1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

171 247 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

Trang 1

LÊ TUẤN PHONG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU

CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LÊ TUẤN PHONG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH

TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN TẤT VIỄN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi,

có sự hỗ trợ của các đồng nghiệp Các số liệu nêu trong luận

án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Tuấn Phong

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ 34 2.1 Khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực

2.2 Đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát

2.3 Yêu cầu của cải cách tư pháp, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các

điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát

2.4 Pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố ở một số nước

trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam 58

Chương 3: QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở

3.1 Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền

công tố từ 1945 đến trước khi ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân

3.2 Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền

công tố từ khi ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỰC HÀNH

QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 115 4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CQĐT : Cơ quan điều tra VKSND : Viện kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ khi mới thành lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã chú

ý tới cán bộ làm nhiệm vụ công tố Các vấn đề pháp lý của chức danh này được điều chỉnh trong những văn bản pháp luật đầu tiên của chính quyền dân chủ nhân dân Nếu như những năm đầu tiên, chế định công tố và Công tố viên gắn liền với tổ chức và hoạt động của Tòa án thì sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đánh dấu sự thay đổi lớn của chế định này Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy Nhà nước được khẳng định trong Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Cùng với quá trình phát triển của hệ thống cơ quan tư pháp, pháp luật về Kiểm sát viên cũng từng bước hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy, các quy định pháp luật hiện nay chưa bảo đảm cho Kiểm sát viên chủ động thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình Trong quá trình thực hành quyền công tố vẫn còn có trường hợp bỏ lọt tội phạm; việc phê chuẩn các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn có trường hợp còn chưa chính xác; còn một số trường hợp đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ vụ án do bị can không phạm tội, trong khi đội ngũ Kiểm sát viên còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là cơ sở pháp lý đối với chức danh Kiểm sát viên, trong đó có các bảo đảm pháp lý cho việc thực hành quyền công tố của chức danh này chưa hoàn thiện, các quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên chưa được phát huy, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp trong lĩnh vực hoạt động công tố Nghị quyết số 48/NQ-TW, ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định các

Trang 7

phương hướng và nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, trong đó có nhiệm vụ

“Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Tiếp đó, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra nhiệm vụ:

Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán

để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật [10]

Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện các quy định pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một nhiệm

vụ quan trọng vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính lâu dài, cần phải được tiến hành trên cơ sở chủ trương, quan điểm, phương hướng cải cách tư pháp và các quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động của kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, góp phần thực hiện mục tiêu của cải cách tư pháp

Với những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Hoàn thiện

pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công

tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học,

chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, đánh giá đúng thực trạng pháp luật, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Trang 8

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; từ đó, nêu các vấn

đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với yêu cầu cải cách tư pháp; Xây dựng khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Nghiên cứu pháp luật về Kiểm sát viên/Công tố viên trong thực hành quyền công tố ở một

số nước, rút ra các giá trị tham khảo có thể vận dụng ở Việt Nam

- Khái quát sự hình thành và phát triển pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, chỉ ra các điểm hạn chế bất cập và nguyên nhân

- Nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên

VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với yêu cầu cải cách tư pháp; tập trung vào đối tượng là các quy định pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố trong phạm vi toàn quốc Thời gian nghiên cứu từ khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đến năm 2015

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận của luận án

Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, lý luận về hoàn thiện pháp luật,

Trang 9

các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tổ chức

và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu Luận án là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng và quá trình xã hội được sử dụng để nghiên cứu, phân tích mối liên

hệ hữu cơ giữa các thiết chế tư pháp và thể chế pháp lý cho hoạt động của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Nguyên lý về sự phát triển được sử dụng để nghiên cứu, phân tích những thay đổi về kinh tế -xã hội, quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa dẫn đến những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong cách thức tổ chức và hoạt động tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát Một số quy luật của phép biện chứng duy vật như quy luật lượng-chất, hay các cặp phạm trù như cái chung

và cái riêng, khả năng và hiện thực, được sử sử dụng để nghiên cứu, phân tích các yếu tố tác động, các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận án là:

- Phương pháp hệ thống được áp dụng trong chương 1 để phân loại và

nghiên cứu nội dung các tài liệu nghiên cứu pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, hệ thống hóa theo một cấu trúc logic khoa học qua đó giúp tác giả có được nhận thức một cách biện chứng, tổng thể, khái quát nhất về hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay và một số nước trên thế giới

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng cả chương 2, chương 3 và

chương 4 của luận án Phân tích khái niệm về Kiểm sát viên, pháp luật về Kiểm

sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; đặc điểm, nội dung điều chỉnh,

vai trò; các yêu cầu cải cách tư pháp, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của

pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; các điều kiện bảo đảm; phân

tích nguyên nhân của thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực

Trang 10

hành quyền công tố; phân tích các quan điểm và giải pháp hoàn thiện của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh được áp dụng để nghiên cứu kinh nghiệm nước

ngoài, qua đó rút ra bài học và lựa chọn những hạt nhân hợp lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng đối với Việt Nam

- Trong chương 3, bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tác giả

còn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp các số liệu để chứng minh cho các luận giải đã nêu trong phần đánh giá thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các quy định pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam Những đóng góp của

Luận án thể hiện cụ thể như sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu kế thừa các tài liệu đã có của Việt Nam và các

nước trên thế giới, xây dựng khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; khái quát nội dung, đặc điểm, vai trò của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố pháp luật theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

- Đánh giá khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2002 và thực tiễn áp dụng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố từ 2002 - 2015

- Nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam trong những năm tới

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải

cách tư pháp Với việc đề xuất các giải pháp, trong đó có việc đưa ra một số kiến

nghị góp phần vào sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luận án đóng góp thêm vào sự phát triển

lý luận về pháp luật Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Luận án cũng là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy

ở các cơ sở đào tạo luật, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành kiểm sát và những ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Trong những năm qua, với việc thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố đã được nghiên cứu nhiều hơn so với trước đây Điều này được thể hiện qua số lượng và nội dung của các công trình nghiên cứu dưới dạng các đề tài nghiên cứu khoa học, các xuất bản phẩm, các luận văn, luận án, các bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu pháp luật chuyên ngành Để bảo đảm phục vụ việc nghiên cứu của luận án tác giả phân chia thành các nhóm vấn đề cụ thể như sau:

1.1.1 Pháp luật về Kiểm sát viên

Pháp luật về Kiểm sát viên tiếp cận dưới giác độ lý luận lịch sử Nhà nước

và pháp luật đòi hỏi phải có cách nhìn toàn diện, khái quát xuất phát từ nguồn gốc, bản chất, mối quan hệ của quyền công tố trong phương thức tổ chức bộ máy nhà nước, mà trực tiếp là trong Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ

1945 đến nay

* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài nghiên cứu khoa học

Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu chuyên khảo “Cơ sở lý luận và

thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Trần Hậu Thành [105] Trong cuốn sách này, tác giả đã

khái quát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử nhân loại, đồng thời hệ thống một số quan điểm và thực tiễn tổ chức theo hướng nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới Cuối cùng tác giả đã luận giải và đưa ra mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện đại, trong đó có

mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp như tòa án và viện kiểm sát

Cuối sách “Dân chủ và pháp luật dân chủ” của Ngô Huy Cương [25]

Trong cuốn sách này tác giả đã luận giải và xây dựng khái niệm về dân chủ, đồng

Trang 13

thời đưa ra sáu thành tố của dân chủ đó là: Nhà nước pháp quyền; Chủ nghĩa lập hiến; Phân chia quyền lực; Xã hội công dân; Quyền con người, quyền công dân;

Tư pháp độc lập Trên cơ sở thực tiễn pháp luật Việt Nam tác giả đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá tính dân chủ và hiện trạng dân chủ trong pháp luật Việt Nam trên cơ sở tổ chức Nhà nước, bảo đảm quyền con người và hình thức dân chủ Luận giải và đưa ra một số giải pháp về dân chủ và pháp luật dân chủ trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tư pháp

Cuốn sách “Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền” do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2004 [16] Cuốn sách lần đầu tiên nêu khái niệm thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, thể chế tư pháp với việc thực hiện các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền và các loại hình thể chế tư pháp với một số mô hình tổ chức tư pháp đặc trưng trên thế giới Từ đó, tác giả nêu và phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án, cơ quan công tố, vai trò của thẩm phán và công tố viên và những vấn đề đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam

Cuốn sách “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

trong giai đoạn điều tra” của Lê Hữu Thể [107], đã đề cập tương đối toàn diện,

đầy đủ các quan điểm và lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, trong đó đi sâu nghiên cứu các quan điểm

về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự; những quy định của pháp luật về Kiểm sát viên và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra; đồng thời, khái quát về cơ quan công tố của một số nước trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm ứng dụng vào Việt Nam

Nguyễn Hải Phong và cộng sự trong cuốn “Một số vấn đề về trách nhiệm

công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” [82] đã phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành,

tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động công tố của các cấp kiểm sát, kiến nghị

Trang 14

các giải pháp thiết thực, có tính khả thi khi thực hiện trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát

Đề tài “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra theo

yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Ngọc Khánh [66], đề tài đã tập trung

nghiên cứu về mối quan hệ giữa công tố với điều tra của một số quốc gia và quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về việc tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, đã xác định vị trí, thẩm quyền của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải

cách tư pháp

* Luận án, luận văn

Vấn đề thực hành quyền công tố cũng là tâm điểm thu hút sự chú ý nghiên

cứu của các luận án Tiến sĩ như “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết Hoa, từ góc độ lý luận nhà nước và pháp luật [54] đã khái quát những vấn đề cơ

bản nhất về quyền công tố như khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung của quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự; thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự ở Việt Nam trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố ở Việt Nam Đồng thời nêu được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức

và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân

Luận án của Nguyễn Duy Giảng “Các chủ thể tiến hành tố tụng trong Luật

Tố tụng hình sự Việt Nam” [44] đã nghiên cứu toàn diện việc thực hiện các quy

định pháp luật liên quan đến chủ thể tiến hành tố tụng, những kết quả, hạn chế, vướng mắc bộ lộ trong thực tiễn, qua đó làm rõ những hạn chế trong quy định của BLTTHS hiện hành cần được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới Trên

cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận tổng kết thực tiễn và làm rõ những yêu cầu của cải cách tư pháp, tác giả đã đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong hệ thống quy định pháp luật về viện kiểm sát và Kiểm sát viên, góp phần khắc phục những bất cập, vướng mắc trong các quy định liên quan đến chức năng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên Theo tác giả, việc thực hiện các nhiệm vụ và

Trang 15

quyền hạn của Kiểm sát viên trong điều tra vụ án hình sự còn nhiều tồn tại, trong

đó có nguyên nhân là quy định của BLTTHS năm 2003 về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra còn một số bất cập về thẩm quyền khởi

tố bị can, thẩm quyền điều tra, thẩm quyền quyết định việc chuyển vụ án, về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra (CQĐT) và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại phiên tòa… Từ đó, tác giả kiến nghị hoàn thiện nhiều quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và BLTTHS năm 2003, trong

đó có các quy định về thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên

1.1.2 Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố

* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài nghiên cứu khoa học

- Về quyền công tố trong nhà nước pháp quyền của Nguyễn Đăng Dung và

các cộng sự trong nghiên cứu “Viện kiểm sát trong Nhà nước pháp quyền” [32] đã

đề cập đến một số vấn đề như: phân tích vị trí và vai trò của Viện kiểm sát trong

mô hình hiện nay và xu thế của Viện kiểm sát trong thời gian tới; làm rõ những yêu cầu có tính nguyên tắc của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền gắn với thực hiện chức năng của Viện kiểm sát - Viện kiểm sát thực hành quyền công tố là quyền hành pháp mà không phải là quyền tư pháp như quan niệm hiện nay; chủ thể của công tố chỉ do Viện kiểm sát thực hiện và vì vậy Viện kiểm sát phải thống nhất chỉ đạo điều tra toàn bộ vụ án; có chỉ đạo điều tra mới buộc tội được, có buộc tội được mới góp phần bảo vệ công lý xã hội chủ nghĩa (XHCN)… Ngoài ra, các tác giả còn giới thiệu một vài mô hình công tố trên thế giới điển hình và đặt ra việc chuyển đổi vai trò, chức năng, tên gọi của Viện kiểm sát thành Viện công tố

là đòi hỏi tất yếu khách quan, nhưng cần tính đến lộ trình và bước đi phù hợp Đồng thời, cuốn sách cũng đã phân tích và làm sáng tỏ nhiều nội dung thực hiện chức năng mà Viện kiểm sát đang thực hiện dưới một giác độ tiếp cận mới, tiếp cận dựa trên quyền và nghĩa vụ như: Quyền công tố và phạm vi của công tố; Giới hạn của việc xét xử theo cáo trạng; nội dung và bản chất của tranh tụng giữa bên

Trang 16

buộc tội và gỡ tội; có hay không cần thiết Viện kiểm sát phải thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp các lĩnh vực phi hình sự…

Cuốn sách “Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của

Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động” của Viện kiểm sát

nhân dân tối cao [146] đã tập trung tổng hợp, khái quát những vấn đề cơ bản trong công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nghành kiểm sát nhân dân từ 1960 đến 2015 trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Từ đó đưa ra 9 bài học kinh nghiệm lớn làm cơ sở để nghành kiểm sát tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra thuộc Viện

kiểm sát và việc thực hiện thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Phạm Mạnh Hùng [62], đã nghiên cứu thực trạng

và đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân và việc thực hiện thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

- Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự

đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Lê Hữu Thể [109] đã luận chứng, làm rõ

những vấn đề lý luận chung về thủ tục tố tụng, mô hình tố tụng hình sự; các quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng, trong đó có Kiểm sát viên VKSND Trên cơ

sở đánh giá đúng đắn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập trong pháp luật

tố tụng hình sự hiện hành khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, đề tài nêu những yêu cầu của cải cách tư pháp đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, trong đó tính độc lập của Kiểm sát viên là một trong những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn, cần được khắc phục bằng một cơ chế pháp lý phù hợp

Đề tài đã đề xuất các hướng hoàn thiện, đổi mới mô hình tố tụng hình sự và pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay theo hướng nâng cao năng lực của CQĐT, Viện kiểm sát Tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên

trong hoạt động điều tra, truy tố.* Luận án, Luận văn

Trang 17

- Nguyễn Thị Thủy “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng

tố tụng tranh tụng” [113] nêu mô hình tố tụng mới kết hợp giữa xét hỏi và tranh

tụng trong điều kiện Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp Từ đổi mới mô hình tố tụng dẫn đến đòi hỏi hoàn thiện pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong mối quan hệ giữa nguyên tắc tập trung thống nhất của ngành kiểm sát với tính độc lập của từng Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố; giữa mối quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng giữa Viện trưởng Viện kiểm sát với Kiểm sát viên trong điều tra, kiểm sát điều tra và truy tố bị can ra trước tòa, duy trì công tố tại phiên tòa hình sự

- Bùi Mạnh Cường “Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình

sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [26] đã tập trung tìm hiểu một số vấn đề chung về công tố và hoạt động

điều tra, phân tích thực trạng về mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra tại Việt Nam (số liệu 5 năm: từ năm 2006 đến năm 2010), mối quan hệ giữa công

tố với hoạt động điều tra theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành; những kết quả đạt được trong việc giải quyết mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự và nguyên nhân của những kết quả đạt được; một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc Tác giả cũng đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra

- Vũ Đức Ninh “Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố”

[80] đã khái quát về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở nước ta theo BLTTHS, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố cũng như hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong cùng thời điểm này, xem xét thực tiễn thi hành những quy định của pháp luật về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố bằng cách nhìn vào những phân tích số liệu

về các quyết định mà cơ quan này ban hành trên một địa bàn cụ thể sau đó đưa ra

Trang 18

những nhận xét về thẩm quyền của Viện kiểm sát từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vai trò cũng như vị trí của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và một số kiến nghị khác nhằm phát huy cũng như kiện toàn vị trí cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay

* Các bài đăng trên tạp chí

Trong bài viết “Nguyên tắc tập trung thống nhất trong nghành kiểm sát

nhân dân trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay” của Đào Trí Úc [118] đã nêu

khái quát các quan điểm, ý kiến đóng góp khác nhau trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về tính chất, vị trí, chức năng của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam, đặc biệt là nguyên tắc tập trung thống nhất trong nghành kiểm sát nhân dân Nguyên tắc này chỉ phù hợp với việc thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật vì tính thống nhất theo nghành dọc là bảo đảm cho sự giám sát, kiểm tra mang tính quyền lực Nhà nước đối với các chủ thể áp dụng, thi hành pháp luật và đối với công dân

Từ giác độ tiếp cận mang tính toàn diện, hệ thống, trên cơ sở nội dung pháp lý của hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, từ yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tác giả đã luận chứng và đề xuất ghi nhận trên bình diện Hiến pháp hai nguyên tắc quan trọng cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta như sau:

Một là, nguyên tắc tập trung thống nhất về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân; Hai là, nguyên tắc khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân độc lập, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, nghiêm cấm mọi sự can thiệp trái pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá

nhân [118] Phạm Mạnh Hùng với bài “Về nguyên tắc bảo đảm sự kiểm soát giữa

các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong

cách khái quát hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong bộ máy nhà nước ta, đồng thời nêu và phân tích cụ thể từng quy định về cơ chế kiểm soát

Trang 19

quyền lực Nhà nước trong từng phân nhánh hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước nói riêng và trong hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung Từ đó, tác giả đưa

ra nhận xét và kiến nghị cần tiếp tục xem xét hoàn thiện về Quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp; khôi phục lại chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân vì đây là yêu cầu xuất phát từ lý luận và thực tiễn thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước hiện nay

Vũ Mộc trong bài viết ‘‘Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố,

tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra” [75], đã đưa ra nhận định mặc dù trong

BLTTHS 2003 không quy định cụ thể quyền chỉ đạo hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhưng theo nội dung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát và của CQĐT thì Viện kiểm sát vẫn là cơ quan quyết định mọi hành vi tố tụng ở giai đoạn điều tra Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động công tố vẫn xa rời hoạt động điều tra, theo tác giả có hai nguyên nhân chính: Pháp luật về hình sự và

tố tụng thiếu chế tài bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo theo pháp luật tố tụng hình sự của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra; Chưa có sự thống nhất và phân biệt về thẩm quyền chỉ đạo hoạt động điều tra theo nghiệp vụ điều tra và chỉ đạo điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Cuối bài viết tác giả đưa ra bốn giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra

1.1.3 Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố

* Xuất bản phẩm dưới dạng sách và đề tài khoa học

- Sách chuyên khảo “Tính nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ

quan Nhà nước” của Nguyễn Đăng Dung [31] Trong cuốn sách này tác giả đã

nghiên cứu và làm rõ vai trò, vị trí, bản chất “vượt trội” của Hiến pháp, cũng như tính đặc thù của Hiến pháp trong hệ thống các văn bản pháp luật của quốc gia Từ

đó đi đến nhận định về tính nhân bản của Hiến pháp Và cũng trên cơ sở tiếp cận

Trang 20

này, xuất phát từ lịch sử lập hiến Việt Nam, tác giả đã phân tính và khái quát về các bản tính của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp và đưa ra từng kiến nghị cụ thể cho từng cơ quan nhà nước

- Sách chuyên khảo “Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trần Ngọc Đường [41] Trong cuốn

sách này, tác giả từ cách tiếp cận quyền con người, quyền công dân là giá trị cao quý, là mục đích phấn đấu cao nhất, đồng thời là đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tác giả đã tổng hợp, phân tích rồi đưa ra các quan điểm về quyền con người, quyền công dân; quyền và nghĩa vụ cá nhân công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Xuất phát

từ lịch sử lập hiến (1945 đến 2001), tác giả đã chứng minh quá trình sửa đổi, ban hành Hiến pháp ở Việt Nam luôn là quá trình tiếp nối và hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân thông qua việc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Và từ cơ sở trên, tác giả đã nêu những bảo đảm pháp

lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân, cùng các phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian tới

- Đề tài “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư

pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Uông Chu Lưu [73], xác

định bản chất của công tố là việc đại diện cho quyền lực công để truy tố tội phạm, đưa người có hành vi phạm tội ra trước toà án để xét xử, do đó, công tố phải là một chức năng không tách rời của hành pháp Viện Công tố, do vậy, phải là một

cơ quan thuộc nhánh hành pháp và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và trước nhân dân về việc truy tố tội phạm và buộc tội trước toà Các tác giả trong

nhóm nghiên cứu cũng cho rằng phạm vi công tố chỉ nên giới hạn trong lĩnh vực

hình sự nghĩa là trong việc đại diện cho quyền lực công truy tố tội phạm và buộc tội người có hành vi phạm tội trước toà Về nguyên lý, Viện công tố phải đồng thời là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra Cơ quan điều tra tiến hành

Trang 21

các hoạt động điều tra theo yêu cầu của Viện công tố; mọi kết luận điều tra đều phải có phê chuẩn của Viện công tố mới có giá trị pháp lý Tại phiên toà, Công tố viên thực hiện chức năng buộc tội, tham gia tranh tụng và chịu trách nhiệm hoàn toàn về những chứng cứ buộc tội thu thập được trong quá trình điều tra Cơ chế này bảo đảm tính hiệu quả, thống nhất và liên tục của quy trình tố tụng tư pháp, nâng cao chất lượng truy tố và tranh tụng của Công tố viên tại phiên toà Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế định Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong các vụ án hình sự theo hướng tăng cường năng lực và trách nhiệm độc lập của Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố theo tinh thần cải cách tư pháp

- Đề tài “Nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự phục vụ Chiến

lược cải cách tư pháp” của Lê Văn Cảm [16] nghiên cứu về tổ chức, cơ cấu của

hệ thống tư pháp hình sự và vai trò của hệ thống đó trong cải cách tư pháp ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị Các tác giả đã làm rõ hơn vai trò của Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong điều kiện Việt Nam; đề xuất mô hình mới về Viện kiểm sát và những thay đổi về pháp luật khi quy định địa vị pháp lý của Kiểm sát viên theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự

* Luận án, luận văn

Trong số các Luận án tiến sĩ có thể kể đến như của Nguyễn Tiến Sơn “Mối

quan hệ giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam”

[102] Trong đó xác định mối quan hệ giữa CQĐT và Viện kiểm sát, giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên trong tố tụng hình sự, xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan và hai chủ thể này trong hệ thống tư pháp hình sự Mối quan hệ này về cơ bản, chỉ có thể là mối quan hệ tố tụng hình sự Từ đó thấy rõ hơn sự chế ước và phối hợp, thực tế là kiểm sát tư pháp đối với CQĐT thông qua Kiểm sát viên Luận án đưa ra một kiến nghị hoàn thiện các quy định về pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này nhằm tăng cường trách nhiệm của công tố trong giai đoạn điều tra

Trang 22

Nguyễn Công Cường “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự” [29] nêu những đặc điểm mang tính phổ biến của hoạt động công

tố, phân tích rõ nội hàm khái niệm thực hành quyền công tố như đối tượng, phạm

vi, nội dung và đặc điểm và vận dụng được để trong lý giải về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm tăng cường vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát

viên VKSND trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra

* Các bài đăng trên tạp chí

Bài viết “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" thể hiện xuyên

suốt, nhất quán trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp sửa đổi, của Trần Ngọc

Đường [42] Trong bài viết này tác giả khái quát và tổng hợp năm điểm mới

trong Hiến pháp 2013 thể hiện nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về vấn đề “Tất cả

quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" Qua đây tác giả cũng khẳng định đây là

sự tiếp tục quan điểm nhất quán của Ðảng và Nhà nước ta về việc đề cao chủ quyền nhân dân, khẳng định ở "Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ"

Nguyễn Hòa Bình có bài "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành

kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới" [6] Trong bài

viết này, tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta; chỉ ra hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; khái quát hóa một số kết quả đổi mới nổi bật của cơ quan này trong tiến trình cải cách tư pháp thời gian qua Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra nhu cần đòi hỏi ngành kiểm sát nhân dân phải tiếp tục đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực công tác, nhằm tổ chức thực hiện tốt hơn hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Từ đó, bài viết đã chỉ ra sáu nhiệm vụ trọng tâm đặt ra đối với ngành kiểm sát nhân dân để thực hiện các mục tiêu cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng trong thời gian tới như: đẩy mạnh thực

Trang 23

hiện, hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra; nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện thể chế; tập trung đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ; tiếp tục tập trung nghiên cứu, xây dựng, thực hiện các đề án về tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

Cũng nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhưng tiếp cận ở góc độ hẹp hơn theo hướng chỉ đề cập đến mô hình tổng thể hoặc một vài thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân nhất định Có thể kể đến một số công

trình của các tác giả như: Lại Hợp Việt có các bài viết "Bàn về mô hình Viện kiểm

sát và chế định Kiểm sát viên trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)" [148]

Trong bài “Hoàn thiện pháp luật hiện hành để “tăng cường trách nhiệm

công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Hồng Vinh [151] đã tổng hợp các chủ

trương của Đảng và Nhà nước về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra” Từ cơ sở đó, tác giả đã trích dẫn và phân tích các quy định về quyền công tố, cơ chế vận hành cụ thể của quyền công tố trong giải quyết các vụ

án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành, đưa ra những đánh giá cụ thể và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong Tố tụng hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát với các nội dung: cần có quy định cụ thể các trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân ra Quyết định khởi tố và chuyển giao cho cơ quan Điều tra thụ lý điều tra vụ án; bổ sung quy định mới về chế định “miễn tố” độc lập, theo đó, khi thực hành quyền công tố Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự các bị can trong một số trường hợp nhất định; bổ sung thêm các chế định nhằm tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên để Kiểm sát viên chủ động thực hiện và chịu trách nhiệm về các hành vi tố tụng, nhất là quyền tham gia trực tiếp vào một số biện pháp điều tra khi thấy cần thiết Đây cũng là một trong những nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo rất lớn cho đề tài nghiên cứu của luận án

Trang 24

Bài viết “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách

nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra” của Vũ Mộc [75], đã đưa ra nhận định mặc dù trong

BLTTHS 2003 không quy định cụ thể quyền chỉ đạo hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhưng theo nội dung các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát và của CQĐT thì Viện kiểm sát vẫn là cơ quan quyết định mọi hành vi tố tụng ở giai đoạn điều tra Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động công tố vẫn xa rời hoạt động điều tra, theo tác giả có hai nguyên nhân chính (Pháp luật về hình sự và

tố tụng thiếu chế tài bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo theo pháp luật tố tụng hình sự của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra; Chưa có sự thống nhất và phân biệt về thẩm quyền chỉ đạo hoạt động điều tra theo nghiệp vụ điều tra và chỉ đạo điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự và cuối cùng tác giả đưa ra bốn giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra

Bài viết “Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng

hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát

và một số kiến nghị hoàn thiện” của Nguyễn Duy Giảng [43] đã đề cập nhiều

vướng mắc trong thực tiễn khi Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra và giai đoạn xét xử Nguyên nhân

là do quy định pháp luật tố tụng hình sự chưa được giải thích chính thức, các văn bản dưới luật mang tính hướng dẫn thì hiệu lực thấp so với luật Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về chế định Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, xét xử là rất cần thiết

Thời gian gần đây đề tài về chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên cũng được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng nhìn chung các tác giả thường chỉ tập trung vào một lĩnh vực hoặc trong phạm vi một địa phương nhỏ như các tác giả: Vũ Công

Thuận nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên thực hành

quyền công tố ở ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu cải

Trang 25

cách tư pháp” [112]; Đào Thịnh Cường nghiên cứu về “Năng lực áp dụng pháp

luật trong thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội” [28]; Lê Xuân Lộc “Năng lực thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở tỉnh phú thọ trong xét xử các

vụ án hình sự” [70]; Phạm Thị Phương “Năng lực thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Ninh Bình” [85],… Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu vừa nêu đều

không đi sâu tìm hiểu về hệ thống các quy phạm pháp luật quy định địa vị pháp lý của Kiểm sát viên, đặc biệt là trong điều kiện cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền

Khi nghiên cứu về “Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát Nhân dân

đối với các vụ án hình sự” của Nguyễn Trọng Nghĩa [78] đã khái quát những vấn

đề về lý luận về người tiến hành tố tụng trong đó có Kiểm sát viên trong Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự; đánh giá thực trạng người tiến hành

tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự và đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là của Kiểm sát viên trong VKSND đối với các vụ án hình sự

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định pháp lý về thẩm quyền hành chính và trách nhiệm, quyền hạn tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm

sát viên, các tác giả Lưu Trọng Nguyên, Trần Mai Lâm khi nghiên cứu về “Phân

định thẩm quyền hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và việc tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng cho Kiểm sát viên” [79] đã đi sâu vào phân tích, đánh giá những điểm hợp lý cũng như

những hạn chế, bất cập trong đang tồn tại trong hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát; thực trạng pháp lý của Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố được giao quyền rất hạn chế và phải chịu sự quản lý cả về hành chính, cả về hoạt động nghiệp vụ trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng là chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay Các tác giả đã đưa ra đề xuất, kiến nghị cần phải xây dựng quy định cụ thể trong BLTTHS về nhiệm vụ và quyền hạn

Trang 26

của người đứng đầu Viện kiểm sát và Kiểm sát viên theo hướng: Viện trưởng có trách nhiệm tổ chức, điều hành chung công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật; chỉ tiến hành tố tụng trong một số vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp Phó Viện trưởng là một chức danh tố tụng độc lập, tiến hành tố tụng đối với hầu hết các vụ án, phải được giao tất cả các quyền hạn tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong lĩnh vực được phân công phụ trách; tăng quyền hạn cho Kiểm sát viên theo từng cấp bậc, đối với Kiểm sát viên sơ cấp có thẩm quyền như luật hiện hành Kiểm sát viên trung cấp được phân công thụ lý chính đối với vụ án có quyền gia hạn tạm giữ, trưng cầu giám định, cấp giấy chứng nhận người bào chữa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung Kiểm sát viên cao cấp được phân công thụ lý chính đối với vụ án thuộc thẩm quyền cấp trung ương, ngoài những quyền hạn của Kiểm sát viên trung cấp còn có quyền phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra vụ án Kiểm sát viên giữ chức Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng có quyền hạn tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng cấp tỉnh đối với những vụ án do cấp trung ương thụ lý Viện kiểm sát cấp huyện, cấp tỉnh có Kiểm sát viên trung cấp và sơ cấp Viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp cao (tương ứng với Tòa án Thượng thẩm) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có cả ba chức danh Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp

Bên cạnh đó, còn có một số bài viết như: "Bàn về ngạch Kiểm sát viên và

điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát các cấp trong Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân" của Lại Hợp Việt [149]; “Nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự” của Hoàng Hải Yến

[152]; “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố

tụng đối với người chưa thành niên” của Trần Quỳnh Hoa [55]

Như vậy, qua việc khái quát hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước, có thể thấy trong thời gian gần đây đã có một khối lượng lớn các công trình khoa học nghiên cứu về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước, vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong cải cách tư pháp; về quyền công tố, thực hành quyền công tố, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với các

Trang 27

cơ quan tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên với người tiến hành tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự; về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, vấn đề xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên trong chiến lược cải cách tư pháp Tuy nhiên từ thực trạng trên cho phép chúng ta đánh giá hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tập trung đề cập trực tiếp đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Pháp luật về Kiểm sát viên

Thiết chế Viện kiểm sát hiện tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa như Trung quốc, Cu Ba, Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều tiên Trong cải cách tư pháp ở Trung quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, việc nghiên cứu về vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã được quan tâm rất nhiều với các quan điểm khác nhau về cải cách Viện kiểm sát Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, vấn đề thực hành quyền công tố và cơ sở chính trị - pháp lý

tổ chức thực hiện quyền công tố được quan tâm trong các công trình nghiên cứu

Trong Sách trắng “Xây dựng chính trị dân chủ của Trung Quốc” [122] đã nêu rõ

vai trò của cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát dựa vào luật pháp trừng trị

kẻ phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân Cuốn “Cải cách

thể chế chính trị ở Trung Quốc” do Đỗ Tiến Sâm chủ biên đã đề cập đến một nền

tư pháp XHCN công minh, độc lập, trong đó viện kiểm sát có vai trò quan trọng nhân danh nhà nước truy tố tội phạm [101] Tại Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN diễn ra tại Việt Nam (tháng 11-2014), Vương Hồng Tường (Trung Quốc) trong tham luận “Đẩy nhanh xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, hiệu quả, uy tín” đã nêu các biện pháp chính trị và pháp lý bảo đảm cho Tòa án, Viện kiểm sát thực hiện chức trách, quyền lực độc lập, công bằng theo pháp luật với phương châm Đảng lãnh đạo lập pháp, thúc đẩy hành pháp và bảo đảm tư pháp Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân được xác định là

Trang 28

một thiết chế độc lập, quan trọng để thực hiện quyền công công tố nhà nước thông qua hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát là phòng tuyến cuối cùng trong việc bảo đảm công bằng, chính nghĩa Cần cải cách và hoàn thiện quan hệ lãnh đạo giữa Viện kiểm sát cấp trên và cấp dưới, vừa kịp thời giám sát, sửa đổi những sai sót của cấp dưới, vừa vừa phòng tránh tình trạng bao biện làm thay hoặc đùn đẩy trách nhiệm Phân định rõ quyền hạn trong nội bộ cơ quan kiểm sát Phân biệt quyền kháng nghị tố tụng và quyền điều tra tội phạm liên quan đến lạm dụng chức

vụ do các đơn vị nghiệp vụ khác nhau thực hiện [59, tr.174-177]

Ở các quốc gia khác, các nghiên cứu về pháp luật đối với địa vị pháp lý của Kiểm sát viên được thực hiện với mục đích thúc đẩy việc bảo đảm xây dựng Nhà nước pháp quyền Năm 2012, Nhà xuất bản Wadsworth Publishing

đã cho tái bản lần thứ 6 cuốn “Judicial Process: Law, Courts, and Politics in

the United States” (Thủ tục tư pháp: Pháp luật, các Tòa án, và Chính trị ở Hoa

Kỳ) của David W Neubauer, Stephen S Meinhold [30] Cuốn sách nghiên cứu sâu về thủ tục tư pháp trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ như tổ chức hệ thống Tòa án, công tố, thủ tục tố tụng và vai trò công tố viên Công trình đề cập sự ra đời của quyền tư pháp, vai trò độc lập của quyền tư pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa quyền tư pháp với các nhánh quyền lập pháp

và hành pháp trong cơ chế phân chia quyền lực, quyền tư pháp với việc bảo vệ quyền con người…Trong các công trình này đều có đề cấp đến vai trò của công

tố viên nhưng với tư cách là đại diện của cơ quan hành pháp đứng ra truy tố bị cáo trước tòa án, viện công tố (viện kiểm sát) Viện công tố (kiểm sát) không được coi là cơ quan tư pháp

Còn đối với các nước XHCN ở châu Âu trước năm 1991, sau khi Liên xô sụp đổ, Liên bang Nga và một số quốc gia thành viên SNG như Ucraina, Belorus, Azecbaijan, Kưrgưxtan, Kazacxtan và một vài nước Đông Âu khác vẫn tiếp tục duy trì thiết chế Viện kiểm sát trong cơ chế phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau, với những thay đổi không nhiều về chức năng, nhiệm vụ Do đó việc nghiên cứu về vai trò

Trang 29

của Kiểm sát viên trong quá trình chuyển đổi thể chế tư pháp ở các nước này vẫn

là đề tài thời sự Đó là các công trình như Luận án TSKH của V.V E-rơ-shôp

“Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, đề cập đến quyền tư pháp như là một nhánh quyền lực độc lập trong cơ chế phân chia quyền lực của thể chế chính trị Liên bang Nga thời kỳ hậu Xô-viết Nhánh quyền lực đó đặc trưng bởi nguyên tắc Tòa án độc lập, xác định chính Tòa án mới là cơ quan bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và luật trong Nhà nước pháp quyền Viện kiểm sát thuộc hệ thống tư pháp nhưng không được coi là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, vì Hiến pháp quy định chỉ có tòa án mới là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp Từ đó, các quy định pháp luật về viện kiểm sát và kiểm sát viên đã có những thay đổi so với thời kỳ xô-viết Chức năng kiểm sát chung bị thu hẹp,

chức năng kiểm sát xét xử đã bị bãi bỏ Cuốn sách của Giu-ba E.P “Các xu

xu hướng khác nhau trong việc quy định hệ thống tố tụng tranh tụng, hệ thống tố tụng xét hỏi và hệ thống tố tụng kết hợp giữa xét hỏi và tranh tụng Trong đó vai trò của kiểm sát viên (công tố viên)ở mỗi quốc gia rất khác nhau Có nơi thì vị trí công tố rất được đề cao (công tố mạnh), có nơi thì công tố thể hiện vai trò bình thường (công tố “mờ”) Đồng thời nêu các khó khăn, trở ngại trong thực hiện quyền công tố, nhất là ở các nước kém phát triển và đang phát triển William E

Buttler trong “Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp

Liên bang Nga” [21] cho rằng Viện kiểm sát Liên bang Nga chủ yếu tự kiểm

soát và chịu sự giám sát của hệ thống Viện kiểm sát theo yêu cầu, mệnh lệnh nội

bộ Như vậy, vấn đề đặt ra trong cải cách tư pháp ở Nga là cần phải điều chỉnh pháp luật theo hướng tản quyền đối với Viện kiểm sát để tránh việc tập trung nhiều quyền cho cơ quan này.Cần phải bỏ chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, chỉ giữ lại chức năng công tố và Viện kiểm sát cần phải được sáp nhập vào hệ thống tòa án hoặc hệ thống hành pháp Vì vậy cần có những cải cách căn bản đối với Viện kiểm sát Trong cơ chế phân chia quyền lực hiện nay ở Liên bang Nga đã có sự kiềm chế, đối trọng và cân bằng quyền lực

Trang 30

nên việc tồn tại một thứ quyền kiểm sát độc lập là không cần thiết Nguyên tắc phân quyền không có chỗ cho kiểm sát độc lập của Viện kiểm sát Công việc mà Viện kiểm sát cần phải làm là truy tố và buộc tội Viện kiểm sát cần trở thành cơ quan chuyên về thực hiện quyền công tố; Kiểm sát viên là người của hành pháp thực hành quyền công tố

1.2.2 Pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố

Trong số các công trình nghiên cứu ở Liên bang Nga, cần kể đến bài viết

“Kiểm sát viên trong tư pháp hình sự” của D.A Be-vê-shen-cô [156] đề cập đến

vai trò của Kiểm sát viên trong hệ thống tư pháp hình sự Tác giả cho rằng một số quy định của pháp luật Liên bang Nga chưa cụ thể hóa hết tinh thần và nội dung của Hiến pháp khi ghi nhận về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát với tư cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, do đó không thể đứng ngoài hoạt động điều tra dự thẩm như hiện nay Việc hoàn thiện địa vị pháp

lý của Kiểm sát viên trong cải cách hệ thống kiểm sát là cần thiết để bảo đảm việc điều tra xử lý tội phạm hiệu quả hơn

Tác giả Kha-zi-nô-va V.M trong công trình “Kiểm sát viên trong tố tụng

hình sự” [67] đã tập trung phân tích vai trò của Kiểm sát viên trong giai đoạn tố

tụng tiền xét xử và đề xuất cần trả lại cho Kiểm sát viên vai trò điều tra vụ án Vì hiện tại chỉ các dự thẩm viên của Viện kiểm sát và Bộ Nội vụ thực hiện các hoạt động điều tra Việc tạo độc lập cho các dự thẩm viên dường như không phát huy được tác dụng của Kiểm sát viên trong kiểm sát điều tra Do vậy, các Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, cần được giao nhiệm vụ điều tra Như vậy, cần sửa đổi các quy định pháp luật về viện kiểm sát và kiểm sát viên cho phù hợp [155]

Công trình nghiên cứu về công tố Nhật Bản do Nhóm tác giả thực hiện gồm Luke Nottage [14] (Đại học tổng hợp Sydney); Kent Anderson (Đại học quốc gia Úc); Makoto Ibusuki (Đại học tổng hợp; Giáo sư David Johnson Đại học tổng hợp Hawai đã có những đánh giá tích cực đối với hệ thống công tố Nhật Bản Theo đó,

Ở Nhật Bản, có hai nguyên tắc cơ bản mà Bộ Tư pháp Nhật Bản (MOJ) áp dụng

Trang 31

đối với công tố viên: Nguyên tắc công tố thống nhất và nguyên tắc công tố viên độc lập Các nguyên tắc này tạo nên những mục tiêu có tính chất cạnh tranh với nhau Tuy nhiên, hệ thống ở Nhật Bản có thể điều hòa, cân đối tương đối tốt, hệ quả là tại Nhật Bản tồn tại một hệ thống công tố có thể dự đoán trước được, phù hợp với chế độ pháp quyền Tất cả các vụ án do Cảnh sát điều tra tội phạm phải được chuyển tới Viện công tố, trừ vụ án ít nghiêm trọng Công tố viên chỉ huy cảnh sát điều tra bổ sung, hoặc tự tiến hành các hoạt động điều tra bổ sung, thu thập thêm chứng cứ, thẩm vấn bị can hoặc người tham gia tố tụng khác Trong quan hệ với Cơ quan điều tra, Công tố viên vừa đóng vai trò là người chỉ đạo, giám sát điều tra, vừa phối hợp với Điều tra viên Công tố viên không những được quyền chỉ huy, chỉ đạo Điều tra viên mà còn có thẩm quyền yêu cầu xử lý kỷ luật Điều tra viên nếu Điều tra viên không tuân theo chỉ đạo của Công tố viên Đối với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khác (Thanh tra viên Cục thuế nhà nước; cán bộ thuế của cơ quan hành chính tỉnh, thành phố; nhân viên Hải quan; nhân viên Uỷ ban theo dõi giao dịch chứng khoán; Uỷ ban giao dịch công chính…), Công tố viên phối hợp và có trách nhiệm chỉ đạo, trợ giúp các cơ quan này tiến hành hoạt động điều tra, hoàn thiện hồ sơ chuyển Viện công tố truy tố Về nguyên tắc, Công tố viên Nhật Bản có thẩm quyền điều tra tất

cả các vụ án hình sự, nhưng trên thực tế, họ chỉ thực hiện các hoạt động điều tra

bổ sung sau khi cảnh sát chuyển hồ sơ vụ án đến Viện công tố đối với các vụ án nghiêm trọng, vụ án liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm về kinh tế quy

mô lớn Tuy nhiên, có sự trùng lặp giữa nhiệm vụ của cảnh sát với nghĩa vụ của công tố, đặc biệt là liên quan đến điều tra cũng như việc “làm rõ và chứng minh sự thật.” Hệ quả là, quan hệ giữa công tố với cảnh sát phức tạp hơn so với quan hệ với các cơ quan tham gia tố tụng khác trong tư pháp hình sự Các Công tố viên điều hành tại Nhật Bản đã phải dành khá nhiều thời gian và công sức để xử lý mối quan hệ nhạy cảm này

Tác giả Byung-Sun Cho sau khi làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn

của Viện Công tố và Công tố viên đã đánh giá trong “Báo cáo nghiên cứu về tổ

chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Hàn Quốc” của mình là tại Hàn Quốc

Trang 32

[23], Công tố viên có vị trí rất quan trọng, có thể chỉ đạo hoạt động điều tra truy tố trong mối quan hệ với cảnh sát tư pháp và các lực lượng khác Mối quan hệ này không chỉ là sự hợp tác mà còn là mối quan hệ mệnh lệnh, chấp hành Mô hình tổ chức của hệ thống công tố Hàn Quốc được xây dựng từ khái niệm Độc lập công tố (Prosecutorial Independence) vốn tương đồng với khái niệm Độc lập tư pháp Cải cách tư pháp tại Hàn Quốc đã bắt đầu xem công tố viên như người chỉ huy việc điều tra và như một bên đúng nghĩa trong phiên tòa chứ không phải là một bán thẩm phán Do đó, Công tố viên Hàn Quốc vẫn là một hệ thống duy nhất kết hợp

cả hệ thống thông luật và hệ thống luật dân sự Do vậy, những thay đổi cần thiết

về pháp luật đối với ông tố viên như là một yêu cầu tự nhiên của nền tư pháp mang tính chất kết hợp này

1.2.3 Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố

Vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công

tố ở Liên bang Nga luôn mang tính thời sự kể từ khi Chương trình cải cách tư pháp được thực hiện từ 2007 Theo tài liệu nghiên cứu của bốn Giáo sư trong nhóm cố vấn của Tổng thống Liên bang Nga về cải cách tư pháp “Luận cương về

cải cách tư pháp ở Liên bang Nga” [154] đã nêu rõ mục tiêu của cải cách tư pháp

ở Liên bang Nga là bảo đảm độc lập xét xử của Tòa án Muốn thế, hoạt động xét

xử và hoạt động công tố tuy đều tuân thủ mục đích của tố tụng hình sự nhưng vẫn cần độc lập với nhau Các chức năng công tố và xét xử không được lẫn lộn Trong Viện kiểm sát, hoạt động của Kiểm sát viên về tố tụng là độc lập, vì nếu hành chính lẫn với tư pháp sẽ dễ dẫn đến vi phạm pháp luật Do đó cần khắc phục sớm những bất cập hiện nay của pháp luật về tố tụng hình sự về quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên

“Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” của Vivienne Bath [20] nêu rõ: Sau khi chuyển

đổi nền kinh tế về cơ bản, Trung Quốc vẫn giữ mô hình Viện kiểm sát trước khi chuyển đổi Viện kiểm sát vẫn trực thuộc cơ quan đại diện, không nằm trong hệ

Trang 33

thống các cơ quan hành chính Hệ thống Cơ quan điều tra ở Trung Quốc thuộc Bộ Công an Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; được trao thẩm quyền điều tra nên có vị trí, vai trò, quyền hạn rất lớn và có thực lực so với các cơ quan công tố trên thế giới hiện nay Viện kiểm sát Trung Quốc, ngoài việc chịu sự giám sát theo hệ thống ngành dọc còn chịu sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng cấp Hệ thống Viện kiểm sát ở Trung Quốc được tổ chức thành bốn cấp phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án

Bài viết “Về mô hình tổ chức Viện kiểm sát trong bối cảnh cải cách tư pháp

ở Việt Nam” của Richard S Shiner [100], chuyên gia của UNDP thực hiện giới

thiệu về chế độ công tố Hoa Kỳ và chế độ kiểm sát ở Liên bang Nga, trên cơ sở đó khuyến nghị mô hình công tố cho Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã so sánh hai loại thiết chế kiểm sát (ở Liên bang Nga) và công tố (ở Hoa Kỳ) Ở Hoa

Kỳ, với 31.000 công tố viên bang và ở các địa phương, hoạt động với thẩm quyền độc lập, tiến hành truy tố các tội phạm xay ra trên địa bàn mà không chịu sức ép

và sự giám sát của Bộ Tư pháp và chính quyền cấp trên Trong khi đó, ở Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang là thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang lại có quyền giám sát trực tiếp họat động công tố của các Viện trưởng kiểm sát cấp vùng Đây là những vấn đề cần nghiên cứu khi vận dụng ở nước ta

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Qua việc nghiên cứu, khái quát các công trình tiêu biểu về các vấn đề liên quan đến Viện kiểm sát/Viện công tố; Kiểm sát viên của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy, nhìn chung các công trình của các nhà khoa học ở những cấp độ và khía cạnh khác nhau đều đã phân tích những vấn đề lý luận Pháp luật về Kiểm sát viên; Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; các yêu cầu, đặc điểm của dân chủ, các cơ chế thực hành quyền công tố; đề cập đến việc thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải

Trang 34

cách nói riêng để thấy được sự cần thiết phải đảm bảo quyền thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Một số công trình đã nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của Pháp luật về Kiểm sát viên ở Việt Nam hiện nay; tìm

ra những yếu tố tác động, những giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả việc thực hành quyền công tố; nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng thiết chế thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách trên phạm vi cả nước Các công trình này đã góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam; đánh giá những mặt làm được, những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam; đưa ra được các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện, bảo đảm nâng cao chất lượng của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

Các công trình nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau như: tập trung phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, hình thức, vai trò quan trọng của pháp luật về Kiểm sát viên và việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, mỗi tác giả có những cách tiếp cận cùng với mục đích nghiên cứu riêng Tuy nhiên, riêng đối với việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật

về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử về Nhà

nước và pháp luật

Để đạt được mục tiêu của luận án, quá trình nghiên cứu đã kế thừa có chọn lọc kết quả của những công trình khoa học nêu trên và tiếp tục làm rõ một số vấn

đề cụ thể:

Trang 35

* Về lý luận, luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ

- Khái niệm pháp luật về quyền công tố, thực hành quyền công tố và xác định đây là các khái niệm công cụ để nghiên cứu khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Một khái niệm cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đưa ra quan điểm nhất quán và gắn với các tư duy lý luận pháp lý mới, tư tưởng quan điểm mới của Hiến pháp 2013 Trên cơ sở này, những nội dung cần điều chỉnh, bổ sung trong pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố mà các công trình khoa học nêu trên chưa đề cập đến cũng được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

- Khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố là vấn đề cơ bản để từ đó phân tích, làm rõ các nội dung lý luận của khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố

- Cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, bao gồm: đặc điểm, nội dung vai trò, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về Kiểm sát viên; yêu cầu cải cách tư pháp và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố; điều kiện bảo đảm hoàn thiện của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam; Pháp luật về Kiểm sát viên/Công tố viên trong thực hành quyền công tố của một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo ở Việt Nam

* Về thực tiễn, luận án tập trung làm rõ

- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện pháp luật tổ chức và hoạt động của mô hình Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cụ thể: làm rõ pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố qua các giai đoạn từ 1945 đến năm 1959,

từ 1960 đến trước 2002 và từ 2002 đến nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp

Trang 36

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chỉ rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng nói trên Rút ra bài học kinh nghiệm để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp

Từ việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố, Luận án xây dựng luận cứ, đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm cho việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Kết quả nghiên cứu chương 1 cho thấy, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án Những công trình này liên quan đến các nhóm vấn đề cơ bản sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viên

Đa số các nghiên cứu này tập trung đi vào phân tích và làm rõ nội dung khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, đặc biệt nhấn mạnh vai trò, chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra Bên cạnh đấy, các công trình nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích, làm rõ chức năng vấn đề thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc đánh giá hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về Kiểm sát viên trên cơ sở mối quan hệ pháp

lý của Viện kiểm sát với các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, dù rất đa dạng và bao trùm nhiều khía cạnh nhưng các công trình khoa học nêu trên vẫn thiếu vắng các nghiên cứu sâu về bản chất, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tổ chức và hoạt động thực hiện quyền công tố gắn với bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là gắn với các tư duy lý luận pháp lý mới, tư tưởng mới của Hiến pháp 2013

Trang 37

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Các công trình ở nhóm này đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Thông qua việc luận chứng, làm rõ những vấn đề lý luận chung về thủ tục, mô hình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng liên quan đến Kiểm sát viên, kết hợp đánh giá một số hạn chế, vướng mắc, bất cập trong pháp luật tố tụng hình sự khi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố từ đó đưa ra một số kiến nghị mang tính khái quát theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động điều tra, truy tố, gắn với bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần mới của Hiến pháp 2013

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Ở nhóm này, các công trình tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố một cách gián tiếp thông qua phân tích, đánh giá làm rõ chức năng công tố của Viện kiểm sát trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, trong tổ chức, cơ cấu của hệ thống tư pháp hình sự Trên cơ sở xác định cải cách tư pháp là yêu cầu khách quan, tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do, Nhân dân, vì Nhân dân

và để bảo đảm hiệu quả của mối quan hệ chế ước, phối hợp trong hệ thống tư pháp hình sự thì cần có mô hình mới về Viện kiểm sát và những thay đổi pháp luật về quy định địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố

Nhóm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố Các công trình ở nhóm này đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố gắn với mô hình tố tụng và thực tiễn tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước của từng quốc gia cụ thể Bên cạnh những đặc điểm mang tính đặc thù quốc gia, thì đặc điểm chung nhất của pháp luật về Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố của các nước đó là để Kiểm sát

Trang 38

viên/Công tố viên thực hành quyền công tố một cách hiệu quả thì cần phải có cơ chế pháp lý bảo đảm tính độc lập, chủ động của Kiểm sát viên/Công tố viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Đây là hạt nhân có giá trị tốt cho việc nghiên cứu tìm ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam

Các công trình khoa học được đề cập trong chương 1 của luận án, ở mức độ khác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án Song cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện, hệ thống dưới góc độ Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật vấn đề hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp Vì vậy, việc tổng hợp, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước đối với pháp luật về Kiểm sát viên VKSND trong thực hành quyền công tố sẽ góp phần khái quát lại những kết quả đã đạt được của các công trình đã công bố đồng thời chỉ ra mảng vấn đề chưa được quan tâm thỏa đáng khi đề cập đến pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam Những nhận xét, đánh giá sau khi nghiên cứu tổng quan (chương 1) sẽ giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng quát về các giá trị có thể kết thừa và phát triển, cũng như vấn

đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trang 39

2.1.1 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố

Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà

nước, là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Mặc dù, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được thực hiện ở nước ta từ năm 1945 đến nay, nhưng trong thực tiễn khoa học pháp lý giữa các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lập pháp và các cán bộ đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực tư pháp vẫn chưa đạt được nhận thức thống nhất Trong lĩnh vực lập pháp, thuật ngữ quyền công tố được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều

138 Hiến pháp năm 1980 trong cụm từ “Thực hành quyền công tố” Tuy nhiên cho đến nay, trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố, thực hành quyền công tố

Quan điểm thứ nhất đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND nên cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố [136, tr.85-87]

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa sơ thẩm” [83] Theo quan điểm này thì chủ thể duy nhất thực hành quyền công tố là Viện kiểm sát và quyền này chỉ được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự và phạm vi của nó cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất là giai đoạn xét xử sơ thẩm

Trang 40

Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền của cơ quan hành pháp

truy tố bị cáo ra trước tòa án [13] Công tố chỉ thực hiện chức năng đại diện cho

Nhà nước để bảo vệ lợi ích công khi nhà nước là một bên trong vụ án bởi vì, bản chất của công tố là việc đại diện cho quyền lực công để truy tố tội phạm, đưa người có hành vi phạm tội ra trước toà án để xét xử, do đó, công tố phải là một chức năng không tách rời của hành pháp - cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực thi pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng, chịu trách nhiệm trước nhân dân về tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm Viện Công tố phải là một cơ quan thuộc nhánh hành pháp và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và trước nhân dân về việc truy tố tội phạm và buộc tội trước Toà

Quan điểm thứ tư cho rằng: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội” [128, tr.10] Do vậy, chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có Viện kiểm sát mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác như: Cơ quan điều tra, Cơ quan xét xử, Cơ quan thi hành án và phạm vi quyền công tố có ở tất cả các giai đoạn tố tụng từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án

Quan điểm thứ năm cho rằng: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [107, tr.40] Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các lĩnh vực tố tụng khác như: dân sự, hành chính, kinh tế, lao động

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về quyền công tố Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý nhưng cũng đều bộc lộ những hạn chế nhất định nhìn từ các khía cạnh: cơ sở lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn

Ngày đăng: 28/12/2017, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các Văn kiện Đại hội XII của Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2016
2. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2004), Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
Năm: 2004
3. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2012), Sổ tay công tác cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công tác cải cách tư pháp
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
4. Ban Nội chính Trung ương (2015), Tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn 30 năm đổi mới (1986-2016) về tư pháp - nội chính, phòng chống tham nhũng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn 30 năm đổi mới (1986-2016) về tư pháp - nội chính, phòng chống tham nhũng
Tác giả: Ban Nội chính Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
5. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
6. Nguyễn Hòa Bình (2013), "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới", tại trang www.tapchicongsan.org.vn, [truy cập ngày 21/3/2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Năm: 2013
7. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
8. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
9. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
10. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
11. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 22/6/2005 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 22/6/2005 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
12. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển bách khoa, tr.443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2006
13. Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo góp ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
14. Bộ Tư pháp Việt Nam và UNDP, Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia - Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia - Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga
15. Lê Cảm (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
16. Lê Văn Cảm (Chủ nhiệm) (2009), Nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp, Đề tài khoa học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số QG.07.37, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp hình sự phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp
Tác giả: Lê Văn Cảm (Chủ nhiệm)
Năm: 2009
17. Lê Lan Chi (2006), "Một số ý kiến về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự nhìn từ yêu cầu chuyển đổi Viện kiểm sát thành Viện công tố", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự nhìn từ yêu cầu chuyển đổi Viện kiểm sát thành Viện công tố
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2006
18. Lý Văn Chính (2004), Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Lý Văn Chính
Năm: 2004
19. Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), "Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945" tại trang https://thuvienphapluat.vn, [truy cập ngày 12/04/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa
Năm: 1945
20. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Việt Nam (2010), Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vivienne Bath, Đại học Tổng hợp Sydney, Sarah Biddulph, Đại học Tổng hợp Melbourne Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Việt Nam
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w