1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức luận của i kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong phê phán lý tính thuần túy

86 245 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần túy” làm đề tài nghiên cứu.. Kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong tác phẩm Phê phán l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2017

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học:: TS Phạm Văn Chung

Hà Nội, 2017

Trang 3

3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11

8 Kết cấu của luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 13

CHƯƠNG 1 13

NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN 13

CỦA I KANT TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY 13

1.1 Những tiền đề lịch sử của sự hình thành nhận thức luận của I Kant 13

1.1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội 13

1.1.2 Những tiền đề khoa học tự nhiên 19

1.1.3 Những tiền đề lý luận 25

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của I Kant 30

1.3 Về tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy 35

CHƯƠNG 2 41

NỘI DUNG CƠ BẢN NHẬN THỨC LUẬN CỦA I KANT VÀ TƯ TƯỞNG CỦA ÔNG VỀ GIỚI HẠN CỦA NHẬN THỨC 41

2.1 Nội dung cơ bản và những bước chuyển trong nhận thức luận của I Kant 41

2.1.1 Nội dung cơ bản nhận thức luận của I Kant 41

2.1.2 Từ triết học tự nhiên đến triết học nhận thức 51

2.1.3 Từ sự đối lập giữa nhận thức duy lý và nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức tiên nghiệm 53

2.2 Tư tưởng của I Kant về giới hạn của nhận thức 58

Trang 4

4

2.2.1 “Vật tự thân” – Thuyết bất khả tri hay là về giới hạn không thể vượt qua được của nhận thức 58 2.2.2 Những nghịch lý (antinomie) của lý tính thuần túy và giới hạn của nhận thức 66

2.3 Giá trị và hạn chế của nhận thức luận của I Kant nói chung và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức nói riêng 69

2.3.1 Giá trị và hạn chế của nhận thức luận của I Kant 69 2.3.2 Giá và hạn chế của tư tưởng của I Kant về giới hạn của nhận thức 73

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Ph.Ăngghen, “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luận ấy

“cần phải được hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước”, vì “triết học là sự tổng kết lịch sử tư duy” Mà lịch sử phát triển của tư duy lại được tổng kết trong lịch sử triết học, vì thế việc nghiên cứu tư duy lý luận là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra cho các ngành khoa học hiện nay Nghiên cứu tư duy lý luận giúp cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu các ngành khoa học nói chung và khoa học xã hội nhân văn nói riêng Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, vấn đề nghiên cứu triết học nhân loại là vấn đề đang được các nhà khoa học tâm huyết trong nước quan tâm và chú ý, nhằm tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, vận dụng vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam để đổi mới cách nhìn, đổi mới phương pháp tư duy xóa bỏ lối tư duy cũ đang tồn tại từ lâu đời

Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử triết học còn ít Hầu như chỉ tập trung ở một một số trường đại học lớn mang tính chất đặc thù, chuyên ngành Chính vì vậy, nghiên cứu lịch sử triết học là một việc làm hết sức cần thiết nhằm đi tìm hiểu cội nguồn lịch sử tư tưởng triết học thế giới

Trong dòng chảy lịch sử triết học nhân loại, nổi lên những triết gia đại diện cho các thời đại, một trong những triết gia vĩ đại đó là I Kant của triết học cổ điển Đức, bên cạnh các triết gia khác như Hêghen, Phoiơbắc… Immanuel Kant (I Kant) được coi là người đã thực hiện cuộc cách mạng Copernic trong nhận thức luận I Kant so sánh sự chuyển hướng trong cách tìm hiểu tri thức của mình với cuộc cách mạng Copernic trong thiên văn học Ông được tôn vinh là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức Triết học I

Trang 6

6

Kant đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các trào lưu triết học phương Tây về

sau Với tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy sức hấp dẫn của nó không chỉ

bởi những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn của I Kant, cũng không phải vì

có quá nhiều những ý kiến trái ngược nhau về tư tưởng triết học của ông

Một trong những nguyên nhân để chúng tôi đi vào tìm hiểu triết học I Kant chính là ở chỗ, trong triết học I Kant có khá nhiều những vấn đề được các học giả quan tâm như đạo đức, triết học lịch sử, siêu hình học, triết học thực tiễn… những vấn đề này hiện nay vẫn còn gây nhiều bàn cãi và chưa đi đến hồi kết Việc tìm hiểu tính tích cực của chủ thể nhận thức, năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức, sự tồn tại và bất tử của Linh hồn, Thượng đế, Thế giới luôn là những nan đề có rất nhiều kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về triết học I Kant như là cội nguồn và căn cứ để khai phá I Kant đã phân biệt hai lĩnh vực của nhận thức: lĩnh vực mà con người có thể nhận thức được đó là thế giới hiện tượng, và lĩnh vực mà lý tính con người dù đã làm cuộc bạo động xâm nhập vào nó nhưng vẫn bất lực, không thể nhận thức được – thế giới “Vật tự thân” Với những tư tưởng đó, I Kant đã phê phán mạnh mẽ sự bất lực của siêu hình học truyền thống, khi nó sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học tự nhiên để nhận thức “Vật tự thân” Theo I Kant, triết học có sứ mệnh cao cả là cứu nguy cho siêu hình học truyền thống, cần phải tiến hành phê phán chính lý tính Lý tính đã mắc phải những mâu thuẫn không thể giải quyết, chính từ những mâu thuẫn đó là động lực để I Kant chuyển sang lĩnh vực thực hành

Với tư tưởng vê “Vật tự thân” trên thực tế I Kant đã đặt ra một giới hạn của nhận thức có thể mang ý nghĩa đặt cơ sở cho một môn học mới là “về những giới hạn của nhận thức của con người” mà những thành tựu của khoa học thế kỳ 20 – 21 chứng tỏ điều đó Hiện nay khoa học ngày càng phát triển, mang lại những thành tựu to lớn cho nhân loại trên tất cả các phương diện

Trang 7

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nhận thức luận của I

Kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý

tính thuần túy” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên nhiều phương diện khác nhau, các học giả Việt Nam đẫ tiếp cận, nghiên cứu triết học I Kant bằng nhiều cách Tuy nhiên, hầu như chưa có bất

cứ một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu “tư tưởng của I Kant về

giới hạn của nhận thức”trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy của ông

Hầu hết, trong các tác phẩm hay bài viết nói về triết gia I Kant, các tác giả chỉ đề cập đến vấn đề “giới hạn nhận thức của con người” trong quan niệm của ông như là một phần nhỏ trong lý luận nhận thức và hầu hết nó được hiểu thuần túy theo nghĩa thuần túy tiêu cực

Ở nước ta, đã có nhiều tác giả đi vào nghiên cứu triết học I Kant Về phương diện lịch sử, người đề cập đến triết học I Kant sớm nhất là GS Trần Đức Thảo trong tác phẩm “Lịch sử tư tưởng trước Marx” Trong đó, GS Trần Đức Thảo đã trình bày các võng luận của phép biện chứng theo cấu trúc tác

phẩm Phê phán lý tính thuần túy Đây là những đánh giá đúng đắn và khách

Trang 8

8

quan đối với triết học I Kant Tuy nhiên, những đánh giá của ông còn sơ lược, chưa đi sâu vào một vấn đề cụ thể, nhất là ông chưa đi sâu và nghiên cứu vấn đề “Vật tự thân” hay về giới hạn của nhận thức, đây chỉ là những nghiên cứu chung về triết học I Kant

Năm 1962, Nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội) đã cho xuất bản bộ “Giáo trình lịch sử triết học – Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô biên soạn tác phẩm đã đem đến cho độc giả những nét khái lược về triết học cổ điển Đức, trong đó triết học I Kant chiếm một vị trí quan trọng Các tác giả đã nghiên cứu quan niệm của I Kant về nhận thức theo ba giai đoạn: cảm tính, giác tính và lý tính, trong đó giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn nhận thức cao nhất của con người, tuy nhiên việc đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng của I Kant về giới hạn của

nhận thức trong Phê phán lý tính thuần túy thì chưa có

Trần Thái Đỉnh trong cuốn “Triết học I Kant” đã nêu lên một cách khá toàn diện các vấn đề triết học I Kant Riêng đối với triết học lý luận, tác giả cũng đưa ra những luận giải khá sâu sắc Ông cho rằng khi phê phán lý tính thuần túy, I Kant không nhằm phá hủy siêu hình học mà trái lại cố gắng xây dựng một siêu hình học mới Tác giả dành khá nhiều tâm huyết trình bày các võng luận của nhận thức triết học I Kant Đây là một công trình khá đầy đủ

và phong phú về triết học I Kant, tuy nhiên để dành một dung lượng cho việc nghiên cứu “những giới hạn nhận thức của con người” trong quan niệm của I Kant, thì Trần Thái Đỉnh chỉ đề cập đến “giới hạn nhận thức của con người” như một phần trong lý luận nhận thức của I Kant như các cuốn sách khác

Trong cuốn “Triết học Immanuen Kant” của PGS.TS Nguyễn Văn Huyên xuất bản năm 1996, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, tác giả đã trình bày những nét tổng quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của I Kant Tác giả đã nêu lên những Antinomie của lý tính con người trong quá trình

Trang 9

9

nhận thức, phân tích cách giải quyết các Antinomie đó và tính biện chứng còn được thể hiện ở mặt hình thức của các mối liên hệ các phạm trù, các nhóm phạm trù Và tác giả cũng chỉ dành một số ít trang để nói về quan niệm

“những gới hạn nhận thức của con người” của I Kant

Quan niệm của I Kant về “Vật tự nó” trong tác phẩm Phê phán lý tính

thuần túy – Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Hải Yến năm 2013 tại trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn

đi sâu tìm hiểu quan niệm của I Kant về “Vật tự nó” trong tác phẩm Phê

phán lý tính thuần túy, có bàn đến vấn đề “giới hạn nhận thức của con người”,

tuy nhiên dung lượng là rất ít và chưa thực sự đi sâu vào vấn đề này

Ngoài ra còn cần nói đến một công trình gần đây đề cập đến khá nhiều vấn đề nhận thức luận của I Kant với rất nhiều bài viết đáng chú ý đó là Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức luận

và đạo đức học” của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004 Đây là công trình quy tụ khá nhiều kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã được in thành kỷ yếu hội thảo quốc tế kỷ niệm 200 năm ngày mất của I Kant, có khá nhiều bài viết liên quan đến vấn

đề mà đề tài nghiên cứu, về nhận thức luận có các công trình “Nhận thức luận

và đạo đức học trong triết học cổ điển Đức” của Trịnh Trí Thức; “Phương thức tư duy chủ thể tính của I Kant và những gợi mở của nó đối với đương đại” của Âu Dương Khang; “Thực chất cái siêu việt của lý tính trong lý luận nhận thức của I Kant và tư tưởng của ông về một nền triết học khoa học” của Phạm Văn Chung; “Tư tưởng của I Kant về sự thống nhất giữa lý luận nhận thức, đạo đức học trong nhân học” của Nguyễn Vũ Hảo; “I Kant và nhận thức luận hiện đại” của Đỗ Văn Khang, “Lý luận nhận thức của I Kant thời

kỳ phê phán – giá trị và hạn chế” của Trần Văn Phòng; “Nhận thức luận của I Kant nhìn từ triết lý Đông phương” của Lê Công Sự Về vấn đề liên quan đến

Trang 10

10

giới hạn của nhận thức có các công trình “Quan niệm của I Kant về bản chất

và giới hạn của nhận thức” của Dương Văn Thịnh; “Quan niệm của I Kant về bản chất của nhận thức và ý nghĩa của nó” của Vũ Văn Viên

Như vậy, việc nghiên cứu về triết học I Kant luôn thu hút sự chú ý của nhiều học giả Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu riêng về “những giới

hạn của nhận thức con người trong Phê phán lý tính thuần túy của I Kant

chưa thực sự nhiều, hầu như chưa có một công trình nào dành tâm huyết và đi sâu vào phân tích quan niệm về những giới hạn của nhận thức con người của

I Kant, có chăng chỉ là những phân tích về phần lý luận nhận thức của ông nói chung và khi đi vào phân tích thì các học giả còn có khá nhiều quan điểm khác nhau Do đó, “nhận thức luận của I Kant nói chung và tư tưởng của ông

về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần túy của I Kant vẫn

cần đặt ra để tiếp tục nghiên cứu

Trong luận văn có phần giới thiệu về những tiền đề lịch sử cho sự ra đời của triết học I Kant cũng như tiểu sử của ông, về điểm này luận văn chủ yếu khai thác các tài liệu như “101 triết gia” của Mai Sơn xuất bản năm 2007 do Nxb Tri Thức và công ty văn hóa Phương Nam liên kết ấn hành, “Triết học cổ điển Đức” của Lê Công Sự xuất bản năm 2006 do NXB Thế giới ấn hành, “Học thuyết phạm trù trong triết học I Kant” của Lê Công Sự xuất bản năm 2007 do Nxb Chính Trị Quốc Gia ấn hành, Quan niệm của I Kant về vật tự nó trong phê phán lý tính thuần túy - luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hải Yến (2013) Nói chung ở đây chúng tôi không có những nghiên cứu mang lại những hiểu biết mới

về cuộc đời, sự nghiệp của I Kant cũng như tiền đề cho sự ra đời của tác phẩm

Phê phán lý tính thuần túy Điều này là hiển nhiên, vì những dữ kiện về con

người, cuộc đời của I Kant nói chung là cố định và chắc chắn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Làm rõ nhận thức luận của I Kant trong mối liên hệ với tư

Trang 11

11

tưởng của ông về giới hạn nhận thức trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần

túy Trên cơ sở đó bước đầu nhận định, đánh giá về ý nghĩa của chúng

Nhiệm vụ: 1) Xem xét những điều kiện, tiền đề hình thành nhận thức luận của I Kant .2) Tìm hiểu tư tưởng của I Kant về giới hạn của nhận thức

trong Phê phán lý tính thuần túy 3) Bước đầu đánh giá giá trị tư tưởng của I Kant về giới hạn của nhận thức trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nhận thức luận của I Kant

Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản của nhận thức luận của I Kant và tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong tác

phẩm Phê phán lý tính thuần túy

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm triết học Mác – Lênin, chủ yếu về phép biện chứng, về lịch sử triết học nói chung về triết học I Kant nói riêng, đồng thời kế thừa, tiếp thu các tài liệu, bài nghiên cứu của các tác giả về triết học cổ điển Đức, triết học I Kant nhất là về phương pháp

Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp giữa lôgic và lịch sử, diễn dịch, quy nạp…

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ hơn Nhận thức luận của I Kant thông qua việc chỉ ra những nội dung cơ bản của Nhận thức luận của I Kant trong mối liên

hệ với tư tưởng của ông về giới hạn của nhận thức trong Phê phán lý tính

thuần túy

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả của đề tài luận văn một mặt góp phần vào việc nghiên cứu triết học I Kant nói chung, nhận thức luận của ông nói riêng, mặt khác có ý nghĩa đối với nghiên cứu khoa học nhất là trong việc xác định những giới hạn của

Trang 12

12

nhận thức

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, Phần nội dung chính gồm 2 chương, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

13

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN

CỦA I KANT TRONG TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY

1.1 Những tiền đề lịch sử của sự hình thành nhận thức luận của I Kant

1.1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội

Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại

xã hội, là sự kết tinh của những tinh hoa tinh thần của một thời đại Do đó, sự

ra đời và phát triển của mỗi học thuyết triết học luôn luôn chịu sự chi phối và phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội nhất định Đó chính

là tính quy luật lịch sử, là cánh cửa đầu tiên vô cùng cần thiết và quan trọng

để bước vào nghiên cứu nguồn gốc, nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của

nó Theo đó, khi đi vào nghiên cứu triết học I Kant, việc nghiên cứu điều kiện lịch sử thời đại mà ông đang sống là một yêu cầu tiên quyết để hiểu được triết học của ông

Lịch sử các nước châu Âu thế kỷ XVII – XVIII đã bước sang một giai đoạn mới, một loạt nước Châu Âu như Anh, Pháp, Italia, Hà Lan…chế độ phong kiến về cơ bản đã rời bỏ vũ đài chính trị - lịch sử của mình để nhường chỗ cho chế độ tư bản Đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội mới, khẳng định phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa, phá tan dần các quan hệ phong kiến, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới với các nhu cầu xã hội và cá nhân mới Cách mạng công nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế -

xã hội tư bản lúc bấy giờ, đem lại sự phát triển nhảy vọt của sản xuất, làm tăng trưởng mạnh mẽ trình độ, khối lượng và nhịp độ sản xuất Bên cạnh đó,

Trang 14

14

các cuộc cách mạng xã hội thế kỷ XVII – XVIII mở đường cho phát triển các

tư tưởng xã hội tiến bộ, đẩy đến cuộc Cách mạng Tư sản Pháp (1789 – 1794)

Hai cuộc cách mạng trên có ý nghĩa lịch sử rất lớn lao với thời đại:

“Cách mạng công nghiệp Anh khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới, cách mạng Tư sản Pháp thể hiện khả năng cải tạo thế giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp” [17, 8] Với ý nghĩa lịch sử lớn lao, hai cuộc cách mạng đó đã có những ảnh hưởng lớn đến phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, được đánh dấu bằng một loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra: cách mạng tư sản

ở Anh, Hà Lan, Pháp, Italia…chấm dứt sự thống trị của chế độ phong kiến hàng nghìn năm gắn liền với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt khe, mở đầu cho sự ra đời và phát triển của chế độ tư bản Chủ nghĩa tư bản ra đời đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó Bước chuyển đó đã đem lại cho châu Âu một diện mạo mới với những thành tựu khổng lồ về kinh tế - xã hội và văn hóa mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của chủ nghĩa tư bản Đó là những tiền đề quan trọng thúc đẩy khoa học nói chung và triết học nói riêng phát triển Đặc biệt đối với triết học,

sự chuyển biến được thể hiện rõ

Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, hệ thống thần học như một chiếc áo khoác lên, che đậy cho chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh viện giáo điều với những lý luận hoàn toàn hướng con người tới một thế giới ảo tưởng, xa rời hiện thực cuộc sống đã bị cởi bỏ, thay thế bởi chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy lý Triết học thâm nhập khám phá cuộc sống, tìm hiểu những bí

ẩn trong lý tính của con người Các nhà tư tưởng tư sản trả lại cho con người những quyền mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc

Trang 15

15

Con người phải vươn tới trí tuệ tự do và đích thực.Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công nghiệp mà trở thành quốc gia

tư bản lớn mạnh nhất, nước Pháp nhờ Cách mạng Tư sản 1789, giai cấp tư bản đã tiêu diệt chế độ phong kiến, đang tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, cả châu Âu đang phát triển nhanh và mạnh mẽ, nhưng trái lại nước Đức vẫn triền miên trong “giấc ngủ Đông” – vẫn còn là một nước phong kiến lạc hậu, với chế độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về kinh

tế lẫn chính trị Triết học I Kant đã ra đời trong hoàn cảnh đó, trong một nước Đức hết sức phức tạp và đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa

Sau khi thất bại trong chiến tranh nông dân (1525), thế kỷ XVII, nước Đức lại trải qua cuộc chiến tranh 30 năm kéo theo hậu quả nghiêm trọng là sự tàn phá ghê gớm, nặng nề cả về con người và của cải Xã hội Đức cuối thế kỷ XVIII còn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, phát triển trì trệ so với các nước Tây Âu xung quanh Tập đoàn phong kiến Đức đang thống trị độc đoán và ngoan cố Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực tế đất nước còn phân thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau với hàng trăm cát cứ phong kiến Đứng đầu mỗi cát cứ là một chúa đất có quyền lực vô hạn đối với thần dân của mình Trong mỗi lãnh địa đều có quân đội, cảnh sát, tiền tệ và thuế quan riêng Sự phân tán về kinh tế, chính trị cùng với sự bảo thủ độc đoán của triều đình Phổ là lực cản lớn của nước Đức trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa

Về kinh tế, nền kinh tế hàng hóa bị ràng buộc bởi quan hệ kinh tế sản xuất phong kiến lạc hậu Sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn

dư của chế độ nông nô, chế độ phường hội, chúa đất, sự phụ thuộc lẫn nhau của nhiều cát cứ nhỏ bé với các thể chế chính trị phản động…đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, làm tăng thêm mức độ lạc hậu của nước Đức so với các nước phát triển tư bản chủ nghĩa Năng suất lao động thấp, đời sống của đại

Trang 16

16

đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn, cùng cực Toàn cảnh nền kinh

tế nước Đức lúc bấy giờ hết sức manh mún, trì trệ và phân tán

Về chính trị, vua Friedrich Wilhem II đứng đầu triều đình Phổ lúc bấy giờ vẫn rất bảo thủ và ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, muốn nhân dân mình quay trở về thời trung cổ, ngăn cản đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Trong hoàn cảnh ấy giai cấp tư sản nước Đức vẫn còn non nớt và yếu đuối, chưa có đủ điều kiện chín muồi cho việc nổi dậy giành chính quyền Chính vì thế, cả nước Đức bao trùm một bầu không khí ngột ngạt, bất bình của nhân dân

Về tư tưởng, hệ tư tưởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận Thần học là khoa cơ bản trong các trường đại học tổng hợp Triết học và các môn khoa học xã hội khác nhiều khi chỉ là sự biện hộ và bảo vệ cho thần học Người cha tinh thần của triết học Đức lúc đó là Christian Wolft, người kế tục tư tưởng duy tâm của Lépnít Đa số học trò của Wolft đều chiếm những

vị trí quan trọng trong các trường đại học Đức lúc bấy giờ Triết học tiến hành cuộc thỏa hiệp với tôn giáo và đành nhượng bộ nó trong nhiều vấn đề lý luận

và thực tiễn

Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đương thời phủ một màu xám, đúng như lời khắc họa của Ăngghen: “Không ai cảm thấy mình dễ chịu…Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nước Không có giáo dục…không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [2, 754]

Trang 17

17

Trước ảnh hưởng như vũ bão của các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới, đặc biệt là Cách mạng Tư sản Pháp (1789), cùng với bối cảnh kinh tế xã hội phức tạp, rối ren và đầy mâu thuẫn của nước Đức lúc bấy giờ đã tác động mạnh tới tư tưởng của giai cấp tư sản Đức Họ đã đặt ra vấn đề cách mạng, nhưng không phải trong thực tế mà chỉ trong tư tưởng mà thôi Bởi vì, không giống như các nhà tư tưởng Pháp, các nhà tư tưởng Đức không đồng thời là các nhà hoạt động cách mạng Không như P.H Hônbách, C.A Helvêtiuyt hay

Đ Điđrô và các nhà hoạt động khác thời kỳ khai sáng, các nhà triết học Đức

là những nhà duy tâm, chính vì thế họ không dám làm một cuộc cách mạng trong hiện thực mà chỉ làm cuộc cách mạng trong tư tưởng Giai cấp tư sản non yếu đang trong quá trình tích lũy tư bản vẫn phải dựa vào sự bảo hộ của quý tộc nên cuộc đấu tranh chính trị mạnh mẽ với giới quý tộc là điều mà họ chưa thể nghĩ tới Điều đó được phản ảnh trong sự bất lực tiến hành một cuộc cách mạng chống lại trật tự phong kiến và cuối cùng thể thiện ở sự thỏa hiệp của họ

Các học thuyết triết học của các nhà triết học cổ điển Đức duy tâm và yếu hèn, không thể làm cơ sở cho sự cải tạo tư sản nước Đức theo mong muốn mà tuyên ngôn của họ đã nêu: tự do, trí tuệ, hạnh phúc và quyền con người Trong tầng lớp trí thức Đức thời bấy giờ xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực Đây là nguyên nhân chính dẫn tới tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, phủ nhận sự cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại của nhà nước Phổ và xã hội đương thời Họ lấy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng Triết học là nơi gửi gắm, thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người

“Triết học Đức là sự tiếp tục của lịch sử Đức trong ý niệm” [2, 557]

“Cũng giống như ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết học Đức hồi thế

kỷ XIX cũng đi trước một cuộc cách mạng chính trị”[3, 39], nhưng khác với

Trang 18

18

giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay từ đầu

đã muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời

đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết vấn đề phát triển đất nước

Tính chất cải lương thỏa hiệp về tư tưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng lớn đến I Kant Là một học giả chỉ nghiên cứu khoa học và triết học, bận rộn với công việc giảng dạy cũng như giải thích các thành quả nghiên cứu của mình, I Kant ít quan tâm đến các vấn đề chính trị, ngại đụng chạm đến chính quyền nhà nước Nhưng ông lại có một tấm lòng nhân đạo cao cả, có thiện cảm với quần chúng nhân dân lao động nghèo khổ Trong suy nghĩ của nhà triết học diễn ra mâu thuẫn với các câu hỏi: cần phải làm gì và làm như thế nào để đạt được hai mục đích: câu hỏi thứ nhất, nói lên tư tưởng khoa học, đề cao vai trò lý tính, phản ánh nguyện vọng muốn thay đổi chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc bằng một xã hội dân chủ

tư sản, đem lại quyền lợi đích thực cho mọi công dân xã hội; câu hỏi thứ hai, làm vừa lòng chính thể nhà nước hiện tồn Mâu thuẫn tâm lý đó chuyển thành mâu thuẫn tư tưởng và biểu hiện một cách cụ thể trong học thuyết triết học của I Kant “Tư tưởng của I Kant biểu hiện những ưu khuyết điểm của cách mạng tư sản một cách đúng đắn” [39, 419]

Dưới sự tác động của cả hai sức ép: một bên là sự cổ vũ mạnh mẽ của các nhà Khai sáng, cách mạng tư sản Pháp - những tư tưởng tiến bộ; một bên

là sức ép chính trị của chính quyền chuyên chế Phổ đương nhiệm với chính sách trừng trị hà khắc đối với những học giả có tư tưởng chống đối nhà nước,

I Kant cũng đã chọn con đường cải lương, thỏa hiệp với luận điểm: “Tôi phải dẹp bỏ nhận thức đi để dành chỗ cho lòng tin và thuyết giáo điều trong siêu hình học” [21, 55]

Tóm lại, triết học I Kant là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Đức đầu thế kỷ XVIII; Nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội

Trang 19

19

Đức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó Đồng thời triết học

I Kant cũng là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực tư tưởng có thể xem là biểu tượng của “lý luận Đức của cuộc cách mạng tư sản Pháp”

1.1.2 Những tiền đề khoa học tự nhiên

Mỗi một học thuyết triết học không bao giờ ra đời trên mảnh đất hiện thực trống rỗng mà là sự kế thừa, tiếp tục phát triển những tư tưởng trước đó của nhân loại Triết học I Kant không chỉ hình thành trong bối cảnh lịch sử rối ren, phức tạp của nước Đức thế kỷ XVIII mà còn là sự tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của thời đại Trước hết cần phải đề cập tới những thành quả trong khoa học tự nhiên – một trong những yếu tố tác động trực tiếp tới sự hình thành thế giới quan, phương pháp luận, quan điểm của các nhà triết học Triết học và khoa học tự nhiên luôn là hai người bạn song hành gắn bó với nhau trong sự phát triển, chúng có sự tác động qua lại với nhau một cách biện chứng Những phát minh, những thành tựu trong khoa học tự nhiên đã cung cấp cho triết học những tư liệu sinh động, những bằng chứng cụ thể làm cơ sở

để từ đó triết học khái quát thành những khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên lý, đồng thời khoa học tự nhiên cũng tạo tiền đề để triết học xây dựng những phương pháp nhận thức: siêu hình, biện chứng, quy nạp, diễn dịch…Trong quá trình phát triển, những khám phá, phát hiện mới của khoa học tự nhiên đã đặt triết học trước những vấn đề lý luận với yêu cầu phải có những lý giải phù hợp với những phát minh khoa học trong nhận thức và giải thích thế giới Có thể nói, I Kant là một minh chứng điển hình cho điều đó I Kant nghiên cứu về vật lý học, khoa học tự nhiên và địa chất, ông dạy môn địa lý tự nhiên trong suốt bốn thập niên Là một nhà khoa học tự nhiên, một nhà triết học lỗi lạc, I Kant không thể không chịu ảnh hưởng của những phát minh trong khoa học tự nhiên, như chính ông khẳng định: “Con đường triết học phải đi là con đường của sự minh triết, đồng thời cũng là con đường của

Trang 20

20

khoa học mà một khi đã khai phá sẽ không bao giờ để cho bị vùi lấp lại và làm ta lạc hướng” [21, 1185] “Sự tiến bộ của khoa học tự nhiên, kỹ thuật và y học cũng như sự vén mây ảo thuật của thiên nhiên qua những thành tựu khoa học cũng như sự vén mây ảo thuật của thiên nhiên qua những thành tựu khoa học” [21, XXXII]

Khoa học tự nhiên có lịch sử phát triển lâu dài mà điểm khởi đầu là các tri thức toán học, thiên văn học, vật lý học của các nhà thông thái Hy Lạp như Talét, Pitago, Ơclit, Acsimet Nhà thông thái đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại đã phát minh ra các định lý hình học rất có giá trị và được Pitago tiếp tục phát triển Tư duy toán học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao trong 13 cuốn “Cơ sở hình học” của Ơclit đã tạo nên cả một thời đại phát triển rực rỡ của hình học

đó là những chuẩn mực tri thức có giá trị cho quá trình xây dựng và phát triển khoa học toán học sau này Acsimet là người đã áp dụng những tri thức toán học vào hành động thực tiễn và thấy rằng toán học có vai trò vô cùng to lớn,

là chìa khóa vạn năng giải quyết được mọi vấn đề Đó là những tư tưởng đặt nền móng cho toàn bộ hệ thống toán học cũng như khoa học tự nhiên phương Tây

I Kant trong quá trình nghiên cứu toán học đã rất lưu ý đến tri thức toán học nói trên Ông nhận xét: “Từ rất xa xưa mà lịch sử của lý tính con người có thể vươn tới, toán học đã đi con đường vững chắc của một khoa học nơi dân tộc Hy Lạp đáng ngưỡng mộ…Một ánh sáng đã lóe lên trong đầu óc người đầu tiên (đó là Thales hay có thể một tên tuổi nào khác) khi ông chứng minh tam giác cân Đó là khi ông thấy rằng không thể dựa vào những gì ông nhìn thấy trong hình tam giác, hay dò theo khái niệm đơn thuần về nó để từ

đó rút ra đặc điểm, trái lại phải tạo ra hình tam giác từ những gì tự ông nghĩ ra một các tiên nghiệm dựa theo các khái niệm, và diễn tả nó (bằng sự cấu tạo – Konstruktion); và thấy rằng để nhận thức chắc chắn về cái gì một cách tiên

Trang 21

21

nghiệm, ông không cần phải gán cho sự vật những thuộc tính nào khác ngoài những gì được tất yếu rút ra từ cái mà bản thân ông đã đặt vào sự vật, phù hợp với khái niệm của ông về nó” [21, 40 – 41] Những nhận xét trên của I Kant

đã cho chúng ta thấy rằng I Kant tin vào những định lý, tiên đề toán học cũng giống như các khái niệm, phạm trù triết học không phải được khái quát lên từ những kết quả của sự nghiên cứu, khảo sát trong thực tế, từ kinh nghiệm cảm tính, mà ngược lại đó là những điều tiên nghiệm sẵn có ở trong giác tính của con người I Kant đã trượt sang con đường của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, xa rời tính chất duy vật thể hiện trong toán học thời kỳ Hy Lạp

Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đời sống hiện thực, khoa học tự nhiên đương thời đã tiếp tục tiến những bước vĩ đại, đã sản sinh ra những con người khổng lồ, đáng kể là Copecnic, Niutơn, Đềcáctơ…Những phát minh vạch thời đại của họ đã tạo nên những bước ngoặt trong nhận thức của nhân loại và có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng triết học của I Kant Năm 1543

tại Ba Lan nhà thiên văn học Copecnic đã cho ra đời tác phẩm “Về sự vận

động của các thiên thể” với Học thuyết nhật tâm là hạt nhân, nó đã công kích

mạnh khuynh hướng duy tâm siêu hình, bảo thủ có phần ngây thơ của thuyết địa tâm do Arisxtot khởi xướng và Plôtêmê phát triển ở thời cổ đại Copecnic cho rằng mặt trời đứng im làm trung tâm của vũ trụ, còn trái đất và một số vì sao khác thì quay quanh mặt trời Thuyết nhật tâm không chỉ tạo nên một bước ngoặt quan trọng không chỉ trong lĩnh vực thiên văn học, khoa học mà còn trong lĩnh vực triết học Và I Kant đã thực hiện một cuộc cách mạng Copecnic trong triết học, đặt nền móng sau này cho sự phát triển của triết học

cổ điển Đức nói riêng và triết học nói chung Trong lịch sử triết học người ta gọi đó là “cuộc cách mạng Copecnic về lề lối tư duy” [21, 41]

I Kant cho rằng phương pháp của Siêu hình học “đến này chỉ là sự mò mẫm đơn thuần, và càng tệ hại hơn, chỉ là sự mò mẫm giữa những khái niệm

Trang 22

22

suông mà thôi” [21, 43] Chính vì thế, tư duy triết học cần phải tiến hành một cuộc đảo lộn như Copecnic từng làm I Kant viết: “Siêu hình học như là tri thức lý luận, ít ra cũng nên thử mô phỏng điểm cốt yêu này Lâu này người ta giả định rằng mọi tri thức của ta phải hướng theo các đối tượng; thế nhưng mọi nỗ lực dùng các khái niệm để xử lý đối tượng một cách tiên nghiệm hầu qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này

Vì thế hãy thử nghiệm để biết đâu chúng ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc giải quyết các vấn đề Siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối tượng phải hướng theo nhận thức của chúng ta; nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với khả thể được đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối tượng, tức loại nhận thức xác định một cái gì đó về đối tượng trước khi đối tượng được mang lại cho ta Đó chính là tình hình đã xảy ra với ý tưởng đầu tiên của Copecnic” [21, 44] I Kant thực sự đã thực hiện một cuộc đảo lộn Copecnic trong triết học của mình, đặt nền móng cho sự chuyển hướng trong triết học cổ điển Đức sau này

Cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất mở đầu bằng Copecnic và kết thúc vào giữa thế kỷ XVIII đã bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học tự nhiên Cuộc cách mạng đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với triết học đương thời Bước đầu nó đã khắc phục những trở ngại của phương pháp

tư duy siêu hình thống trị suốt mấy thế kỷ, qua đó tạo tiền đề cho sự hình thành một phương pháp nhận thức mới – phương pháp biện chứng, với sự kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, giữa quy nạp và diễn dịch, giữa trực quan cảm tính và tư duy trừu tượng nhằm nhận thức thế giới một cách sâu sắc hơn

Sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên tới triết học nói chung và sự lựa chọn đi theo chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của I Kant nói riêng được ông đề cập tới trong “Lời tựa cho lần xuất bản lần thứ hai (1787)” cho cuốn “Phê phán lý tính thuần túy”: “Khi Galilei cho những viên bi có trọng lượng do ông

Trang 23

23

tự lựa chọn trượt xuôi theo một mặt phẳng nghiêng, hay Torricelli để cho không khí mang một trọng lượng mà ông tự nghĩ ra từ trước ngang bằng với trọng lượng của một cột nước đã biết, hay muộn hơn, khi Stahl chuyển hóa kim loại thành vôi và lại chuyển hóa thành kim loại bằng cách rút bớt đi và cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên trong đầu óc của mọi nhà nghiên cứu tự nhiên Họ hiểu ra rằng lý tính chỉ nhận ra những gì do bản thân nó tạo ra theo phác họa của nó…bắt buộc tự nhiên phải trả lời cho các câu hỏi của nó, chứ không chỉ chịu để cho tự nhiên dẫn dắt” [21, 41-42]

Gần một thế kỷ sau, tại Anh xuất hiện nhà toán cơ kiêm triết học

Niutơn, với sự ra đời của cuốn Nguyên tắc toán học có ý nghĩa không kém gì cuốn Về sự vận động của các thiên thể của Copecnic Những tri thức khoa

học tự nhiên của Niutơn đã tác động lớn đến quan điểm khoa học của I Kant

cả về nội dung lẫn phương pháp nghiên cứu I Kant cho rằng phương pháp của Niutơn trong khoa học tự nhiên đã biến sự tùy tiện của các giả thuyết vật

lý thành một phương pháp nghiên cứu đáng tin cậy, là phương pháp dựa vào kinh nghiệm và hình học Tư duy sáng tạo mạnh mẽ của Niutơn là động lực mạnh mẽ tiếp sức cho I Kant trong việc nghiên cứu triết học lý luận, mà tiêu

biểu là tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy

I Kant nhận thấy rằng triết học cũng giống như khoa học tự nhiên phải dựa vào những kinh nghiệm cảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính đóng vai trò quan trọng bậc nhất Niutơn (Anh), Đềcáctơ (Pháp), Lépnit (Đức) đã đưa toán học vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội, đối tượng của toán học vượt ra khỏi dạng tĩnh, vươn sang dạng động Các nhà khoa học đã chỉ ra một cách hệ thống những hình thức vẫn động của vật chất vượt lên trên cách hiểu cơ học, lý học, hóa học, sinh học Việc phát minh

ra điện và sử dụng điện năng đã góp phần tạo ra bước nhảy vọt của phát triển

Trang 24

24

sản xuất từ công trường thủ công tới công trường cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ Lômônôxốp chứng minh bằng thực nghiệm luật

“Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng”

Nhà hóa học Pháp Lavoisier dựa vào những phát minh hóa học, bác bỏ quan niệm về sự tồn tại của một vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng lượng, đặt nền móng cho sự cháy và ôxy hóa nói chung Sau sự sụp đổ của thuyết chất cháy, khoa học tự nhiên dù chưa bác bỏ hết những “chất không trọng lượng” khác như “chất nhiệt”, “chất ánh sáng”, “chất âm thanh”…nhưng đã khám phá ra rằng nhiệt, ánh sáng, âm thanh…đều là những hình thức vận động khác nhau của vật chất Với nguyên lý cấu tạo hóa học khác nhau của vật thể do Đantơ khám phá ở Anh, người ta đã giải thích được rằng những thay đổi về chất của vật thể đều phụ thuộc vào cấu tạo lượng của

nó Sự phân tích quá trình hóa học đã làm thay đổi quan niệm máy móc coi vận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của sự vật Gơtơ nêu lên nhiều quan niệm tiên tiến về giải phẫu học so sánh và về địa chất học Nghiên cứu vật hóa thạch trong lòng đất, Cuvier chứng minh giới thực vật và động vật đều có sự phát triển theo quá trình địa chất của trái đất Tiến hóa luận của Lamác và Wolff bác bỏ “dự thành luận” với quan niệm cho rằng mọi sinh vật sinh ra đều có dự định sẵn, đều nhất thành, bất biến Trong sinh học có dự báo về sự phát triển trong sinh học - bào thai đã mang trong nó mọi dấu hiệu của một sinh vật trưởng thành, do đó không có gì mới xuất hiện mà không có nguồn gốc của nó

Vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học một lần nữa được Ph.Ănghen đánh giá trong tác phẩm “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Đềcáctơ đến Hêghen, Từ Hốpxơ đến Phoiơbắc, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn

Trang 25

25

toàn không phải là sức mạnh của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng Trái lại cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghệ”[3, 407]

Như vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên đạt được đã đem đến cho I Kant quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới Có thể nói, những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học tự nhiên là những động lực không thể thiếu, góp phần hình thành triết học I Kant Chính những điều kiện tiền đề đó đã tạo nên diện mạo triết học cổ điển Đức nói chung và triết học I Kant nói riêng, đặc

biệt là quan niệm về “Vật tự thân” độc đáo và riêng biệt trong tác phẩm Phê

phán lý tính thuần túy

1.1.3 Những tiền đề lý luận

Nằm trong lòng của thời Cận đại nước Đức với những điều kiện kinh tế

- xã hội kém phát triển nhưng “triết học I Kant đã xuất hiện với ánh sáng tân

kỳ của một tư tưởng “tân tiến” [21, L – Dẫn luận, Thái Kim Lan] Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thể nảy sinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn, nếu nó biết tiếp thu thành tựu mọi mặt của các nước tiến bộ khác Ở Pháp vào thế kỷ XVIII, nền kinh tế kém phát triển hơn Anh, nhưng lại hình thành chủ nghĩa duy vật F.H Hônbách, C.A Henvitiuyt, R Điđrô…do dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII và chủ nghĩa duy vật Hà Lan (Xpinoza) Nước Đức cũng nằm trong sự phát triển tư tưởng vượt thời đại ấy Kinh nghiệm lịch

sử của cuộc cách mạng Anh thế kỷ XVII, cũng như của cách mạng Pháp thế

kỷ XVIII đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nước Đức cuối thế

kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

Trang 26

và phê phán nhiều trào lưu triết học quá khứ và đương thời Rút gọn lại, tiền

đề lý luận của triết học I Kant là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đó có tính đến yếu tố biện chứng của truyền thống tư tưởng Đức kế thừa

từ thời cổ Hy Lạp

Tiền đề lý luận thứ nhất là chủ nghĩa duy lý bao gồm những học thuyết siêu hình xuất phát từ luận điểm về sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại trên

cơ sở các quy luật lôgíc hình thức của tư duy I Kant tổng kết trào lưu duy lý

kể từ học thuyết ý niệm của Plato đến học thuyết đơn tử của G.V lépnít và rút

ra điểm chung về nhận thức luận của trào lưu này là biến tư duy thành bản thể của thế giới mà không đếm xỉa đến kinh nghiệm, cảm giác của con người, biến những quy luật lôgíc hình thức của tư duy thành quy luật chung của mọi tồn tại mà không quan tâm đến nội dung của nó Vì vậy những ý niệm về Thượng đế, Vũ trụ, và Sự bất tử của linh hồn chỉ là những khái niệm trống rỗng, không có nội dung, mà các nhà duy lý tưởng tượng ra rồi không chứng minh được sự tồn tại vững chắc của những ý niệm ấy Như vậy, chủ nghĩa duy lý chỉ sử dụng lý tính mà không quan tâm đến trực quan, trong khi lý tính của họ không được kiểm tra về khả năng và phạm vi hoạt động khả hữu Có nghĩa là họ buông thả cho lý tính suy tưởng về mọi vấn đề xa rời khỏi lĩnh vực kinh nghiệm, tạo ra những tri thức siêu hình, rồi đem những tri thức siêu hình ấy áp đặt trở lại cho thế giới tồn tại Phương thức sử dụng lý tính như thế

là mang tính giáo điều Siêu hình học được hình thành trên cơ sở nguyên tắc

lý tính như vậy không thể trở thành khoa học thực sự Cách đặt vấn đề ấy của I.Kant đã đưa siêu hình học trường ốc G.V Lépnít - C Wolff với tư cách là

Trang 27

27

hệ thống duy lý đỉnh cao điển hình trở thành đối tượng phê phán chủ yếu của

Phê phán lý tính thuần tuý

Chủ nghĩa duy lý cận đại không phải không có những thành công nhất định, đặc biệt là trong việc góp phần đánh đổ hệ tư tưởng giáo hội phong kiến Nếu triết học kinh viện thời Trung cổ đề cao các thực thể siêu nhiên với tư cách là tinh thần vũ trụ, thì chủ nghĩa duy lý cận đại giành lại vị trí đó cho lý tính của con người Tiêu biểu là R Đềcáctơ với tham vọng hiểu biết không giới hạn của tư duy khi ông xác lập mệnh đề "tôi có thể nghi ngờ mọi tồn tại nhưng không thể nghi ngờ tôi tư duy, do đó tôi tư duy tôi tồn tại" Như vậy có thể hiểu ở một góc độ nào đó, lần đầu tiên Thượng đế với tư cách là tồn tại tối cao bị nghi ngờ từ phương diện triết học bởi một tồn tại khác vốn vẫn bị coi là nhỏ bé - tồn tại tôi tư duy Công lao đó rõ ràng thuộc về chủ nghĩa duy lý thế

kỷ XVII-XVIII, dù dưới hình thức siêu hình cực đoan nhất Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XVIII, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu của nền sản xuất xã hội, lý tính siêu hình gặp phải khó khăn là không đáp ứng nổi đòi hỏi của thực tiễn Tình hình đó ở buổi ban đầu tất nhiên dẫn đến những khuynh hướng tư tưởng phản duy lý mà những hình thức sớm nhất của

nó đã xuất hiện cuối thời kỳ Khai sáng ở Pháp, tiêu biểu là J.J Rútxô Có thể coi I Kant nằm trong sự kế thừa tư tưởng phản duy lý nhưng theo một chiều hướng khác, chiều hướng phê phán lý tính Bằng sự xác lập cái tiên nghiệm của lý tính, I Kant đã cố gắng đưa lý tính vào quỹ đạo khoa học chứ không chỉ đơn thuần là chống lại lý tính; từ ý hướng này, ông là người duy lý duy khoa học Những thành tựu của chủ nghĩa duy lý được I Kant thâu tóm trong

hệ thống các phạm trù của giác tính, những quy luật lôgíc hình thức của tư duy và các phán đoán phân tích rất có giá trị trong thời kỳ cơ học phát triển

Từ đó ông tiến sâu thêm bằng cách siêu nghiệm hoá các phạm trù; xây dựng lôgíc học siêu nghiệm không những khảo sát các hình thức của tư duy mà còn

Trang 28

28

khảo sát cả những nội dung mà trực quan đem lại trong chừng mực nó xuất hiện một cách tiên nghiệm; xem xét tính tiên nghiệm và tổng hợp của các phán đoán; và cuối cùng, vạch ra những mâu thuẫn (antinomie) của lý tính suy luận Như vậy, quá trình phê phán lý tính của I Kant có sự kế thừa chủ nghĩa duy lý rất rõ nét, thậm chí cách trình bày hệ thống triết học của ông cũng không nằm ngoài dạng thức duy lý; chẳng hạn, ông mô tả các hình thức của phán đoán tương ứng với các phạm trù theo lôgíc tam đoạn luận: tiền đề - phản đề - hợp đề, để rút ra các antinomie chỉ có chính đề - phản đề nên không thể giải quyết triệt để được Mặc dù học thuyết phạm trù duy tâm tiên nghiệm của I Kant có khác với học thuyết phạm trù theo phái duy thực và duy niệm, song vẫn nằm trong sự đối lập duy lý giữa việc coi phạm trù có giá trị tự thân hay phạm trù là sản phẩm của đầu óc con người Cho nên không ngạc nhiên nếu trào lưu phi lý khởi từ A Schopenhauer về sau vẫn tiếp tục chỉ trích I Kant như là một thứ triết học duy lý đối lập với họ

Tiền đề lý luận thứ hai là chủ nghĩa kinh nghiệm bắt đầu từ việc đề xuất các phương pháp thực nghiệm của Francis Bacon (1561-1626) đến thuyết kinh nghiệm của J Locke, từ thuyết duy tâm chủ quan cực đoan của George Berkeley (1684-1753) đến thuyết hoài nghi của D Hume Không phải vô cớ

mà I Kant đề tặng ấn bản A cuốn Phê phán lý tính thuần tuý cho J Locke, còn mở đầu ấn bản B xuất hiện lời đề từ mượn trong Lời tựa tác phẩm Cuộc đại canh tân sự làm chủ của con người đối với tự nhiên [Magna instauratio imperii humani in naturam] của F Bacon Ngay cả cuộc cách mạng Copecnic trong lề lối tư duy cũng là cụm từ I Kant mượn của F Bacon để nói về sự thay đổi trong cách đặt vấn đề siêu hình học của mình; đối với I Kant, không phải “lý tính phải phù hợp với thực tại mà thực tại phải hướng theo lý tính"

Trong Sơ luận về bất kỳ môn siêu hình học nào trong tương lai muốn trở thành khoa học (1783), I Kant thừa nhận là chủ nghĩa kinh nghiệm của D

Trang 29

lý học tự nhiên đầu thế kỷ XVIII xác nhận điều đó Tất cả những gì ngoài phạm vi của kinh nghiệm đều không đáng tin cậy Như vậy, các nhà kinh nghiệm có ý hướng chống lại các nhà duy lý một cách trực tiếp từ phương diện nhận thức luận I Kant nhận thấy lý lẽ của chủ nghĩa kinh nghiệm phù hợp với kết quả của các khoa học tự nhiên thực nghiệm đương thời nên không thể chỉ đơn thuần chối bỏ là xong Mặt khác, tính trực quan của thuyết kinh nghiệm đã phanh phui tính giáo điều của thuyết duy lý là không quan tâm đến nội dung của nhận thức mà chỉ chú trọng đến các hình thức thuần tuý của tư duy I Kant rút ra rằng, nhận thức của con người chỉ có thể có được nội dung khi nối kết với kinh nghiệm do trực quan đem lại; nhưng nếu chỉ dùng kinh nghiệm thì không thể đạt tới nhận thức khoa học Nếu sai lầm của chủ nghĩa duy lý là tuyệt đối hoá nhận thức lý tính thì sai lầm của chủ nghĩa kinh nghiệm là tuyệt đối hoá nhận thức cảm tính, hai sự cực đoan gây nên những tranh cãi bất tận trong lĩnh vực siêu hình học Giải quyết vướng mắc này, theo

I Kant, cần phải tìm ra cấu trúc tiên nghiệm của nhận thức trực quan và lý tính để làm cơ sở nối kết kinh nghiệm Như thế là I Kant đã cố gắng dung hoà, tìm ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm trong vấn đề nhận thức Ý hướng suy tư đó đồng thời đã đánh thức tư duy biện chứng về các mối liên hệ của ý thức trong triết học duy tâm Đức, đặt vấn đề tương tác giữa nội dung và hình thức của lý tính trở thành trọng tâm của nhận thức luận

Trang 30

30

Nói tóm lại, trong bối cảnh nước Đức bị hối thúc bởi xu thế phát triển

tư bản chủ nghĩa của Tây Âu nhưng tiền đề kinh tế - xã hội chưa cho phép giai cấp tư sản làm cuộc cách mạng xã hội của mình; thì các nhà triết học tư sản Đức đã đi trước về phương diện tư tưởng, xuất phát từ các tiền đề lý luận của triết học duy lý và kinh nghiệm thế kỷ XVII-XVIII, làm nên cuộc cách

mạng siêu hình học mà I Kant và Phê phán lý tính thuần tuý là điểm khởi

đầu Dù người ta có đánh giá I Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất I Kant đã nâng triết học Đức tiến lên một giai đoạn mới Danh tiếng của ông đẩy lùi tất cả những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên những gì đi sau"

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của I Kant

Immanuel Kant là một trong những “nhà triết học vĩ đại nhất của lịch

sử tư tưởng phương Tây trước C Mác Triết học I Kant là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học I Kant” [27, 378] I Kant “được những người say mê triết học đánh giá là khuôn mặt kiệt xuất nhất nổi lên trong địa hạt này kể từ sau những triết gia Hy Lạp cổ đại” [23,164], là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức J Hirschberger nhận xét: “I Kant được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất thời cận đại, là triết gia của nền văn hóa tân thời và của nhiều lãnh vực khác nữa Dù người ta có đánh giá I Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất I Kant đã nâng triết học Đức tiến lên một giai đoạn mới Danh tiếng của ông đẩy lùi tất cả những gì đi trước ông vào bóng tối và tỏa sáng lên những gì đi sau” [21, XXVIII]

I Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Konigsberg, trong một gia đình thợ thủ công, gốc Scotland tại Konigsberg – một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc nước Phổ, nay là Kaleningrad Thời thơ ấu, I Kant chịu ảnh

Trang 31

Ông nghiên cứu kỹ các hệ thống triết học của tiền nhân Ông đặc biệt quan tâm tới các nhà triết học Anh như Locke và Hume, tìm hiểu hệ thống triết học Lépnit và các tác phẩm của Wolff Những tư tưởng của các triết gia này có ảnh hưởng sâu sắc trong hệ thống triết học của ông sau này

Năm 1746, I Kant tốt nghiệp loại xuất sắc với luận văn: “Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn của lực sống” Trong đó ông đã trình bày nguyên tắc sống của mình: “Đối với chúng ta điều đáng quý nhất không phải

là đi theo những lối mòn đã có, mà phải biết đi theo con đường mà loài người cần đi” [31, 24] Suốt đời I Kant đã sống theo nguyên tắc đó và ông đã khá thành công trong sự nghiệp Sau khi tốt nghiệp đại học, I Kant phải làm gia

sư cho các gia đình quý tộc ở ngoại ô 10 năm Đây là khoảng thời gian quý giá để ông tích lũy kiến thức cho sự nghiệp khoa học sau này Việc làm này

đã tạo điều kiện vật chất cho I Kant tiến hành nghiên cứu triết học

Năm 1755, I Kant bảo vệ thành công luận án về “các nguyên tắc của

nhận thức siêu hình học” và đã nhận được danh hiệu phó giáo sư Nhưng phải

đến năm 1770, khi đã 46 tuổi I Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư logic học và siêu hình học của trường Đại học Tổng hợp Konisgberg Ở đây, suốt

Trang 32

32

nhiều năm I Kant đã giảng dạy với bầu nhiệt huyết và sự cần mẫn về nhiều môn khoa học – triết học, toán học, cơ học, vật lý học, địa chất học, nhân chủng học, lịch sử tự nhiên đại cương…Cũng ở thời kỳ này, ông đã hoàn thành các tác phẩm triết học cơ bản trong sự nghiệp sáng tạo của mình I Kant đã để lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc Đầu tiên triết học của ông gắn với khoa học tự nhiên, và sau đó càng ngày càng quan tâm tới những vấn đề con người Tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự chuyển

biến đó là “Phê phán lý tính thuần túy”

Năm 1797, I Kant về nghỉ hưu để có thời gian dành cho việc hoàn thành các dự án khoa học của mình Trong sự nghiệp khoa học, I Kant là người gặt hái nhiều thành công: năm 1786, ông được bầu làm Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Phổ tại Béclin; năm 1794, ông trở thành Viện

sỹ danh dự Viện hàn lâm khoa học Saint Peterburg; năm 1798 cả hai Viện Hàn lâm khoa học Italia và Paris đều bầu ông làm viện sỹ của mình

Ngày 12 tháng 2 năm 1804 I Kant trút hơi thở cuối cùng với nụ cười trên môi và câu nói “Thế là tốt rồi”, ông mất ở tuổi 80 khi đang viết dở một tác phẩm khác Nghe tin ông mất, mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đã vội vã đến căn nhà riêng của ông để được nhìn thấy con người vĩ đại đó lần cuối Cả thành phố, trường Đại học Tổng hợp và nhân dân đã tổ chức lễ tang cho ông như một ông hoàng mà cả thành phố Konisgberg yên tĩnh cho tới lúc bấy giờ chưa từng chứng kiến Có thể nói, vào lúc I Kant mất, ông là nhà triết học nổi tiếng nhất tại Đức, và được cả Châu Âu đọc sách của ông, dù những cuốn sách của ông để hiểu được không phải là dễ

Bùi Văn Nam Sơn trong “Chú giải dẫn nhập” cho “Lời tựa cho lần

xuất bản thứ nhất” (1781) đã nhận xét: “Suốt cho đến cuối đời, I Kant là một

huyền thoại sống, chiếm lĩnh mọi giảng đường đại học Châu Âu và ảnh hưởng của ông kéo dài sâu đẫm mãi đến ngày nay…đọc I Kant là một sự vất

Trang 33

I Kant làm cho mọi người phải kinh ngạc Cả cuộc đời ông chỉ có hai lần làm lệch thời khóa biểu đó là khi đọc Rútxô và khi nghe tin cách mạng tư sản Pháp bùng nổ Ông không lấy vợ , và cuộc sống bề ngoài của ông rất đơn điệu, không có biến cố gì đáng nói, người dân Konisgberg có thể chỉnh đồng

hồ khi thấy ông xuất hiện bên ngoài cửa sổ nhà họ trong những cuộc đi dạo mỗi ngày Nhưng như chúng ta thấy ông không phải là một gã đần độn như hình ảnh này gợi lên Ông rạng rỡ và sang trọng khi đứng trước mọi người và trò chuyện dí dỏm; ông thích bầu bạn và không bao giờ ăn cơm một mình

Những bài giảng thông tuệ của ông đã trở thành huyền thoại Mặc dù không ra khỏi thành phố quê hương nhưng ông vẫn nổi tiếng khắp thế giới lúc sinh thời” [23, 164] Arsenij Gulyga – người viết tiểu sử hay nhất về I Kant trong thời gian qua đã nhấn mạnh sự tương phản lạ lùng giữa cuộc đời và sự nghiệp của I Kant: “Cuộc sống của ông đơn điệu bao nhiêu thì tư tưởng của ông lại đa dạng và đa diện bấy nhiêu; cuộc sống giản dị, khiêm tốn nhưng tham vọng học thuật lại rất to tát: muốn lý giải bí nhiệm của con người bằng một quy luật phổ quát chi phối mọi tư duy và hành động của bản thân con người; cuộc sống bình lặng, thiếu vắng mọi biến cố riêng tư hay tình ái lại gây những chấn động chưa từng có trong tinh thần của Tây phương kể từ thời khai nguyên triết học Hi Lạp” [21, 18]

Trang 34

34

Triết học I Kant được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán: Thời kỳ tiền phê phán (1745 - 1769) I Kant chủ yếu nghiên cứu các vấn đề toán học, cơ học, thiên văn học Trong các tác phẩm điển hình như: “Sự ma sát của thủy triều” (1954); “Lịch sử tự nhiên đại cương và lý thuyết về bầu trời” (1755); “Thuyết đơn tử vật lý” (1756); “Luận cứ khả năng duy nhất chứng minh sự tồn tại của chúa Trời” (1763); “Quan sát bằng cảm tính cái đẹp và cái cao cả” (1964); “Những cơn mê của thầy bùa, lý giải bằng các cơn mê của siêu hình học” (1766); “Về cơ sở ban đầu của sự phân chiều trong không gian” (1768)… I Kant đã thể hiện quan điểm duy vật về thế giới với luận điểm nổi tiếng: “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho bạn thấy thế giới vật chất có được như thế nào?” [8, 26]

Bên cạnh những quan niệm duy vật thời kỳ này tư tưởng của ông còn xuất hiện sự bế tắc trong việc tìm kiếm và giải quyết các vấn đề triết học Một mặt, ông nhận thấy hạn chế của các phương pháp cơ học đơn thuần trong việc nghiên cứu các quá trình sinh học Mặt khác, do sự phát triển thấp của sinh học thời đó, ông đã đi đến tư tưởng bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức của con người về bản chất của sự sống Quan niệm này càng được củng cố khi

I Kant quá nhấn mạnh sự khác nhau giữa tư tưởng và hiện thực tới mức nhiều khi hoài nghi khả năng nhận thức thế giới của con người Những mâu thuẫn trên trong thế giới quan của I Kant thể hiện ở sự trăn trở của một nhà tư tưởng đầy nhiệt huyết muốn xây dựng một cách nhìn mới về thế giới đáp ứng đòi hỏi của thời đại bấy giờ, nhưng lại vấp phải những hạn chế của mình thời đại đó, đặc biệt là xã hội Phổ lạc hậu thế kỷ XVIII Lối thoát cho sự bế tắc này được ông giải quyết trong “thời kỳ phê phán”

Thời kỳ phê phán (1770 - 1804), nếu trước đây I Kant thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, thì giờ đây ông lại cho rằng con người

Trang 35

35

không nhận thức được thế giới – bất khả tri, trước đây ông đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín ngưỡng I Kant phủ nhận khả năng nhận thức bản chất của sự sống, ông cho rằng thực thể và tinh thần, hiện thực và tư tưởng là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, không có liên quan gì với nhau Từ đó, I Kant hoài nghi khả năng nhận thức thế giới nói chung của con người Với phương châm “thời đại chúng ta là thời đại phê phán đích thực mà mọi thứ đều phải phục tùng” [8, 26], I Kant đề ra nhiệm vụ cho triết học của mình là phê phán

hệ thống siêu hình học cũ, đặt ngược lại một số vấn đề mà môn khoa học này tưởng như đã giải quyết xong, I Kant tập trung toàn bộ sức lực và thời gian

để thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một

hệ thống triết học mới Các tác phẩm tiêu biểu trong thời kỳ này là: “Luận văn

về hình thức và các nguyên tắc của thế giới cảm tính và thế giới lý tính” (1770); “Về các chủng tộc người khác nhau” (1775); “Phê phán lý tính thuần túy” (1781); “Phê phán lý tính thực hành” (1788); “Phê phán năng lực phán đoán” (1790); “Tôn giáo chỉ trong giới hạn của các lý tính thuần túy” (1793);

“Hướng tới một nền hòa bình vĩnh cửu Một phác thảo triết học” (1795);

“Siêu hình học đạo đức gồm hai phần” (1797); “Cuộc tranh cãi giữa các khoa” (1798); “Tập bài giảng về Lôgic” (1800); “Bàn về giáo dục” (1803)…

Trong các tác phẩm kể trên thì bộ ba tác phẩm phê phán đóng vai trò quan trọng, quyết định nội dung và bản chất triết học của I Kant Và trong hệ thống triết học phê phán của I Kant thì quan điểm “Vật tự thân” giữ vai trò then chốt để từ đó I Kant đã triển khai ra toàn bộ hệ thống triết học của mình,

nó được các nhà triết học sau này bàn và đề cập đến rất nhiều, dù đứng trên lập trường nào

1.3 Về tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy

“Hòn đá tảng triết học của I Kant, đôi khi được gọi là triết học phê

phán, là tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy (1781) Trong đó ông thẩm xét

Trang 36

36

những nền tảng của tri thức con người và tạo ra một tri thức luận khác

thường” [29, 335] Phê phán lý tính thuần túy của I Kant được mọi người

thừa nhận là tác phẩm nền tảng của triết học cổ điển Đức Nó là chỗ kết tinh những nhận định có tính phê phán đối với nhiều trào lưu triết học trước đó (từ Plato cho tới Christian Wolff), đồng thời là điểm xuất phát và điểm quy chiếu của triết học cổ điển (duy tâm) Đức (Fíchte, Schelling, Hêghen) và có ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển của triết học và khoa học Tây phương cho đến ngày nay

Song, Phê phán lý tính thuần túy không chỉ là một tác phẩm “bắt buộc

phải đọc” của những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu triết học mà còn là một danh tác bất hủ của văn hóa Tây phương và của thế giới đúng như A Schopenhauer đã đánh giá là “một quyển sách quan trọng nhất trong muôn một được trước tác tại châu Âu” [21, XVII] “Nếu sản phẩm của thời đại khai sáng là cuốn Bách khoa gồm 150 tác giả với một nội dung tri thức trăm hoa

đua nở, thì phải nhấn mạnh thêm rằng, song song với nó Phê phán lý tính

thuần túy là một cuốn “bách khoa” của khoa học triết lý tuy với mục đích

khiêm tốn là tri thức khoa học, do chỉ một người trước tác, nhưng không kém phong phú đa dạng và đồng thời lại là một hệ thống tư tưởng thật sự được xuyên suốt và thấm đượm tinh thần yêu chân lý như định nghĩa triết học từ truyền thống Hy Lạp” [21, XXX]

Trong ba quyển “Phê phán” nổi tiếng của I Kant (Phê phán lý tính

thuần túy; Phê phán lý tính thực hành và Phê phán năng lực phán đoán), tác

phẩm này có vị trí đặc, nó ra đời trước (1781), có nội dung rất phong phú, ngoài ra cũng dày và phức tạp nhất! Xét về bản thân hệ thống, ta đều biết - và chính I Kant xác nhận - hai quyển sau mới bộc lộ phần tinh túy của triết học

I Kant, tuy nhiên, Phê phán lý tính thuần túy vẫn thường được xem là tác

phẩm chính yếu gắn liền với tên tuổi I Kant và là tiền đề để thực sự hiểu

Trang 37

37

được hai tác phẩm sau Phê phán lý tính thuần túy (Tôi có thể biết gì?) là hòn

đá tảng tạo nên cơ sở lý luận cho triết học I Kant Phê phán lý tính thuần túy

đã phác thảo “toàn bộ kế hoạch một cách có kiến trúc”, từ đó “mọi bộ phận làm nên tòa nhà ấy” hay hệ thống triết học trước đó phải được khảo sát trên những nguyên tắc khách quan, “với sự đảm bảo hoàn toàn về tính hoàn chỉnh

và tính vững chắc” [7, 107]

S Peirce, người sáng lập lý thuyết thực dụng của Mỹ đã ca ngợi Phê

phán lý tính thuần túy là “sữa mẹ của tôi trong triết học” Về hình thức chúng

ta thấy trọng điểm của Phê phán lý tính thuần túy nằm ở trong triết học lý

thuyết, nhưng mục đích của lý tính lại hướng đến con người Trong ba câu hỏi: “Tôi có thể biết gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi được phép hy vọng gì?”

Phê phán lý tính thuần túy đã trả lời câu hỏi thứ nhất – đơn thuần tư biện

Nhưng cả ba câu hỏi đều hướng đến giải đáp cho câu hỏi cuối cùng: “Con

người là gì” Phê phán lý tính thuần túy đã mở rộng đối tượng nghiên cứu đến

triết lý con người rộng lớn I Kant chỉ cần mấy tháng để hoàn thành tác phẩm

đồ sộ này, nhưng điều đó không có nghĩa đây chỉ là sản phẩm ngẫu hứng của ông, trái lại nó là kết tinh những kết quả nghiên cứu trong cả một quá trình lâu dài và đầy trăn trở của triết gia I Kant

Từ năm 1770, I Kant không công bố các tác phẩm nào ngoài 20 trang tóm tắt đề cương giáo trình Nhưng đây chính là 10 năm thai nghén hệ thống triết học sau này Ngày 31 tháng 12 năm 1764 I Kant viết thư cho Johann Heinrich Lambert cho biết ông đang soạn một tác phẩm về “phương pháp đặc thù của Siêu hình học và qua đó cũng là phương pháp cho toàn bộ triết học” tác phẩm đã được ôm ấp suy nghĩ suốt 12 năm” (thư gửi Mose Mendelssohn ngày 18/8/1783), kể từ khi bức thư nổi tiếng gửi Marcus Herz ngày 7 tháng 6 năm 1771 ông thông báo sẽ viết công trình của mình dưới nhan đề “Những

Trang 38

38

ranh giới của cảm năng và của lý tính” – đến lúc đó I Kant vẫn chưa dứt

khoát đặt tên Phê phán lý tính thuần túy cho công trình “ấp ủ của mình”

Bước ngoặt thể hiện trong bức thư I Kant gửi cho Marcus Herz ngày

21/2/1772 báo tin đã có đủ điều kiện để “biên soạn một quyển Phê phán lý

tính thuần túy, xem xét bản tính của nhận thức lý thuyết lẫn thực hành, trong

đó phần đầu tôi sẽ xét những nguồn suối của siêu hình học, phương pháp và những ranh giới của tôi sẽ hoàn tất trong vòng độ ba tháng” [Dẫn theo Trần

Thái Đỉnh, 20] Tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy với 884 trang (bản A),

lần đầu tiên được xuất bản vào dịp Lễ phục sinh tháng 5 năm 1781 khi I Kant

đã 57 tuổi Đó không chỉ là tác phẩm có nội dung phong phú mà còn khó hiểu

nhất và chính I Kant cũng ý thức được điều đó Ông bày tỏ trong “Lời tựa”

lần một như sau: “Ở đây tôi chờ đợi nơi những độc giả của tôi sự kiên nhẫn và lòng vô tư của một quan tòa” [7, 16] Nhưng kết quả không như I Kant mong đợi, không ai chú ý vì xem nó khó hiểu và chán ngắt Để có thể dễ hiểu hơn, hai năm sau I Kant đã cho ra mắt: “Sơ luận về bất kỳ môn siêu hình học nào trong tương lai muốn có thể xuất hiện như một khoa học” chỉ khoảng 150 trang nhưng lại một lần nữa làm ông thất vọng, vì quá ngắn nên không dễ hiểu chút nào mà cùng khó hiểu hơn Và 4 năm sau, khi ấn bản thứ hai ra mắt vào tháng 6/1787, bản B, với lời tựa mới, bổ sung thêm cho lời dẫn nhập và sửa chữa một số chương, đoạn quan trọng thì bước ngoặt mới thực sự xảy ra Tác phẩm này đã gây chấn động sâu sắc giới triết học, và I Kant trở thành một

“ngôi sao lừng danh” Nhiều nhân vật nổi tiếng đến nghe ông giảng bài “Mọi người đều cùng một nhận xét: kẻ nào nghiên cứu Phê phán lý tính thuần túy,

kẻ đó đã đến tận gốc rễ của triết học” [21, XXXI] Đối với Theodor W Adorno – nhà khoa học xã hội và lý thuyết âm nhạc, triết gia Đức thuộc trường phái “Lý thuyết phê phán” của nhóm Frankfurt cho rằng vai trò của sự

Trang 39

39

phê phán lý tính của I Kant quan trọng không kém phép biện chứng của Hegel

Tên tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy ở đây không có nghĩa là sự

lên án hay đả kích như cách hiểu thông thường mà là sự làm sáng tỏ, kiểm thảo, xác định ranh giới của lý tính theo đúng nghĩa “toà án” của lý tính, trong

đó lý tính vừa là quan tòa, vừa là bị cáo Và với việc lấy phê phán này làm nền tảng thì người ta mới “có một viên đá thử chắc chắn” để đánh giá nội dung triết học của tác phẩm xưa cũng như nay trong ngành chuyên môn này Trong lúc khuynh hướng triết học đương đại đang đi sâu vào những đối tượng

chi tiết của khoa học chuyên môn, Phê phán lý tính thuần túy trở nên một lựa

chọn khác cho một khuynh hướng triết học có tính phổ quát với hình thức và nội dung đa dạng phong phú bao gồm tất cả những vấn đề triết học vừa lý thuyết, vừa thực hành “Có thể nói đến nay chưa có một tác phẩm xây dựng nền tảng nào của triết học tân tiến có thể sánh kịp với một trước tác triết học

toàn bộ đa dạng như Phê phán lý tính thuần túy” [21, XXXVI].Phê phán lý

tính thuần túy “bao gồm tất cả những chặng đường lịch sử mà triết học đã trải qua, từ khi sự xuất hiện của nó đã có mãnh lực “nghiền nát” nền siêu hình học

cổ điển Tây phương, đã thay đổi tư duy của thời cận đại cho đến hôm nay…” [21, XXVIII]

Phê phán lý tính thuần túy có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử

triết học là điều không thể phủ nhận Thái Kim Lan trong lời “Dẫn luận” cho

bản dịch tiếng Việt cuốn Phê phán lý tính thuần túy của Bùi Văn Nam Sơn có

nhận xét: “Có thể nói rằng chưa có một tác phẩm nào đã thay đổi tư tưởng của

thời cận đại một cách vang dội như tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy

Trong tất cả các tác phẩm của Bacon, Descartes, Hobbes, sau đó của Pascal, Lépnít, Locke, Hume, Rousseeau, các tác phẩm của Fichte, Hegel, Nietzsche, tiếp thep của Frege, Russell, Heidegger và Wittgenstein, Tây phương không

Trang 40

xã hội nhưng I Kant vẫn xuất hiện như một ngôi sao sáng trong tiến trình phát triển của tư tưởng triết học Phương tây, điều ấy cho thấy rằng triết học

sẽ không hoàn toàn phụ thuộc hay bị quyết định bởi những yếu tố bên ngoài

mà đôi khi yếu tố quyết định lại thuộc về bản thân triết gia nếu triết gia ấy biết

kế thừa những thành tựu của tư tưởng nhân loại mà I Kant là một minh chứng điển hình I Kant sống vào thời kỳ Khai sáng, thời kỳ mà cả Châu Âu tôn sùng và gần như là tuyệt đối vai trò của lý tính mà I Kant lại có một cái nhìn rất tinh tế và thận trọng về vai trò và những giới hạn mà lý tính có thẩm quyền, điều ấy càng làm cho tên tuổi và sự nghiệp triết học của ông thêm rực

rỡ và là một bài học rất ý nghĩa đối với chúng ta – những người hoạt động và nghiên cứu lý luận Trong điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, những triết thuyết giá trị vẫn có thể ra đời, nhưng với chúng ta, nếu chúng ta để lĩnh vực

tư tưởng, học thuật tụt hậu ngày càng xa so với thế giới thì trách nhiệm thuộc

về những người học tập, nghiên cứu triết học, lý luận là nghiễm nhiên và sẽ không có gì có thể là lý do để biện hộ cho điều này

Ngày đăng: 28/12/2017, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. John Barrow (2015), Điều bất khả - giới hạn của khoa học và khoa học về giới hạn (Dịch giả: Diệp Minh Tâm) Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều bất khả - giới hạn của khoa học và khoa học về giới hạn
Tác giả: John Barrow
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2015
2. C.Mác – Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác – Ph.Ăngghen
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
3. C.Mác – Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác – Ph.Ăngghen
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
4. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (1997), I.Cantơ người sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I.Cantơ người sáng lập nền triết học cổ điển Đức
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
5. Phạm Văn Chung (2015), Giáo trình lịch sử triết học – Sự hình thành và phát triển triết học Mác – giai đoạn C. Mác, Ph. Ăngghen và V. I.Lênin, Nxb chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học – Sự hình thành và phát triển triết học Mác – giai đoạn C. Mác, Ph. Ăngghen và V. I. "Lênin
Tác giả: Phạm Văn Chung
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2015
7. Trần Thái Đỉnh (1974), Triết học Kant, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Kant
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1974
9. Friedrich A. Hayek (2017) Cuộc cách mạng ngược trong khoa học – Các nghiên cứu về sự lạm dụng lý tính (Dịch giả : Đinh Tuấn Minh và các cộng sự) Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng ngược trong khoa học – Các nghiên cứu về sự lạm dụng lý tính
Nhà XB: Nxb Tri Thức
10. Stephen Hawking (2011), Lược sử thời gian,(Dịch: Thích Viên Lý),Nxb Trẻ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử thời gian
Tác giả: Stephen Hawking
Nhà XB: Nxb Trẻ. Hà Nội
Năm: 2011
11. Stephen Hawking và Leonard Mlodinow (2012), Bản thiết kế vĩ đại (Dịch giả: Phạm Văn Thiều và Tô Bá Hạ), Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bản thiết kế vĩ đại
Tác giả: Stephen Hawking và Leonard Mlodinow
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
12. Werner Heisenberg (2009), Vật lý và triết hoc – cuộc cách mạng trong khoa học hiện đại (Dịch giả: Phạm Văn Thiều và Trần Quốc Túy), Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý và triết hoc – cuộc cách mạng trong khoa học hiện đại
Tác giả: Werner Heisenberg
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2009
13. Đỗ Minh Hợp (1996), Triết học Immanuel Cantơ (1724 – 1804), Tạp chí triết học (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Immanuel Cantơ
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 1996
14. Đỗ Minh Hợp (2004), Bản thể luận Huxec với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ, Tạp chí triết học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thể luận Huxec với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2004
15. Đỗ Minh Hợp (1994), Vai trò của triết học Cantơ đối với sự phát triển của triết học, Tạp chí triết học (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của triết học Cantơ đối với sự phát triển của triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 1994
16. Đỗ Minh Hợp (1996), Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại, Tạp chí triết học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 1996
17. Nguyễn Văn Huyên (1996), Triết học Immanuel Kant, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Immanuel Kant
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
18. Nguyễn Văn Huyên (1992), Về lý thuyết sáng tạo nghệ thuật của I.Kant, Tạp chí triết học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lý thuyết sáng tạo nghệ thuật của I.Kant
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1992
19. Nguyễn Văn Huyên (1993), Về bản chất nhân đạo của triết học I.Kant, Tạp chí triết học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất nhân đạo của triết học I.Kant
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1993
20. Nguyễn Văn Huyên (1994), Vấn đề con người và tương lai của loài người trong triết học I.Cantơ, Tạp chí triết học (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vấn đề con người và tương lai của loài người trong triết học I.Cantơ
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1994
21. Immanuel Kant (2004), Phê phán lý tính thuần túy (Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán lý tính thuần túy
Tác giả: Immanuel Kant
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
23. Bryan Magee (2003), Câu chuyện triết học, (Dịch giả: Huỳnh Phan Anh – Mai Sơn, Hiệu đính: Phạm Viêm Phƣợng) Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện triết học
Tác giả: Bryan Magee
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w