1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn

21 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 359,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn SKKN Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn

Trang 1

ĐỂ HỌC SINH HỨNG THÚ HƠN TRONG GIỜ HỌC VÀ KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN

A – Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông đều có tầm quan trọng riêng của nó Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng: môn văn không chỉ là một

môn học đáp ứng về kiến thức phổ thông mà nó còn là môn học có thể vận dụng

triệt để vào đời sống thực tế lẫn tâm tư tình cảm của con người Về mặt lý thuyết

là như thế nhưng thật chất hiện nay tầm quan trọng ấy của môn ngữ văn ngày càng

bị lãng quên bởi cả những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan

Thứ nhất là phương pháp dạy văn Đi kèm với sự phát triển của công nghệ thông tin là việc ứng dụng nó một cách rập khuôn sáo rỗng của giáo viên Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp theo hướng tích cực để học sinh tự khám phá và làm chủ kiến thức Giáo viên không thể là một đạo diễn tài ba khi tự mình đảm nhận thêm vai trò là diễn viên trên bụt giảng, và lúc đó học sinh sẽ là những khán giả ngoan ngoãn xem hết chương trình nhưng không có quyền nhận xét kịch bản cũng như diễn xuất của diễn viên Những việc như thế cứ lặp đi lặp từ năm này sang năm khác dẫn đến một hệ lụy là học sinh ngày càng ngán ngẫm dẫn đến chán ghét môn văn Nếu những diễn viên – giáo viên phát hiện ra thái độ tiêu cực của những khán giả - học sinh như thế sẽ không còn hứng thú với việc soạn và chuẩn bị những giáo án và tiết dạy cho thật hấp dẫn Từ đó, tầm quan trọng cốt lỗi của môn ngữ văn dần bị lãng quên bởi những con người từng yêu tha thiết môn học này Với việc chọn đề tài nghiên cứu “Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học

và kiểm tra môn ngữ văn”, tôi hy vọng rằng sẽ có những khám phá mới mẽ có thể

áp dụng vào thực tiễn để người học lẫn người dạy thêm yêu thích môn văn

Trang 2

3 Lịch sử vấn đề

Có thể nói qua từng chặng đường phát triển của lịch sử nước nhà, kèm theo những đổi mới về kinh tế,chính trị thì việc đổi mới giáo dục, phương pháp giảng dạy luôn được đặt ra hàng đầu Nhưng việc tiến hành đổi mới còn nhiều bất cập, thiếu sót, chưa thật sự đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển đất nước Có nhiều công trình nghiên cứu vạch ra nguyên nhân của việc sa sút trong giảng dạy như

trong quyển “Văn chương nhìn từ góc sân trường” của tác giả Nguyễn Minh Hùng

đã khẳng định “thầy giáo dạy văn chưa thu hút học sinh vào bài học là một trong những nguyên nhân chủ yếu biến tiết học văn thành nhàm chán” Và cũng có

nhiều công trình nghiên cứu đề ra phương án giải quyết nhưng cuối cùng các vấn

đề đó vẫn còn nằm ở tình trạng lý thuyết khó có thể áp dụng sâu sắc và “phải đến cuối thập 60 lại đây những công trình chuyên ngành mới được nâng lên một bước

về chất lượng, nhiều chuyên luận lần lượt ra đời: Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy văn học (1969) của Phan Trọng Luận; Vấn đề giảng dạy văn học theo thể loại (1970) của Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩn; Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường (1977) của Phan Trọng Luận; Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) của Phan Trọng Luận;

Tu từ học với vấn đề giảng dạy Ngữ văn (1979) của Đinh Trọng Lạc; Dạy văn dạy cái hay cái đẹp (1983) của Nguyễn Duy Bình; Cảm thụ văn học, giảng dạy văn của Phan Trọng Luận…; Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại (1979) của Đái Xuân Ninh” Bắt tay vào viết quyển “Xã hội văn học nhà trường” tác giả Phan Trọng Luận đã nhận định rằng “thầy giáo ngày nay không phải như trước, chỉ biết gõ đầu trẻ, miễn là có bài cho học trò, cuối tháng bỏ lương vào túi Bây giờ thầy giáo có trách nhiệm với nội dung, đào tạo cán bộ ra phục vụ nhân dân”

và chúng ta thấy rõ ràng một việc “tình trạng học sinh học văn một cách ít hứng thú đã trở thành khá phổ biến Tiếng phàn nàn về việc giảng văn trong nhà trường

từ các giới xã hội đến nay hầu như đã trở thành một dư luận, một nhận định tương đối phổ biến và nhất trí” Ngay trong quyển “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” của tác giả Phan Trọng luận đã khẳng định “Phương pháp dạy của thầy, có

Trang 3

buộc học sinh suy nghĩ, có tạo điều kiện phát triển trí tuệ học sinh hay không là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt phương pháp tích cực hay thụ động, tiến bộ hay lạc hậu” Ngay từ đầu chúng ta thấy cần phải đặt ra tiêu chí “giáo viên không cảm thụ

hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình học sinh tiếp nhận, chiếm lĩnh kiến thức” và trong quyển “Phương pháp dạy học văn” tác giả đã cho ý kiến “chất lượng học văn trong nhà trường phổ thông đang giảm sút nghiêm trọng Nhiều vấn đề có ý nghĩa thời sự đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu phương pháp cũng như đông đảo anh chị em giáo viên Ngữ văn cùng giải đáp” Vậy chúng ta - người

thầy văn sẽ giải đáp như thế nào cho hợp lý ?

4 Mục đích thực hiện

Khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài “Để học sinh hứng thú hơn trong giờ học và kiểm tra môn ngữ văn”, mục đích của người viết là đưa ra một số giải pháp đơn giản tích cực, có thể áp dụng với bất kỳ đối tượng học sinh trong mọi hoàn cảnh để làm tăng khả năng yêu thích môn văn cho học sinh và người dạy

5 Tính mới mẽ

Đề tài đã được ứng dụng qua năm học 2013 – 2014 với các lớp mà người viết trực tiếp giảng dạy (11A10, 11A12 và 11A15) và năm học 2014 – 2015 (10A11, 11A7 và 11A9) Tuy nhiên, đề tài vẫn có thể áp dụng vào những năm học sau với các lớp và hoàn cảnh khác nhau Như thế, qua các đối tượng học sinh khác nhau thì người vận dụng đề tài có thể tạo thêm nhiều biện pháp hay để thu hút học sinh thêm yêu môn văn

Trang 4

B – Phần nội dung

1 Cơ sở lý luận của đề tài

Nghiên cứu về hứng thú, các nhà tâm lí học cho rằng, đây là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động Nó được biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn bởi nội dung hoạt động Mặt khác, hứng thú bao giờ cũng dẫn đến một đối tượng cụ thể hấp dẫn, nó gắn liền với tình cảm con người Trong bất cứ một công việc gì nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động có sáng tạo Ngược lại nếu hứng thú không được thỏa mãn sẽ dẫn đến cảm xúc tiêu cực

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và của từng giáo viên nói riêng Văn học dễ làm say mê người học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học Người học văn cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, bố cục, vần điệu và môn văn còn hấp dẫn người học bởi nội dung đề kiểm tra mang tính gợi mở, nâng cao với nhiều câu hỏi đa dạng phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh khi đó giờ văn sẽ đạt được sự hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc đến với người học Cái khó của người dạy là làm thế nào truyền được sự hứng thú đó đến với người học Trong nhà trường phổ thông với từng đối tượng học sinh do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thích tìm hiểu và sáng tạo nhưng chưa có phương pháp đúng để cảm thụ văn học, chưa hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, chưa có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tác giả Chính những thiếu sót trên, học sinh thường không thích học và đọc văn Nhiệm vụ của giáo viên dạy văn là phải tạo sự hứng thú, phải khiến cho những từ ngữ khô khan biết nhảy múa, biết vẽ ra những khung cảnh lúc yên bình, lúc dữ dội; phải đi vào tâm hồn các em những tình cảm yêu, ghét, nhớ nhung, mơ mộng; phải mở ra những cánh cửa từ lâu được khúa chặt bằng sinh hoạt đời thường ngoài ra, giáo viên còn phải biết đưa ra

Trang 5

phương pháp đánh giá về mức độ hứng thú cũng như sự hiểu biết về môn văn của học sinh một cách hợp lý và đúng đắn hơn

Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và môn ngữ văn nói riêng, việc lấy học sinh làm trung tâm thúc đẩy tư duy học sinh,

mở cho các em hướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc, những khó khăn trong việc tìm hiểu phân tích Người giáo viên không còn giảng giải một cách say sưa khi không có phản hồi từ học sinh, các em được làm quen với những câu hỏi gợi mở, những gợi ý cho một đề tài thảo luận, các em có quyền nêu những nhận xét, những cảm nhận cá nhân về đề tài, về nhân vật, về tác giả Từ những cảm nhận đôi khi chưa chính xác, gây tranh cãi góp phần rất lớn trong việc điều chỉnh nhận thức, gây hứng thú cho các em và văn học không xa lạ, không “đóng khung trong tháp ngà” mà thật sự gần gũi biết bao

Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc hội khúa X thông qua) cũng đã chỉ rõ:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn

Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú học văn của học sinh Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh Ai đó đã nói rằng:

“Dù đã dắt ngựa đến bờ sông cũng không thể bắt nó uống nước được” Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy Dù có bắt được chúng ngồi ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, trẻ không thể học tốt được Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 11 tôi nhận thấy, muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên,

Trang 6

không gượng ép Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh

Vì thế với phương pháp này, nếu giáo viên ứng dụng dần vào từng lớp học thì

sẽ giúp học sinh thêm yêu tha thiết môn văn Từ đó, giáo viên và học sinh sẽ tạo ra những giờ học thật thú vị để ngày càng cho mọi người thấy rõ tầm quan trọng của môn văn trong nhà trường phổ thông hiện nay

Về phân công giảng dạy người viết chỉ dạy 3 lớp khối 11 (2013 – 2014) và 1 lớp

10, 2 lớp 11 (2014 – 2015) nên chưa áp dụng phương pháp này rộng khắp sang khối 12 Tuy nhiên, người viết có thể so sánh lớp này với lớp khác trong cùng khối dạy để rút ra nghiệm khi vận dụng phương pháp kịp thời và điều chỉnh kịp lúc Về học sinh, đại đa số học sinh đều ngoan ngoãn theo hướng dẫn của giáo viên nên đã tạo ra giờ học văn thật sự hấp dẫn và thú vị Bên cạnh đó, vẫn còn một số ít học sinh cá biệt chưa thật sự nhiệt tình hợp tác để tạo ra giờ học tích cực

Tuy nhiên, niềm say mê môn văn của học sinh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng khiếu, người thầy dạy không hay, học sinh khó tiếp nhận Thứ hai, đa số phụ huynh đầu tư nhiều cho con em về các môn tự nhiên, xem nhẹ môn ngữ văn Thứ ba, cơ sở vật chất, tài liệu minh họa, đồ dùng dạy học để phục vụ giảng dạy và

bổ sung kiến thức học tập môn văn nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu là một số tranh ảnh và sách tham khảo

3 Giải pháp

Trước hết, giáo viên phải chuẩn bị nhiều phương diện cho một giờ lên lớp: Nắm vững bài dạy, xác định kiến thức trọng tâm, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, tìm hiểu thực tế lớp dạy cụ thể trong từng tiết học và từng giờ kiểm tra

Trang 7

Giáo viên phải chú ý tạo tâm thế học tập tốt cho học sinh, giúp các em nhận thức được lợi ích của bộ môn cũng như tạo sự phát triển trí tuệ, tư duy và tâm hồn, tình cảm cho người học Tác dụng này phải được giáo viên nhấn mạnh trong những tình huống phù hợp Khi chú ý đến điều này giáo viên sẽ khắc phục được thái độ thờ ơ, lãnh đạm, thụ động của học sinh; dần dần học sinh sẽ tích cực chủ động hơn trong việc chuẩn bị bài, lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thức Ngữ văn trong học tập và đời sống

Như vậy, việc chuẩn bị tâm thế trong giờ học Ngữ văn rất quan trọng đối với

việc tạo hứng thú cho học sinh Nhưng khơi gợi hứng thú cho học sinh có thành công hay không chủ yếu phụ thuộc vào các biện pháp giáo viên thực hiện lên lớp, trong giờ dạy cụ thể

Muốn vậy, giáo viên phải phối hợp nhiều biện pháp để tạo nên những giờ học sinh động lôi cuốn học sinh Cụ thể như:

+ Quy trình dạy học hợp lí với sự chủ động bình tĩnh, một giờ dạy lôi cuốn học sinh trước hết ở nghệ thuật dẫn dắt, hướng dẫn học sinh Trên cơ sở nắm vững kiến thức trọng tâm của bài học, giáo viên chú ý đến tính vừa sức, điều tiết thích hợp để tránh nhàm chán vì sự lặp lại hoặc chán nản vì kiến thức khó Đối với những bài mà các em đã học giáo viờn phải huy động và củng cố kiến thức cũ làm

cơ sở hình thành kiến thức mới

+ Đối với những kiến thức hoàn toàn mới, giáo viên hướng dẫn học sinh từ dễ

đến khó, mạnh dạn tinh giản kiến thức, tránh ôm đồm quá tải làm học sinh không

hứng thú vì cảm thấy bài dài và khó

+ Tăng cường giao tiếp trong giờ học là một biện pháp cơ bản để khơi gợi

hứng thú học tập Thông qua giao tiếp học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức, giờ học trở nên sinh động hơn Để đạt điều này, giáo viên phải tạo những tình huống

có vấn đề để gợi mở suy nghĩ của học sinh, học sinh sẽ cố gắng khám phá tìm hiểu vấn đề Từ đó học sinh tranh luận, thảo luận bảo vệ ý kiến của mình khi có những

ý kiến trái ngược nhau Lưu ý là phải tạo điều kiện để các em lựa chọn cách hiểu

và hướng dẫn đến ý kiến đúng một cách kịp thời, phù hợp Hoạt động giao tiếp

Trang 8

trong giờ học được thực hiện từ khâu tìm hiểu bài, hình thành kiến thức mới và luyện tập thực hành

Tiếp theo giáo viên nên áp dụng triệt để các phương pháp dạy học tích cực

- Thứ nhất đó là phương pháp đọc tác phẩm Để để làm gì ? Đọc để tiếp nhận tác phẩm Vậy mục đích cuối cùng của chúng ta là để học sinh tiếp nhận tác phẩm một cách tích cực Và không phải văn bản văn học nào được tiếp nhận cũng phải đọc Vậy văn bản nào cần đọc và văn bản nào không cần đọc Ví dụ trong chương

ngữ văn 11 tập 1 (cơ bản), một số truyện ngắn như Chí phèo (Nam Cao), Hạnh phúc một tang gia (Vũ Trọng Phụng) hay Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), thay vì

đọc chúng ta sẽ tổ chức diễn kịch, đóng vai các nhân vật Làm như thế học sinh có thể nhớ và hiểu rõ từng lời nói của nhân vật và nắm được tinh thần chung của tác phẩm Điều quan trọng hơn, học sinh sẽ cảm nhận được giờ văn là một giờ học bổ ích, thoải mái, trong học có chơi, trong chơi có học

Thứ hai, đó là phương pháp diễn giảng Và phương pháp này từ xa xưa nó đã trở thành phương pháp đặc trưng của môn văn và nó cũng là phương pháp dễ làm người tiếp nhận chán ghét môn học quan trọng này Vì thế, để diễn giảng tạo hứng thú cho học sinh cần kết hợp với nhiều phương pháp khác và trong lời giảng phải lồng ngôn ngữ nhân vật hoặc những dẫn chứng cần thiết

Thứ ba, đó là phương pháp đàm thoại Nội dung cốt lõi của phương pháp này là việc xây dựng hệ thống câu hỏi và hệ thống ấy phải theo trình tự từ phần đầu đến phần cuối, câu hỏi phải có tính định hướng, đảm bảo tính gợi mở (tránh loại câu hỏi đánh đố học sinh) Đều dặc biệt câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu

Thứ tư, là phương pháp trực quan Để giúp học sinh khắc sâu những kiến thức ấy trong đầu, giáo viên nên dùng phương pháp dạy học trực quan So với các giác quan khác thì thị giác chiếm mức độ ảnh hưỡng trong quá trình tiếp nhận kiến thức của học sinh là 83% Có nhiều cách để làm phương tiện trực quan như: sử dụng tranh ảnh, vật thật, sử dụng biểu bảng, mô hình

Trang 9

Thứ năm đó là phương pháp dạy học nêu vấn đề Tuy phương pháp dạy học này vẫn còn mới lạ so với nhiều giáo viên và học sinh Vì vậy người giáo viên phải am hiểu tình hình học tập của học sinh để tạo ra những tình huống có vấn đề trong câu hỏi của mình để cho học sinh giải quyết, khi học sinh giải quyết được tình huống có vấn đề trong câu hỏi mà giáo viên đưa ra thì có nghĩa học sinh nắm được nội dung cốt lõi của bài học và bước đầu hình thành thói quen tư duy Đây là một phương pháp khó ứng dụng vì vậy để học sinh giải quyết được những tình huống có đề giáo viên phải hướng dẫn học sinh các bước thực hiện Có nhiều hình thức tổ chức đa dạng: làm bài tập dạng đề án, thảo luận, sắm vai, thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ…

 Để năm phương pháp trên được áp dụng với sự hợp tác nhiệt tình của học sinh giáo viên cần có một tiểu xảo nhỏ trong từng lớp học Ví dụ:

- Đối với lớp học mà học sinh có sáng tạo, nhạy bén giáo viên nên khuyến khích việc chọn một đoạn trong văn bản để đóng vai Mỗi văn bản là một nhóm làm một lần Các nhóm còn lại nhận xét ưu điểm và hạn chế của nhóm bạn

- Đối với lớp học thụ động, giáo viên cần khuyến khích các tham gia phương pháp đàm thoại (phát vấn), học sinh trả lời nhiều lần được điểm cộng

- Đối với lớp học khéo tay, giáo viên nên khuyến khích các em làm đồ dùng

học tập (ví dụ trong tác phẩm Hạnh phúc một tang gia, Chí phèo, Chữ người tử tù,…)

- Còn đối với lớp chọn (xã hội) giáo viên nên hướng dẫn các chiếm lĩnh kiến

thức bằng việc tự đọc tác phẩm và trả lời câu hỏi sách giáo khoa Sau đó đến lớp (trong giờ văn) trình bày sản phẩm của nhóm mình

- Giáo viên cần đầu tư thời gian không chỉ cho việc soạn bài mà còn phải đưa

ra các phương pháp giảng dạy phù hợp; sưu tầm hình ảnh, phim tư liệu, phim văn học…

- Tóm lại, để học sinh thực hiện những yêu cầu trên thì giáo viên cần có những qui định về mức thưởng cũng như mức phạt đối với các em trong quá trình làm nhiệm vụ được giao

Trang 10

- Ngay từ đầu năm học, giáo viên nên chia nhóm cố định đối với các em gần

nhà (hoặc ở cùng nhà trọ) để tiện việc trao đổi những vấn đề ngoài lớp học

- Mỗi nhóm phải có sự phân phối học sinh từ giỏi đến yếu, không nên để học

sinh tự chọn bạn cùng nhóm (thường thì giáo viên lập danh sách các em gần nhau

sau đó dựa vào điểm môn văn của năm học trước để chia nhóm)

Còn đối với việc kiểm tra, đánh giá học sinh, giáo viên dựa trên những quy

định đổi mới của sở giáo dục – đào tạo Sóc Trăng để ra để đánh giá phù hợp năng

lực từng học sinh Trong đề phải đảm bảo mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng

thấp, vận dụng cao) Sau đây là đề kiểm tra minh họa đánh giá học sinh mà giáo

viên đã vận dụng năm 2014 – 2015 đối với học sinh lớp 10:

- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn trình bày cảm nhận về hình tượng Đăm Săn

- Vận dụng hiểu biết về tác phẩm nói về bi kịch nước mất nhà tan

- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn trình bày cảm nhận về hình ảnh “Ngọc trai – giếng nước”

trong truyện

- Từ nội dung của văn bản, hóa thân vào nhân vật An Dương Vương để kể lại quá trình xây thành Cổ Loa, chế tạo nỏ thần

và bi kịch nước mất nhà tan

- Từ nội dung của văn bản, hóa thân vào nhân vật Mị Châu để

kể lại bi kịch của bản thân

Ngày đăng: 28/12/2017, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w