Từ xưa đến nay, nhắc đến Hồ Tây là nói đến văn hoá, nhìn nhận Hồ Tây dưới tư cách của một quần thể văn hoá hội tụ của danh thắng, của những di tích lịch sử, các công trình tâm linh, văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HẢI VÂN
VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY TRONG
KHÔNG GIAN DU LỊCH VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HẢI VÂN
VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY TRONG
KHÔNG GIAN DU LỊCH VĂN HOÁ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 61 22 01 25
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Trâm
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HẢI VÂN
VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY TRONG
KHÔNG GIAN DU LỊCH VĂN HOÁ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 01 25
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Trâm
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo,
TS Phạm Thị Trâm - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của
cô đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất
Đồng thời, tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Văn học Dân gian, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Vũ Thị Hải Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Vũ Thị Hải Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu 3
4.1 Quá trình sưu tầm 4
4.2 Quá trình nghiên cứu 7
4.2.1 Văn học dân gian và văn hoá dân gian 7
4.2.2 Địa lý – Lịch sử 9
4.2.3 Môi trường – Du lịch 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Kết cấu 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẦN THỂ VĂN HOÁ VÙNG VEN HỒ TÂY 13
1.1 Tên gọi 13
1.2 Vị trí địa lý 15
1.3 Lịch sử 16
1.4 Quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây 18
1.4.1 Các di tích lịch sử - văn hóa 20
1.4.2 Lễ hội dân gian 23
1.4.3 Văn học – nghệ thuật dân gian 24
1.4.4 Văn hoá ẩm thực 26
1.4.5 Làng nghề truyền thống 27
Trang 6CHƯƠNG 2: VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY 29
2.1 Truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây 29
2.1.1 Thống kê truyện kể dân gian 30
2.1.1.1 Tên gọi và địa danh qua truyện kể 33
2.1.1.2 Truyện kể về các nhân vật vùng ven Hồ Tây 36
2.1.2 Dấu vết văn hóa trong truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây 43
2.1.2.1 Văn hoá tâm linh 43
2.1.2.2 Văn hoá ẩm thực và làng nghề 44
2.1.2.3 Hội hoạ dân gian 47
2.1.2.4 Điêu khắc, tạo hình dân gian 48
2.1.2.5 Văn học – Bộ phận văn hoá ngôn từ 49
2.2 Trữ tình dân gian 50
2.2.1 Ca dao 51
2.2.1.1 Ca dao ngợi ca cảnh đẹp 52
2.2.1.2 Ca dao ngợi ca truyền thống 57
2.2.1.3 Ca dao về tình yêu đôi lứa 61
2.2.2 Dân ca 65
2.2.2.1 Ca trù vùng ven Hồ Tây 66
2.2.2.2 Xẩm 70
2.2.2.3 Vè 72
2.3 Tục ngữ - câu đố 76
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HOÁ DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY ĐỐI VỚI DU LỊCH VĂN HOÁ 80
3.1 Văn học dân gian là một thành tố của văn hóa dân gian 80 3.2 Sự tác động qua lại của văn học dân gian, văn hoá dân gian và du lịch 81
Trang 73.2.1 Khái niệm du lịch và du lịch văn hoá 82
3.2.2 Vấn đề văn hoá dân gian và văn học dân gian trong phát triển du lịch văn hoá 83
3.3 Vùng ven Hồ Tây và du lịch ngày nay 87
3.3.1 Tiềm năng du lịch Hồ Tây 87
3.3.2 Thực trạng du lịch Hồ Tây 88
3.3.3 Giải pháp cho du lịch văn hoá Hồ Tây 90
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Thống kê truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây
2 Bảng 2.2 Phân loại truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây
3 Bảng 2.3 Truyện kể dân gian gắn liền với văn hoá tâm linh
4 Bảng 2.4 Truyện kể dân gian gắn với làng nghề truyền thống
5 Bảng 2.5 Truyện kể dân gian gắn với nhân vật văn học
6 Bảng 2.6 Phân loại ca dao vùng ven Hồ Tây
Trang 9Từ xưa đến nay, nhắc đến Hồ Tây là nói đến văn hoá, nhìn nhận Hồ Tây dưới tư cách của một quần thể văn hoá hội tụ của danh thắng, của những di tích lịch sử, các công trình tâm linh, văn hoá ẩm thực, làng nghề và lễ hội dân gian Bên cạnh đó, Hồ Tây sở hữu thảm động – thực vật phong phú, là điểm đến hấp dẫn của các hoạt động sinh thái Hồ Tây là địa danh đa sắc về văn hoá, khu vực này sở hữu trục văn học dân gian đa dạng, với nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật từ dân gian đến hiện đại,
là nguồn cảm hứng bất tận của văn học nghệ thuật qua nhiều thời kì
Văn học dân gian là bộ phận quan trọng của văn hoá dân gian, không thể tách rời văn hoá dân gian Văn học dân gian không chỉ tồn tại dưới hình thức một văn bản ngôn từ mà còn là sự tổng hoà của các hình thức diễn xướng, sinh hoạt cộng đồng
và gắn liền với các hiện tượng văn hoá Dù là trong văn hoá truyền thống hay giữa nền văn hoá hội nhập hiện đại, Hồ Tây vẫn vẹn nguyên những giá trị, vẫn là lớp mây mù ảo ảnh của huyền thoại, vẫn cổ kính đến lạ kì, vẫn sừng sững, hiên ngang
mà cũng rất dịu dàng, đằm thắm Hồ Tây có lẽ không chỉ là một địa danh mà còn là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại, là cầu nối của những giá trị tinh thần tưởng chừng mơ hồ với cuộc sống thực tại hiện hữu Và cũng chính vì thế, Hồ Tây trở
Trang 102
thành nguồn cảm hứng bất tận của văn học nghệ thuật từ dân gian đến đương đại, là
nơi lắng đọng của những tâm hồn nghệ sĩ đầy xúc cảm
Đề tài này nằm trong hướng nghiên cứu folklore ứng dụng, tìm hiểu ứng dụng của văn học dân gian và văn hoá dân gian đối với hoạt động du lịch và trong không
gian du lịch văn hoá đang ngày càng được mở rộng
Hồ Tây không chỉ là lớp văn hoá lắng sâu của quá khứ mà còn là một trong những địa điểm có giá trị về mặt du lịch trong cuộc sống hiện đại, là một trong những vùng du lịch trọng điểm của Hà Nội bởi có sự kết hợp chặt chẽ giữa du lịch văn hoá và du lịch sinh thái; không chỉ là điểm đến tham quan, không chỉ là những công trình tâm linh lưu dấu thời gian hay thiên đường ẩm thực đặc sắc mà nơi đó còn là không gian huyền bí, cổ xưa, phảng phất như lớp sương mù trên mặt hồ sáng sớm Hiện nay, hoạt động du lịch ở Việt Nam, đặc biệt là du lịch văn hoá đang rất được coi trọng Trong bối cảnh của xu thế hội nhập và phát triển, những giá trị của văn hoá dân gian đóng vai trò quan trọng đối với du lịch, thúc đẩy du lịch phát triển, gợi mở những điểm du lịch hấp dẫn, có chiều sâu và mang bản sắc dân tộc Đồng thời, du lịch cũng góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và bảo tồn những giá trị
truyền thống
Tìm hiểu ảnh hưởng của văn học dân gian vùng ven Hồ Tây trong không gian du lịch văn hoá là góp phần đánh giá đúng vị trí và vai trò của Hồ Tây, từ đó giúp phát triển du lịch có chiều sâu và đặc biệt là bảo tồn được nét cổ xưa, sang
trọng, kiêu sa mà không kém phần hiện đại của vùng đất thiêng này
Trong luận văn, chúng tôi xác định vùng ven Hồ Tây là khu vực quận Tây Hồ ngày nay Bên cạnh đó, có một số di tích thuộc địa phận quận Ba Đình cũng có mối liên
hệ trực tiếp đến vùng văn hoá ven Hồ Tây Cùng với đó, chúng tôi cũng xác định văn học dân gian vùng ven Hồ Tây là tập hợp bộ phận văn học dân gian liên quan trực tiếp đến các địa danh Hồ Tây và được lưu truyền ở khu vực Hồ Tây
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tập trung vào hướng nghiên cứu folklore ứng dụng, ứng dụng của các sản phẩm văn học và văn hóa dân gian đối với việc phát triển du lịch
Trang 113
ngày nay Đồng thời khẳng định được tầm quan trọng của văn học dân gian nói riêng và văn học nói chung trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát kho tàng văn học dân gian và văn nghệ dân gian khu vực ven Hồ Tây dưới góc độ những văn bản ngôn từ được
lưu truyền trong dân gian và được các nhà nghiên cứu sưu tầm, xuất bản:
Truyền thuyết ven Hồ Tây Lĩnh Nam chích quái
Thần tích Hà Nội Truyện kể dân gian Hà Nội Tục ngữ, ca dao dân ca Hà Nội
Kết hợp với khảo sát thực địa vùng ven Hồ Tây Văn học dân gian luôn tồn tại song song cùng với các hoạt động diễn xướng của cộng đồng, gắn liền với các tín hiệu văn hoá, bởi vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các yếu tố văn hoá đi kèm với các văn bản văn học dân gian, để thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học với văn hoá, thấy được tầm quan trọng của văn học dân gian trong việc phản chiếu bản sắc dân tộc
Tất cả các yếu tố đó tích hợp lại, tạo nên một quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây vừa cổ kính, huyền thoại, vừa kiêu sa, sang trọng và cũng rất hiện đại
Vùng ven Hồ Tây được xác định là khu vực quận Tây Hồ ngày nay và một số di tích thuộc quận Ba Đình có liên quan trực tiếp đến vùng văn hoá Hồ Tây từ xa xưa Đối tượng và phạm vi nghiên cứu có giá trị cấp thiết đối với việc định hướng phát triển du lịch Hồ Tây một cách hiệu quả, góp phần khai thác được hết những giá trị tiềm ẩn và lan toả những giá trị hiện hữu của Hồ Tây, nhằm quảng bá du lịch Việt Nam
4 Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu
Hồ Tây là một quần thể văn hoá có chiều sâu và bề dày lịch sử, bởi vậy, từ xưa đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Hồ Tây dưới nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, di tích, lịch sử, môi trường … hay nhiều góc độ như thơ ca, hội hoạ, âm
Trang 124
nhạc, văn hoá tâm linh,…và các công trình sưu tầm văn hoá – văn học dân gian, các hội thảo, hội nghị cũng được tổ chức thường xuyên
4.1 Quá trình sưu tầm
Về lịch sử sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian vùng ven Hồ Tây, trước hết phải
kể đến quá trình sưu tầm văn bản từ trong dân gian và liên tục được bổ sung, chỉnh
lý qua các thời kì:
Sự xuất hiện sớm nhất của những văn bản ngôn từ của văn học dân gian phải
kể đến Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (Trịnh Đình Rư dịch, NXB Văn hoá, 1960) và Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp, xuất bản năm 1996), là sự ghi chép
các truyền thuyết, thần tích gắn liền với đất nước ta thời xa xưa Hai văn bản này được ghi chép theo xu hướng văn bản hoá, nghĩa là sự ghi chép cốt truyện, tôn trọng
lời kể dân gian mà chưa có sự ảnh hưởng của yếu tố văn học Trong Việt điện u linh
có 27 truyện kể về các vị thần và Lĩnh Nam chích quái (bản cổ) có 22 truyện, ghi lại
nguồn gốc xuất xứ của những địa danh, công trạng của các vị thần, tuy nhiên, trong
đó mới xuất hiện rải rác những văn bản liên quan đến truyện kể dân gian vùng ven
Hồ Tây
Đại Việt Sử kí toàn thư (1967) cũng đã ghi chép lại một số nhân vật trong các
truyền thuyết, thần tích như một sự khẳng định yếu tố lịch sử trong những hình tượng được nhân dân ngợi ca trong truyền thuyết, đồng thời đây cũng là cuốn sử đầu tiên ghi chép về các triều đại, đặc điểm cũng như các vị vua cho đến hết thời kì nhà Lý
Hà Nội là một trong những cái nôi về văn học và văn hoá dân gian ở Việt Nam, là lớp văn hoá dày đặc, biểu trưng cho cả dân tộc và cũng chứa đựng dấu ấn truyền thống đậm nét, bởi vậy, việc sưu tầm, tổng tập văn học dân gian Hà Nội diễn
ra khá sôi nổi:
Sự xuất hiện của Sự tích các vị thần Thăng Long – Hà Nội (xuất bản 2008),
mở đường cho sự ra đời của các công trình sưu tầm khác như Truyện kể dân gian
Hà Nội (Kiều Thu Hoạch chủ biên, xuất bản năm 2010) Công trình là sự tập hợp
các truyện kể dân gian Hà Nội như truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, giai
Trang 135
thoại, truyện Trạng,… được lưu truyền ở Hà Nội và liên quan đến các địa danh ở thủ đô
Thần tích Hà Nội (Nguyễn Thị Oanh chủ biên, 2015) là sự thống kê một cách
đầy đủ về nguồn gốc, công trạng và nơi thờ tự của các vị thần tại Hà Nội
Riêng khu vực Hồ Tây, các công trình sưu tầm chuyên biệt cũng diễn ra khá phổ biến:
Truyền thuyết ven Hồ Tây (Bùi Văn Nguyên – Vũ Tuấn San – Chu Hà, 1975)
là một trong những công trình sưu tầm đầu tiên và cụ thể, ghi lại những truyền thuyết từ thuở hồng hoang của lịch sử cùng những dấu tích, di tích còn tồn tại đến ngày nay Công trình này được coi là nền tảng trong quá trình sưu tầm văn học dân gian vùng ven Hồ Tây nói riêng và Hà Nội nói chung với gần 50 truyện kể có liên quan đến khu vực quận Tây Hồ ngày nay chia thành 3 phần do lần lượt các tác giả biên soạn
Nối tiếp công trình Truyền thuyết ven Hồ Tây là các công trình ghi chép lại
thần tích của các làng cổ ven hồ, mang đậm màu sắc về các vị thần, gắn bó chặt chẽ
với từng địa danh, đã được thống kê sơ lược qua một số công trình như Danh tích
Hồ Tây (Đặng Huyền Thái, 2000), Kể chuyện Hồ Tây (Vũ Kiêm Ninh, 2010) hay
Di tích Hồ Tây (2016), các công trình tập trung liệt kê thần tích của từng làng, cũng
như nêu lên các điểm đặc trưng của từng địa danh ở khu vực ven Hồ Tây Các công trình là sự bổ sung lẫn nhau trong việc ghi chép, sưu tầm về các truyện kể dân gian của vùng ven Hồ Tây
Văn học dân gian vùng ven Hồ Tây là một phức thể của nhiều thể loại, không chỉ có truyện kể dân gian mà còn có ca dao, tục ngữ, dân ca:
Việc sưu tầm ca dao dân ca được ghi chép lại khá cụ thể qua bài viết Quá
trình sưu tầm, nghiên cứu ca dao dân ca từ cuối thế kỷ XVIII đến trước cách mạng tháng Tám (1945) của Vũ Tố Hảo Trong bài viết này, Vũ Tố Hảo đã cho
người đọc thấy được cái nhìn khái quát về công cuộc sưu tầm ca dao dân ca của dân
tộc ta suốt một giai đoạn Vũ Tố Hảo cho rằng Nam phong giải trào là cuốn sách
sưu tầm ca dao dân ca xuất hiện sớm nhất (cuối thế kỉ XVIII), đánh dấu quá trình sưu tầm ca dao bắt đầu và tiến dần đến phổ biến Từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ
Trang 146
XIX, các cuốn sách sưu tầm ca dao lần lượt ra đời như An Nam phong thổ thoại,
Cổ Việt phong dao, Ca dao ngạn ngạn ngữ Hà Nội hay Long thành cảnh trí ca,
ghi lại các câu ca dao, tục ngữ từ xa xưa về những cảnh đẹp, những nét độc đáo ở Việt Nam và Hà Nội
Tục ngữ, ca dao Việt Nam (1994, NXB GD) do Mã Giang Lân tuyển chọn
những bài ca dao, tục ngữ được lưu truyền trong dân gian cũng như đã được ghi chép lại trong các công trình trước đó
Tục ngữ, ca dao Việt Nam (1997, NXB Văn hóa dân tộc) do Trần Mạnh
Tường tuyển chọn Tác phẩm sưu tầm này là kết quả phát triển từ việc sưu tầm năm
1994, có bổ sung và chỉnh sửa
Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ
biên, 2001) và Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính, 2002) Đây được
coi là những bộ sách biên soạn một cách đầy đủ, quy mô nhất về ca dao và tục ngữ, nhóm tác giả đã biên soạn như một cuốn từ điển giúp cho việc tra cứu trở nên dễ dàng và khoa học hơn Các bài ca dao và tục ngữ được sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái và phân loại theo chủ đề một cách cụ thể và dễ hiểu
Tục ngữ ca dao dân ca Hà Nội (Nguyễn Thuý Loan chủ biên, 2010),… là
công trình sưu tầm chuyên biệt về khu vực Hà Nội, với các nhóm ca dao, tục ngữ,
ca trù, hát xẩm, vè, đồng dao, hat ru, hát cửa đình,…
Bên cạnh truyền thuyết hay thần tích, giai thoại cũng là một thể loại đặc sắc
của văn học dân gian với các công trình sưu tầm Việt sử giai thoại (Nguyễn Khắc Thuần, 1999), Giai thoại văn học Việt Nam (Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch), Hồn sử Việt – Những truyền thuyết và giai thoại nổi tiếng (2011), Giai
thoại văn nghệ dân gian Việt Nam (1986), Kho tàng giai thoại Việt Nam (Vũ
Ngọc Khánh, 1994), Giai thoại Thăng Long (Đỗ Thị Hảo – Vũ Ngọc Khánh,
1987),… tập hợp các giai thoại đời sống và văn chương một cách đầy đủ nhất Quá trình sưu tầm văn học dân gian vùng ven Hồ Tây nói riêng và ở Hà Nội nói chung diễn ra rộng rãi trên nhiều thể loại, tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào tổng tập một cách toàn diện về văn học dân gian vùng ven Hồ Tây, cũng như nghiên cứu tác động của văn học dân gian đến văn hoá dân gian và du lịch
Trang 157
4.2 Quá trình nghiên cứu
Bên cạnh quá trình sưu tầm văn bản văn học dân gian, các công trình nghiên cứu về văn học dân gian Hà Nội và vùng ven Hồ Tây cũng diễn ra trên diện rộng
4.2.1 Văn học dân gian và văn hoá dân gian
Văn học dân gian là một bộ phận của văn hoá dân gian, gắn bó mật thiết với những yếu tố truyền thống, bởi thế, việc nghiên cứu văn học dân gian trong sự tổng hoà với văn hoá là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tập trung đến, tiêu biểu như công
trình Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính, 1990), tập hợp đầy đủ lề xưa nếp cũ,
phản ánh quan niệm và tái hiện những dấu tích một thời
Trong quá trình sưu tầm văn học dân gian ở Hà Nội nói chung và vùng ven Hồ Tây nói riêng, truyền thuyết về các vị thần chiếm số lượng lớn, gắn liền với tín ngưỡng, phong tục và lễ hội dân gian Yếu tố tín ngưỡng, lễ hội là một trong những nét đặc trưng, chứa đựng bản sắc dân tộc, làm nên sự khác biệt và độc đáo riêng của từng miền Các thần tích, truyền thuyết hiện còn được lưu giữ góp phần phản ánh những tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc với nhiều công trình nghiên cứu:
Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1996) là quá trình
nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa cũng như sự tích của các vị Thành hoàng trong tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc
Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân (Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy
Hinh, 2004) nghiên cứu về các vị Thành hoàng của Hà Nội và tín ngưỡng dân gian của người Hà Nội xưa mà nổi bật là tín ngưỡng thị dân – một hình thức mới hình thành trong quá trình chuyển di dân cư từ nông thôn ra thành thị và quan điểm về các vị thần toàn năng, sự giao thoa giữa Thành hoàng làng và Tổ nghề của dân gian Văn học dân gian không chỉ tồn tại bằng văn bản ngôn từ mà còn được nhìn nhận trong không gian của sự diễn xướng, bởi vậy, văn học gắn liền với các hiện tượng trong văn hoá, phản chiếu các khía cạnh của văn hoá dân gian Có nhiều công trình nghiên cứu về các hiện tượng văn hoá dân gian như:
Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Đinh Gia Khánh, 1994),
Lễ hội Thăng Long (Lê Trung Vũ, 2005), Hội làng Thăng Long Hà Nội (Lê
Trang 168
Trung Vũ chủ biên, 2011), trong đó có đề cập đến các lễ hội dân gian truyền thống
ở vùng ven Hồ Tây
Về văn hoá ẩm thực, các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Bảy như Quà
Hà Nội (2000), Văn hoá ẩm thực Hà Nội (2008), Ẩm thực dân gian Hà Nội
(2009), Văn hoá ẩm thực qua tục ngữ người Việt (2016),… đã khái quát được sắc
màu đặc trưng qua cách ăn uống của người Hà Nội, gọi tên những địa danh qua ẩm thực và cho thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học dân gian và văn hoá ẩm
thực Liên hoan Ẩm thực Hà Thành 2010 (Sở VHTTDL Hà Nội – Tổng công ty
Du lịch Hà Nội) được tổ chức ở Hồ Tây là một trong những chương trình hướng tới
kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, đã đưa đến một không gian ẩm thực độc đáo, quy tụ những nét văn hoá ẩm thực đặc sắc của Hà Nội
Cùng với đó, quá trình nghiên cứu làng nghề truyền thống được thể hiện qua
nhiều nghiên cứu như Làng nghề truyền thống (Phạm Côn Sơn, 2004), Làng nghề
thủ công truyền thống Việt Nam (Bùi Văn Vượng, 1998), Nghề cổ đất Việt (Vũ Từ
Trang, 2007), Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (Trương Minh
Hằng chủ biên, 2011),… giới thiệu các nghề thủ công truyền thống và các làng nghề trên đất Việt từ xa xưa, mà đó, cụm làng nghề truyền thống vùng Hồ Tây là nổi bật nhất
Ngoài ra, cũng có các công trình nghiên cứu chuyên biệt về văn hoá Hồ Tây:
Hồ Tây ngọc biếc lung linh (Đặng Duy Phúc, 2000), giới thiệu về lịch sử,
nguồn gốc và những huyền thoại xung quanh Hồ Tây cùng các công trình tâm linh như đền, đình, chùa, miếu và thơ văn về Hồ Tây
Đất Bưởi ngàn xưa (Lê Văn Kỳ, 2011), tìm hiểu về văn hoá dân gian của đất
Bưởi (tức phường Bưởi ngày nay) thông qua các giá trị văn hoá được sưu tầm Đây
là một trong số những công trình nghiên cứu một cách tổng thể nhất về văn hoá dân gian một bộ phận ở vùng ven Hồ Tây
Mặt gương Tây Hồ (Nguyễn Vinh Phúc, 2013) là công trình nghiên cứu các
khía cạnh trong văn hoá, lịch sử và huyền thoại về Hồ Tây Công trình gồm có 8 chương, vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu, đi từ lịch sử Hồ Tây qua hồ Trúc Bạch, đến
Trang 179
những vùng trọng điểm trong của Hồ Tây xưa và văn thơ, truyện kể dân gian cùng các di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống
Hồ Tây xưa và nay (Hàn Đức Viêm, 2015) nghiên cứu tổng thể về văn hoá
dân gian khu vực Hồ Tây
Tour du lịch văn hoá, tâm linh quanh Hồ Tây (Lý Khắc Cung, 2012, Tạp chí
Du lịch Việt Nam)… xây dựng một hành trình xuyên suốt, thuận lợi cho quá trình tham quan những địa điểm văn hoá tâm linh khu vực ven Hồ Tây
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về một bộ phận, một di tích
riêng ở vùng ven Hồ Tây như Phủ Tây Hồ (1993), Người, đất Quảng An (Nguyễn Duy Huyền, 1998), Tìm hiểu văn hoá dân gian làng Yên Thái (Lê Văn Kỳ, 2011),
Đền Lăng – Một cõi tâm linh (Lê Thái Dũng, 2016), Võng Thị xưa và nay
(Nguyễn Văn Đông – Vũ Kiêm Ninh, 2016) cùng một số bài viết như Giấy dó và
nghề đan xeo Kẻ Bưởi (Chu Mạnh Cường, số 4/2010), Hồi sinh lĩnh Bưởi (Hằng
Khiêm, số 229/2009), Đền Quán Thánh (Trấn Bắc Phương – Thăng Long tứ
trấn) (Nguyễn Hạnh, 2006), Lý giải đền Cẩu Nhi từ tầm nhìn văn hoá tâm linh và huyền sử về vị vua (Kiều Thu Hoạch, số 3/2005, Di sản văn hoá) và các công trình
nghiên cứu về các đình, đền hay các nhân vật cụ thể của vùng ven Hồ Tây Các công trình là sự sưu tầm, nghiên cứu chuyên biệt về lịch sử, nguồn gốc, huyền thoại
và các yếu tố dân gian trong bề dày trầm tích văn hoá, để từ đó nhận định đúng hơn
về vai trò và tiềm năng của từng khu vực
Xét về mối tương quan giữa văn hoá dân gian và văn học dân gian, văn học dân gian là một bộ phận của văn hoá dân gian, vì vậy, có nhiều công trình đã nghiên
cứu mối liên hệ giữa văn hoá và văn học dân gian vùng ven Hồ Tây như Hà Nội –
Phong tục, văn chương (Nguyễn Vinh Phúc, 2010), Tác phẩm Hồ Tây Chí quan – Kết quả khảo sát các di tích khu vực xung quanh Hồ Tây (Nguyễn Ngọc Phúc, số
7/2006, Nghiên cứu lịch sử), Diện mạo Hồ Tây Chí – đôi điều ghi nhận (Kiều Thu
Hoạch, số 255/2006, Xưa và nay)
4.2.2 Địa lý – Lịch sử
Ở lĩnh vực lịch sử - địa lý, nghiên cứu về Hà Nội và Hồ Tây có một số công trình
như Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội (Đinh Gia Khánh
Trang 1810
– Nguyễn Đổng Chi, 2008), Địa chí Tây Hồ (Nguyễn Vinh Phúc), Lịch sử phường
Nhật Tân (1996), Lịch sử phường Bưởi (1996), Lịch sử xã Tây Hồ (Lê Xuân Kỳ,
2006), Lịch sử cách mạng phường Yên Phụ (Vũ Tiến Tuynh, 2015), Hồ Tây –
“cái duyên văn hoá” của Hà Nội (Trương Văn quảng, số 4/2004, Kiến trúc Việt
Nam), Hồ Tây – “cô gái đẹp” đang được đánh thức (Hùng Điệp Anh,, số 10/2004, Đông Nam Á), Tản mạn cảnh sắc Hồ Tây xưa (Bùi Quốc Khánh, số 91/2006, Dân
tộc và thời đại)… Các công trình đều chỉ ra được lịch sử cũng như vị trí địa lý và quá trình phát triển của Hà Nội nói chung và khu vực ven Hồ Tây nói riêng
4.2.3 Môi trường – Du lịch
Trong lĩnh vực du lịch, vấn đề phát triển du lịch gắn liền với văn hoá, văn học
là một yếu tố trọng điểm với Việt Nam di tích và thắng cảnh (Nguyễn Vinh Phúc, 1991) cùng các bài viết như Lễ hội và vấn đề phát triển du lịch văn hoá ở Việt
Nam (Đào Duy Tuấn, số 3/2009, Du lịch Việt Nam), Phát triển du lịch làng nghề Việt Nam (Nguyễn Thị Anh Thu, số 4/2004, Du lịch Việt Nam), Hành trình văn hoá – Một phương thức tạo ra những sản phẩm du lịch văn hoá chất lượng cao
(Lê Doãn Hợp, số 4/2006, Di sản văn hoá)
Sự tác động qua lại giữa môi trường và cảnh quan Hồ Tây đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch vùng ven hồ, là một trong những đề tài khá được quan tâm với một số công trình nghiên cứu về hệ động – thực vật và đưa ra các giải
pháp bảo tồn môi trường Hồ Tây như luận văn thạc sĩ Đánh giá hiện trạng và đề
xuất một số biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học Hồ Tây, Hà Nội (Trần Thị Xuân),
Sử dụng công cụ toán học đánh giá khả năng chịu tải ô nhiễm của Hồ Tây làm
cơ sở xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển Hồ Tây trong tương lai (Hoàng
Dương Tùng, 2004) hay luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái
đất ngập nước Hồ Tây và những ảnh hưởng của phát triển đô thị tới chức năng
đó
Các hội thảo, hội nghị xung quanh các vấn đề về Hồ Tây thường xuyên được
tổ chức: Hội thảo Bảo tồn, phát triển và quản lý Hồ Tây – Danh thắng Quốc gia
(Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, 2014) với 3 mục tiêu là nhận diện giá trị di sản văn hoá Hồ Tây; đánh giá thực trạng bảo tồn, phát triển, quản lý khu
Trang 1911
vực Hồ Tây và đề xuất giải pháp phát huy giá trị Hồ Tây Hội thảo Khai thác các
giá trị văn hoá ẩm thực khu vực Hồ Tây nhằm góp phần phát triển du lịch Hà Nội (Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, 2015) nhằm trao đổi về
tiềm năng, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác văn hoá ẩm thực phục
vụ du lịch Hà Nội Hội thảo Phát huy di sản văn hoá dân gian – thực trạng và nhu
cầu phát triển (Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội – Trung tâm Triển lãm Văn hoá
nghệ thuật Việt Nam, 2012) được tổ chức bàn về các vấn đề xung quanh văn học và văn hoá dân gian đối với môi trường và đời sống, để thấy đươc sự cần thiết của văn hoá dân gian đối với thời kì hiện đại
Cho đến ngày hôm nay, Hồ Tây vẫn không ngừng được đánh thức và tiếp nối với nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu, nhưng do thời gian có hạn nên chúng tôi chưa thể liệt kê được hết tất cả các công trình sưu tầm và nghiên cứu mà chỉ có thể
đưa ra một số công trình cụ thể như trên Mặc dù vậy, chưa tìm thấy công trình nào
nghiên cứu tổng thể về văn học dân gian vùng ven Hồ Tây và những hiện tượng văn
hoá liên quan, cũng như tác động của văn học dân gian đến du lịch
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê: thống kê các tác phẩm văn học dân gian vùng ven Hồ Tây và các hiện tượng văn hoá gắn liền với văn bản văn học dân gian đó
Tổ chức điền dã, thực địa: quan sát môi trường thực tế, đến các địa điểm mang giá trị văn hoá tại vùng ven Hồ Tây
Phương pháp liên ngành: tìm hiểu các thành tố văn hoá từ các văn bản văn học dân gian
Cùng các thao tác nghiên cứu:
Thao tác so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu kết quả thực địa để thấy được những bất cập, để thấy được những gì đã mờ nhạt và cái gì còn tồn tại cho đến hôm nay
Thao tác tổng hợp, phân tích: Từ những kết quả thu được, tiến hành phân tích, phân vùng văn hoá và đánh giá được thực trạng, tiềm năng của vùng ven Hồ Tây,
Trang 203 Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Tổng quan về quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây
Chương 2: Văn học dân gian vùng ven Hồ Tây
Chương 3: Vai trò của văn học dân gian và văn hoá dân gian vùng ven Hồ Tây đối với du lịch văn hoá
Phần kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 21Khởi thuỷ, Hồ Tây có tên gọi là đầm Xác Cáo gắn liền với sự tích về con cáo chín đuôi Trước đây, khu vực này vốn là một vùng đất cao, từng là hang của con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm tuổi, chuyên quấy nhiễu dân lành; Long Quân bèn dâng nước để bắt cáo và nơi này sau đó trở thành một vũng nước sâu mà dân gian gọi là đầm Xác Cáo Sự ra đời của tên gọi đầm Xác Cáo gắn liền với sự hình thành nên Hồ Tây trong tiềm thức dân gian, bởi vậy, tên gọi này chính là dấu mốc đầu tiên
và nguyên thuỷ nhất của Hồ Tây Mỗi một sự vật, mỗi một hiện tượng đều được dân gian cố gắng lí giải và hiện thực hoá, thể hiện tư duy dân gian, phản ánh được dấu vết thời đại
Vào “kỷ Trưng Nữ Vương bắt đầu từ năm Canh Tí đến năm Nhâm Dần (40 – 42)” [19, tr 72], Hồ Tây có tên gọi Lãng Bạc với ý nghĩa là hồ đầy sóng vỗ, một khung cảnh hoành tráng mà cũng rất nên thơ Tương truyền, tên Lãng Bạc là do tướng Mã Viện (là tướng đem theo quân từ biển vào, san núi làm đường, chấm dứt
kỷ Trưng Nữ Vương kéo dài ba năm) đặt khi chứng kiến cảnh tượng lung linh của
Hồ Tây Tên gọi Lãng Bạc ra đời vào thời kì nhà Hán trong giai đoạn 1000 năm đô
hộ của Phong kiến phương Bắc
Trải qua thời gian, qua tầng tầng lớp lớp huyền thoại bồi lấp, Hồ Tây được phủ màu ảo ảnh, hiện hữu với vô vàn các vị thần, các truyền thuyết và trong quá trình phát triển ấy, tên gọi vực Kim Ngưu cũng bắt đầu xuất hiện Tên gọi này theo
Trang 2214
dân gian xuất hiện vào thời kì nhà Lý, gắn liền với vị sư Khổng Lồ (có truyện kể ghi là sư Không Lộ hay có bản kể không tên) - ông tổ của nghề đúc đồng Thời kì này, nước ta thiếu đồng để đúc khí vật thờ Phật, nhà sư xin đi sứ sang Trung Quốc
và đem đồng đen về, vua bèn sai đúc thành bốn bảo vật, trong đó có một quả hồng chung Khi tiếng chuông đầu tiên vang lên, con trâu vàng trong kho vua Trung Quốc thức giấc và chạy đi tìm mẹ Lo lắng vì điều đó, nhà vua đã đem chuông vứt xuống Hồ Tây, trâu vàng cũng nhảy xuống hồ, từ đó, dân gian gọi nơi đây là vực Kim Ngưu Sự tích này ra đời vào thời nhà Lý, đây là giai đoạn đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc, tạo hình với nhiều thành tựu lớn, đặc biệt trong các công trình tôn giáo Ba trong bốn bảo vật lớn của Phật giáo còn tồn tại chính là tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm là ra đời trong thời kì nhà Lý Mặc dù là truyền thuyết, là sự ra đời từ trí tưởng tượng của dân gian, nhưng tên gọi vực Kim Ngưu vẫn ẩn chứa những dấu vết lịch
sử mang tính thời đại, từ đó tái dựng nên bức tranh triều Lý với những đặc trưng và thành tựu to lớn, thể hiện được cuộc sống bình yên, trù phú của nhân dân
Cuối triều Lý, tương truyền vào đời vua Lý Nhân Tông, trong một lần dạo chơi trên Hồ Tây cùng thái sư Lê Văn Thịnh, bất ngờ trời nổi giông gió và xuất hiện một con hổ trong làn sương dày đặc, người đánh cá Mục Thận ở gần đấy bỗng quăng lưới vào con hổ, con hổ hiện nguyên hình là thái sư Lê Văn Thịnh; vì âm mưu hại vua, thái sư bị đi đày còn người dân chài Mục Thận được phong làm Đô
Uý và được thờ ở khu vực Hồ Tây ngày nay Theo dân gian chính vì sự kiện này mà
hồ có tên là Dâm Đàm, tức là hồ mù sương Mặc dù, truyện kể này liên quan đến các nhân vật có thật trong sử sách như vua Lý Nhân Tông, vị trạng nguyên đầu tiên
của Việt Nam Lê Văn Thịnh hay tên gọi Dâm Đàm nhưng theo ghi chép của Đại
Việt sử kí toàn thư [19, tr 190], vụ án trên hồ năm đó diễn ra vào thời hoàng đế thứ
4 của nhà Lý là Lý Nhân Tông (1096), trong khi tên gọi Dâm Đàm đã xuất hiện vào thời kì vua Lý thứ 2 Lý Thánh Tông (1044), bởi vậy, truyện kể về việc ra đời của tên gọi Dâm Đàm có khả năng là sự liên kết lại để tạo nên vẻ huyền bí cho Hồ Tây Tên gọi Dâm Đàm còn được sử dụng trong đời nhà Trần
Trang 2315
Đến thời nhà Lê, giai đoạn vua Lê Thế Tông (1573), vì vua có tên huý là Đàm nên Hồ Tây phải đổi tên thành Tây Hồ với ý nghĩa là hồ nước ở phía Tây (cũng có bản kể nói rằng tên Tây Hồ được đặt với ý nghĩa sánh ngang với Trung Quốc), dân gian quen gọi là Hồ Tây Từ năm 1573, tên gọi Hồ Tây mới chính thức ra đời và trở thành tên gọi được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay
Vào năm 1672, đất nước bị chia cắt làm đôi, chúa Trịnh Tạc lên ngôi cai trị vùng Đàng Ngoài, chúa được phong là Tây Định Vương nên đã đổi tên Hồ Tây thành Đoài Hồ Tuy nhiên, tên gọi Đoài Hồ chỉ tồn tại đến giai đoạn 1788, khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc, chấm dứt chế độ chúa Trịnh Cho đến ngày nay, tên gọi Hồ Tây hay Tây Hồ vẫn được sử dụng như một cách gần gũi và dân dã nhất
Hồ Tây trải qua nhiều lần đổi tên, mỗi tên gọi không chỉ mang dấu ấn của huyền thoại từ trong trí tưởng tượng dân gian mà còn là thông điệp của lịch sử, là những mảnh ghép tái hiện cuộc sống qua từng giai đoạn và là chứng nhân của biết bao triều đại, qua biết bao lần thịnh suy Hồ Tây không chỉ là huyền thoại, là văn học mà còn là lịch sử nhân loại
đê Cố Ngự, dân gian đọc chệch là Cổ Ngư (ngày nay là đường Thanh Niên) Ngày nay, hồ Trúc Bạch đã thuộc về địa phận quận Ba Đình
Hồ Tây thuộc địa phận quận Tây Hồ, bao bọc quanh hồ là 8 phường: Bưởi, Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Xuân La và Yên Phụ
Trang 24Xét về vị trí địa lý, khu vực Hồ Tây và quận Tây Hồ ngày nay là những vùng trung tâm về văn học và văn hoá dân gian, tuy nhiên, xét trong hệ trục văn hoá dân gian từ xa xưa, các vùng lân cận ngay sát Hồ Tây (ngày nay một số đã thuộc quận
Ba Đình) và một số vùng có liên hệ trực tiếp với vùng văn hoá Hồ Tây xưa kia cũng thuộc hệ thống văn học và văn hoá dân gian vùng ven Hồ Tây (như khu vực Quán Thánh, Trúc Lâm, hồ Trúc Bạch…) Các vùng ven địa phận quận Tây Hồ ngày nay vẫn còn tồn tại những dấu tích văn hoá dân gian như văn học dân gian, làng nghề hay các công trình tâm linh của một vùng Hồ Tây xưa kia trong tiềm thức dân gian Theo quan niệm của người xưa, “Hồ Tây có một địa thế rất đẹp, như ở giữa hồ có một vùng nước xoáy bên cái gò gọi là gò rồng nhả ngọc châu, tức là Châu Long, vì xưa kia, đoạn hồ Trúc Bạch thông với hồ Cổ Ngựa, chạy đến dốc Hàng Than Chung quanh đó là kiểu đất long, ly, quy, phượng như Trấn Vũ, Thuỵ Chương nằm trên thế phượng chầu Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm nằm trên thế rùa chầu Trúc Bạch, Yên Ninh nằm trên thế rồng chầu Nhật Chiêu, Quán La, Trích Sài nằm trên thế ly chầu,, riêng Võng Thị, Hồ Khẩu, Yên Thái lại nằm trên thế cá nhô ra mặt hồ…” [51, tr 10]
Hồ Tây cùng với Hồ Gươm đã tạo nên hai mũi nhọn không chỉ về kinh tế, du lịch mà còn là những trung tâm văn hoá lớn của Hà Nội, chứa đựng không chỉ là huyền thoại mà còn mang dấu ấn của thời đại, của lịch sử
1.3 Lịch sử
Lịch sử Hồ Tây là sự bồi đắp không chỉ của tự nhiên mà còn được tái dựng từ trí tưởng tượng dân gian Từ trong tự nhiên, Hồ Tây được chứng minh là một nhánh của sông Hồng, “trước thế kỉ X, sông Hồng tạo thành một khúc uốn rộng ở khu vực
Hồ Tây hiện nay Sau đó khúc uốn này tách thành hai nhánh” [97, tr 26], nhánh chính chảy về phía Đông và nhánh phụ chảy về phía Nam chính là sông Tô Lịch
Trang 2517
“Sông Hồng dần thoát khỏi khúc uốn và để lại phía sau nhiều hồ ao, trong đó có Hồ Tây được hình thành vào thế kỉ IX” [97, tr 26] Như vậy, theo lịch sử, Hồ Tây chính thức hình thành vào thế kỉ IX và là sự đổi dòng của sông Hồng “Trước đây,
Hồ Tây vẫn nối với sông Hồng qua một nhánh nhỏ ở phía Bắc và đổ vào sông Tô Lịch… Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, chính quyền thuộc địa đã lấp các nhánh
sông”, Hồ Tây trở thành hồ nước độc lập Đại Việt sử kí toàn thư còn ghi chép lại
về sự xuất hiện của Hồ Tây như một chứng nhân lịch sử Nơi đây, xưa kia là địa phận giao tranh giữa Trưng Nữ Vương (Trưng Trắc) với quân Mã Viện (năm 42 SCN); là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân (giai đoạn Lý Bôn xưng Lý Nam Đế,
“đóng đô ở Tống Bình ngay gần cửa sông Tô Lịch, ngày nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ” [6, tr 59]) Theo GS Hoàng Thiếu Sơn “Hồ Tây hình móng ngựa, là khúc cụt của sông Hồng Khi Hồ Tây còn là lòng sông Hồng thì nhiều nước, chảy vào một nhánh sông quan trọng là Tô Lịch, đến khi Hồ Tây bị cô lập, nước cạn dần thì sông Tô Lịch cũng cạn theo” Hồ Tây hình thành vào thế kỉ IX trong khoảng thời gian “thành phố Hà Nội được định hình vào khoảng thế kỉ VII đến thế kỉ IX” [97, tr 27], bởi vậy, Hồ Tây và vùng ven Hồ Tây chính là chứng nhân lịch sử không chỉ qua các triều đại mà còn là hiện thân, là dấu vết của quá trình hình thành nên thành phố trung tâm của cả nước Cũng chính vì thế, Hồ Tây có vị trí quan trọng trong đời sống dân gian
Với vị trí và ý nghĩa quan trọng, Hồ Tây trong tiềm thức và trí tuệ dân gian xuất hiện từ thời kì sơ khai Tương truyền, “Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về đồng sông Hồng, đã chọn núi Nùng để xây cung điện”, “núi Nùng là rốn của con rồng nên cũng có tên là Long Đỗ và thần Long Đỗ nghiễm nhiên là thần thành hoàng của thủ đô” [51, tr 11], dưới chân núi Nùng chính là làng Long Đỗ, làng này ở sát cạnh
Hồ Tây, nhân dân lập đền thờ thần Long Đỗ (ngày nay là đền Bạch Mã) Địa danh Long Đỗ đã xuất hiện trong những truyện kể dân gia vào thời Hùng Vương, khu vực Hồ Tây gọi là bến Lâm Ấp thuộc thôn Long Đỗ, xưa kia là rừng rậm rạp, với sự xuất hiện của sự tích cáo chín đuôi, Hồ Tây ra đời Sự xuất hiện của Hồ Tây gắn liền với một trong ba công tích của Lạc Long Quân
Trang 2618
Trong quá trình phát triển, từ thuở sơ khai, Hồ Tây đã là địa danh thường xuyên được vua chúa lui tới, vào thời vua Lý Thánh Tông (1044), “Vua sai đặt cũi lớn ở Dâm Đàm, dùng voi Chiêm Thành làm mồi nhử voi rừng vào trong, vua đích thân đến bắt” Đến thế kỉ X - XIV, Hồ Tây đã trở thành một trong số những thắng cảnh bậc nhất, là nơi vua chúa lập cung điện để nghỉ dưỡng, lui về thư giãn Sự phát triển của khu vực Hồ Tây còn gắn liền với các công chúa rời bỏ cung điện, lập cung
ở ven hồ để khai khẩn đất hoang, trồng dâu nuôi tằm, giúp nhân dân như công chúa
Từ Hoa thời Lý (khu vực chùa Kim Liên), công chúa Túc Trinh đời Trần, vương phi của chúa Trịnh Tạc,… Cũng từ đó, các địa danh lần lượt ra đời cùng với dấu ấn văn hoá, các đặc sản, các tập tục xưa cũ được hình thành Sau này, Hồ Tây cũng là địa điểm lui tới thường xuyên của văn nghệ sĩ, là nơi đàm đạo thơ văn, nơi xuất hiện những áng văn thơ, những bào xướng hoạ vượt thời gian
Hồ Tây và hồ Trúc Bạch trước kia là một, sự xuất hiện của đê Cố Ngự đã tách dòng và cùng với Hồ Tây, hồ Trúc Bạch gắn liền với nhiều di tích văn hoá, những dấu ấn dân gian như đền Cẩu Nhi, viện Trúc Lâm,… với các làng nghề nổi tiếng Lịch sử Hồ Tây là sự nối dài của quá khứ, của huyền thoại, là sự góp nhặt từ trong dân gian, “nói đến lịch sử thủ đô là phải nói đến núi Nùng, sông Nhị, phải nói đến Long Đỗ, Tô Lịch, phải nói đến Hồ Tây và các vùng lân cận” [51, tr 14]
1.4 Quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây
Văn hóa là cụm từ khá phổ biến, ngày nay được dùng với ý nghĩa chỉ một bản sắc dân tộc, chỉ những nét riêng biệt cơ bản của một quốc gia, dân tộc, của một nền văn minh Có thể nói, văn hóa là bao gồm toàn bộ những sản phẩm của con người ở hai khía cạnh vật thể và phi vật thể, tạo ra sự phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người với xã hội Có khá nhiều cách định nghĩa xung quanh khái niệm này:
Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối
sống Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học – NXB Đà Nẵng và trung tâm từ
điển học xuất bản năm 2004: Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa
mãn nhu cầu đời sống tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử,
hay Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học Theo Đại từ điển (Trung tâm ngôn ngữ
Trang 2719
và văn hóa Việt Nam- Bộ Giáo dục và đào tạo) do Nguyễn Như Ý chủ biên : Văn
hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử
Trong thực tế, văn hóa là một khái niệm rộng: văn hoá chỉ tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được truyền từ đời này sang đời khác, được bảo tồn và phát triển, tạo nên nét đặc sắc cho từng vùng miền, từng dân tộc, từng quốc gia, đó là nét đặc trưng mà chỉ vùng đó mới có được Văn hóa chính
là nền tảng của xã hội, của mọi mối quan hệ con người, là định hướng ý thức, đạo đức và cách ứng xử đúng mực cho mỗi người Hiện nay, có hai nền văn hóa là văn hoá phương Đông và văn hóa phương Tây, mặc dù có những đặc trưng riêng biệt thể hiện sự khác nhau thì hai nền văn hóa này cũng có những điểm giao thoa, học hỏi lẫn nhau tạo nên sự thống nhất chung cho toàn cộng đồng Và ở đó, văn hoá dân gian là nền tảng, cốt lõi, xuất hiện từ thời kì hồng hoang của lịch sử loài người Văn hóa phương Đông được hình thành trên nền tảng của các nền văn minh cổ xưa như văn minh Ấn Độ, văn minh Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà và văn minh Trung Hoa, ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các hệ tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo hay Hindu giáo mang màu sắc phương Đông đậm nét Phương Đông ngày nay là tên gọi để chỉ các quốc gia thuộc khu vực châu Á và phần Đông Bắc của châu Phi, các quốc gia này đã kế thừa nền văn minh cổ đại, bảo tồn và phát huy những nét đặc trưng ấy để hình thành nên nền văn hóa phương Đông với những thành tựu nổi bật sánh cùng nền văn hóa phương Tây.Văn hóa phương Đông mang đậm tính chất nông nghiệp-
nông thôn, thể hiện rõ trong đời sống vật chất (ăn, ở, đi lại, sinh hoạt…) và đời sống
tinh thần (các lễ hội về nông nghiệp, về lao động…) của con người khu vực này; chính tính chất nông nghiệp ấy đã tạo nên tính cách con người phương Đông với lối sống ổn định, dân chủ, tự giác với lối sinh hoạt cộng đồng, tập thể và lối ứng xử linh hoạt, hòa hợp với thiên nhiên, tuy nhiên nội tâm khép kín
Việt Nam là quốc gia thuộc nền tảng văn hóa phương Đông, vì vậy văn hóa Việt cũng mang những nét đặc trưng của khu vực, với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều,
hệ thống sông ngòi dày đặc, thuận lợi cho nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là phát triển nông nghiệp lúa nước; cùng với nền tảng của xã hội Việt Nam là
mô hình cấu trúc tập thể làng xã, với lối sống sinh hoạt tập thể đã hình thành nên
Trang 2820
những quan niệm, những biểu tượng đặc trưng cho văn hoá dân gian, được thể hiện
rõ qua lăng kính văn học dân gian, được tái hiện sống động trong trí tuệ dân gian Trong mô hình làng xã ấy, các phong tục, tập quán, các lễ hội truyền thống, các phẩm chất cao đẹp được thể hiện, được gìn giữ và phát huy Văn hóa Việt gắn với nét cổ kính, êm đềm của làng quê, với những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với con người lao động, đó là mái đình, lũy tre, là cây đa, bến nước; không ồn ào, trù phú, không cầu kì, kiểu cách, làng quê đã làm nên một nền văn hóa Việt vững bền Dấu
ấn làng quê được thể hiện rõ qua hệ thống văn học dân gian, xuất hiện từ lúc con
người có nhận thức Theo từ điển mở Wiki: một số yếu tố thường được coi là đặc
trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù, hiếu học; phương Tây cũng xác nhận những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam là rồng, rùa, hoa sen và tre Và ở đó, văn học dân gian đã trở thành máu
thịt, thành bức tranh cuộc sống, là một phần không thể thiếu của văn hoá Việt Nam Vùng ven Hồ Tây được xác định là khu vực thuộc địa phận quận Tây Hồ ngày nay, tuy nhiên, xét trên hệ trục văn hoá dân gian, các vùng phụ cận như hồ Trúc Bạch, khu vực quán Thánh, Trúc Lâm,… (ngày nay thuộc quận Ba Đình) cũng thuộc về khu vực văn hoá Hồ Tây Như vậy, quần thể văn hoá vùng ven Hồ Tây được nhìn nhận là một hệ thống văn hoá dân gian tồn tại và liên quan trực tiếp đến
Hồ Tây từ xa xưa mà ở đó địa phận quận Tây Hồ là trung tâm Vùng ven Hồ Tây là một quần thể văn hoá với vị trí địa lý đắc địa, những công trình tâm linh và lễ hội dân gian, là danh thắng gắn liền với du lịch sinh thái, văn hoá ẩm thực độc đáo và những làng nghề đặc trưng cùng với hệ thống văn học – nghệ thuật phong phú; và ở
đó, văn học – nghệ thuật đóng vai trò là văn hoá ngôn từ Cùng với khu hồ Gươm, vùng ven Hồ Tây đã tạo nên một bộ phận văn hoá truyền thống nền tảng của vốn văn hoá kinh kì một thời
Lịch sử văn hóa đận nét cùng vị trí địa lý đắc địa của vùng đất Hồ Tây đã làm nên một vùng văn hoá Hồ Tây hội tụ của sự huyền bí, cổ kính, vẻ kiêu sa, tráng lệ
mà rất hiện đại trong lòng thủ đô Hà Nội
1.4.1 Các di tích lịch sử - văn hóa
Trang 2921
“Chỉ riêng trên địa bàn quận Tây Hồ, theo thống kê của ngành văn hoá, còn tới
61 di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và cách mạng, kháng chiến, trong đó có 22 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, ở mỗi di tích đều có nhiều văn vật quý giá” [57,
tr 155] với “102 bia đá, 165 câu đối, 140 bức hoành phi, 18 quả chuông cổ, 60 sắc phong thần và trên 300 pho tượng”; trong đó, số lượng các công trình văn hoá tâm linh chiếm số lượng lớn, thể hiện dấu ấn tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống sinh hoạt tâm linh của cộng đồng dân gian
Vùng ven Hồ Tây vẫn còn lưu lại được nguyên vẹn không gian Phật giáo với nhiều công trình kiến trúc tiêu biểu, tái hiện một thời kì sinh hoạt tâm linh của cộng đồng người Việt xa xưa Các công trình tâm linh ngoài việc khẳng định tín ngưỡng, niềm tin, thì nơi đây còn thể hiện tinh hoa của điêu khắc dân gian, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa tôn giáo với nghệ thuật hội hoạ và điêu khắc Đằng sau mỗi hình ảnh được phác hoạ trên công trình kiến trúc tâm linh chứa đựng những ý nghĩa sâu xa, gửi gắm những khát khao và ước vọng của dân gian Vùng ven Hồ Tây sở hữu số lượng lớn các công trình văn hoá tâm linh, gắn liền với các vị thần, các nhân vật đi từ truyền thuyết dân gian đến hiện thực lịch sử Sơ khai nhất trong hệ thống các vị thần của dân gian là các vị thành hoàng Hiện nay, nhiều công trình vẫn còn tồn tại và khu vực Hồ Tây trở thành trung tâm về văn hoá tâm linh ở Hà Nội Khu vực Hồ Tây gồm một hệ thống các đền chùa, miếu mạo có từ xa xưa và vẫn tồn tại đến ngày nay: đền Đồng Cổ (xuất hiện từ thời vua Lý Thái Tổ), chùa Trấn Quốc (có
từ thời Lý Nam Đế), chùa Kim Liên (nền cũ của cung điện Từ Hoa), đền Quán Thánh (một trong tứ trấn kinh thành Thăng Long), chùa Tảo sách, chùa Thiên Niên, phủ Tây Hồ, chùa Bà Đanh, đền Dực Thánh, đền Voi Phục… cùng các đình làng như đình An Thọ, đình Võng Thị, đình Đông Xã, đình Trích Sài, đình Nội Châu, đình Tứ Liên, đình Yên Phụ,… Trong các công trình đó, có 8 di tích được công nhận là di sản văn hoá cấp quốc gia “chùa Tĩnh Lâu, chùa Vạn Niên, chùa Tảo Sách, đền Quảng Bá, phủ Tây Hồ, đình Yên Phụ, chùa Trấn Quốc”, “1 cụm di sản văn hoá cấp thành phố: đình – am – miếu Trích Sài”, “đình Trích Sài công nhận là
di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật năm 2008” và “3 di tích chưa được công nhận xếp hạng: đình Võng Thị, đình Xuân Tảo Sở và đình Kim Ngưu” [48, tr 44] Ngoài
Trang 30hộ giá vua Lý trong một lần dạo chơi trên Hồ Tây và được phong là Đô uý, được nhân dân lập đền thờ và tôn sùng là thành hoàng làng; đình hiện còn lại hai tấm bia
cổ Cụm di tích thành phố là đình Trích Sài là đình thờ vọng Mục Thận, hiện đình còn tồn tại hai con rồng đá cổ; am Trích Sài (Am Gia Hội, đền Thọ - Phúc – Lộc) thờ ba vị nữ thần: Vạn Thọ Công Chúa (Kính thiên pháp tổ Bà Vương), Vạn Phúc
Đệ Nhất Công chúa và Vạn Lộc Đệ Nhị Công chúa (hai người con của Lý Nam Đế)
có công trong việc diệt trừ cáo chín đuôi và cứu giúp nhân dân; miếu Trích Sài thờ
bà chúa dệt lĩnh Phan Thị Ngọc Đô Chùa Thiên Niên được xây dựng chủ yếu thờ Phật trên nền “Thiên Niên trang” – nơi bà chúa Phan Thị Ngọc Đô (thời vua Lê Thánh Tông) đưa cung nữ ra để dạy dân chúng dệt lĩnh, bởi vậy nơi đây còn có bài
vị thờ bà Cùng với đó, chùa Tĩnh Lâu (Chùa Sải) cũng được công nhận là di tích cấp Quốc gia, trước đây thờ các vị vương tôn quý tộc thời Lý
Phường Quảng An gồm có 4 di tích: phủ Tây Hồ, đình Quảng Bá, chùa Trấn Quốc và đền Kim Ngưu Phủ Tây Hồ là địa điểm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – một trong tứ bất tử của tín ngưỡng người Việt, phủ không chỉ linh thiêng mà còn nằm trên vị trí doi đất nhô ra phía hồ Bên cạnh phủ Tây Hồ là đền Kim Ngưu thờ thần Kim Ngưu, mặc dù đã bị phá huỷ nhưng vẫn còn lại cây đa cổ có bàn thờ thần Chùa Trấn Quốc (Chùa Khai Quốc) là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội,
ra đời vào thời Lý Nam Đế, đến thời vua Lê (1615), chùa được dời vào khu vực Yên Phụ trên nền cung điện Khu vực phường Quảng An còn có đình Quảng Bá, đình thờ thành hoàng làng là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Chùa Tảo Sách (Linh Sơn Tự, Chùa Tào Sách – phường Nhật Tân), chùa Vạn Niên (Chùa Vạn Tuế - Phường Xuân La) và đình Yên Phụ (phường Yên Phụ) (thờ
Trang 31và khu di tích lưu niệm Bác Hồ nhà cụ An (Phú Thượng, Tây Hồ)
Ngoài ra, ở khu vực Hồ Tây còn một số di sản được công nhận như bảy cây gạo thời Hồng Bàng, chín cây muỗm ở đền Voi Phục Thuỵ Khuê,… và nhiều đền đình được công nhận là di tích lịch sử Khu vực Hồ Tây ngày nay là vùng trung tâm của các công trình văn hoá tâm linh, tôn giáo và lịch sử cách mạng
1.4.2 Lễ hội dân gian
Lễ hội là hình thức sinh hoạt dân gian phổ biến, mang tính chất cộng đồng và thể hiện bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu các lễ hội dân gian cũng là một trong những hướng tiếp cận sinh hoạt dân gian một cách trọn vẹn nhất Các lễ hội trong dân gian chủ yếu là lễ hội mang màu sắc tôn giáo, thể hiện niềm tin, tín ngưỡng của nhân dân Mỗi lễ hội có những đặc điểm riêng biệt, hình thức tổ chức và không gian sinh hoạt riêng, tạo nên sự khác biệt trong một dân tộc và giữa các dân tộc với nhau Song song tồn tại cùng các công trình tâm linh, lễ hội dân gian ngày nay vẫn được duy trì và trở thành nét bản sắc dân tộc riêng biệt, thể hiện sự phong phú trong đời sống tâm linh của người Việt xưa
Theo Danh mục di sản văn hoá phi vật thể của thành phố Hà Nội công bố năm
2016, khu vực Hồ Tây có 17 di sản phi vật thể liên quan đến các công trình văn hoá tâm linh, trong đó có 5/8 phường có di sản được công nhận và trong đó, 2 di sản thuộc nhóm ưu tiên cần được bảo vệ Danh mục di sản phi vật thể của khu vực Hồ Tây gồm có: Tập quán thờ cúng Thành hoàng (đình Trích Sài – phường Bưởi) được
tổ chức vào ngày 16/9 âm lịch (ngày giỗ Thành hoàng Mục Thận); tập quán thờ ông
tổ nghề dệt vải (đền Tam Thánh, Trích Sài – Phường Bưởi) đươc tổ chức vào 20/1
âm lịch; nghi lễ thờ Nhị vị Đại Vương Cống Lễ và Cá Lễ (đền Dực Thánh và đền
Trang 32âm lịch; ngày giỗ Thánh đình An Thọ (phường Bưởi) thờ ông bà Vũ Phục diễn ra
29 – 30/11 âm lịch; hội làng Thượng Thuỵ (đình Thượng Thuỵ - phường Phú Thượng) thờ Thành hoàng Đức Long Vương Thuỷ Thần diễn ra 11 – 13/1 âm lịch; hội làng Phú Xá thờ Nhị vị Thành hoàng diễn ra 9 – 10/2 âm lịch; hội làng Phú Gia diễn ra 8 – 11/1 âm lịch; nghề ướp sen làng Quảng Bá; hội đền Voi Phục Thuỵ Khuê diễn ra từ 11 – 12/2 âm lịch với nghi lễ rước Thánh; hội đình Tứ Liên (phường Tứ Liên) thờ tứ vị Thành hoàng diễn ra 16/3 âm lịch và hội đình Nội Châu thờ tứ vị Thành hoàng diễn ra 15 – 16/3 âm lịch Trong 17 di sản văn hoá phi vật thể vùng ven Hồ Tây, hội thề Trung Hiếu (đền Đồng Cổ) và nghề ướp chè sen của làng Quảng Bá là hai di sản thuộc danh mục ưu tiên cần được bảo vệ
Bên cạnh các di sản đã được công nhận, vùng ven Hồ Tây còn sở hữu nhiều lễ hội dân gian và vẫn còn được duy trì đến ngày nay như hội làng Hồ Khẩu “bắt chạch trong chum”, hội làng Phú Xá “rước Đức Thánh Tăng”,… Các lễ hội vùng ven Hồ Tây chủ yếu đều diễn ra vào mùa xuân, nằm trong trục lễ hội dân gian chung ở Việt Nam, không chỉ thể hiện đời sống tâm linh, sinh hoạt tôn giáo mang đậm bản chất nông thôn, làng xóm mà còn phác hoạ nên những tín ngưỡng nguyên thuỷ thuở sơ khai của loài người Ứng với mỗi công trình tâm linh đều có những lễ hội dân gian như một hình thức sinh hoạt của cộng đồng dân cư
Lễ hội dân gian là sự liên kết cộng đồng, thể hiện bản sắc văn hoá riêng biệt,
tạo nên mối đoàn kết dân tộc và bức tranh mang đầy tính huyền thoại, bí ẩn
1.4.3 Văn học – nghệ thuật dân gian
Văn học dân gian là một bộ phận văn hoá ngôn từ của văn hoá dân gian, là sự sao chép lại đời sống sinh hoạt và đời sống tâm linh của một giai đoạn, tạo nên dấu
Trang 3325
ấn riêng biệt và độc đáo cho văn hoá dân gian Việt Nam Kho tàng văn học dân gian vùng ven Hồ Tây là bộ phận đồ sộ, phong phú nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Trong tiềm thức dân gian, vùng ven Hồ Tây hình thành song song với sự hình thành của Hà Nội, đặt nền móng khai hoá cho văn học và văn hoá Việt Nam, bởi vậy, văn học dân gian vùng ven hồ chứa đựng dấu vết mang tính dân tộc, là bức chân dung các vị thần của toàn cộng đồng, là nguồn gốc, xuất xứ của một vùng trọng điểm về văn hoá dân gian của cả nước Văn học dân gian vùng ven Hồ Tây trải rộng trên bốn loại hình: tự sự dân gian (truyện kể dân gian), trữ tình dân gian, sân khấu dân gian và bộ phận tục ngữ - câu đố Các loại hình của văn học dân gian đến nay vẫn còn được lưu truyền và trở thành kho tư liệu quý báu không chỉ của ngành văn học mà còn với ngành sử học và với tôn giáo “Văn học dân gian là những sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật đầu tiên, sớm nhất đến với Hồ Tây Đã trở thành vật báu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Ở đây hội tụ mọi chủ đề tiêu biểu nhất của thần thoại, truyền thuyết, lại có cả một kho ca dao, tục ngữ long lanh, sáng giá” [57, tr 156], Hồ Tây sở hữu một nhánh văn học riêng biệt, không thể trộn lẫn Từ truyền thuyết về sự hình thành của Hồ Tây với tên gọi khởi thuỷ là đầm Xác Cáo, trải qua các triều đại, qua nhiều lần đổi tên, hồ chọn cho mình tên gọi
Hồ Tây dân dã mà rất đỗi quen thuộc; đến những truyền thuyết về hệ thống các vị thần bảo hộ riêng của khu vực này như thần Trấn Vũ, thần Võng Thị,…, các vị thành hoàng làng, các vị tổ nghề khai sinh ra các làng nghề truyền thống và những người anh hùng chống giặc cứu nước; qua các giai thoại văn chương, giai thoại về những người nổi tiếng; bộ phận truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây đã hình thành với tầng tầng lớp lớp bản kể, bồi đắp qua thời gian Bộ phận ca dao ngợi ca vẻ đẹp
Hồ Tây cũng như các địa danh phụ cận cũng xuất hiện trong đời sống dân gian hay tục ngữ - câu đố về các địa danh, ẩm thực vùng ven hồ cũng được dân gian đúc kết lại qua nhiều thế hệ Từ quan niệm của người xưa, vùng đất này nằm trong thế đất Long Ly Quy Phượng hội tụ cùng nhiều di tích văn hoá – lịch sử đã tạo nên hệ thống văn học dân gian đồ sộ, có ý nghĩa to lớn đối với văn học và lịch sử dân tộc Nghệ thuật dân gian bao gồm hai bộ phận: nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật biểu diễn Nghệ thuật tạo hình dân gian được thể hiện ở các công trình kiến trúc,
Trang 3426
điêu khắc và các công trình văn hoá tâm linh Nghệ thuật biểu diễn thể hiện chủ yếu
ở âm nhạc dân gian và các loại hình sân khấu dân gian Bộ phận ngôn từ của loại hình sân khấu trong văn học dân gian khi được diễn xướng thì trở thành một bộ phận của nghệ thuật dân gian Các hình thức diễn xướng liên quan đến vùng ven Hồ Tây ngày nay còn tồn tại với một số bài ca trù (Tây Hồ hoài cổ), hát xẩm (Bài hát Tây Hồ), đa phần đều được diễn xướng bằng hình thức dân gian nhưng mượn lời của các sáng tác có tác giả
Bộ phận văn học và nghệ thuật dân gian là bộ phận đồ sộ nhất và cũng mang tầm quan trọng nhất đối với văn hoá dân gian
1.4.4 Văn hoá ẩm thực
Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc, quốc gia phụ thuộc vào địa thế, khí hậu và thời tiết mà có những điểm khác biệt về ẩm thực Từ trong dân gian, ẩm thực đi vào cuộc sống hiện đại và trở thành ẩm thực truyền thống, mang tính đặc trưng của đời sống dân cư, của khẩu vị và tính cách dân tộc Không chỉ đến ngày nay, vùng ven
Hồ Tây mới trở nên sôi động bởi ẩm thực đa dạng, phong phú mà ngay từ xa xưa, nơi đây đã là cái nôi của những món ăn dân tộc Chỉ nhắc đến Hồ Tây là biết bao thế hệ đã có thể đọc thuộc lòng các tên gọi, chỉ nghe tên món ăn là thấy cả khung cảnh Hồ Tây trong sương khói ẩn hiện Dù đến ngày nay, có những thứ đã mất đi,
có vài nét giá trị đã mai một nhưng có lẽ nơi đây vẫn là thiên đường ẩm thực cho những tâm hồn biết thưởng thức và cảm nhận tinh hoa của một vùng đất ẩn chứa trong mỗi món ăn
Sâm cầm là loại đặc sản nổi bật nhất trong ẩm thực Tây Hồ nói riêng và Hà thành nói chung Sâm cầm là một loài chim sống chủ yếu ở vùng nước ngọt và từng
di cư theo đàn đến vùng Hồ Tây, có đầu và cổ đen tuyền, mắt nâu đỏ và có mỏ màu trắng, tương truyền là một loài chim rất bổ Vào thời vua chúa triều Nguyễn, sâm cầm được liệt kê vào danh sách cống tiến vua hàng năm, mỗi xã ở vùng Hồ Tây phải đưa phải kinh mười đôi chim để tiến vua, bởi vậy, dần dần sâm cầm đã không quay trở lại vùng này nữa và cho đến ngày nay, đặc sản này cũng không còn tồn tại
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm; cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây (Tục ngữ)
Trang 3527
Bên cạnh sâm cầm, vịt trời, cá chép mình đỏ, cá chép mình trắng hay tôm hồng cũng là một trong những loài động vật đặc sắc của khu vực Hồ Tây và người dân ven hồ xưa kia chủ yếu sống bằng nghề chài lưới
Những chén nước mắm cà cuống hay những bữa cỗ thiếu đi hương vị cà cuống Hồ Tây hẳn là một thiếu sót Xưa kia, cà cuống tập trung nhiều ở Hồ Tây, người ta có thể bán nguyên con hoặc chỉ lấy bầu hương để bán
Chè (trà) sen cũng là một trong những nét văn hoá tinh tế của ẩm thực vùng ven Hồ Tây, sen ở khu vực Hồ Tây cũng vì thế mà trở nên quý hơn và nghề ướp chè sen làng Quảng Bá đã được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ của Hà Nội Để có được mẻ chè ướp bông sen, người nghệ nhân phải rất tỉ mỉ và cũng tốn nhiều công đoạn Người Hà Thành xưa kia thường lựa chọn những hạt sương đọng lại trên lá sen sáng sớm để pha cùng với trà và thưởng thức trong những chiếc chén hạt mít, hương sen thoang thoảng cùng chén nước chè tinh khiết
đã tạo nên nét thanh lịch, nhã nhặn cho người Hà Thành
Thề kia nỡ để lỡ duyên Trăng còn soi mãi vùng sen Tây Hồ
(Ca dao) Bánh tôm, bún ốc Tây Hồ, phở cuốn Ngũ Xã,… xuất hiện muộn hơn nhưng cũng nhanh chóng trở thành nét đặc trưng của vùng đất ven hồ Hồ Tây xưa kia là một nhánh của sông Hồng, tôm cá trù phú, người dân đa phần sống bằng nghề chài lưới, bởi vậy mà không hề khó hiểu khi những món ăn dân dã ấy lại chứa đựng linh hồn của vùng đất này
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng, ẩm thực vùng ven Hồ Tây đã ngày một đa dạng, phong phú hơn nhưng những món ăn đã đi từ trong dân gian, xuyên suốt đến hiện tại vẫn luôn là một nét tinh hoa rất riêng của vùng đất này
1.4.5 Làng nghề truyền thống
Làng nghề xuất hiện từ thời cổ xưa, là một đơn vị hành chính, nơi tập trung một bộ phận dân cư sinh hoạt và lao động theo cùng một ngành nghề Không chỉ có chức năng kinh tế, làng nghề còn nơi thể hiện bản sắc dân tộc với những sản phẩm mang đặc trưng riêng Làng nghề là dấu tích của thời gian, của sinh hoạt cộng đồng,
Trang 3628
ngày nay, nơi đây còn trở thành những điểm tham quan hấp dẫn với sự phát triển của du lịch trải nghiệm Tìm đến làng nghề cũng là hành trình về với cội nguồn, khám phá những gì sâu thẳm nhất, bền vững nhất của văn hoá dân tộc Việc bảo tồn
và phát triển làng nghề không chỉ góp phần gìn giữ những giá trị văn hoá mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
Làng Võng Thị ven hồ từ xưa đa phần nhân dân sông bằng nghề chài lưới; làng Trích Sài là nơi bà chúa dệt lĩnh Phan Thị Ngọc Đô cùng các cung nữ đã dạy cho dân nghề dệt lĩnh; làng Nghi Tàm có nghề tằm tang, trồng hoa; làng hoa Nhật Tân; làng giấy Yên Thái; làng Thuỵ Chương có nghề dệt vải, dệt lụa và nấu rượu; làng Ngũ Xã với nghề đúc đồng và thêu hoa; nghề trồng quất và ướp chè sen làng Quảng Bá Ngày nay, các làng nghề chỉ còn tồn tại một số lẻ tẻ, thậm chí có làng chỉ còn vài nhà duy trì nghề truyền thống như làng An Thái làm giấy hay làng Nhật Tân chủ yếu trồng hoa Ước chừng, vùng ven Hồ Tây có khoảng 10 làng nghề truyền thống
Nhìn nhận vùng ven Hồ Tây dưới tư cách là một quần thể văn hoá đa dạng, phong phú đi từ văn học dân gian đến nghệ thuật dân gian; tồn tại trong tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội dân gian, là sự trở về với nguồn cội, với những dấu tích của thuở
sơ khai; từ đó, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong công cuộc hội nhập ngày nay Vùng văn hoá ven Hồ Tây là không gian văn hoá trọng điểm, chứa đựng tri thức, trí tuệ và đời sống dân gian; cần được bảo tồn, giữ gìn và phát huy để những giá trị tinh thần này tiếp tục được hiện hữu và thăng hoa trong đời sống xã hội hiện đại
Trang 3729
CHƯƠNG 2: VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG VEN HỒ TÂY
Văn học dân gian là bộ phận ra đời sớm nhất, chứa đựng trí tuệ dân gian, là nền móng cơ bản của văn học thành văn, tiên phong cho sự ra đời và phát triển của văn học viết, “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong đời sống ngày nay” [30, tr 7] Bên cạnh đó, văn học dân gian không đơn thuần chỉ là văn học mà còn là văn hoá, văn học dân gian là một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam, là
“bộ phận văn hoá ngôn từ” [15, tr 8] của văn hoá dân gian Việt Nam và là một
phần tái hiện của lịch sử, của nguồn cội, “phản ánh sinh hoạt xã hội, công việc làm
ăn, đời sống tâm lí, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động qua các thế hệ” [15, tr 8] Văn học dân gian là bộ phận văn hoá ngôn
từ của văn hoá dân gian, bởi vậy, nghiên cứu văn học dân gian không chỉ là sự nghiên cứu về ngôn từ mà còn là sự ứng chiếu trong văn hoá, trong diễn xướng dân gian
Theo khung phân loại cổ điển, văn học thành văn được chia thành ba loại (dựa theo phương thức biểu đạt) là tự sự, trữ tình và kịch; cùng với đó, văn học dân gian cũng lựa chọn khung phân loại này để nhóm họp các tác phẩm của mình thành ba nhóm chính là tự sự dân gian, trữ tình dân gian và sân khấu dân gian; đồng thời xuất
hiện nhóm tục ngữ - câu đố tồn tại như một loại hình sáng tác độc lập
2.1 Truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây
Truyện kể dân gian thuộc nhóm tự sự dân gian, là những sáng tác truyền miệng, ra đời từ trí tưởng tượng của dân gian như một cách lí giải cho các hiện tượng xung quanh, từ đó đưa ra những kinh nghiệm mang tính cộng đồng, phản ánh cuộc sống sinh hoạt cũng như đời sống tâm lí của cộng đồng dân gian Trong bộ phận văn học dân gian, loại hình tự sự dân gian chiếm số lượng lớn với sự đa dạng
về thể loại và nội dung phản ánh Cũng như loại hình tư sự trong văn học viết, loại hình tự sự dân gian bao gồm các tác phẩm có cốt truyện và nhân vật, “Các thể loại
Trang 3830
tự sự dân gian trước hết chú trọng đến việc miêu tả hành động của nhân vật và bối cảnh xã hội của hành động ấy mà ít chú trọng đến miêu tả nội tâm nhân vật” [30, tr 272] Loại hình tự sự dân gian gồm nhiều thể loại được nhóm chung lại: truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười, thần thoại, sử thi; “là những tác phẩm có cùng chức năng thực hành, cùng phương thức diễn xướng và có cùng cấu trúc” được tập hợp vào cùng một thể loại và đều thuộc loại hình tự sự
Truyện kể dân gian góp phần tái hiện trọn vẹn bức tranh đời sống lúc bấy giờ qua trí tưởng tượng của dân gian mà ở đó mỗi nhân vật, mỗi địa danh, mỗi một dấu vết hiện hữu trong cuộc sống hiện đại đều được lí giải cụ thể, chứa đựng bản sắc dân tộc đậm nét
Từ trong dân gian, hệ thống truyện kể vùng ven Hồ Tây đã xuất hiện phổ biến, mỗi câu chuyện là một mảnh ghép, là một cách tái hiện khu vực Hồ Tây trong tiềm thức của cộng đồng dân gian Từ truyện kể dân gian, bức tranh Hồ Tây hiện hữu rõ nét, nơi đây có lẽ không chỉ là một địa danh mà còn là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại, là cầu nối của những giá trị tinh thần tưởng chừng mơ hồ với cuộc sống thực tại hiện hữu Tìm hiểu trục văn học dân gian vùng ven Hồ Tây mà quan trọng
là nhóm truyện kể dân gian sẽ góp phần đánh giá đúng được vị trí và vai trò của Hồ Tây, từ đó góp phần bảo tồn nét cổ xưa, sang trọng, kiêu sa mà vẫn hiện đại của vùng đất ven hồ; tạo nên dấu ấn bản sắc dân tộc đậm nét trong bối cảnh hội nhập
2.1.1 Thống kê truyện kể dân gian
Truyện kể dân gian xoay quanh vùng ven Hồ Tây phần lớn là những câu chuyện lý giải về sự ra đời của các địa danh, các nhân vật có liên quan đến khu vực
Hồ Tây, các dấu tích mang yếu tố kì bí tạo nên lớp trầm tích huyền thoại, phủ màu
ảo ảnh lên không gian Hồ Tây và sự ra đời của các tên gọi
Trang 3931
Bảng 2.1 Thống kê truyện kể dân gian
1 Thần Trấn Vũ 32 Ao Quà và Ao Quan
2 Thánh Vọng Thị 33 Khách Tây Sơn với cảnh Tây Hồ
3 Mục Thận và thái sư Lê Văn Thịnh 34 Lý Văn Phức
4 Sóc Thiên Vương 35 Nằm mộng tại đền Trấn Vũ và thơ vịnh tượng thần Trấn Vũ
5 Hàn Minh và Động Đình Vương 36 Ba vị thần ở Tam Bảo Châu
6 Võ Trung và Võ Quốc 37 Long Thần
7 Anh em Phùng Hưng 38 Cống Lễ, Cá Lễ
8 Thánh Linh Lang 39 Trần Lễ
9 Truyền thuyết Đức Vua Bà 40 Đền Cẩu Nhi
10 Vị sư chùa Ba Làng 41 Khổng Lồ đúc chuông
11 Truyền thuyết thần Thành hoàng làng Tứ Liên 42 Truyện Hồ Tây
12 Bà chúa nghề tằm 43 Tám cảnh Hồ Tây
13 Truyện Trai tài gái sắc ven Hồ Tây 44 Truyền thuyết đền Thọ Phúc Lộc
14 Bà chúa dệt lĩnh 45 Truyền thuyết đình Đông Xã
15 Bà chúa dệt vải 46 Đền Thăng Long và Sự tích Chầu
Đệ Tứ
16 Lý Râu 47 Đình Phú Gia và Thần Bà Già
(Thần Khai Nguyên)
17 Chú bé chăn trâu vùng Bưởi 48 Truyền thuyết Đức Long Vương
18 Hồ Xuân Hương 49 Nhị vị Đại Vương làng Phú Xá
19 Phùng Xuất Nghĩa 50 Sáu vị Thành hoàng Nghi Tàm
20 Quảng Bá – Nhật Tân – Hoà Hiếu 51 Thơ đùa ả bán chiếu
21 Bảy cây gạo thời Hồng Bàng 52 Thơ vịnh cảnh chùa Trấn Quốc
22 Miếu Đồng Cổ - Thần Trống Đồng 53 Cái vạ văn chương
23 Chuyện Vũ Phục 54 Chúa tôi xướng hoạ
24 Tiên Quỳnh Hoa 55 Gà câu đối cho chàng rể
25 Vị tổ nghề giấy 56 Đánh trống qua cửa nhà sấm
26 Phật say làng Thuỵ 57 Trán khỉ mặt rồng
27 Chùa Trấn Quốc 58 Hồ Trúc Bạch
28 “Hồ Tây cá nhảy” 59 Phường cũ ven hồ
29 Viện Châu Lâm và Chùa Bà Đanh 60 Đầm Xác Cáo
30 Gò Phượng Chuỷ 61 Sự tích trâu vàng Hồ Tây
31 Trương Đỗ 62 Tứ vị Thánh Nương
Trang 4032
63 Đình thờ tổ nghề thêu
Từ bảng thống kê có thể thấy được hiện còn 63 truyện kể đang được lưu truyền xung quanh Hồ Tây và tiến hành phân loại theo hai nhóm dựa trên chủ đề của các truyện kể: Tên gọi và địa danh và các nhân vật khu vực Hồ Tây Do ranh giới thể loại giữa các truyện kể khá mờ nhạt nên chúng tôi không tiến hành phân loại theo thể loại, tuy nhiên, thể truyền thuyết chiếm số lượng lớn trong hệ thống truyện kể dân gian vùng ven Hồ Tây
Chúng tôi xác định vùng ven Hồ Tây là phần ranh giới thuộc địa phận quận Tây Hồ, nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội, gồm 8 phường: Bưởi, Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Xuân La và Yên Phụ; các truyện kể dân gian đều gắn
bó mật thiết với những địa danh và con người khu vực này Ngoài ra, các địa danh lân cận có liên quan trực tiếp đến khu vực Hồ Tây (một số địa danh thuộc quận Ba Đình ngày nay) cũng được xác định thuộc địa phận vùng ven Hồ Tây
Bảng 2.2 Phân loại truyện kể dân gian
1 Tên gọi và địa danh
Tên gọi 42, 60, 61 13 Địa danh 21, 22, 27, 29, 30, 32,
nước
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,
19, 36, 37, 38, 39, 44,
45, 47 Chống Phong