1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh hà tĩnh)

113 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế khởi tố vụ án hình sự nói chung và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ dựa trên quy định chung của luật tố tụng chứ không quy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ MAI

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm

trật tự an toàn giao thông đ-ờng bộ

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ MAI

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm

trật tự an toàn giao thông đ-ờng bộ (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8

1.1 Khái quát chung về khởi tố vụ án hình sự 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ khởi tố vụ án hình sự 8

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 13

1.2 Khái quát chung tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 15

1.3 Khái niệm và đặc điểm khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 18

1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự 26

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình Việt Nam năm 1988 26

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 34

2.1 Quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự 34

Trang 5

2.1.1 Chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự 34

2.1.2 Căn cứ, trình tự, thời hạn khởi tố vụ án hình sự 37

2.1.3 Thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự 44

2.1.4 Hậu quả pháp lý của việc khởi tố vụ án hình sự 45

2.1.5 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 47

2.2 Thực tiễn khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 48

2.2.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua 49

2.2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 51

2.2.3 Những tồn tại và hạn chế trong thực tiễn hoạt động khởi tố 58

2.2.4 Nguyên nhân của thực trạng khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 73

3.1 Giải pháp về pháp luật 73

3.1.1 Những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 về vấn đề khởi tố vụ án hình sự 73

3.1.2 Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự 77

3.1.3 Tiếp tục hoàn thiện các quy định về tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết thông tin về tội phạm 78

3.1.4 Tiếp tục hoàn thiện các quy định về trách nhiệm xác định dấu hiệu tội phạm 84

3.1.5 Tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự 86

3.2 Các giải pháp khác 88

Trang 6

3.2.1 Nâng cao mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện

kiểm sát và các Cơ quan hữu quan khác 88

3.2.2 Nâng cao trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc khởi tố vụ án hình sự 89

3.2.3 Nâng cao vai trò và hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động khởi tố vụ án hình sự 91

3.2.4 Về công tác cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính cho hoạt động khởi tố vụ án hình sự 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CBCS: Cán bộ chiến sĩ

CQĐT: Cơ quan điều tra CSĐT: Cảnh sát điều tra ĐTV: Điều tra viên

TAND: Tòa án nhân dân THTT: Tiến hành tố tụng TNGT: Tai nạn giao thông TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thông kê tình hình tai nạn giao thông đường bộ xảy ra

trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 - 2016 50

Bảng 2.2: Thống kê về tình hình khởi tố vụ án liên quan đến tai

nạn giao thông đường bộ từ năm 2011 - 2016 53Bảng 2.3: Thống kê về tình hình khởi tố vụ án liên quan đến tai

nạn giao thông đường bộ từ năm 2011 - 2016 58

Bảng 2.4: Thống kê các vụ án bị đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra 59

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là nhiệm

vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Để đáp ứng được yêu cầu này thì việc hoàn thiện chính sách pháp luật Hình sự và Dân sự đầy đủ thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan

và chức danh tư pháp phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những yêu cầu thiết thực trong thời gian tới Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Khởi tố vụ án hình sự là một trong những giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình TTHS Có thể nói khởi tố vụ án hình sự không chỉ

có ý nghĩa về mặt pháp lý là giai đoạn khởi động và có tính định hướng cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo mà còn có ý nghĩa thiết thực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm khiến cho mọi tội phạm đều bị phát hiện và được xử lý nghiêm minh Để đạt được điều đó khởi tố vụ án hình sự đòi hỏi phải có căn cứ, đúng thẩm quyền và theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định Trong những năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm nói chung, các tội phạm về tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng diễn ra tương đối phức tạp, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng

Việc khởi tố vụ án đúng sẽ giúp xác định chính xác về hướng giải quyết của vụ án, thể hiện trách nhiệm của các cơ quan tư pháp hình sự trong việc

Trang 10

kịp thời phát hiện và xử lý tội phạm, không bỏ lọt tội phạm, góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, qua đó giúp chúng ta có thể đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự Trên thực tế khởi tố vụ án hình sự nói chung

và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ dựa trên quy định chung của luật tố tụng chứ không quy định cụ thể trong luật nên về mặt lý luận và thực tiễn để định hướng cho việc nhận thức

về vấn đề này vẫn tồn tại một số bất cập trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật Từ những nhu cầu về mặt lý luận, thực tiễn cũng như nhằm đảm bảo thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội khóa XIII về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013 Có thể nhận thấy việc thực hiện một công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề khởi tố vụ án hình sự là một nhu cầu tất yếu Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý khởi tố vụ án hình sự các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói chung và các biểu hiện cụ thể của nó tại Hà Tĩnh để

từ đó đề ra những biện pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là rất cần thiết Vì lý do đó

tác giả đã lựa chọn đề tài “Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm

trật tự an toàn giao thông đường bộ (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu khoa học, trong các tập bình luận khoa học về luật hình sự, các luận văn thạc sĩ,

Trang 11

tiến sĩ của nhiều tác giả nổi tiếng về các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung trong BLHS Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các tác giả đã đề cập khá sâu sắc và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này; phân biệt rõ các trường hợp phạm tội này với một số tội phạm khác có chung đặc điểm Vấn đề khởi

tố vụ án hình sự hiện nay hầu như chỉ được nghiên cứu sơ lược và thể hiện trong một phần nội dung của các giáo trình, bình luận khoa học chuyên

ngành luật như: Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật tố

tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam - Khoa Luật, trường Đại học Quốc gia Hà Nội,

Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà

Nội; Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam - GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên); Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự - PGS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, 2004; Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự,

Viện nghiên cứu khoa học Bộ tư pháp, 1992…

Ngoài ra, khởi tố vụ án hình sự cũng được nghiên cứu trong một số luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học khi bàn về các vấn đề có liên quan như:

Vai trò của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự, Nguyễn

Khắc Quang, luận văn thạc sĩ 2014; Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình

sự, Trần Văn Huân, luận văn thạc sĩ 2014; Khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự - thực trạng và giải pháp, Trịnh Công Sơn,

Luận văn thạc sĩ 2008

Từ tình hình nghiên cứu trên có thể nhận thấy việc nghiên cứu về chế định khởi tố vụ án hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sĩ là nhu cầu tất yếu, cần thiết nhằm xây dựng tổng quan về mặt lý luận, nhận thức của vấn đề này,

từ đó nâng cao chất lượng trong việc áp dụng pháp luật, góp phần hiệu quả

Trang 12

vào hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như thực hiện những yêu cầu cải cách tư pháp trong thời đại mới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu đề tài: xây dựng một nghiên cứu mang tính tổng quan về vấn đề khởi tố vụ án hình sự, trong đó nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại địa phương để tìm ra những điểm hạn chế trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật, từ đó đề ra những phương hướng hoàn thiện pháp luật cũng như biện pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về vấn đề này trong thực tế, góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh cải cách tư pháp, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới

- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

+ Khái quát về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án bao gồm căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của việc khởi tố vụ án hình sự nói chung và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xây dựng khái niệm khoa học về khởi tố vụ án hình sự, các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

+ Nghiên cứu tình hình phát triển của các quy định về khởi tố vụ án hình sự trong pháp luật Việt Nam, so sánh với các quy định về vấn đề này trong pháp luật của các nước khác, từ đó nhận thức rõ hơn về bản chất và

xu hướng phát triển của vấn đề

+ Phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS về khởi tố vụ án hình sự, trong đó có đề cập đến những điểm mới của BLTTHS năm 2015 liên quan đến chế định này

+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về khởi tố vụ án hình sự nói chung và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao

Trang 13

thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tìm hiểu nguyên nhân của các hạn chế và đề xuất hướng khắc phục cả về mặt xây dựng và áp dụng pháp luật

+ Phân tích thực tiễn công tác khởi tố loại tội phạm này tại tỉnh Hà Tĩnh để thấy được các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác này trong thời gian qua

+ Phân tích những đặc điểm đặc thù của khởi tố các tội xâm phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ trên cơ sở gắn với đặc điểm của tỉnh Hà Tĩnh, thực trạng khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đồng thời chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc khởi

tố loại tội phạm này tại tỉnh Hà Tĩnh

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành về khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLTTHS Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự, qua đó góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn đối với các loại hành vi cẩu thả gây hậu quả nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chủ yếu nghiên cứu xung quanh các vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề khởi tố vụ án hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam, các dấu hiệu pháp lý của khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Phân tích nguyên nhân, tìm

ra những hạn chế về mặt lý luận, nhận thức cũng như việc triển khai các quy định trong bộ luật TTHS, tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế dựa trên các đặc điểm của địa phương, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và trên phạm vi

cả nước nói chung

Trang 14

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Những vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ dưới góc độ luật tố tụng hình sự

+ Về địa bàn: Tỉnh Hà Tĩnh

+ Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp luận và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có hệ thống cơ quan Tư pháp trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích so sánh và phương pháp tổng hợp Ngoài ra, còn một số phương pháp khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia

6 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài

- Khái quát về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án, xây dựng khái niệm khoa học về khởi tố vụ án hình sự bao gồm căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền khởi tố vụ án Đây là cơ sở về mặt lý luận trong việc nhận thức đầy đủ về vấn đề khởi tố vụ án hình sự

- Thông qua việc nghiên cứu tình hình phát triển của các quy định về khởi tố vụ án hình sự trong pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật của các nước khác để đưa ra cái nhìn khái quát về các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề khởi tố, đồng thời chỉ ra xu hướng phát triển trong thời

kì hội nhập quốc tế

- Trên cơ sở phân tích các quy định của BLTTHS về khởi tố vụ án hình sự, đưa ra những nhận xét, đánh giá tính hợp lý, hiệu quả của các quy định này trên thực tế, góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định về khởi tố

vụ án hình sự

Trang 15

- Về mặt thực tiễn: những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự nói chung và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng Tìm hiểu nguyên nhân của các hạn chế và đề xuất hướng khắc phục cả

về mặt xây dựng và áp dụng pháp luật Không chỉ hỗ trợ cho hoạt động áp dụng pháp luật của địa phương mà ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lực lượng tham gia phòng, chống loại tội phạm này không chỉ ở tỉnh Hà Tĩnh mà còn có thể áp dụng đối với các địa phương khác

có điều kiện tương tự

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự các tội xâm

phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn khởi tố vụ án hình sự

đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh

Hà Tĩnh

Chương 3: Các giải pháp nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của

pháp luật về khởi tố vụ án hình sự các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Khái quát chung về khởi tố vụ án hình sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ khởi tố vụ án hình sự

- Khái niệm

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó

cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự [41, tr.231]

Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, giai đoạn khởi động của quá trình tố tụng hình sự, giai đoạn này cơ quan

có thẩm quyền tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thu thập, xử lý các thông tin ban đầu, khi có đầy đủ chứng cứ, sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự Vì con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng, vấn đề quyền con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội Chính vì vậy họ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Họ không chỉ được bảo đảm các quyền tự do dân chủ mà “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” [25, Điều 71]

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì quá trình tố tụng hình sự bao gồm năm giai đoạn là: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án Trong đó, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, ở giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền thu thập, xử lý các thông tin ban đầu và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự Xác định những dấu hiệu tội phạm trong giai đoạn này là việc xác định những dấu hiệu, hành vi và sự kiện phạm

Trang 17

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, từ đó các quan hệ tố tụng bắt đầu phát sinh Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở những thông tin ban đầu thu thập đƣợc đi đến xác định

có hay không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự và trên cơ sở đó mà ra quyết định cho phù hợp Kết quả của giai đoạn này làm cơ sở mở ra các hoạt động

tố tụng tiếp theo hoặc có thể chấm dứt mọi hoạt động tố tụng hình sự đối với tin báo về tội phạm

Theo từ điển luật học thì khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm [49, tr.249]

Theo tác giả Lê Cảm, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn TTHS đầu tiên mà trong đó cơ quan tƣ pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đƣợc thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố

vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó [4, tr.26]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của TTHS để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự [7, tr.64]

Mặc dù có nhiều quan điểm thể hiện bằng nhiều khái niệm khác nhau tuy nhiên đều coi khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên và là một giai đoạn độc lập, mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự và là căn cứ pháp lý cho các giai đoạn kế tiếp

Trang 18

Tổng hợp từ nhiều quan điểm khác nhau thì khởi tố vụ án hình sự được

hiểu như sau: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên

mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó

- Đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Là một giai đoạn của tố tụng hình sự nên dĩ nhiên khởi tố vụ án hình sự

sẽ có mở đầu và kết thúc Có thể thấy rằng từ khái niệm cơ bản nhất của giai đoạn khởi tố có thể rút ra những đặc điểm chính sau đây:

Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự

đầu tiên, được bắt đầu với việc các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo hoặc trực tiếp phát hiện về tội phạm và thời điểm kết thúc giai đoạn này là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ hai, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ có nhiệm vụ xác định có

hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Thứ ba, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thì chủ thể có quyền

tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án; các Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như Kiểm lâm, Hải quan

Thứ tư, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các biện pháp mà các cơ

quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền được áp dụng đó là:

+ Biện pháp yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến tội phạm

Trang 19

+ Biện pháp khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết tội phạm; áp dụng các biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm, người bị hại, người biết việc

+ Biện pháp trưng cầu giám định, thực nghiệm điều tra ;

- Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Xuất phát từ khái niệm khoa học đã được đưa ra ta có thể nhận thấy với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự thì giai đoạn này có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

+ Tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm tra, xác minh nguồn thông tin đó để xác định có hay không có tội phạm xảy ra làm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng của vụ việc, đồng thời giữ gìn, bảo quản những cơ sở

và căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định pháp luật

+ Khi phát hiện và tiếp nhận về tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự phải xác định sự tồn tại của sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình

sự Nếu xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án, hoặc thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 107

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 “Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình

sự”, thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

+ Phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi loại tội phạm xảy ra, có biện pháp phù hợp cho việc điều tra làm rõ và xử lý công minh đối với những loại tội phạm đó Giúp cho cơ quan có chức năng kiểm sát, giám sát hoạt động điều tra nắm được diễn biến tình hình tội phạm và công tác điều tra tội phạm

để có thể đặt ra các yêu cầu trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, truy tố, buộc tội người phạm tội, góp phần quan trọng trong công tác giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội

Trang 20

+ Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đầy đủ trong hoạt động điều tra, các quyền lợi cơ bản của công dân phải được tôn trọng Khởi tố vụ án hình sự

là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự mà còn là phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc trong tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm và phát hiện hành vi phạm tội một cách kịp thời

+ Xác định dấu hiệu của tội phạm, tức là xác định xem sự việc xảy ra

có dấu hiệu của một tội phạm cụ thể hay không, nói cách khác là có vụ án hình sự đã xảy ra hay không Để thực hiện nhiệm vụ này, cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, trong phạm vi thẩm quyền của mình và thời hạn luật định phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm bằng những biện pháp

cụ thể: Kiểm tra giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu cần thiết Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan giải thích rõ sự việc nhằm mục đích làm rõ dấu hiệu tội phạm Khi yêu cầu giải thích, cơ quan có thẩm quyền không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến hành lấy lời khai của người bị bắt Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định dấu hiệu tội phạm

+ Sau khi tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, khi có đủ cơ sở chứng minh, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thực hiện một trong hai nhiệm vụ quan trọng đó là:

Trang 21

Nếu đủ cơ sở chứng minh có dấu hiệu tội phạm xảy ra, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và vụ án sẽ được tiến hành các bước tiếp theo của quá trình tố tụng

Nếu đủ cơ sở chứng minh không có dấu hiệu tội phạm xảy ra, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và vụ án sẽ được khép lại

Việc đi kèm với một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố

vụ án hình sự, nhất thiết phải có một số văn bản cần thiết như: Biên bản xảy

ra sự việc hoặc biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai nhân chứng, biên bản ghi lời khai người bị hại… đây là những văn bản làm cơ sở cho việc tiến hành các bước tiếp theo

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

- Mục đích chung của tố tụng hình sự Việt Nam là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Để thực hiện mục đích chung đó thì mục đích cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình

sự là phát hiện kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm không làm oan người vô tội, xác định tội phạm, phát hiện người phạm tội trên cơ sở xác định dấu hiệu của tội phạm, bảo đảm pháp chế của Nhà nước trước hành

vi phạm tội nhằm ngăn ngừa và xử lý kịp thời tội phạm, người phạm tội

Tố tụng hình sự là một quá trình thống nhất của nhiều giai đoạn tố tụng độc lập Giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn sau kiểm tra lại giai đoạn trước Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể như:

- Khởi tố vụ án bảo đảm cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, là cơ sở để thực hiện nguyên tắc tránh bỏ lọt tội phạm trong thực

Trang 22

tiễn áp dung pháp luật tố tụng hình sự Chỉ có thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh kịp thời các nguồn tin về tội phạm mới có điều kiện làm rõ một sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không

- Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu các hoạt động điều tra Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyết định khởi tố vụ án trước, rồi mới được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một

số trường hợp đặc biệt

- Khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự mà còn

là phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm

- Khởi tố vụ án hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi

tố vụ án hình sự một cách thiếu cân nhắc kỹ, vội vàng và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo trong việc truy cứu tố tụng hình sự ở các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo sau (như: Điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc là không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật, làm oan những người vô tội…)

- Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội

- Khởi tố vụ án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng

Trang 23

tiếp theo Do vậy, hoạt động điều tra chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm mà không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấu hiệu tội phạm nữa

1.2 Khái quát chung tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là những hành

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác

Khái niệm trên bao gồm dấu hiệu của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, là cơ sở pháp lý để xem xét xác định hành vi nào là tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Dấu hiệu cụ thể của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ bao gồm:

Dấu hiệu thứ nhất của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường

bộ trước hết phải là “hành vi nguy hiểm cho xã hội” Hành vi xâm phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ nguy hiểm cho xã hội là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho xã hội hoặc hành vi tạo khả năng gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Các thiệt hai do hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra cho các quan hệ xã hội bao gồm: tính mạng, sức khỏe, tài sản người khác Do vậy, trường hợp vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường

bộ gây thiệt hại cho chính bản thân người vi phạm mà không gây thiệt hai cho tính mạng, tài sản của người khác, thì không bị coi là tội phạm

Dấu hiệu thứ hai của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là

“được quy định trong bộ luật hình sự” tại Điều 2 Bộ luật Hình sự quy định: “Chỉ

người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Do vậy, chỉ một người nào phạm một trong các tội sau đây được

Trang 24

quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ Tức là không thể có tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nếu như hành vi phạm tội đó chưa được

mô tả tại một điều luật cụ thể ở phần các tội phạm của bộ luật hình sự

Dấu hiệu thứ ba của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

là “tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện” Người

có năng lực trách nhiệm hình sự là con người cụ thể đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Điều 12 Bộ luật hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Năng lực trách nhiệm hình sự được Nhà nước ta quy định theo

phương pháp loại trừ tức là khẳng định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì và nếu không phải tình trạng đó, thì là tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự Theo quy định tại điều 13 Bộ luật Hình sự, người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình là người không có năng lực trách nhiệm hình sự Họ không phải chịu trách nhiệm hình sự Đối với những người này, Nhà nước sẽ

áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Tuy nhiên, để trừng trị những người phạm tội do say rượu hoặc dùng chất kích thích mạnh, Nhà nước vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ Mặc dù trong thực tế có người do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh mà không nhận thức được hành vi mà họ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình trong khi phạm tội Cho

nên, tại điều 14 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội trong tình trạng

Trang 25

say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” [27, Điều 14] Tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự

năm 1999 còn quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây “b

Trong khi say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác”, nay tại điểm b

khoản 2 điều 202 Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2009 cũng được

quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây “b, trong tình

trạng sử dụng bia rượu mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng” [27] là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với tội vi

phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Dấu hiệu thứ tư của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

là “tính có lỗi của tội phạm” Lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện tội phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả cho xã hội đối với hành vi đó gây ra Lỗi của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ được thực hiện dưới hình thức vô ý

Dấu hiệu thứ năm của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường

bộ là “tính phải chịu hình phạt” của tội phạm

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền, lợi ích của người phạm tội Mục đích của hình phạt là trừng trị người phạm tội; giáo dục họ trở thành người công dân có ích cho xã hội; ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Qua phân tích các dấu hiệu của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, có thể đưa ra khái niệm tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông

đường bộ như sau: tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là

những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý xâm phạm

Trang 26

trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trong cho sức khỏe, tài sản của người khác

Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là những hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi vi phạm đó có nhiều loại khác nhau, gây ra thiệt hại ở nhiều mức khác nhau Theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày

13 tháng 11 năm 2013 của Chính Phủ và Bộ luật hình sự năm 1999 thì các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự [8]

1.3 Khái niệm và đặc điểm khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Khái niệm: Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an

toàn giao thông đường bộ là hoạt động của Cơ quan có thẩm quyền, được thực hiện khi mà một người có những hành vi theo mô tả của các điều 202,

203, 204, 205 Bộ luật hình sự năm 1999 và những hành vi này thỏa mãn dấu hiệu về mặt hậu quả để làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ bắt đầu từ khi Cơ quan có thẩm quyền nhận được những thông tin đầu tiên về hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Có thể thấy rằng

từ khái niệm cơ bản nhất của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói chung và khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông

đường bộ nói riêng, thì có thể rút ra những đặc điểm chính như sau:

Thứ nhất, Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trước

hết xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trên lĩnh vực giao thông đường

bộ và đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, bên cạnh việc trực tiếp xâm hại đến các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong nhiều trường hợp

Trang 27

còn trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe con người; tài sản của Nhà nước, của tổ chức và công dân

- Khách thể của tội phạm là sự an toàn của hoạt động giao thông đường

bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác

Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác Để đấu tranh phòng chống vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bằng pháp luật hình sự, Nhà nước quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi này Theo đó, chỉ những hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có tính chất nguy hiểm cao, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác và hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời mới bị coi là phạm tội hình sự

- Mặt khách quan của tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bao gồm các yếu tố: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Thông thường hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ

bị xử phạt hành chính Để truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo khoản 1 của điều luật phải gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác

Tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ thường được thực hiện với lỗi vô ý thể hiện dưới hai dạng là vô ý vì quá tự tin và vô

ý vì cẩu thả Người phạm tội không mong muốn xảy ra hoặc nghĩ xảy ra nhưng có thể ngăn ngừa được Chính vì do tự tin hoặc do cẩu thả trong khi thực hiện hành vi mà để xảy ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Riêng hai

Trang 28

tội: Đua xe trái phép và Tổ chức đua xe trái phép quy định tại Điều 206, Điều 207 được thực hiện bằng lỗi cố ý mà cụ thể là cố ý trực tiếp Vì những người thực hiện hành vi đua xe hoặc tổ chức đua xe trái phép đều nhận thức được rằng hành vi đua xe không được cho phép của cơ quan có thẩm quyền

và bị pháp luật cấm Về động cơ phạm tội đối với tội tổ chức đua xe trái phép và đua xe trái phép có nhiều động cơ, mục đích khác nhau như vụ lợi, lấy số má, danh tiếng giang hồ nhưng không là yếu tố bắt buộc trong yếu

tố cấu thành tội phạm

- Chủ thể của đa số các tội phạm cùng nhóm xâm phạm quy định về trật

tự an toàn giao thông đường bộ phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình

sự và từ đủ 16 tuổi trở lên vì các tội phạm quy định tại các điều 202, điều 203, điều 204, điều 205 đều có mức cao nhất của khung hình phạt ở tất cả các khoản tối đa là 15 năm tù (tức đều là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng và đều có lỗi do vô ý) Theo quy định của Luật hình sự Việt Nam những người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ

16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng

do cố ý, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Có hai tội phạm của nhóm này cần có chủ thể đặc biệt là tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường

bộ không bảo đảm an toàn (Điều 204) và tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205) Để bảo đảm phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, thì việc khởi tố

vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, nó chính thức công nhận sự tồn tại của một vụ án và từ đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, cũng như những người tham gia tố tụng, việc khởi tố vụ án hình

sự là sự khởi động của hoạt động tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố để bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, tránh tình trạng tội phạm xảy

ra mà không có cơ quan tiến hành tố tụng nào khởi tố

Trang 29

Thứ hai, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ chỉ có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định tại các điều 202, điều 203, điều 204, điều 205, điều 206 và điều 207 trong bộ luật hình sự Việt Nam 1999 và để ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm đó

Khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Khi

xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi

tố vụ án hình sự” [29, Điều 104] Chỉ khi có dấu hiệu tội phạm xâm phạm trật

tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra, cấu thành các tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự Việt Nam thì cơ quan điều tra nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, việc làm này phải có căn cứ chính xác, đảm bảo đúng quy trình tố tụng Thể hiện quyền lực nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật trong xử lý các loại tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không bỏ lọt tội phạm

Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là cơ sở pháp lý để tiến hành các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng như: Khởi tố bị can, tạm giam bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn nên đòi hỏi quá trình thực hiện phải hết sức thận trọng, đảm bảo tính trung thực, chính xác; đảm bảo mọi tội phạm đều phải được xử lý và tránh oan sai cho người khác

Thứ ba, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm

trật tự an toàn giao thông đường bộ thì chủ thể có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án; Phòng Cảnh sát giao thông, Cục Cảnh sát giao thông và các Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 30

Thứ tư, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm

trật tự an toàn giao thông đường bộ các biện pháp mà các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền được áp dụng đó là:

- Điều tra tai nạn giao thông thực chất là một hoạt động pháp lý của cơ quan có thẩm quyền điều tra theo luật định Khi một vụ tai nạn giao thông xảy

ra, một trong những đặc điểm dễ nhận thấy đó là yếu tố bất ngờ của vụ tai nạn, diễn biến nhanh, ít có người nắm được đầy đủ toàn bộ diễn biến vụ tai nạn; hơn nữa hiện trường vụ tai nạn thường bị biến dạng, thay đổi do sự tác động của nhiều yếu tố khách quan, chủ quan khác nhau và hậu quả trong vụ tai nạn giao thông thường khó xác định chính xác ngay sau khi tai nạn mới xảy ra; do đó gây khó khăn cho việc lựa chọn và áp dụng đúng trình tự thủ tục tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật Bởi vậy, ngay sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, lực lượng Cảnh sát giao thông cần phối hợp với các lực lượng chức năng khác khẩn trương kịp thời tới hiện trường và tiến hành các công việc cấp bách ban đầu như:

+ Có mặt ngay sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn để giải quyết ban đầu như: tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn, xác định người làm chứng, giải tỏa ùn tắc giao thông;

+ Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lấy lời khai người điều khiển phương tiện, người làm chứng, thu thập tài liệu có liên quan về vụ tai nạn giao thông Trong quá trình giải quyết nếu phát hiện

có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thụ lý điều tra theo thẩm quyền

+ Việc giải quyết ban đầu như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lấy lời khai người điều khiển phương tiện, người làm chứng vụ tai nạn giao thông được thực hiện theo Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Bộ Công an

Trang 31

+ Tiếp nhận những vụ tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm

do Cảnh sát điều tra chuyển giao; xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với các vụ tai nạn giao thông có vi phạm hành chính

- Điều 23 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm

2009, lực lượng Cảnh sát giao thông có quyền hạn tiến hành một số hoạt động điều tra: ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền trong hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Cảnh sát giao thông là lực lượng trực tiếp tiến hành thụ lý điều tra các

vụ tai nạn giao thông; trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì lực lượng cảnh sát giao thông chỉ tiến hành điều tra ban đầu sau đó chuyển hồ sơ thụ lý vụ án cho cơ quan Cảnh sát điều tra trong vòng 7 ngày Như vậy, khi

vụ tai nạn giao thông xảy ra có tội phạm hay không có tội phạm thì lực lượng cảnh sát giao thông giữ vai trò rất quan trọng trong giai đoạn điều tra ban đầu

Kết quả của giai đoạn điều tra ban đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định lỗi của các bên tham gia để từ đó áp dụng biện pháp xử lý thích hợp

Do đó, công việc đầu tiên trong giai đoạn này của lực lượng cảnh sát giao thông là tổ chức tiếp nhận xử lý thông tin về vụ tai nạn và tiến hành các biện pháp khẩn cấp khi tai nạn mới xảy ra

Quá trình tổ chức tiếp nhận thông tin cần nắm rõ địa chỉ, km, số đường xảy ra vụ tai nạn, người báo tin và địa chỉ liên lạc của họ Khi tới hiện trường cần phải phối hợp với các lực lượng dân phố, dân phòng, công an phụ trách xã

để bảo vệ hiện trường và tiến hành các biện pháp cấp bách ngay tại hiện trường như: cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hành lý tư trang, phương tiện giao thông của các bên gây tai nạn, giấy tờ tùy thân…

Trong trường hợp người bị nạn đã chết cần đánh dấu vị trí, tư thế nạn

Trang 32

nhân rồi đưa thi thể vào lề đường để bảo vệ.Tổ chức giải tỏa ùn tắc giao thông cũng như bảo vệ hiện trường khỏi sự xáo trộn bởi các yếu tố khách quan; Tạm giữ người và phương tiện gây tai nạn

Đối với trường hợp người gây tai nạn bỏ trốn thì lực lượng cảnh sát giao thông cần triển khai truy bắt đối tượng bỏ trốn Trên thực tế, khi xảy ra tình huống đối tượng gây tai nạn bỏ trốn, tại hiện trường có thể các lượng dân quân, dân phòng, người chứng kiến sự việc truy bắt đối tượng bỏ trốn; hoặc người biết việc ghi lại biến số xe, các đặc điểm cần thiết để báo cho lực lượng cảnh sát giao thông tiến hành truy bắt khi tới hiện trường hoặc sau thời gian xảy ra tai nạn

Một trong những công việc quan trọng nhất trong giai đoạn điều tra ban đầu là công tác khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông Theo điều

150 Bộ luật Tố tụng hình sự thì cảnh sát điều tra là lực lượng chủ trì khám nghiệm hiện trường Tuy nhiên, do tính chất và đặc điểm riêng của vụ tai nạn giao thông, thì lực lượng cảnh sát điều tra “Chủ trì, phối hợp với Cảnh sát giao thông có mặt ngay tại hiện trường để tiến hành điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông có người chết tại hiện trường; các vụ tai nạn giao thông gây hậu quả từ nghiêm trọng trở lên…” Như vậy, đối với các vụ tai nạn giao thông không có người chết tại hiện trường thì lực lượng cảnh sát giao thông chủ trì khám nghiệm hiện trường

- Nội dung chính trong quá trình khám nghiệm là phát hiện, thu thập các dấu vết tai nạn tại hiện trường phục vụ công tác giám định xác định lỗi của các bên tham gia Đây là quá trình tổng hợp rất nhiều các công việc mà lực lượng cảnh sát giao thông cần tiến hành, cụ thể: Phân công tổ chức cán bộ tham gia khám nghiệm hiện trường; Sử dụng các phương pháp, biện pháp, phương tiện cụ thể để tiến hành khám nghiệm hiện trường; Xác định địa điểm xảy ra tai nạn, xác định phạm vi chung và riêng của từng khu vực trọng tâm tại hiện trường, phát hiện các dấu vết vật chứng tại hiện trường và tính liên quan giữa chúng; khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn…

Trang 33

- Việc xem xét các dấu vết tại hiện trường đòi hỏi phải tỉ mỉ để xác định lỗi của các bên tham gia tai nạn Các dấu vết có thể tồn tại ở trên cơ thể đối tượng tham gia tai nạn, vị trí không gian nơi xảy ra tai nạn, và phương tiện gây tai nạn Các dấu vết này rất phong phú và đa dạng như: dấu vết cày xước, vết phanh, sơn, dầu mỡ, máu, tạp chất, các phần bong vỡ gãy từ phương tiện…Tuy nhiên việc thu thập các dấu vết này phục vụ công tác giám định đòi hỏi phải thật khéo léo, tỉ mỉ và chuyên môn cao, do đó quá trình khám nghiệm lực lượng cảnh sát giao thông cần phối kết hợp với các lực lượng khác như kỹ thuật hình sự, lực lượng phòng cháy chữa cháy, bác sĩ pháp y… Trong quá trình khám nghiệm, lực lượng cảnh sát giao thông cần lấy lời khai của người chứng kiến, người biết việc, người gây tai nạn để ghi lại toàn bộ thông tin vụ tai nạn, là bằng chứng quan trọng xác định nguyên nhân gây tai nạn

Có thể nói, trong giai đoạn điều tra ban đầu, lực lượng cảnh sát giao thông đóng vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình khám nghiệm tại hiện trường cũng như phát hiện, thu thập các dấu vết vật chứng để xác định lỗi của các bên tham gia tai nạn Việc tìm ra nguyên nhân gây tai nạn cũng như các chứng cứ để có thể tiến hành khởi tố vụ án hay không phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn điều tra ban đầu, do đó đòi hỏi lực lượng cảnh sát giao thông cần phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chuyên môn khác để tiến hành công tác khám nghiệm tỉ mỉ và thận trọng nhất

Khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là cơ sở để thực hiện các hoạt động điều tra đối với các tội này Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyết định khởi tố vụ án trước, rồi mới được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt

Do vậy, hoạt động điều tra chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm mà không cần phải kiểm tra, xác minh

Trang 34

để xác định dấu hiệu tội phạm nữa Tuy nhiên, không phải tất cả quyết định khởi tố vụ án hình sự đều đảm bảo tính chính xác của vụ án, nên trong quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện tình tiết mới

Việc khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đồng nghĩa với việc xác định đã có tội phạm xảy ra và định danh đó là tội gì, đây là điều kiện cần để Viện kiểm sát xem xét có truy

tố hay không Quá trình điều tra để xác định người phạm tội và mức độ tội phạm như thế nào để áp dụng điều luật trong quá trình truy tố, đó là điều kiện

đủ Trong thực tế, từ lúc khởi tố vụ án hình sự, đến giai đoạn điều tra đều có

sự tham gia giám sát của Viện kiểm sát với vai trò là công tố, nên giai đoạn truy tố Viện kiểm sát chỉ xem xét để áp dụng điều luật cho phù hợp mà thôi Như vậy, giữa 3 giai đoạn này có quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn này có vai trò làm cơ sở cho giai đoạn kia, giai đoạn kia có vai trò giám sát và bổ trợ cho giai đoạn này

1.4 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình Việt Nam năm 1988

Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, do chính quyền nhân dân còn non trẻ và phải đối mặt với nhiều khó khăn trên tất cả các phương diện Nền kinh tế kiệt quệ, phụ thuộc vào thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký các sắc lệnh để bảo vệ quyền quyền tự do, dân chủ của công dân Như Sắc lệnh số: 33c/SL ngày 13/9/1945 thành lập các Tòa án quân sự ở ba miền Bắc, Trung, Nam để xét xử những người nào xâm phạm đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà Sắc lệnh đã quy định các nguyên tắc nền tảng có liên quan đến bảo đảm quyền con người như: xét xử là công khai

Trang 35

(Điều VI); bảo đảm quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; ngồi

xử có Chánh án và hai Hội thẩm; đứng buộc tội là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên của ban trinh sát (Điều V) Đây là lần đầu tiên cơ quan Công tố được xác định bằng một văn bản pháp luật của Nhà nước Sắc lệnh còn quy định trách nhiệm của Tòa án là phải giải thích cho người bị kết án tử hình đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước (Điều III)… Từ khi Nhà nước ta có bản Hiến pháp đầu tiên (thông qua tháng 11/1946) luật tố tụng hình sự đã ra đời và tồn tại với tư cách là một ngành luật độc lập với đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng Bước đầu đã hình thành những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự và lần đầu tiên chúng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1946 của nước ta Tại Chương VI, Hiến pháp năm 1946 mặc dù mới chỉ ở mức độ khái quát nhất nhưng một số nguyên tắc của luật tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận như nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội tham nhân dân tham gia; nguyên tắc xét xử công khai và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân; nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong khi xét xử của thẩm phán

Sau khi có Hiến pháp năm 1959 và luật tổ chức Viện Kiểm sát Nhân dân năm 1960, hệ thống VKSND được thành lập thì hệ thống cơ quan Tư pháp nói chung và cơ quan điều tra nói riêng có sự thay đổi lớn Các Ban Trinh sát ở Ty Công an, Cục Trinh sát ở Bộ Công an đều có quyền khởi tố Bên cạnh đó Viện Kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc điều tra của cơ quan điều tra, đồng thời cũng có nhiệm vụ khởi tố vụ án Từ năm 1961, trên cơ sở các quy định của Chương VIII Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960, hệ thống viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được hình thành với nhiều chức năng trong đó có chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội

Trang 36

phạm Sự ra đời của hệ thống viện kiểm sát nhân dân là điều kiện đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả và đúng pháp luật

Hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm được coi là một loại hoạt động đặc thù của Nhà nước, nó động chạm nhiều tới các quyền cơ bản của công dân Xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là vừa trấn áp tội phạm vừa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét

xử tội phạm Ngày 20/5/1957 Nhà nước ban hành Luật số 103 bảo đảm quyền

tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân và tiếp đó ngày 18/6/1957 có Sắc luật số 02 - SLT quy định về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp và các trường hợp phạm tội quả tang

Công việc điều tra vụ án hình sự trong thời gian trước khi có Pháp lệnh

tổ chức điều tra hình sự về cơ bản giao cho cơ quan điều tra của Bộ Công an trừ một số vụ án phải có sự phối hợp giữa nhiều lực lượng như với Viện kiểm sát hoặc với các cơ quan khác làm nhiệm vụ điều tra như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm hay Chỉ huy trưởng tàu biển hoặc máy bay Điểm 2 Chương I Thông tư số 427-TTLB ngày 28/6/1963 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an đã quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát và Cơ quan Công an trong đó có nội dung: Căn cứ vào nhiệm vụ và tình hình hiện tại của hai ngành, Cơ quan Công an đảm nhiệm việc điều tra tất cả những vụ án phản cách mạng và những tội phạm phản cách mạng khác Còn Viện kiểm sát chủ yếu làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra đồng thời trong phạm vi, điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp tương đối rõ

Sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980

và một loạt các đạo luật mới về tổ chức như Luật tổ chức Tòa án nhân dân

Trang 37

năm 1981, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 và các văn bản

pháp luật khác về tố tụng hình sự Pháp luật thời kỳ này khẳng đinh: “trách

nhiệm khởi tố vụ án hình sự và khám phá tội phạm là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS” Theo quy định tại Nghị định số 250/CP ngày

12/06/1981 của Hội Đồng Chính Phủ, tổ chức Cơ quan Điều tra được sắp xếp lại Theo đó đã thành lập Cục An ninh điều tra xét hỏi và Cục Cảnh sát điều tra xét hỏi ở Bộ; Phòng An ninh điều tra xét hỏi và Phòng cảnh sát điều tra xét hỏi ở cấp tỉnh Những cơ quan này được giao nhiệm vụ khởi tố, điều tra vụ án hình sự Nhìn lại hệ thống văn bản pháp luật tố tụng của Nhà nước ta giai đoạn trước 1988 chúng ta thấy rằng các văn bản có tính pháp lý cao như luật, pháp lệnh về cơ bản chỉ được sử dụng quy định tổ chức bộ máy của các cơ quan tiến hành tố tụng còn trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự lại được ghi nhận trong các văn bản dưới luật là chính Điều này đã là nguyên nhân dẫn tới tình trạng không thống nhất trong thực tiễn khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử các vụ án hình sự

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay

Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, theo Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VIII, Bộ luật tố tụng Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình

sự Đây là bộ luật tố tụng Hình sự đầu tiên của nước ta sau hơn 40 năm tồn tại Bộ luật đã phát huy tác dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm kỷ cương, phép nước

Theo quy định tại Điều 1 Luật Tố tụng hình sự 1988: “Quy định trình

tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và của cơ quan Nhà nước, tổ

Trang 38

chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội ”

BLTTHS năm 1988 quy định giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tại Chương VII gồm 9 điều từ (Điều 83 đến Điều 91) Trong quy định của BLTTHS năm 1988

Ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung 03 điều của bộ luật tố tụng Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Bộ luật góp phần bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

và tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa Kế thừa những quy định của pháp luật TTHS trước đó và tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm mới về xây dựng Nhà nước Pháp quyền và cải cách Tư pháp ở nước ta Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 đến nay đã được thực hiện một cách nghiêm túc trên thực tiễn Bộ luật này đã đánh dấu một bước quan trọng trong kỹ thuật lập pháp của Việt Nam thể hiện

sự tiến bộ vượt bậc của Nhà nước ta, nó tổng kết từ thực tiễn, khắc phục những hạn chế của BLTTHS 1988 và phát triển những ưu điểm của nó đồng thời pháp điển hóa những văn bản hướng dẫn để quy định vào BLTTHS năm

2003 Qua một thời gian thực hiện BLTTHS, phải nói rằng nó có tác dụng rõ rệt trong công tác khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xử Nó quy định

Trang 39

rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến hành tố tụng Hơn nữa, BLTTHS cũng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng hơn bao giờ hết

Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã hoàn thiện một bước đáng kể

và thể hiện rõ các quy định khởi tố vụ án hình sự Chế đi ̣nh khởi tố vụ án hình sự tiếp tu ̣c được quy đi ̣nh trong BLTTHS năm 2003 với những sửa đổi bổ sung quan tro ̣ng Theo Điều 100 BLTTHS năm 2003, các căn cứ khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể gồm: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những

cơ sở sau đây:

1 Tố giác của công dân;

2 Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4 Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5 Người phạm tội tự thú [29, Điều 100]

Như vậy, so với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 về cơ bản

giữ nguyên các căn cứ khởi tố vu ̣ án hình sự Điều này góp phần quan tro ̣ng

vào việc đấu tranh chống oan sai trong tố tụng hình sự Các căn cứ này chính là yếu tố quan trọ ng để các cơ quan tiến hành tố tu ̣ng dựa vào đó để khởi tố vu ̣ án hình sự

Đồng thời BLTTHS năm 2003 còn quy định về trình tự , thủ tục và thẩm quyền khởi tố vu ̣ án hình sự Và song hành cùng với việc ban hành ra BLTTHS năm 2003 là Bộ luật hình sự 1999 Bộ luật hình sự cũng có

Trang 40

những sửa đổi bổ sung so với Bộ luật hình sự năm 1985 về những quy định liên quan đến căn cứ không khởi tố hình sự

Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 23 BLTTHS quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự có nêu: 2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng; c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng 3 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới

Trong lần pháp điển hóa mới đây, BLTTHS năm 2015 (chưa có hiệu lực) đã có sự bổ sung so với BLTTHS năm 2003, quy định thêm một căn cứ

khởi tố vụ án hình sự là trường hợp “Kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước”

Đây là quy định mới nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống

pháp luật cũng như nâng cao giá trị quyền con người trong tố tụng hình sự

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong chương 1: Luận văn đã tập trung phân tích làm rõ khái niệm về

khởi tố vụ án hình sự: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu

tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình

sự liên quan đến hành vi đó Trên cơ sở phân tích nội hàm của khái niệm từ

đó làm rõ đặc điểm và nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Để xác

Ngày đăng: 27/12/2017, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w