qua việc khai báo sai hóa đơn thương mại, hỗ trợ hoạt động ngoại thương phát triển đúng hướng, công bằng

1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.1 Nghiên cứu trong nước

Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Thùy Giang (2009) phân tích gian lận thương mại qua trị giá tính thuế đối với hàng NK tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh Căn cứ số liệu thống kê của Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát quy trình NK từ các doanh nghiệp tác giả đã xác định các biện pháp nghiệp vụ: kiểm tra giá tính thuế, kiểm tra sau thông quan và kiểm soát hải quan còn sơ hở, thiếu sót, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống gian lận thương mại qua giá Đề tài nghiên cứu cấp học viện của Nguyễn Thị Lan

Hương, Phạm Thị Bích Ngọc (2013) về “Công tác chống gian lận thương mại qua

trị giá hải quan của hải quan Việt Nam” Đề tài đã đưa một số giải pháp chống gian

lận thương mại qua giá trên cơ sở phân tích các nguyên nhân làm phát sinh hành vi gian lận của người NK là do: những kẽ hở của cơ chế, chính sách; từ sự quản lý, điều hành, năng lực kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực thuế, hải quan chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; chưa có sự phối hợp đồng bộ và có hiệu quả giữa khâu trong thông quan và sau thông quan trong việc cung cấp thông tin,

1.2.2 Nghiên cứu ở nước ngoài

Ở nước ngoài có nhiều nghiên cứu về khai sai hoá đơn thương mại đối với hàng hoá XNK, trong đó nổi bật là: Nghiên cứu về thuế suất và gian lận thuế của Fisman và Wei (2004) tại Trung Quốc, của Manamba Epaphra (2015) ở Tanzania, kết quả phân tích hồi quy cho thấy thuế suất có ảnh hưởng cùng chiều đến gian lận thuế thông qua việc báo cáo sai hóa đơn TM hàng NK Nghiên cứu của Mohammad Reza Farzanegan (2008) về dòng TM bất hợp pháp tại Iran (biến không thể quan sát được) qua hồi quy bằng mô hình cấu trúc MIMIC Nguyên nhân ảnh hưởng lên dòng thương mại bất hợp pháp gồm các nhân tố: hình phạt, chênh lệch tỷ giá hối

Trang 23

đoái thị trường chợ đen, thuế quan NK, GDP đầu người, độ mở TM, giáo dục Hậu quả do dòng thương mại bất hợp pháp gây ra gồm các nhân tố: thu nhập của chính phủ, chỉ số giá NK, tiêu thụ xăng Dòng thương mại bất hợp pháp có tương quan dương với thuế quan NK, tương quan âm với hình phạt và sự giáo dục Fisman and Wei (2007) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan dương giữa tham nhũng và khai báo sai hoá đơn thương mại đối với mặt hàng có giá trị cao, đó là mặt hàng văn hoá phẩm và đồ cổ được xuất khẩu từ Ai Cập tới Mỹ từ năm 1996 -

2005 Helge Berger, Volker Nitsch (2008) sử dụng chênh lệch dữ liệu thương mại song phương của 1.200 sản phẩm ở cấp độ HS 4 chữ số của gần 200 quốc gia XK tới 05 nước: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Anh và Nhật Bản trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2006 làm biến phụ thuộc để đo lường hiện tượng buôn lậu trong thương mại quốc tế; biến độc lập gồm các nhân tố sau: tham nhũng, khoảng cách giữa các nước, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người, biến giả hai nước có chung đường biên giới đất liền, biến giả hai nước sử dụng chung ngôn ngữ, diện tích của các nước; kết quả hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất cho thấy: tham nhũng tại nước XK có tương quan âm với chênh lệch thương mại trong 05 mô hình, tham nhũng tại nước NK có tương quan dương với chênh lệch thương mại trong 02 mô hình, khoảng cách giữa các nước có tương quan dương với chênh lệch thương mại, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người và diện tích của các nước XK có tương quan âm với chênh lệch thương mại trong 03 mô hình, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của các nước NK có tương quan âm với chênh lệch thương mại trong 03 mô hình, các nhân tố khác hầu như không có ý nghĩa A Yasemin Yalta và Ishak Demir (2010) thực hiện việc nghiên cứu việc XK, NK hàng hoá của Thổ Nhĩ Kỳ tới/từ 10 đối tác thương mại lớn để kiểm tra mức độ khai báo sai hoá đơn thương mại trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy Trung Quốc, Đức, Nga, Thụy Sĩ và Hà Lan được xem là các đối tác chính mà Thổ Nhĩ Kỳ khai sai hóa đơn thương mại XK vượt hóa đơn thương mại tới các đối tác vẫn là khuynh hướng chính ngoại trừ trường hợp của Trung Quốc là XK dưới hóa đơn thương mại Hàng hóa của Thổ Nhĩ Kỳ được NK

từ Trung Quốc và Thụy sĩ là NK vượt hóa đơn thương mại Các tác giả cũng phân

Trang 24

tích ảnh hưởng của liên minh thuế quan và chính sách tự do hóa thương mại đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại Qua nghiên cứu các tác giả tìm thấy chính sách tự do hóa thương mại, việc cắt giảm thuế quan hàng NK có tác động làm giảm việc khai thấp hóa đơn thương mại hàng NK ở Thổ Nhĩ Kỳ Trợ cấp hàng XK, nền kinh tế bất ổn, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2001 là nguyên nhân dẫn đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại hàng hàng XK (khai báo cao hóa đơn thương mại để hưởng tiền trợ cấp hàng XK và khai báo thấp hóa đơn thương mại để chuyển vốn ra nước ngoài)

Nghiên cứu của tác giả Andreas Buehn, Stefan Eichler (2011) với mẫu dữ liệu

là 86 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1980 - 2005 Kết quả hồi quy cho thấy hai nhân tố: tỷ giá hối đoái thị trường chợ đen, thuế quan có ảnh hưởng thúc đẩy việc khai sai hóa đơn thương mại hàng hóa XK, NK; nhân tố tiền phạt càng cao có hiệu quả tích cực để ngăn chặn các hoạt động thương mại bất hợp pháp này Biến thuế đánh vào thu nhập, lợi nhuận hầu như không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của tác giả Ila Patnaik, Abhijit Sen Gupta, Ajay Shah (2012) về việc khai sai hoá đơn

TM với dữ liệu tại 53 nước từ năm 1980 - 2005 với giả định có 11 yếu tố ảnh hưởng đến việc khai sai hoá đơn thương mại Kết quả hồi quy cho thấy ba nhân tố: thâm hụt tài khoản vãng lai, thuế hải quan và sự định giá cao tiền tệ là những nhân tố chính ảnh hưởng đến việc NK vượt hóa đơn TM XK dưới hóa đơn TM bị ảnh hưởng bởi năm nhân tố: sự ổn định chính trị, độ mở tài khoản vốn, thâm hụt tài khoản vãng lai, độ mở TM và nợ nước ngoài Raymond Baker, Christine Clough, Dev Kar, Brian LeBlanc, Joshua Simmons (2014) đã sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê thương mại về hàng hoá của Liên hiệp quốc để ước lượng việc khai báo sai hoá đơn thương mại hàng hoá XNK ở 05 nước Châu Phi trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2011 Trung bình hàng năm thì Tanzania có mức độ khai báo sai hoá đơn thương mại lớn nhất là 1,87 tỷ USD, tiếp đó là Kenya (1,51 tỷ USD), Ghana (1,44

tỷ USD), Mozambique và Uganda có mức độ khai báo sai hoá đơn thương mại thấp nhất lần lượt là 585 triệu USD và 884 triệu USD Các tác giả cho rằng động cơ khai báo sai hoá đơn thương mại hàng hoá XK, NK rất phức tạp phụ thuộc vào quy định kiểm soát tỷ giá, cấu trúc của thuế suất, sự kiểm soát giá cả hàng hoá NK, cũng như

Trang 25

một số yếu tố khác nữa Các doanh nghiệp khai thấp hoá đơn thương mại hàng XK, khai cao hoá đơn thương mại hàng NK chủ yếu làm giảm lợi nhuận phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp để tối đa hoá lợi nhuận; các doanh nghiệp cũng có thể khai thấp hoá đơn thương mại hàng NK để trốn thuế NK và thuế giá trị gia tăng hoặc khai cao hoá đơn thương mại hàng XK để nhận được trợ cấp hoặc tín dụng cho hàng XK Các công ty và cá nhân cũng có thể lợi dụng việc khai sai hoá đơn thương mại nhằm tránh việc kiểm soát vốn, hợp thức hoá việc chuyển ra/chuyển vào một quốc gia nguồn vốn dưới lớp vỏ bọc là các hoạt động thanh toán thương mại hợp pháp Tại một quốc gia việc thực thi luật phòng chống rửa tiền hoặc triển khai thực hiện văn bản pháp luật yếu kém cũng thúc đẩy việc doanh nghiệp khai báo sai hoá đơn thương mại, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển và sử dụng số tiền thu được

từ các giao dịch bất hợp pháp

Dev Kar and Brian LeBlanc (2014) nghiên cứu dòng tài chính bất hợp pháp tới

và từ Philippines trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2011, bằng cách sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM (Structural Equation Modeling) tác giả đã xây dựng 10 phương trình để tiến hành hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn nhằm đánh giá tác động đến dòng tài chính bất hợp pháp và nền kinh

tế ngầm ở Philippines Kết quả hồi quy cho thấy dòng tiền vào bất hợp pháp (bao gồm các giá trị khai cao hoá đơn thương mại hàng XK, khai thấp hoá đơn thương mại hàng NK và dòng tài chính được tính toán từ phương pháp dòng tiền nóng hẹp - Hot Money Narrow Method) làm giảm tổng số thuế trực thu và gián thu thu được; thuế đánh vào hàng NK tăng (gồm thuế NK và thuế giá trị gia tăng) tương ứng với

sự tăng lên của việc trốn thuế hàng NK; dòng tiền ra bất hợp pháp (bao gồm các giá trị khai thấp hoá đơn thương mại hàng XK, khai cao hoá đơn thương mại hàng NK

và dòng tài chính được tính toán từ phương pháp dòng tiền nóng hẹp - Hot Money Narrow Method) làm giảm tiết kiệm trong nước, làm tăng dòng vốn vào bất hợp pháp; dòng tiền vào bất hợp pháp cũng như tổng số thuế trực thu và gián thu thu được làm tăng quy mô nền kinh tế ngầm, trong khi lãi suất có tương quan âm với nền kinh tế ngầm bởi vì khi lãi suất tiền gửi tăng nguồn vốn sẽ chảy vào nền kinh tế chính thức nhiều hơn trong tài sản bất hợp pháp Kết quả ước lượng của các tác giả

Trang 26

xác định tổng giá trị khai báo sai hoá đơn thương mại đối với hàng hoá XK, NK ở Philippines trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2011 là 362,97 tỷ USD

Bài nghiên cứu “Tax rates, Economic Crisis and Tax Evasion: Evidence using Zimbabwe and South Africa Bilateral Trade Flow” (Thuế suất, khủng hoảng kinh tế và gian lận thuế: Bằng chứng sử dụng dòng thương mại song phương giữa Zimbabwe và Nam Phi) của tác giả Marko Kwaramba và Calvin Mudzingiri (2016) Mẫu dữ liệu nghiên cứu gồm 27.539 mẫu quan sát theo trị giá, 21.604 mẫu quan sát theo số lượng trong giai đoạn 1980 - 2014 Tác giả chia các đoạn nghiên cứu thành ba giai đoạn, giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế (năm 1980 - 2000), giai đoạn khủng hoảng (năm 2000 - 2008) và giai đoạn sau khủng hoảng (năm

2009 - 2014) Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hồi quy kiểu dữ liệu chéo

và kiểu dữ liệu bảng để kiểm tra ảnh hưởng của thuế suất (bao gồm thuế suất thuế

NK, thuế suất thuế GTGT và thuế suất thuế TTĐB) đến gian lận thuế đối với hàng hóa NK vào Zimbabwe từ Nam Phi Kết quả phân tích hồi quy cho thấy thời kỳ trước và sau khủng hoảng, giảm thuế suất dẫn đến giảm gian lận thuế, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng, giảm thuế suất dẫn đến tăng gian lận thuế

Nghiên cứu của tác giả Tehseen Ahmed Qureshi và Zafar Mahmood (2016) tại Pakistan khi so sánh dữ liệu với 21 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1980 - 2013, tác giả đưa 07 nhân tố vào phân tích hồi quy đối với 02 mô hình khai sai hóa đơn TM hàng NK, đưa 06 nhân tố vào phân tích hồi quy đối với 02 mô hình khai sai hóa đơn

TM hàng XK Kết quả hồi quy xác định một số nhân tố quan trọng như: thuế hải quan, lãi suất có tương quan dương với khai thấp hoá đơn TM hàng NK, cân bằng tài khoản vãng lai được cải thiện, cũng như có sự ổn định chính trị làm giảm mức

độ khai cao hoá đơn TM hàng NK Khai thấp hoá đơn TM hàng XK là do thâm hụt tài khoản vãng lai, đối với khai cao hoá đơn TM hàng XK: tỷ giá hối đoái thực đa phương có tương quan dương, sự tự do TM có tương quan âm Derek Kellenberg, Arik Levinson (2016) thực hiện hồi quy với dữ liệu thu thập từ 126 nước trong thời gian 11 năm từ năm 2002 - 2012 Kết quả hồi quy cho thấy thuế quan cao có ảnh hưởng mạnh đến việc báo cáo thấp hàng NK, chất lượng kế toán và kiểm toán thấp làm tăng báo cáo thấp hàng XK, việc loại bỏ tình trạng tham nhũng làm giảm khai

Trang 27

báo sai cả ở nước XK và NK Nghiên cứu của Suranjali Tandon và R Kavita Rao (2017) tại 30 nền kinh tế cho thấy độ mở thương mại có tương quan cùng chiều với khai sai hoá đơn TM hàng XK, tương quan ngược chiều với khai sai hoá đơn TM hàng NK; thuế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên có tương quan ngược chiều với khai sai hoá đơn TM hàng XK; một số nhân tố khác có ảnh hưởng không rõ ràng hoặc không có ý nghĩa thống kê như: thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi suất thực,…

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại đối với hàng hoá XNK qua biên giới quốc gia, tuy nhiên ở trong nước lại chưa có đề tài thực nghiệm nào nghiên cứu về vấn đề này mà chủ yếu mới chỉ căn cứ thực trạng tình hình gian lận thương mại trên địa bàn để tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng trên

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai sai hóa đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp ở Việt Nam để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế việc gian lận của doanh nghiệp

ở Việt Nam

1.4 Các câu hỏi nghiên cứu

Câu 1: Thực trạng tình hình doanh nghiệp khai báo sai hóa đơn thương mại ở Việt Nam hiện nay diễn ra như thế nào?

Câu 2: Khai báo sai hóa đơn thương mại được đo lường bằng cách nào?

Câu 3: Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại của doanh nghiệp? Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đó diễn ra như thế nào?

Trang 28

Câu 4: Cơ quan quản lý cần thực hiện những biện pháp nào để ngăn chặn, hạn chế việc khai báo sai hóa đơn thương mại của doanh nghiệp

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hình thức khai sai hóa đơn thương mại đối với hoạt động XK, NK hàng hóa của doanh nghiệp ở Việt Nam

- Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khai sai hóa đơn thương mại đối với hoạt động XK, NK hàng hóa của doanh nghiệp ở Việt Nam

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi sau đây:

- Về phạm vi không gian: Tổng trị giá kim ngạch XK, NK gộp chung của tất

cả các mặt hàng và riêng một số mặt hàng chính được Việt Nam XK, NK tới/từ 91 nước đối tác thương mại lớn do Việt Nam báo cáo

Tổng trị giá kim ngạch XK, NK gộp chung của tất cả các mặt hàng và riêng một số mặt hàng chính được 91 nước XK, NK tới/từ Việt Nam do các nước đối tác báo cáo

- Phạm vi về thời gian: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp để nghiên

cứu trong giai đoạn 16 năm từ năm 2001-2016

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai sai hóa đơn TM trong hoạt động XK, NK hàng hóa của doanh nghiệp ở Việt Nam Phương pháp ước lượng được sử dụng là: phương pháp bình phương nhỏ nhất (Panel Least Squares), phương pháp tác động cố định (Fixed Effects Model-FEM), phương pháp tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model-REM) Ngoài ra, phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất vững (Robust Least Squares) cũng được sử dụng để kiểm soát hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Trong bước phân tích dữ liệu, luận văn áp dụng các kỹ thuật phân tích và kiểm định sau: phân tích thống kê mô tả các biến, phân tích ma trận tương quan, kiểm định Likelihood Ratio, kiểm định Hausman, kiểm định Breusch-Pagan, kiểm định Durbin-Watson, kiểm định đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại phương sai

Trang 29

(Variance Inflation Factor - VIF), kiểm định sự phù hợp của mô hình, Công cụ xử

lý và phân tích dữ liệu là phần mềm xử lý số liệu thống kê Eview 8.1 và phần mềm bảng tính Microsoft Excel 2013

Khi có kết quả phân tích định lượng, tác giả căn cứ tình hình kinh tế, chính trị,

xã hội tại Việt Nam, ý kiến chuyên gia nhằm phân tích, làm rõ các nhân tố có ảnh hưởng đến việc khai báo sai hoá đơn TM trong hoạt động XK, NK hàng hoá

Dữ liệu thống kê trị giá kim ngạch XK, NK của Việt Nam và các nước để đo lường hành vi khai sai hóa đơn thương mại được lấy từ cơ sở dữ liệu thống kê TM

về hàng hoá của Liên hiệp quốc (UN COMTRADE), cơ sở dữ liệu thống kê TM của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF’s DOTS), dữ liệu thống kê TM của Trung tâm TM quốc tế (ITC) và Tổng Cục Hải quan Đối với các dữ liệu về biến vĩ mô, biến liên quan đến sự ổn định chính trị của Việt Nam: Cân bằng tài khoản vãng lai, sự tự do tài chính, thuế đánh vào hàng NK, thuế đánh vào hàng XK, độ mở TM, sự ổn định chính trị,… được thu thập qua Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng Cục Hải quan, Tổng cục Thống kê,

Tổ chức Heritage, website http://www.prsgroup.com, website http://bruegel.org

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Một là, luận văn góp phần làm phong phú thêm lý thuyết thực nghiệm trong

việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khai báo sai hóa đơn thương mại trong hoạt động XNK hàng hóa của doanh nghiệp ở Việt Nam, đây là một đề tài được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm rất sớm nhưng chưa được áp dụng

nghiên cứu thực nghiệm phổ biến tại Việt Nam Hai là, việc nghiên cứu được thực

hiện với 91 đối tác thương mại có kim ngạch XNK lớn với Việt Nam từ đó sẽ đưa

ra được cái nhìn tổng quát về việc khai báo sai hóa đơn thương mại nói chung cũng như khuynh hướng gian lận thương mại đối với từng quốc gia mà Việt Nam có quan

hệ buôn bán, XNK hàng hóa Ba là, đề tài lựa chọn một số nhóm mặt hàng chính,

có trị giá giao dịch lớn để phân tích nhằm minh họa, làm rõ hơn mức độ khai sai

hóa đơn thương mại, gian lận trốn thuế trong hoạt động XNK hàng hóa Bốn là, đề

tài thực hiện sẽ ước lượng được tổn thất thu nhập đối với Chính phủ Việt Nam qua việc khai báo sai hóa đơn thương mại do trốn thuế đánh vào hàng hóa XK, NK và

Trang 30

thuế thu nhập doanh nghiệp Năm là, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp

những thông tin hữu ích cho các cơ quan chức năng trong việc định hướng, hoạch định chính sách, đề ra các biện pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng khai báo sai hóa đơn thương mại ở Việt Nam

1.8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được chia làm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và một số gợi ý chính sách

Kết luận

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Hiện nay, tình hình khai báo sai hoá đơn TM trong hoạt động XNK hàng hoá

ở Việt Nam vẫn có chiều hướng gia tăng nên đã đặt ra thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam phải tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp quản lý hiệu quả đối với hành vi này và đây cũng chính là lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu của tác giả Trong chương 1, cũng đã giới thiệu về mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những nét tổng quan về tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc khai báo sai hóa đơn TM trong hoạt động XNK hàng hóa Đề tài nghiên cứu của tác giả sẽ góp phần làm phong phú thêm nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai sai hoá đơn

TM trong hoạt động XNK hàng hoá của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho các cơ quan chức năng trong việc định hướng, hoạch định chính sách, đề ra các biện pháp quản lý phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng khai báo sai hóa đơn TM ở Việt Nam

Trang 31

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết về khai sai hóa đơn thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

2.1.1 Khái niệm về hóa đơn thương mại

Theo giáo trình nghiệp vụ ngoại thương, hóa đơn thương mại là một chứng từ thương mại được phát hành bởi người bán cho người mua để đòi một số tiền nào đó

mà người mua hàng hóa hay dịch vụ có nghĩa vụ phải thanh toán cho người bán hàng theo những điều kiện cụ thể (Đỗ Quốc Dũng, tr 134)

Giáo trình thanh toán quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương đã đưa ra khái niệm về hóa đơn thương mại như sau: Trong thanh toán bằng Thư tín dụng, Hóa đơn thương mại là một loại chứng từ thương mại do Người thụ hưởng Thư tín dụng ký phát cho người yêu cầu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng quy định trong Hợp đồng và Thư tín dụng Nếu Thư tín dụng không sử dụng hối phiếu là công cụ đòi tiền mà thay bằng hóa đơn, thì hóa đơn còn có chức năng như là một loại chứng từ tài chính Trong trường hợp này, hóa đơn là chứng từ lưỡng tính, có nghĩa là vừa có tính thương mại, vừa có tính tài chính (Đinh Xuân Trình, Đặng Thị Nhàn, tr 346)

Theo Giáo trình kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, hóa đơn thương mại là chứng từ cơ bản của khâu thanh toán Nó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền hàng đã được ghi trên hóa đơn Hóa đơn nói rõ đặc điểm của hàng hóa, đơn giá và tổng trị giá của hàng hóa; điều kiện cơ sở giao hàng; phương thức thanh toán; phương thức chuyên chở hàng (Vũ Hữu Tửu, tr 229)

Hóa đơn thương mại thường được lập làm nhiều bản và được dùng trong nhiều việc khác nhau: Xuất trình cho người mua yêu cầu trả tiền hàng, xuất trình cho Ngân hàng để đòi tiền hàng, xuất trình cho Công ty Bảo hiểm để tính phí bảo hiểm khi mua bảo hiểm hàng hóa, xuất trình cho cơ quan quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu để xin cấp ngoại tệ, xuất trình cho cơ quan Hải quan để tính tiền thuế,… Hóa đơn thương mại là chứng từ thể hiện hoạt động mua bán của doanh nghiệp Trong Hóa đơn thương mại thường có các nội dung chính sau: Số Hóa đơn

Trang 32

thương mại; ngày tháng lập hóa đơn thương mại; thông tin người mua, người bán hàng hóa: tên, địa chỉ, mã số thuế,…; thông tin hàng hóa: tên, số lượng, đơn giá, tổng giá trị hợp đồng, quy cách, ký hiệu mã,…; ngày gửi hàng; tên tàu, thuyền, số chuyến; ngày rời cảng, ngày dự kiến hàng đến.; địa chỉ cảng đi, cảng đến; điều kiện giao hàng; điều kiện và điều khoản thanh toán

Hiện nay hoá đơn thương mại được phân loại nhiều loại như: Hóa đơn tạm tính (Provisional invoice), hóa đơn chính thức (Final invoice), hóa đơn chi tiết (Detailed invoice), hóa đơn chiếu lệ (Proforma invoice), hóa đơn Hải quan (Customs invoice), hóa đơn lãnh sự (Consular invoice),…

2.1.2 Khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

Luật thương mại 2005 đã đưa ra khái niệm về xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK) hàng hóa như sau:

- XK hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

- NK hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

2.1.3 Khái niệm về khai báo sai hóa đơn thương mại và các hình thức khai báo sai hoá đơn thương mại

2.1.3.1 Khái niệm về khai báo sai hóa đơn thương mại

- Theo Raymond Baker, Christine Clough, Dev Kar, Brian LeBlanc, Joshua Simmons (2014): Khai báo sai hóa đơn thương mại là việc cố ý khai báo sai trị giá,

số lượng, chủng loại hàng hóa trong hóa đơn thương mại và tờ khai hải quan, thường nhằm mục đích trốn thuế hoặc rửa tiền (Raymond Baker, Christine Clough, Dev Kar, Brian LeBlanc, Joshua Simmons, tr 1)

- Claire O’Meara, Luisa Hanna và Dimitri Gugushvili (2015): Khai báo sai hóa đơn thương mại là thủ đoạn sử dụng các hóa đơn xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ để khai vượt hoặc khai thấp trị giá của hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích che dấu trị giá của các sản phẩm, cho phép chuyển lợi nhuận một cách bí mật vào và ra khỏi các quốc gia, né tránh các loại thuế có liên quan Đối với hàng

Trang 33

hóa hữu hình như sản phẩm gỗ hoặc thực phẩm việc khai sai hóa đơn thương mại được thực hiện bằng cách khai báo gian dối về chất lượng, số lượng hoặc giá của hàng hóa (Claire O’Meara, Luisa Hanna và Dimitri Gugushvili, tr 9)

- Theo từ điển thuật ngữ tài chính: Khai sai hóa đơn thương mại được xem như là một phương tiện để chuyển một lượng lớn tiền bất hợp pháp qua biên giới quốc gia thông qua việc báo cáo sai hoặc miêu tả sai tổng giá trị của một giao dịch thương mại nhất định Đây là hình thức gian lận rửa tiền dựa trên hoạt động thương mại, được thực hiện bằng cách sử dụng một hóa đơn đã điền sai mà thủ phạm nộp cho cơ quan hải quan Trong số các dòng chảy tài chính bất hợp pháp ra bên ngoài

mà các tổ chức trên thế giới giám sát, việc khai báo sai hóa đơn thương mại là một trong những thành phần lớn nhất

- Kathy Nicolaou-Manias và Yuchen Wu (2016): Khai báo sai hóa đơn thương mại là việc cố ý khai vượt hóa đơn hàng nhập khẩu hoặc khai thấp hóa đơn hàng xuất khẩu do các cá nhân, tổ chức trong một quốc gia thực hiện, thường nhằm mục đích tránh thuế hoặc các khoản thu cao hơn ở quốc gia đó (Kathy Nicolaou-Manias

và Yuchen Wu, tr 18)

- Andreas Buehn và Stefan Eichler (2011) cho rằng khai báo sai hóa đơn thương mại xảy ra khi trị giá thực của hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu có sự chênh lệch so với trị giá hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu mà các doanh nghiệp báo cáo với cơ quan chức năng (Andreas Buehn và Stefan Eichler, tr 1263)

Tại hầu hết các nước trên thế giới nhiệm vụ quản lý hoạt động XK, NK hàng hóa qua biên giới giữa các quốc gia được giao cho cơ quan hải quan chịu trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, giám sát và thu thuế (nếu có) Cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại thì cũng xuất hiện các hành vi gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế với nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau và cơ quan hải quan cũng

là lực lượng phải có nghĩa vụ triển khai các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm này nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, chống thất thu thuế cho ngân sách nhà nước, đảm bảo sự công bằng giữa các chủ thể trong hoạt động kinh doanh Trong các hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan do Tổ chức Hải quan thế giới tổng hợp thì không đề cập đến hành

Trang 34

vi khai báo sai hóa đơn thương mại, tuy nhiên đối với hành vi gian lận trị giá hải quan do Tổ chức Hải quan thế giới đưa ra có những đặc điểm tương tự như hành vi khai sai hóa đơn thương mại Đây là hình thức gian lận khá phổ biến, việc kiểm tra, phát hiện còn gặp nhiều khó khăn Hóa đơn thương mại được các đối tượng gian lận

sử dụng như là một phương tiện để thực hiện hành vi khai báo sai trị giá hải quan Theo tài liệu đào tạo kiểm tra sau thông quan do Nhà xuất bản Tài chính phát hành năm 2012: Gian lận về trị giá là việc chủ hàng khai sai trị giá giao dịch, cao hơn hoặc thấp hơn so với giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán để trốn tránh sự quản lý, kiểm soát của nhà nước nhằm hưởng lợi từ những hành vi gian lận

đó Một số phương thức gian lận về trị giá được các doanh nghiệp, chủ hàng áp dụng như: lập hóa đơn kép: trong đó hóa đơn ghi trị giá thấp xuất trình cho cơ quan hải quan, hóa đơn có trị giá cao được người nhập khẩu giữ lại để làm chứng từ thanh toán; lập hóa đơn giả ghi không đúng trị giá hàng hóa, mô tả sai hàng hóa và xuất xứ trên hóa đơn, khai báo không đúng trọng lượng và số lượng hàng hóa trong hóa đơn làm giảm thấp trị giá hải quan; hóa đơn thanh toán từng phần: trong hóa đơn không thể hiện các khoản đã thanh toán trước đó hoặc các khoản thanh toán khác vào tổng trị giá mà chỉ ghi số tiền còn lại phải thanh toán

Tuy có nhiều quan niệm và cách diễn đạt khác nhau về hành vi khai báo sai hóa đơn thương mại nhưng có thể khái quát như sau: Khai báo sai hóa đơn thương mại là việc doanh nghiệp cố ý khai báo sai trị giá, số lượng, chủng loại hàng hóa trong hóa đơn thương mại và tờ khai hải quan khi khai báo, xuất trình cho cơ quan hải quan, vi phạm pháp luật hải quan nhằm trốn tránh nộp thuế hải quan và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại; để nhận được các khoản hoàn trả trợ cấp cho hàng hóa; làm giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; trốn tránh những quy định về hạn chế hay cấm đoán được áp dụng đối với hàng hóa thương mại; đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp;

là phương tiện để thực hiện việc chuyển vốn hoặc rửa tiền

2.1.3.2 Các hình thức khai báo sai hóa đơn thương mại

- Khai báo thấp hóa đơn thương mại hàng xuất khẩu: Hình thức này xảy ra

khi trị giá giao dịch hàng hoá khai báo trên hoá đơn thương mại thấp hơn trị giá

Trang 35

thực tế thanh toán, được doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích để chuyển lợi nhuận hay một phần thu nhập phải chịu thuế ra khỏi một quốc gia Để thực hiện được việc này nhà XK sẽ yêu cầu người mua thanh toán một phần tiền hàng đến một tài khoản của người bán ở nước ngoài, phần tiền còn lại (doanh thu từ số tiền bán hàng XK khai thấp hơn thực tế được ghi trên hóa đơn thương mại) được yêu cầu trả vào tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp tại nước đặt nhà máy sản xuất, đầu tư Số tiền chuyển đến tài khoản nước ngoài không phải chịu thuế, chỉ có số tiền trên hóa đơn thương mại báo cáo với cơ quan hải quan khi làm thủ tục XK mới bị

đánh thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối với những mặt hàng XK có mức thuế suất cao, khai thấp hóa đơn hàng

XK sẽ làm giảm số tiền thuế phải nộp trong những trường hợp thuế và thuế suất được xác định theo trị giá hàng hóa Ngoài ra còn một nhân tố nữa thúc đẩy việc khai báo thấp hóa đơn thương mại hàng XK đó là chênh lệch tỷ giá hối đoái thị trường chợ đen trên thị trường ngoại hối Bằng cách khai thấp hóa đơn hàng XK, nhà XK sẽ có một lượng ngoại hối thu được từ doanh thu bán hàng XK không phải báo cáo với cơ quan chức năng Trong trường hợp chênh lệch ngoại hối trên thị trường chợ đen lớn hơn thị trường chính thức, nhà XK sẽ bán ngoại hối trên thị trường chợ đen, thu lợi nhuận cao

- Khai báo cao hóa đơn thương mại hàng xuất khẩu: Khai cao hóa đơn

thương mại hàng XK có nghĩa là trị giá giao dịch thực tế hàng hóa phải thanh toán thấp hơn trị giá khai báo trên hoá đơn thương mại, thường để tăng mức trợ cấp XK được hưởng, để thu được số tiền hoàn thuế hoặc không thu thuế cao hơn đối với số lượng nguyên liệu đã NK tương ứng với số lượng thành phẩm đã XK, hợp thức hóa hành vi tiêu thụ trái phép tại thị trường nội địa các nguyên phụ liệu NK được ưu đãi, miễn thuế khi NK Một lý do khác của việc khai báo vượt hóa đơn hàng XK để

chuyển vốn bất hợp pháp được cất giấu ở bên ngoài vào trong nước

- Khai báo thấp hóa đơn thương mại hàng nhập khẩu: Hình thức này xảy

ra khi trị giá hàng hoá khai báo trên hoá đơn thương mại thấp hơn trị giá giao dịch thực tế trên thị trường, chủ yếu nhằm trốn thuế NK, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng NK Ngoài ra khi trị giá hàng hóa được sử dụng để xác

Trang 36

định hạn ngạch, việc khai thấp trị giá sẽ có lợi về hạn ngạch hoặc tránh được hạn ngạch Một số đối tượng cũng lợi dụng kênh thương mại hợp pháp để mang hàng hóa nhập lậu, hàng hóa bị giới hạn hoặc bị cấm nhập vào trong thị trường nội địa thông qua việc xuất trình cho cơ quan hải quan hóa đơn, chứng từ mô tả sai lệch tên hàng, giá trị, số lượng, chất lượng hàng hóa được NK, trong đó chủ yếu là khai sai

tên hàng và khai thấp trị giá hàng hóa

- Khai báo cao hóa đơn thương mại hàng nhập khẩu: Trong hình thức này

thì trị giá hàng hoá khai báo trên hoá đơn thương mại vượt quá trị giá thực tế thanh toán Doanh nghiệp sử dụng hình thức này để làm giảm đi lợi nhuận phải khai báo thông qua việc thổi phồng, làm tăng chi phí đầu vào trong quá hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác hình thức này cũng được sử dụng để chuyển lợi nhuận, chuyển vốn sang một quốc gia khác Đối với những hàng hóa, nguyên vật liệu có mức thuế suất thuế NK thấp hoặc được ưu đãi miễn thuế doanh nghiệp sẽ khai báo giá cao hơn thực tế để tăng chi phí đầu vào, dẫn đến kết quả kinh doanh lỗ nên không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thông qua việc nâng khống giá trị máy móc, thiết bị, vật tư góp vốn nhập đầu tư miễn thuế cao hơn nhiều so với giá thực tế không chỉ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển một phần lợi ích kinh tế ngược trở lại cho chính mình thông qua việc trích khấu hao tài sản cố định, phân chia lợi nhuận trên tỷ lệ góp vốn và chuyển lợi nhuận về nước mà còn giúp các nhà đầu tư nước ngoài có tỷ trọng vốn cao hơn so với bên liên doanh, dần nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp, cuối cùng là thao túng doanh nghiệp nội để trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Nguyễn Chiến Thắng,

Trang 37

trong hoạt động XK, NK hàng hóa Khi thuế suất thuế XK, thuế suất thuế NK cao,

sẽ tạo động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp khai thấp hoá đơn thương mại hàng hoá

XK và NK nhằm làm giảm số tiền thuế phải nộp, giảm chi phí sản xuất, kinh doanh, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng hoá XNK Fisman và Wei (2004) phân tích thực nghiệm chênh lệch dòng thương mại hàng hoá NK giữa Trung Quốc và Hồng Kông năm 1998 trong 2.043 sản phẩm phân loại theo HS 6 chữ số tìm thấy 1% thay đổi tăng mức thuế suất thuế NK sẽ dẫn đến gia tăng 3% gian lận thuế Mohammad Reza Farzanegan (2008) sử dụng mô hình nguyên nhân và kết quả MIMIC để phân tích dòng thương mại bất hợp pháp ở Iran từ năm 1970 - 2002, kết quả hồi quy cho thấy thuế quan NK có tương quan dương với dòng thương mại bất hợp pháp (cụ thể ở đây là hành vi buôn lậu) Ila Patnaik, Abhijit Sen Gupta, Ajay Shah (2012) phân tích dữ liệu bảng về việc khai sai hoá đơn thương mại tại 53 nước công nghiệp và nước đang phát triển xác định thuế quan đánh vào hàng XK tăng 1% làm tăng khai thấp hoá đơn thương mại hàng XK từ 1,68% đến 2,36%, thuế quan đánh vào hàng NK tăng 1% làm giảm khai cao hoá đơn thương mại hàng

NK từ 0,27% đến 0,35% Andreas Buehn, Stefan Eichler (2011) phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại qua phân tích dữ liệu bảng của 86 nước so sánh với Mỹ cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy tỷ lệ thuế đánh vào hàng hóa XK, NK cao là động cơ thúc đẩy hoạt động thương mại bất hợp pháp; tỷ

lệ thuế NK tăng 1% làm tăng khai báo thấp hóa đơn thương mại hàng NK từ 2% đến 3%, làm giảm khai vượt hóa đơn thương mại hàng NK từ 5% đến 7% Tỷ lệ thuế XK tăng 1% làm tăng khai báo thấp hóa đơn thương mại hàng XK 5%, làm giảm khai vượt hóa đơn thương mại hàng XK 6% Dev Kar và Brian LeBlanc (2014) thực hiện phân tích hồi quy bằng mô hình mạng SEM ở Philippin, Manamba Epaphra (2015) thực hiện phân tích hồi quy bằng mô hình dữ liệu chéo ở Tanzania cũng tìm thấy thuế suất đánh vào hàng NK (thuế suất thuế NK và thuế suất thuế GTGT) có ảnh hưởng cùng chiều với gian lận thuế Trường hợp nghiên cứu ở Zimbabwe, Marko Kwaramba và Calvin Mudzingiri (2016) tìm thấy giảm thuế suất đánh vào hàng NK (bao gồm thuế suất thuế NK, thuế suất thuế GTGT và thuế suất thuế TTĐB), ở thời kỳ trước và sau khủng hoảng dẫn đến giảm gian lận

Trang 38

thuế, còn trong giai đoạn khủng hoảng dẫn đến tăng gian lận thuế Tehseen Ahmed Qureshi và Zafar Mahmood (2016) nghiên cứu trường hợp tại Pakistan đã ước lượng được 1% tăng lên trong hàng rào thuế quan NK làm tăng khai thấp hoá đơn thương mại hàng NK 69,34 triệu USD, làm giảm khai cao hoá đơn thương mại hàng NK 8,29 triệu USD Derek Kellenberg, Arik Levinson (2016), kiểm tra thực nghiệm dữ liệu bảng của 126 quốc gia trong thời gian 11 năm kết luận hàng rào thuế quan là nguyên nhân dẫn đến việc báo cáo thấp hàng NK, tuy nhiên đối với những cặp nước là thành viên của hiệp định thương mại vùng có mức thuế suất thấp hoặc bằng 0 thì mức độ co giãn báo cáo sai liên quan đến hàng rào thuế quan bằng 0, ngược lại những cặp nước không phải là thành viên của hiệp định thương mại vùng thì mức độ co giãn báo cáo sai liên quan đến hàng rào thuế quan sẽ lớn (những nước có thu nhập cao mức độ co giãn lớn hơn nước có thu nhập thấp) 1% tăng lên trong hàng rào thuế quan NK trung bình dẫn đến làm tăng khai thấp hoá đơn hàng NK 3% tại các nước có thu nhập cao, còn đối với các nước thu nhập thấp

là 1%

Đối với trường hợp thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, doanh nghiệp sẽ thực hiện khai sai giao dịch thương mại thông qua hai hình thức là khai cao trị giá hoá đơn hàng NK nhằm tăng chi phí đầu vào, khai thấp trị giá hoá đơn hàng XK để giảm doanh thu chịu thuế, cuối cùng làm cho thu nhập chịu thuế thấp đi để tránh việc trả thuế Andreas Buehn, Stefan Eichler (2011) tìm thấy ảnh hưởng yếu của thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc khai báo sai hoá đơn thương mại hàng hoá

XK, NK; thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa trong mô hình khai thấp hoá đơn thương mại hàng XK trong giai đoạn từ năm 1980 - 1998, cụ thể là 1% tăng lên của tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp/GDP làm tăng khai sai trị giá hàng XK 1,17% Suranjali Tandon và R Kavita Rao (2017), trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp tác động ngẫu nhiên để đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến việc khai sai hoá đơn thương mại hàng hoá NK của 30 nước trong giai đoạn 1990 -

2014 tìm thấy thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có tương quan âm với việc khai sai hoá đơn thương mại hàng hoá NK

Trang 39

2.2.2 Tham nhũng

Fisman và Wei (2007) phân tích chênh lệch thương mại giữa Ai Cập và Mỹ đối với mặt hàng văn hóa phẩm và đồ cổ, sau đó tiến hành phân tích hồi quy theo dữ liệu bảng từ năm 1996 - 2005; kết quả cho thấy khai thấp hóa đơn thương mại đối với mặt hàng văn hóa phẩm và đồ cổ XK có tương quan dương rất cao với hành vi tham nhũng tại nước XK Helge Berger, Volker Nitsch (2008) so sánh dữ liệu thương mại của 1.200 sản phẩm ở cấp độ HS 4 chữ số của các đối tác XK tới 05 nước: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Anh và Nhật Bản kết luận rằng tham nhũng xảy ra cả

ở nước XK và nước NK, hành vi tham nhũng tạo điều kiện dễ dàng thực hiện các hành vi thương mại bất hợp pháp, có thể dễ dàng bỏ qua các quy định và thủ tục hợp pháp do pháp luật quy định Derek Kellenberg, Arik Levinson (2016) tìm thấy tham nhũng đóng vai trò quan trọng trong mức độ báo cáo sai của cả doanh nghiệp tại nước XK và NK Tại những nước này khi thực hiện tốt những biện pháp để kiểm soát tình trạng tham nhũng hoặc ít có hiện tượng tham nhũng sẽ làm giảm việc khai báo sai trị giá hàng hoá XNK; khi chỉ số cảm nhận tham nhũng tại các nước XK tăng 1 điểm, làm giảm chênh lệch thương mại báo cáo từ 7,7% đến 13%; khi chỉ số cảm nhận tham nhũng tại các nước NK tăng 1 điểm, làm tăng chênh lệch thương mại báo cáo xấp xỉ 2,8%

2.2.3 Khả năng kiểm toán

Dev Kar và Joseph Spanjers (2015) ước lượng, phân tích dòng tài chính bất hợp pháp tại các nước đang phát triển từ năm 2004 - 2013 cho thấy tổng trị giá khai báo sai hóa đơn thương mại tại các nước đang phát triển trong thời gian 10 năm là gần xấp xỉ 23.002 tỷ đô la Mỹ Nhằm ngăn chặn và làm giảm hành vi khai sai hóa đơn thương mai tác giả cho rằng Chính phủ các nước nên nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Hải quan bằng cách cung cấp những trang thiết bị và các khóa đào tạo thích hợp nhằm phát hiện tốt hơn các giao dịch cố ý khai sai hóa đơn thương mại Thường xuyên thu thập và cập nhật thông tin về giá cả của hàng hóa trên thị trường thế giới, so sánh với giá hàng hóa do các công ty khai báo, nếu có sự khác biệt thì tiến hành kiểm toán để xem xét lại các giao dịch của công ty Derek Kellenberg và Arik Levinson (2016) thực hiện kiểm tra chêch lệch thương mại theo báo cáo của từng cặp nước XK và NK đã tìm thấy bằng chứng thuyết phục cho thấy

Trang 40

tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán mạnh hơn sẽ làm giảm khả năng các công ty thực hiện việc khai báo thấp trị giá hàng XK, làm giảm chênh lệch thương mại báo cáo giữa các nước Khi chỉ số tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán tại nước XK tăng 1 điểm, làm giảm chênh lệch thương mại báo cáo xấp xỉ 3,8%

2.2.4 Lạm phát

Lạm phát là hiện tượng kinh tế phố biến, khi lạm phát tăng cao, có thể tạo ra

áp lực giảm giá của đồng nội tệ, làm giảm giá trị thực của cả tài sản có lãi và không

có lãi, làm giảm thu nhập thực tế nếu thu nhập danh nghĩa không thay đổi, có thể gây ra hiện tượng khai sai hoá đơn thương mại hàng hoá XNK để trốn thuế, chuyển vốn ra nước ngoài Ila Patnaik, Abhijit Sen Gupta, Ajay Shah (2012) cho rằng tỷ giá hối đoái được định giá quá cao cũng như tỷ lệ lạm phát cao làm tăng sự mong đợi phá giá đồng nội tệ trong tương lai gần và thúc đẩy việc khai sai thấp hoá đơn thương mại hàng XK, khai cao hoá đơn thương mại hàng NK để chuyển vốn ra nước ngoài Tuy nhiên trong mô hình kiểm định của tác giả thì nhân tố lạm phát lại không có ý nghĩa thống kê Marko Kwaramba, Nyasha Mahonye and Leonard Mandishara (2015) tìm thấy lạm phát có tương quan dương với chuyển vốn ra ngoài Zimbabwe thông qua việc khai báo sai hoá đơn thương mại hàng hoá XNK để đảm bảo an toàn cho dòng vốn đầu tư Derek Kellenberg và Arik Levinson (2016) sử dụng biến lạm phát để xem xét việc kiểm soát vốn trong mô hình đánh giá các nhân

tố ảnh hưởng đến việc khai báo sai dòng thương mại cho rằng kiểm soát việc XK vốn dẫn đến động cơ báo cáo thấp hàng trị giá hàng XK của các công ty, làm tăng chênh lệch thương mại báo cáo; trong khi đó kiểm soát việc NK vốn dẫn đến động

cơ báo cáo thấp hàng trị giá hàng NK của các công ty, làm giảm chênh lệch thương mại báo cáo Kết quả kiểm định của tác giả cho thấy biến lạm phát không có ý nghĩa thống kê

2.2.5 Ðộ mở thương mại của nền kinh tế

A Yasemin Yalta và Ishak Demir (2010) thực hiện so sánh và phân tích chênh lệch thương mại giữa Thổ Nhĩ Kỳ với 10 đối tác thương mại lớn nhất của Thổ Nhĩ

Kỳ để kiểm tra mức độ khai báo sai hóa đơn thương mại trong giai đoạn từ năm

1970 - 2007 Qua nghiên cứu tìm thấy chính sách tự do hóa thương mại có ảnh hưởng ngược chiều đến việc khai báo sai hóa đơn thương mại hàng NK Ngoài việc

Ngày đăng: 29/12/2017, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w