CÁC THÔNG SỐ HỢP LÝ CỦA THIẾT BỊ CỌC XI MĂNG ĐẤT THEO ĐIỀU KIỆN THI CÔNG Lê Thanh Đức, Nguyễn Hồng Ngân Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP Hồ Chí Minh TÓM TẮT: Hiện tại, hệ thống thiết
Trang 1CÁC THÔNG SỐ HỢP LÝ CỦA THIẾT BỊ CỌC XI MĂNG ĐẤT
THEO ĐIỀU KIỆN THI CÔNG
Lê Thanh Đức, Nguyễn Hồng Ngân
Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP Hồ Chí Minh
TÓM TẮT:
Hiện tại, hệ thống thiết bị thi công cọc xi
măng đất đều được nhập từ nước ngoài, việc
lựa chọn các thông số của hệ thống để phù hợp
với các công trình tại Việt Nam là điều cần thiết
Mục đích của nghiên cứu này là: dưới sự tác
động của các yêu cầu đan xen nhau, có thể lựa
chọn được một bộ thông số hợp lý phù hợp với
một yêu cầu định trước Trong thi công cọc có
những chỉ tiêu ta muốn đạt được (ví dụ: năng
suất, chất lượng,…) nhưng các chỉ tiêu này lại
phụ thuộc vào các ràng buộc khác (ví dụ: hàm lượng xi măng, thời gian thi công,…) Do tính chất phức tạp này, kết hợp với chi phí thi công cọc không hề rẻ làm cho quá trình kiểm soát các yếu tố trở nên khó khăn Có thể sử dụng các công cụ toán học, với số liệu giả thiết để đưa ra quy luật về mối liên hệ giữa chúng Từ
đó đạt được các mục tiêu Bài báo này đã giúp người thi công không còn lúng túng khi lựa chọn các tham số để thi công
Từ khóa: mũi khoan trộn, thiết bị, xi măng – đất
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghệ thi công cọc xi măng-đất đã
được phát triển trên thế giới từ những năm 60
của thế kỷ trước Công nghệ này là một trong
những lựa chọn để sử dụng trong việc gia cố
nền, bờ bao, đê điều, các tường vây ngăn thấm
nước từ ngoài vào hoặc từ trong ra, và một số
ứng dụng khác Cọc xi măng-đất (XMĐ) được
phát triển ở Bắc Âu và Nhật Bản sau đó được
ứng dụng rộng rãi ở các nước khác Đối với các
công trình tại Việt Nam, công nghệ này được áp
dụng từ khoảng những năm 2000 Theo thống
kê trên thế giới:
- Tính đến năm 2001, khối lượng đất được
xử lý bằng cọc XMĐ ở Nhật Bản lên tới 70
triệu m3 (Terashi,2003), hàng năm có khoảng 5 triệu m3
, trong đó có 1/3 thi công ngoài bờ biển (Hiệp hội CDM, Nhật Bản)
- Tại Bắc Âu số liệu tính đến năm 2000, có khoảng 1,2 triệu m3 cọc xi măng-vôi được thi công (FHWA, 2000)
- Tại Trung Quốc,năm 1992 chỉ riêng trong
dự án cảng Yantai, gần 60.000 m3 cọc XMĐ đã được xử lý ngoài biển do chính người Trung Quốc thực hiện (Tang,1996) Một vài thống kê sau nói lên phần nào sự phát triển mạnh mẽ của cọc XMĐ tại Nhật Bản
Hình 1 Khối lượng thi công cọc XMĐ tính riêng theo phương pháp DJM tại Nhật Bản từ 1981-1995
(Okumura,1996)
Trang 2Hình 2 a)Khối lượng chất kết dính trộn theo phương pháp DJM được sử dụng tại Nhật Bản trong thời gian 1992-1996; b) Thể tích đất được gia cố bằng cọc xi măng, vôi trộn với đất tại chỗ ở Thụy Điển
Hình 3 a- Máy trộn một trục trộn sâu tại nơi thi công cầu WD- 2, đường cao tốc 2, a an;b- Máy trộn
đường kính 0,8 m (Keller Polska)
Do xi măng đất có độ bền cao hơn đất
nền, và có khả năng chống nước thấm qua, giá
thành và thời gian hợp lý cũng như mức độ
phức tạp của công nghệ không quá khó do vậy
nó đã được áp dụng ngày càng rộng rãi trong thi công đất nền yếu tại Việt Nam và thế giới
Hình 4 Sơ đồ quá trình thi công cọc xi măng đất Các máy khoan trộn tạo cọc được chọn cần
phải đáp ứng được đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật Quá trình trộn tạo cọc là một quá trình
phức tạp, chưa được quan tâm nghiên cứu đầy
đủ ở Việt Nam Trong các chỉ tiêu ấy, năng suất
trộn và công suất chi phí, chất lượng trộn là những chỉ tiêu cơ bản, ảnh hưởng tới hiệu quả thi công Các chỉ tiêu ấy liên quan đến hàng loạt thông số, các thông số ấy ảnh hưởng tương tác lẫn nhau, do vậy khi thi công người điều khiển
Trang 3máy gặp rất nhiều khó khăn để lựa chọn các
thông số Điều này dẫn tới là hiệu quả thi công
không cao
Đây chính là những tồn tại mà bài báo
muốn đưa giải pháp để góp phần giải quyết
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tác giả tập trung xét riêng quá trình
khoan trộn bằng cách xây dưng một mô hình
bài toán, có xét đến ảnh hưởng của các tham
số: d – đường kính cọc, cánh trộn; n – số vòng
quay của trục trộn; Re - hệ số Reynold,
- khối lượng riêng của đất trộn; H– chiều dài
cọc trộn; M – số cánh trộn; vx - vận tốc xuyên
xuống; vl – vận tốc rút lên Các tham số trên là
các tham số mô tả điều kiện làm việc của thiết
bị Vấn đề ở đây đó là các thông số này cần
được điều chỉnh để phù hợp với mong muốn
của người vận hành Bài báo diễn đạt các mong
muốn ấy theo 3 nhóm chỉ tiêu đã nêu (năng suất
trộn, công suất chi phí và chất lượng trộn)
1 Công suất
Công suất của máy khoan trộn tạo cọc
có thể chia ra nhiều giai đoạn khác nhau:
- Giai đoạn vận hành không tải hệ thống
thiết bị
- Giai đoạn khoan phá đi xuống với mục
đích làm tơi và mềm đất trước khi trộn tạo cọc,
giai đoạn này có thể áp dụng lý thuyết đào cắt
đất của các tác giả
- Giai đoạn trộn với chất kết dính là xi
măng trong quá trình rút cần khoan lên, hoặc
đưa xuống Trong giai đoạn này có thể áp dụng phương trình ernoulli:
2
2.
g
Trong đó H - Chiều cao cột đất trộn;
2
2.g
- Chiều cao đi được của cần khoan, còn
gọi là chiều cao vận tốc
Lực cản của cần khoan trong đất tơi tuân theo định luật Newton:
2
,( ) 2.
g
Trong đó :P- Lực cản của khối trộn tác dụng lên cánh trộn,(N); - Hệ số lực cản, phụ thuộc hình dáng bề mặt cánh trộn, trạng thái và tính chất của đất; F- Diện tích hình chiếu của cánh trộn theo phương vuông góc với bán kính (m2); - Khối lượng riêng của hỗn hợp trộn (kg/m3)
Để tính được phần công suất trong giai đoạn trộn tạo cọc, ta tính phần công suất của một phân tố diện tích cánh khuấy khi nó quay trong quá trình trộn, như sau:
.
N dN dP
Với :
2
2
và 2 n x
Với bài toán tổng quát, có số cánh trộn là M cánh,
thì vi phân công suất được tính bằng biểu thức:
3
(2 )
2
M = 2,4,6,… nói chung thường là một hằng số chẵn
Thực hiện tích phân này:
3
(2 )
Thay H d , vớ ột hệ số kết cấu Nếu đưa tất cả các hằng số vào chung một hằng số tổng hợp K, ta sẽ thu được
.
N K n d ; Nếu đặt M K ; Thì ta có: N M n d3 5
Trang 4Suy ra
.
M
N
n d
; Kết quả thực nghiệm của quá trình, khi bỏ qua ảnh hưởng
của chuẩn Frut, thì có thể coi như M EuMlà
chuẩn số Euler;
Ở chế độ chảy tầng là thích hợp với
quá trình trộn tạo cọc trong đất, với chỉ số
Reynolds là ReM < 20, các kết quả nghiên cứu
của Buche, Rushton, Kafarov (Nguồn: Nguyễn
Bin Tr: 209) ta có:
Re
M
M
A
Eu thì công thức tính công suất động
cơ cho một cặp cánh trộn sẽ là:
3 5
M
Eu
n d
hay
.
ReM
A
2.Năng suất trộn
Nếu gọi thể tích trộn:
2
4
d
(m3
); t- thời gian trộn;
x l
t
v x , v l - lần lượt là tốc độ đi xuống và đi lên của
cần khoan Năng suất trộn tạo cọc:
V Q t
=
2
4
x l
x l
(m
3
/phút)
3 Chất lượng trộn :
Trong nhiều tài liệu nghiên cứu của các tác giả, chất lượng trộn của một hỗn hợp nói chung và xi măng – đất nói riêng phụ thuộc chủ yếu vào số lượt cánh trộn đi qua chỗ hỗn hợp cần trộn Hình dáng cánh trộn, vị trí lỗ phun xi măng, áp lực phun, hàm lượng xi măng ảnh hưởng đến quá trình phân tán xi măng trong đất, qua đó ảnh hưởng đến quá trình trộn Tuy nhiên, các thông số này được lựa chọn từ ban đầu (dựa trên các dữ liệu quan trắc nền) trước khi máy được đưa vào thi công Do vậy, việc kiểm soát các nhân tố này là khả thi, vì thế bài báo này không xem xét
Số lượt cánh trộn được tính như sau:
x l
n n
v v
(3)
Nếu chỉ có quá trình phun xi măng khi bộ công tác đi lên thì:
1
1
n
(3)
Nếu có quá trình phun xi măng khi bộ công tác
đi xuống và đi lên thì:
.
x l
v v
n n
4 Mô hình toán
Nếu chỉ xét riêng quá trình trộn tạo cọc,
hiệu quả sử dụng của máy sẽ càng cao khi
năng suất (Q) càng tăng và công suất (N) càng
thấp Chính vì lý do này, để đánh giá hiệu quả
làm việc tổng hợp của máy trong quá trình trộn,
tính đến tất cả các thông số đã nêu, có thể đưa
vào một tham số là năng suất riêng (Qr), là năng
suất tính cho mộ đơn vị công suất
2
3 5
4
Re
x l
r
M
Q
An d N
(A = 4,42 – hệ số thực nghiệm)
Qr càng lớn thì càng tốt Tuy nhiên Qr
không thể hiện được chất lượng trộn Vì vậy cần thêm vào chỉ số T Chỉ số T là chỉ số được biết trước khi thi công bởi vì với mỗi yêu cầu cụ thể của cọc xi măng đất trên công trường (khả năng chịu nén, độ bền, tính chống thấm,…) thì người vận hành máy sẽ biết được ứng với mỗi loại đất sẽ có T (chất lượng) cụ thể Điều này có nghĩa là chỉ số T phải là một giá trị cho trước
Xét tất cả các yếu tố tổng hợp trên, bài báo đề xuất đưa ra một chỉ tiêu tổng hợp S được định nghĩa bằng công thức (1), (2) Dễ dàng nhận thấy công thức (2) là công thức tổng quát, còn công thức (1) là trường hợp riêng của (2) Do vậy, từ đây trở đi chúng ta chỉ xét công thức (2) Khi T2 được biết trước điều có nghĩa là chúng ta đã biết được ràng buộc giữa các thông
số n, M, vx , vl Ví dụ nếu T2 300 thì
=300
x l
x l
v v
Vấn đề còn lại chỉ là tìm
ra S thông qua (Q )
Trang 5Từ (1) và (2) nhận thấy: để tìm ra Si lớn
nhất dưới ảnh hưởng của các biến là một bài
toán rất phức tạp Do vậy cần phải dựa vào máy
tính để xử lý Từ mô hình toán học như trên, tác giả đề xuất sử dụng phần mềm MATLAB (phiên bản R2016a) để tính toán
2
3 3
3 5
2
3 3
3 5
khi i=1 (1) 2( )
2 Re
4
2( )
2 Re
M
M
d
d
M
x l
x l
v v
v v
Trên thế giới hiện nay, thiết bị thi công
cọc xi măng – đất chủ yếu phân thành 2 nhóm
chính Để minh họa cho mô hình toán ở trên,
tác giả xem xét công nghệ Nhật Bản, với các
thông số kỹ thuật nhập vào và đưa ra kết quả
như trong Bảng 1
Dựa vào công thức (2) cùng kết quả ở trên
chúng ta có một số kết luận như sau:
- d, càng thấp càng tốt
- Re càng lớn, càng tốt
- Khi T thay đổi thì các thông số ràng buộc cũng sẽ thay đổi theo, dẫn đến người vận hành máy cũng được khuyến cáo phải thay đổi sao cho các thông số vận hành càng gần với giá trị tính toán trước thì càng tốt (ví dụ nếu T =
300, thì nên điều chỉnh các thông số càng gần với giá trị cho trong bảng thì càng tốt)
Bảng 1 Các thông số nhập vào
Số vòng quay của trục trộn (n) (vòng/phút) 24 64 46
Đường kính (d) (m) 0,8 1,3 0,8
Số lượng cánh trộn (M) 412 4
Vận tốc xuyên xuống (vx) (m/phút) 1 2 2
Vận tốc rút lên (vy) (m/phút) 0,7 0,9 0,888
Khối lượng riêng của đất ()(kg/m3 ) 1800 1800
Hệ số Reynold (ứng với chế độ chảy tầng) < 20 20
Số lượng vòng quay của cánh – cho mỗi 1 mét (T) (T 274) 300 300
III KẾT LUẬN
ằng việc phân tách các thông số điều
khiển thành các nhóm chỉ tiêu năng suất riêng
Qr (đại diện cho chi phí); số lượt cánh trộn T đi
qua (đại diện cho chất lượng) đồng thời mô
hình hóa chúng bằng phương trình toán học
qua đó tìm ra thông số hợp lý ài báo đã giải
quyết cơ bản việc vận hành máy cho thích hợp Nhưng cần phải nói thêm rằng: khi chất lượng đảm bảo (T), năng suất riêng (Qr) càng lớn càng tốt Tuy nhiên, chi phí và chất lượng không chỉ liên quan đến bản thân máy mà còn liên quan đến nhiều vấn đề rộng lớn khác Ví dụ: tay nghề
Trang 6vận hành máy, năng lực thi công của nhà thầu
(số lượng, chủng loại máy nhà thầu có), chi phí
bảo dưỡng, vận hành, môi trường thi công (ở
rừng, nơi xa xôi hẻo lánh, đồng bằng, địa chất,
địa tầng, ) Chính vì những lý do này nên cần nghiên cứu thêm về những vấn đề trên để đưa được khuyến cáo tối ưu cho người sử dụng, kỹ
sư thiết kế, nhà thầu,…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] N Bin, Các quá trình thi ết bị trong công
nghệ hóa chất và thực phẩm, T 2: Nhà xuất
bản Khoa học Kỹ thuật., 2009
[2] V A A.-O Edward L Paul, Suzanne M
Kresta, Handbook of industrial mixing
science and practice: a John Wiley & Sons,
Inc., 2004
[3] S Larsson, Mixing Processes for Ground
Improvement by Deep Mixing: Svensk Djupstabilisering, Swedish Deep
Stabilization Research, Centre, 2003
BASING ON WORKING CONDITIONS, CHOOSING REASONABLE PARAMETER OF SOL – CEMENT COLUMN WORKING EQUIPMENTS
ABSTRACT:
System of soil – cement column working
equipment is imported from other countries
Choosing parameter system which is suitable
with Vietnam building is necessity The target of
this study is: under influence of mixed
requirements, it is possible to choose a set of
parameter reasonable with predetermined
requirements In working, some targets (i.e
capacity, quality,…) are wanted, but they
depend on other ties (i.e cement content, time
of working,…) Because of the complex combined high expenditure of the working, the parameter control is difficult By using math theories, with assumed data, law of parameter relation can be drawn Basing on law, the targets are attainable The article also helps the controllers not to be confused when they choose parameters for working
Keywords: drilled – mixer, equipment system, soil – cement