1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

NGHIÊN cứu xác ĐỊNH tải TRỌNG GIÓ tác DỤNG lên ANTEN PHỤC vụ QUÁ TRÌNH TÍNH TOÁN THIẾT kế hệ THỐNG cơ KHÍ điều KHIỂN ANTEN GIÁM sát vệ TINH địa TĨNH ĐƯỜNG KÍNH 7,6 m

6 334 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 732,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo giới thiệu phương pháp mô hình hóa số dòng chảy rối của khí và tính toán tải trọng gió tác dụng lên trạm Anten giám sát VTĐT đường kính 7,6 m nhờ sử dụng mô đun CFX của tổ hợp c

Trang 1

GIÁM SÁT VỆ TINH ĐỊA TĨNH ĐƯỜNG KÍNH 7,6 M

Phạm Quốc Hoàng, Đỗ Mạnh Tùng, Bùi Hữu Toán

Học viện Kỹ thuật Quân sự

TÓM TẮT:

Anten giám sát vệ tinh địa tĩnh (VTĐT) là

anten dùng để thu tín hiệu từ một hoặc một số vệ

tinh địa tĩnh (các vệ tinh bay trên quỹ đạo địa tĩnh,

ở độ cao 35.786 km phía trên đường xích đạo của

Trái đất) phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau

Khả năng chịu tải, độ ổn định tín hiệu thu, khả

năng đỡ và hướng anten quay chính xác đến một

VTĐT nào đó trong không gian phụ thuộc nhiều

vào hệ thống cơ khí-điều khiển Bài báo giới thiệu

phương pháp mô hình hóa số dòng chảy rối của khí và tính toán tải trọng gió tác dụng lên trạm Anten giám sát VTĐT đường kính 7,6 m nhờ sử dụng mô đun CFX của tổ hợp chương trình Ansys Các kết quả tính toán thu được là số liệu đầu vào quan trọng phục vụ cho quá trình tính toán thiết kế hệ thống cơ khí – điều khiển anten giám sát VTĐT

Từ khóa: anten, vệ tinh địa tĩnh, tải trọng gió, hệ cơ khí-điều khiển, Ansys CFX

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong kết cấu anten giám sát VTĐT, ngoài

chảo và hệ thống thu được tiêu chuẩn hóa, còn

lại là hệ thống cơ khí chính xác có điều khiển Hệ

thống này có chức năng đỡ chảo anten và điều

khiển chảo anten quay hướng chính xác đến một

vệ tinh địa tĩnh nào đó trong không gian thông

qua góc ngẩng và góc phương vị

Do VTĐT ở khoảng cách rất xa với vị trí đặt

anten nên các sai số góc và độ cứng vững của hệ

thống ảnh hưởng lớn đến khả năng thu tín hiệu

Việc xác định chính xác tải trọng gió tác dụng lên

anten trong quá trình làm việc là một thông số

đầu vào rất quan trọng làm cơ sở thiết kế hệ

thống cơ khí anten

Các thông số đầu vào dùng để mô hình

hóa và tính toán: đường chảo anten VTĐT 7,6 m;

chiều sâu chảo là 1,4 m và độ dày chảo là 0,03 m

(Hình 3), tốc độ gió tới hạn khi anten làm việc 25

m/s; hướng gió tương đối so với trục đối xứng

của Anten thay đổi từ 00

-1800 (Hình 3)

Việc mô hình hóa và tính toán tải trọng khí động tác dụng lên anten được thực hiện bằng mô đun CFX của ansys Mô đun này cho phép thực hiện mô hình hóa số trực tiếp dòng chảy rối tĩnh

và động của gió thổi vào vật thể và xác định các

hệ số khí động, mô men và tải trọng tác dụng lên chúng dựa trên nền tảng các phương pháp số và máy tính điện tử Trong mô phỏng số sự phân bố

áp suất gió, miền tính toán được đóng lại bằng cách thiết lập một số bề mặt tường để đảm bảo khả năng bị chặn là ít hơn 5% Ngoài ra, miền tính toán này cần có kích thước phù hợp với kích thước của vật thể được đặt trong dòng chảy của gió để kết quả tính toán đạt được là tin cậy Mối quan hệ giữa kích thước của miền tính toán (L1+h+L2)BxH và kích thước vật thể lxbxh trong miền tính toán để kết quả tính toán tin cậy được thể hiện trong Bảng 1 và trên Hình 1 [1, 2]

Bảng 1 Thiết lập miền tính toán

Kích thước miền tính toán L1≥5l L2≥15l H≥8h B≥10b

Trang 2

Hình 1 Mặt phẳng đứng của miền tính toán Hình 2 Mặt phẳng ngang của miền tình toán

2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH

Hình 3 Ba vị trí của chảo anten chịu tác dụng của gió

Miền tính toán dạng hình hộp chữ nhật với

các kích thước bao được xác định theo kích

thước chảo dựa theo mối quan hệ trong Bảng 1,

mặt bên phía dưới được mô hình hóa theo các

thuộc tính của mặt đất Hình dạng của chảo anten

và miền tính toán được biếu diễn trên Hình 4 và

5

Để xây dựng các phương trình trạng thái

dòng khí trong miền tính toán, chúng ta gắn miền

tính toán với hệ tọa độ Oxyz, đỉnh O của hệ tọa

độ trùng với đỉnh của chảo Anten (Hình 3, 5) Vận

tốc khí tại điểm tính toán bất kỳ của đầu vào

(Inlet) phụ thuộc vào độ cao so với mặt đất được

Trong miền tính toán (Domain): trạng thái

của dòng khí rối không nén được xung quanh chảo Anten được xác định bởi phương trình Navier-Stokes, có dạng [3]:

 

v i

, 0

Trang 3

Lưới phần tử cho miền tính toán được xây

dựng bởi phần tử tứ diện với các lớp phần tử

hình lăng trụ gần các biên cứng (wall) và các

công cụ CFX-Mesh của tổ hợp chương trình

Ansys Ngoài ra, chúng ta sử dụng các công cụ

Egde sizing, Inflation và phương pháp chia lưới

được công bố trên [1, 4], để chia lưới cho các mặt

và các đường phức tạp trên các mặt anten và mặt đất Chất lượng lưới phần tử của mô hình tính toán được đánh giá qua đại lượng y+

theo công thức [5]:

uy

trong đó: u- vận tốc mài sát; - mật độ khí;

- hệ số động học của tính nhớt của dòng khí

d)

Hình 6 Mô hình lưới phần tử của miền tính toán

Trên các biên của miền tính toán sử dụng

các điều kiện biên: “Inlet”: được đặt cho miền

đầu vào của dòng khí, “Outlet”: - miền ra của

dòng khí, “wall” - các bề mặt của anten và mặt

đất; “Opening”- các mặt bên và mặt phía trên của

miền tính toán Mô hình lưới phần tử mô hình tính toán được biểu diễn trên Hình 6, bao gồm:

466604 nút; 2011543 phần tử Giá trị y+

của lớp đầu tiên gần chảo anten nhất nhỏ hơn 20, chứng

tỏ độ tin cậy của mô hình lưới được chia

4 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN

Xác định tải trọng khí động cho mô hình

trên với vận tốc đầu vào của gió u=25 m/s,

hướng gió tương đối so với trục anten thay đổi từ

001800 Tính toán được thực hiện nhờ phương

pháp phần tử hữu hạn trong CFX, bước tích phân

từ 150-200 bước Kết quả phân bố vận tốc, áp suất và các tải trọng khí động tác dụng lên anten tên được thể hiện trên các Hình 7-13

Trang 4

Hình 7 Trường phân bố vận tốc và dòng vận tốc trong mặt phẳng đối xứng anten khi hướng gió 00

Hình 8 Trường phân bố áp suất trên mặt phẳng đối xứng và các bề mặt của anten khi hướng gió 00

Hình 9 Trường phân bố vận tốc và dòng vận tốc trong mặt phẳng đối xứng Anten khi hướng gió 600

Hình 10 Trường phân bố áp suất trên mặt phẳng đối xứng và các bề mặt của anten khi hướng gió 600

Trang 5

Hình 12 Dòng vận tốc và trường phân bố áp suất trên mặt phẳng đối xứng anten khi hướng gió 1400

Hình 13 Đồ thị tải trọng gió tác dụng lên anten phụ thuộc vào hướng gió tương đối so với trục anten

5 KẾT LUẬN

Trên cơ sở mô hình hóa số và mô tả các đặc

tính cơ bản của dòng chảy rối nhớt nhờ tổ hợp

chương trình Ansys CFX, sử dụng các phương

pháp chia lưới tin cậy (được công bố trên các các

bài báo [1], [4]) đã xác định được lực, mô men khí

động tác dụng lên anten đường kính 7,6 m khi

vận tốc gió u=25 m/s, hướng gió thay đổi từ 00

đến 1800 Kết quả tính toán chỉ ra rằng, lực đẩy

khí động (theo phương Ox) đạt giá trị lớn nhất khi

hướng gió tác dụng lên anten =00 (Fx=22174,3

N) và đạt giá trị nhỏ nhất khí hướng gió =900;

Lực nâng khí động Fy (theo phương Oy) và mô

men quay Mz (quay quanh trục Oz) có dấu thay đổi khi hướng gió thay đổi từ 00 đến 1800; Fy đạt giá trị lớn nhất khi hướng gió =50-600 (Fy=30670,4 N) và đạt giá trị nhỏ nhất khi =1000 (Fy=-484,4 N); Mz đạt giá trị lớn nhất khi hướng gió =1400 (Mz=-18145,4 Nm) và đạt giá trị nhỏ nhất khi =00 và 1800 (Mz=-206,16 Nm) (xem Hình 13)

Kết quả tính toán được sử dụng làm thông

số đầu vào để tính toán và thiết kế kết cấu cơ khí cho anten giám sát VTĐT đường kính 7,6m, lần đầu tiên được chế tạo ở nước ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] DU Qiang, XIE Wubin, MA Sujun Study

on a modeling and meshing method in numerical

simulation for wind loads on Antennas Applied

mechanics 2012; 287-291

[2] Mahesh Dundage, R.O Bhagwat, Suhas

Chavan Numerical Modelling of wind patterns

around a solar parabolic trough collector

International journal of modern engineering research 2013; 2127-2132

[3] N Naeeni, M Yaghoubi Analysis of wind

flow around a parabolic collector fluid flow

Renewable energy 2007; 1898-1916

Trang 6

[4] Shuzo Murakami, Jie Zeng, Tatsuya

Hayashi CFD analysis of wind environment

around a human body Journal of wind

engineering and Industrial aerodynamics 1999;

393-408

[5] Yan Liu, Hong-liang Quian and Feng Fan

The large all-movable antenna and its effect on reflector surface precision Advanced steel

construction 2017l 1-29

Ngày đăng: 28/12/2017, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm