1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay

76 331 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI TRIỀU

VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI TRIỀU

VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Dương Văn Thịnh

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hải Triều

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THEO YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1 Nguồn nhân lực và yêu cầu của nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 9

1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 9

1.1.2 Nguồn nhân lực và yêu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 11

1.2 Đào tạo nghề và vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta 16

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nội dung và hình thức của đào tạo nghề 16

1.2.2 Nội dung vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay 18

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT HƠN VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHAT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 31

Trang 5

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực và thành tựu, hạn chế trong thực hiện vai

trò đào tạo nghề ở nước ta hiện nay 31

2.1.1 Thực trạng nguồn nhân lực 31

2.1.2 Những thành tựu đạt được trong thực hiện vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực 33

2.1.3 Hạn chế trong việc thực hiện vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 50

2.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong thực hiện vai trò của đào tạo nghề 52

2.2.1 Nguyên nhân của những thành tựu trong thực hiện vai trò của đào tạo nghề 52

2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện vai trò của đào tạo nghề 54

2.3 Giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề trong quá trình phát triển nguồn nhân lực 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về kỹ năng thực hành nghề (kỹ năng cứng) và năng lực của học viên tốt nghiệp 36 Bảng 2.2 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về các kỹ năng mềm và năng lực của học viên tốt nghiệp 46 Bảng 2.3 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về thái độ làm việc và (năng lực) thái độ của học viên tốt nghiệp 48 Bảng 2.4 Đề xuất của sinh viên đối với nhà trường nhằm thúc đẩy động cơ học tập 56

Hình 2.1 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về kỹ năng thực hành nghề (kỹ năng cứng) và năng lực của học viên tốt nghiệp 37 Hình 2.2 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về các kỹ năng mềm và năng lực của học viên học nghề 47 Hình 2.3 So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về thái độ làm việc và (năng lực) thái độ của học viên tốt nghiệp 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công nghiệp hóa hiện đại hóa là một chủ trương lớn mà Đảng ta đã đề

ra từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (năm 1986) nhằm phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Theo chủ trương của Đảng, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được tiến hành và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít thách thức, trong đó thách thức lớn nhất là vấn đề về nguồn nhân lực còn thiếu, đặc biệt là nguồn nhân lực trình

độ cao, được đào tạo bài bản, có tay nghề kỹ thuật, chuyên môn tốt, có khả năng đáp ứng các yêu cầu phát triển sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại

Chúng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập và phát triển toàn cầu đặc biệt về mặt kinh tế, điều này đòi hỏi mỗi con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức đạo đức tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu của sự biến đổi khoa học công nghệ nhanh chóng, nắm vững công nghệ và tạo nên bước phát triển vững chắc cho nền kinh tế nước nhà

Nhân tố con người được khẳng định là có giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta nói riêng

Trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, lao động nước ta có nhiều

cơ hội tìm kiếm việc làm Người lao động có thể vươn lên làm giàu bằng

Trang 8

chính sức lực của mình Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức đặt ra cho người lao động bởi chất lượng nguồn lao động: không biết nghề, không được đào tạo nghề, đào tạo thiếu đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất v.v Vì thế người lao động rất khó tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định

Xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì con người phải có đủ những phẩm chất và năng lực để đáp ứng những yêu cầu mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi Quan điểm của triết học Mác – Lênin đã khẳng định: Con người là yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của

xã hội, là chủ thể của quá trình trao đổi giữa con người và tự nhiên Trong bối cảnh xã hội hiện nay, những chuẩn mực về kỹ năng lao động ngày càng cao

Vì vậy, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinhh

có chất lượng cao Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý, được thể hiện qua các

tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB),Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình

độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình

Trang 9

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Những nghiên cứu liên quan đến vai trò nguồn nhân lực trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Như chúng ta đã biết, xét đến cùng yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu Ph Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng cao năng lực của nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu

cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ, mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó Như vậy vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội Chất lượng của nguồn nhân lực quyết định trực tiếp tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam hiện nay

Về vấn đề công nghiệp hóa, tại đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên Đại hội VIII (năm 1986), Đại hội IX (năm 2001), Đại hội X (năm 2006) và XI (năm 2011) của Đảng, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã đưa ra quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa cụ thể là: công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Đảng đề ra nội dung và định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm tiếp theo thiết thực và phù hợp với xu thế thời đại, tất cả nhằm mục tiêu vì con người, vì sự phát triển bền vững, phấn đấu đến năm 2050 nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại

Trang 10

2.2 Những nghiên cứu liên quan đến vai trò của đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, nhất là nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật cao, đào tạo nghề là một xu hướng cấp thiết và có tính chất quyết định Không chỉ góp phần đào tạo về mặt chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật, đào tạo nghề còn phát triển mặt kỹ năng mềm, giáo dục văn hóa nghề Kỹ năng nghề và văn hóa ứng xử, văn hóa làm việc của mỗi người sau khi được đào tạo cho phép họ tiếp cận với thị trường nguồn nhân lực toàn cầu, có khả năng cạnh tranh cao và tham gia vào các ngành công nghiệp mang tính hội nhập

Đề tài nghiên cứu khoa học về “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2001) do PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài Trong đề tài, tác giả và cộng sự đã phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và khẳng định rằng: việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của phát triển mà còn góp phần giải quyết việc làm

Về vấn đề nguồn nhân lực đã được nhiều tác giả đề cập đến ở khía cạnh: vai trò đối với chiến lược phát triển kinh tế xã hội với các công trình của các tác giả: “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học – số 3/1994 “Những nguồn lực” E.F Schumaacher, Nxb Lao động, 1996 “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” Nguyễn Minh Đường (Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.07-14,H.1996)

Nghị quyết của Đại hội Đảng XI đã nêu lên vai trò, vị trí của dạy nghề trong phát triển nguồn nhân lực và trong chiến lược, quy hoạch phát triển nhân

Trang 11

lực của đất nước thời kỳ 2011 – 2020 để chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ, ngành địa phương và tổ chức thực hiện Ngày 29/5/2012, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 630/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 với quan điểm: dạy nghề là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề đạt trình độ ngang với các nước trong khu vực

và trên thế giới góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội

Trong đề tài: “Vai trò của đào tạo nghề với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, PGS.TS Mạc Văn Tiến (Viện trưởng viện nghiên cứu khoa học dạy nghề - Tổng cục dạy nghề) đã chỉ ra bốn vai trò của đào tạo nghề đối với vấn đề chất lượng nguồn nhân lực của nước ta Từ đó khẳng định: Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật Tác giả cũng đồng thời chỉ ra định hướng cơ bản, căn cứ để phát triển đào tạo nghề đó là đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm, nhất là ở nông thôn và vùng đô thị hóa; hỗ trợ các đối tượng chính sách, người nghèo học nghề

2.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn

Một là, kế thừa những công trình đã công bố, tác giả luận văn sẽ nghiên cứu, chỉ ra những đặc trưng và những điều kiện cần thiết, đặc biệt trong đó là điều kiện về nguồn nhân lực để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Hai là, nghiên cứu làm rõ hơn vấn đề lý luận và thực trạng việc thực hiện vai trò của đào tạo nghề đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam (cụ thể là làm rõ vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 12

của Việt Nam, chỉ ra những thành công, hạn chế và những nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó)

Ba là, Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, góp phần phát triển bền vững đất nước hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam những năm qua, tác giả đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nhân lực theo yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực; thực trạng việc thực hiện vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của chúng

Trang 13

- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đào tạo nghề, thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực có kỹ thuật cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

hình thức đào tạo tập trung tại một số trường đào tạo nghề

Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về vai trò của con người, của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Tác giả cũng kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả có nội dung liên quan tới vấn đề

mà luận văn đề cập

Trang 14

- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải và làm rõ vấn đề; đồng thời kết hợp các phương pháp: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, v.v., nhằm đạt mục đích mà luận văn đã đề ra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực và vai trò của đào tạo nghề trong nâng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học về thực trạng vai trò đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực, về giải pháp phát huy vai trò đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực; làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, ban ngành trong quá trình hoạch định chính sách về phát triển đào tạo nghề trong cả nước đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo,

luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THEO YÊU CẦU CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Nguồn nhân lực và yêu cầu của nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tại Đại hội III của Đảng lao động Việt Nam (năm 1960), Đảng ta đã khẳng định: muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu ở nước ta, không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Hội nghị ban chấp hành TW 7 Khóa 7, Đảng ta đã có bước đột phá khi đưa ra khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [45]

Các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng ta đã bổ sung và phát triển quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với thực tế sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trên thế giới Đại hội X nhấn mạnh: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa [17, 87]

Trang 16

Đại hội XI nhấn mạnh thêm về nội dung, phương hướng tiến hành và mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta: “Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả

và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ” [18, 72]

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại, có năng suất cao Đó là bước chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp

Đặc điểm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam là:

Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa Sở dĩ như vậy vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại

để hiện đại hóa những ngành, những khâu có khả năng nhảy vọt

Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện dại hóa phải nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà thực chất là vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Ở nước ta, công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc Đặc điểm này nói lên bản chất chính trị - xã hội của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, đảm bảo nền kinh

Trang 17

tế nước ta là một nền kinh tế độc lập Đặc điểm này nói lên điều kiện kinh tế -

xã hội cho việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Thứ tư, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam phải coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là mặt trận hàng đầu, phải giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Đây là đặc thù nói lên nhiệm vụ có tính then chốt, hàng đầu phải giải quyết của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Những đặc điểm trên đây của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đặt ra những yêu cầu về nguồn lực để thực hiện như nguồn nhân lực, vật lực

Không giống như một số nguôn lực khác như: nguồn lực tài chính, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực máy móc, công nghệ…nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, có vai trò chi phối việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác, do vậy nó có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Nhưng nguồn nhân lực của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong quá trình tồn tại cũng như sự phát triển của nguồn nhân lực, nó không chỉ chịu sự tác động của biến động tự nhiên (sinh, tử…) và biến động cơ học (di dân) mà

Trang 18

còn chịu ảnh hưởng của hệ thống các qui luật: qui luật cung cầu về nhân lực, qui luật cạnh tranh…

Khái niệm nguồn nhân lực trên thực tế được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau

Theo Liên hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [46, 1]

Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân” [46] Như vậy, ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các vốn vật chất khác: vốn tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Theo các tổ chức lao động quốc tế thì:

- Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động

- Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư

có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lao động đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Vậy nguồn nhân lực có những đòi hỏi về trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách để thực sự trở thành đơn

vị cấu thành chất xám trong kết quả sản xuất và hoạt động của xã hội Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt:

Trang 19

+ Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ

+ Về chất lượng, đó là những chỉ số về sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động, cơ cấu lao động lành nghề đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất của xã hội

Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động qui định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: Số lượng và chất lượng Có thể thấy khái niệm nguồn nhân lực và khái niệm nguồn lao động không hoàn toàn đồng nhất Khái niệm nguồn nhân lực có nội hàm rộng hơn khái niệm nguồn lao động: Một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động đó là: những người không có việc làm nhưng lại tích cực tìm kiếm việc làm, những người trong độ tuổi lao động qui định nhưng đang đi học…

Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng hòa các yếu tố thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó những truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải, vật chất

và tinh thần để phục vụ cho đất nước

Một quốc gia muốn phát triển thì phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học – công nghệ, con người Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Mà khía cạnh quan trọng nhất của nguồn lực con người chính là ở chất lượng dân số, chất lượng của nguồn nhân lực ấy, đó là trí tuệ kết tinh trong hoạt động sản xuất, đó là sự thành thạo, khéo léo, là phẩm chất của người lao động, là tác phong trong lao động Ngày nay, các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý kinh tế hàng đầu của thế giới đều nhất trí cho rằng:

Trang 20

Nguồn nhân lực là nền tảng chủ yếu để tạo ra của cải cho các nước Tiền vốn

và các tài nguyên thiên nhiên là các nhân tố thụ động trong sản xuất, con người là những tác nhân tích cực, chủ động tích lũy vốn, khai thác tài nguyên thiên nhiên, xây dựng các tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị đưa sự nghiệp đất nước phát triển tiến lên Rõ ràng là đất nước nào bất lực trong việc phát triển tay nghề và kiến thức cho nhân dân mình và không sử dụng những cái

đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốc dân sẽ không phát triển được bất

kỳ thứ gì

Như chúng ta đã biết, xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối , quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu Ph Ăngghen từng nhấn mạnh rằng: muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động dù tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ, mà cần có những người có năng lực tương xứng

sử dụng những tư liệu đó Như vậy, vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia

Yêu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần

Trang 21

xây dựng những định hướng cụ thể, đánh giá thời cơ, thách thức để từ đó đề

ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp cho giai đoạn đó, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế

Nhằm đáp ứng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế v.v., thì nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá chiến lược

Nếu trước đây, một trong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước là do tình trạng nghèo nàn về

cơ sở vật chất, sự thiếu hụt về nguồn vốn, thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực của con người Vì thế, ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh điểm nổi trội về mặt số lượng lao động dồi dào thì cũng đặt ra yêu cầu cụ thể

về mặt chất lượng của nguồn nhân lực như sau:

Thứ nhất, người lao động cần có đủ sức khỏe, đây là yêu cầu đầu tiên

về mặt thể lực Có sức khỏe người lao động mới có đủ khả năng cạnh tranh cũng như duy trì khả năng tái sản xuất tốt

Thứ hai, yêu cầu phải tăng cường và phát triển hơn nữa nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo đầy đủ các kỹ năng nghề cần thiết Người lao động phải học tập suốt đời, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề để

có thể đáp ứng tốt sự thay đổi linh hoạt của công nghệ và máy móc Đây chính là vốn nhân lực và năng lực nghề nghiệp

Thứ ba, bên cạnh yêu cầu về năng lực nghề nghiệp (bao gồm kiến thức và

kỹ năng nghề nghiệp) thì người lao động cần phải học tập và bồi dưỡng thêm văn hóa ứng xử, văn hóa làm việc để có thế phát huy khả năng làm việc theo nhóm cũng như tham gia vào các ngành công nghiệp mang tính hội nhập cao

Trang 22

1.2 Đào tạo nghề và vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nội dung và hình thức của đào tạo nghề

- Khái niệm đào tạo nghề

Luật giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 27/11/2014 có viết:

“Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.” [34, tr.1]

“Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,

kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.” [34, tr.1] Tác giả luận văn coi đây là định nghĩa khái quát về khái niệm đào tạo nghề, được sử dụng trong luận văn

Con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh

tế Nhờ có giáo dục đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế Như vậy có thể khẳng định: giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là thành tố quan trọng nhất,

có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn có một nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo nghề

- Mục tiêu chung của đào tạo nghề

Luật giáo dục nghề nghiệp nêu: Giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề

Trang 23

tương ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng lao động

Mục tiêu cụ thể của các cơ sở đào tạo nghề đề ra đó là: Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp theo các bậc đào tạo ở các trình độ: cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề; có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp; có sức khỏe phù hợp với nghề nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm, tham gia lao động trong và ngoài nước hoặc tiếp tục nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng

- Nội dung đào tạo nghề

Thứ nhất, đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, để người học có khả năng thực hành một nghề nhất định Đây là nội dung chủ yếu nhất

Thứ hai, đào tạo ý thức tổ chức, tác phong lao động công nghiệp, tinh thần lao động sáng tạo

Thứ ba, đào tạo phẩm chất đạo đức, trung thực sống có lý tưởng

Các nội dung trên phải được tiến hành đồng thời và thường xuyên, thông nhiều hình thức hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo

- Hình thức đào tạo nghề

Đào tạo nghề có nhiều hình thức, tùy theo yêu cầu mỗi nghề và điều kiện

cơ sở vật chất cho phép Tuy nhiên xét về tổ chức đào tạo có các hình thức sau:

+ Đào tạo chính quy tập trung, sinh viên học liên tục trong thời gian xác định tại các cơ sở đào tạo là các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề

+ Đào tạo chính quy không tập trung, đào tạo từ xa, sinh viên không tập trung học liên tục, mà có thể phân chia theo thời gian thích hợp

+ Đào tạo thường xuyên, vừa làm vừa học Sinh viên có thể học tại nơi làm việc, có thể học ngoài giờ làm việc và lựa chọn các chương trình thích hợp

Trang 24

Các hình thức trên đều được áp dụng ở nước ta hiện nay

1.2.2 Nội dung vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế, xã hội Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong

hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững

Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực, thế nên trong quan điểm về phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều hướng khác nhau Theo quan niệm của Liên hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng của con người nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực Hoặc, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng giá trị cho con người cả về vật chất và tinh thần, cả trí tuệ và tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới cao hơn, đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế, xã hội

Nguồn nhân lực có kỹ thuật, có chất lượng là những con người lao động có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định Nguồn lao động có chất lượng này phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức, có

kỹ năng, biết tìm và tự tạo việc làm, việc làm an toàn, làm việc hợp tác, có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc

Trang 25

Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Nhờ có nền tảng giáo dục – đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế Như vậy có thể thấy, giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề, một bậc trong hệ thống giáo dục nguồn nhân lực của nước ta

Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và ở mức cao thì phải dựa trên ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp cao Để có thể giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh giữa các nền kinh tế thì nguồn nhân lực có chất lượng chính là nhân tố quan trọng nhất, bởi vì chính con người sáng tạo ra khoa học kỹ thuật và là người vận hành kỹ thuật trong sản xuất Nhưng để có được những con người có khả năng vận hành kỹ thuật hiện đại trong sản xuất thì phải có quá trình giáo dục đào tạo, trong đó bao gồm cả đào tạo nghề Như vậy, giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội,

cụ thể là phát triển nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu sản xuất của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Có thể trình bày khái quát một số vai trò căn bản của đào tạo nghề sau:

Thứ nhất, đào tạo nghề có vai trò đi trước một bước trong việc chuẩn bị

nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Trang 26

Theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, đây là thách thức to lớn đối với dạy nghề, đòi hỏi dạy nghề phải đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, một quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững cần phải: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà động lực quan trọng nhất là nhân lực có kỹ năng nghề cao Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực được đầu tư phát triển, có

kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo Năng lực này chỉ có thể có được thông qua giáo dục – đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc, và việc tích lũy kinh nghiệm cũng chỉ có thể có được thông qua giáo dục, đào tạo Như vậy có thể thấy vai trò quyết định của giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng trong việc phát triển năng lực con người Nhờ có đào tạo nghề, người lao động nâng cao được kiến thức cũng như kỹ năng nghề của bản thân mỗi người

Vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực được thể hiện thông qua nhu cầu phát triển của kinh tế Nhu cầu của kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này Đó là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề

Tạp chí Giáo dục – đào tạo đánh giá: Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi qui mô và cơ cấu giáo dục, đào tạo nghề và qua đó, qui mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác nhau Nếu ở thời kỳ phát triển thấp,

Trang 27

cơ cấu giáo dục đào tạo theo trật tự ưu tiên là: Giáo dục phổ thông – Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục đại học (cơ cấu nhân lực sẽ là: lao động phổ thông – công nhân kỹ thuật bậc thấp và bậc trung – lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý); thì ở thời kỳ nền kinh tế phát triển cao, cơ cấu trên sẽ là: giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông (và cơ cấu nhân lực

sẽ là: lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý – công nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp – lao động phổ thông Như vậy, có thể thấy, trong giai đoạn phát triển sản xuất hiện nay, giáo dục đào tạo nghề chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ hai, đào tạo nghề có vai trò thường xuyên bồi dưỡng, bổ sung, hiện

đại hóa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ lao động ngang với trình

độ quốc tế, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động

Hội nhập quốc tế mang lại sự hợp tác và bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt về năng lực giữa các nước mà trước hết là sự đào thải trong chính mỗi quốc gia Những người có năng lực nghề nghiệp thấp, kỹ năng nghề kém hoặc không có nghề thường khó cạnh tranh với những người có kỹ năng tay nghề cao và họ chỉ tiếp cận được những công việc có thu nhập thấp

Vì thế, sớm muộn những người có kỹ năng nghề kém sẽ bị đào thải ra khỏi thị trường lao động, bắt buộc họ phải nâng cao năng lực bản thân và hiệu quả nhất là thông qua giáo dục, đào tạo nghề

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia Việc mở cửa thị trường lao động tạo ra sự dịch chuyển lao động giữa các nước, đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mặt khác đòi hỏi người lao động phải có năng lực cạnh tranh Người lao động phải thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của mình,

để đáp ứng sự thay đổi của kỹ thuật sản xuất, nếu không họ sẽ bị đào thải

Trang 28

Vai trò của giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đối với phát triển nguồn nhân lực xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người Cá nhân đầu tư vào giáo dục – đào tạo nghề nhằm tích lũy những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, những cái đó có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó cho họ và đó chính

là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững Chính sự đầu tư về giáo dục – đào tạo nghề, nhìn dưới góc độ xã hội, nó tạo ra chất lượng nguồn nhân lực,

do đó nó cũng mang lại lợi ích về kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế TheoGary Becker – Một nhà kinh tế học Mỹ, gốc Canada thì: học vấn

và kỹ năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại Khảo sát của Viện nghiên cứu Khoa học dạy nghề Việt Nam cũng cho thấy: tỷ lệ thất nghiệp của những người qua đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông, thậm chí còn thấp hơn cả tỉ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học Từ đó, chúng ta thấy vai trò cũng như động lực để mỗi xã hội đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề

Trình độ của đội ngũ lao động trong nước được tăng lên tiến gần đến trình độ người lao động trên thế giới góp phần tạo sự tranh đua xã hội (giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới) Và để đi đến được sự tranh đua ấy, thi trước tiên đó là sự tranh đua tích cực trong nước Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề nghiệp cao Khi đó họ

sẽ phải làm những việc có thu nhập thấp, điều kiện lao động kém, thậm chí không kiếm được việc làm, thất nghiệp Muốn thoát khỏi điều đó, những người lao động này, bằng mọi cách phải nâng cao vốn nhân lực của bản thân,

mà hiệu quả nhất đó là đầu tư vào giáo dục – đào tạo nghề Khi người lao động trong nước có thể cạnh tranh lành mạnh với nhau, họ đồng thời tự nâng cao chất lượng của bản thân nguồn lực mỗi người, của cả tập thể, cả quốc gia

Trang 29

Và đến lúc đó, không chỉ ở phương diện cá nhân mà là trên toàn xã hội, chất lượng nguồn nhân lực nước ta được nâng cao dần theo thời gian, đi tới sánh ngang với chất lượng nguồn lao động của các nước tiên tiến trên thế giới cùng với sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống giáo dục – đào tạo nghề trên phạm vi cả nước

Trong phát triển kinh tế, nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, làm chủ công nghệ, máy móc hiện đại Vì vậy đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề Với chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao thông qua phát triển đào tạo nghề, lao động nước ta có khả năng cạnh tranh được với nguồn nhân lực ở các quốc gia khác trên thế giới

Thứ ba, đào tạo nghề góp phần phát triển lao động nông thôn, thúc đẩy

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

Ở nước ta hiện nay lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ cao và tập trung chủ yếu ở nông thôn Nếu mở rộng quy mô dạy nghề cho người lao động ở nông thôn sẽ góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông nghiệp nông thôn, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Thất nghiệp và thiếu việc làm là hiện tượng thường gặp đối với các nước nông nghiệp, nơi mà lực lượng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động xã hội Đối với nước ta, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang được đẩy mạnh, dẫn đến đất canh tác của nông dân bị thu hẹp, lao động nông thôn, do không được đào tạo nghề nên không tìm được việc làm càng tăng cao

Vì vậy,việc làm cho lao động nông thôn là một vấn đề nan giải được nhà nước quan tâm giải quyết Tuy nhiên, muốn tìm được việc phù hợp, thu

Trang 30

nhập cao thì bản thân người lao động phải có kế hoạch thực hiện và có sự đầu

tư nâng cao chất lượng sức lao động của mình Có nghĩa là họ phải tự mình hoặc dựa vào sự hỗ trợ của gia đình và xã hội để tham gia phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định nào đó

Dạy nghề cho người lao động nông thôn sẽ góp phần giải quyết việc làm cho nông dân Đó là vấn đề đặt lên hàng đầu của tất cả các quốc gia khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Lực lượng lao động ở nông thôn của nước ta hiện nay vẫn chiếm tới 69,5% Đặc điểm của lao động nông thôn là số lượng lao động tăng nhanh, tuy nhiên phần lớn vẫn chưa qua đào tạo nên chất lượng lao động ở nông thôn thấp, khả năng tự tạo việc làm của người nông dân còn hạn chế

Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn là vấn

đề đặt ra ngày càng cấp bách không chỉ ở mặt số lượng (sức ép về mật độ dân

số lao động trên diện tích ruộng đất) mà còn ở khía cạnh chất lượng (tức trình

độ nghề nghiệp và năng lực tiếp cận các công cụ mới của người lao động nông thôn)

Áp lực với vấn đề hàng năm nước ta có khoảng gần 2 triệu người bước vào độ tuổi lao động, với các vùng nông thôn thì vấn đề này còn căng thẳng hơn, bởi nông thôn đang là nơi có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh hơn nông nghiệp Hiện nay, dân số ở khu vực nông thôn vẫn không ngừng tăng nhanh, trong khi diện tích đất canh tác không tăng, thậm chí có xu hướng giảm dần do công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn Do đó việc làm cho nông dân trở thành một vấn đề cốt yếu Và một trong những giải pháp quan trọng góp phần giải quyết việc làm cho nông dân lâu dài, bền vững, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta trong giai đoạn hiện nay đó là: dạy nghề cho nông dân

Xu hướng có tính qui luật trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là tỷ trọng lao động và tỷ trọng về giá trị sản lượng nông nghiệp trong tổng số

Trang 31

giá trị của nền kinh tế ngày càng nhỏ, trong khi tỷ trọng lao động và giá trị công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Vì thế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng có nghĩa là quá trình chuyển dịch cơ cấu một cách hợp lý, những ngành có năng suất và hiệu quả cao sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Vấn đề ở đây là phải có biện pháp hỗ trợ và tác động để cho chuyển dịch đó nhanh và

có hiệu quả, đó là phân công lại lao động như: phân công lao động nông thôn, chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bằng cách dạy nghề, tăng tích tụ ruộng đất theo hộ…Có như vậy mới áp dụng được tiến bộ khoa học vào sản xuất, lao động nông thôn sẽ ngày càng hiện đại hơn, trên cơ sở trình độ khoa hoạc kỹ thuật ngày càng cao

Dạy nghề không chỉ giúp người nông dân có được một nghề nhất định (với kỹ năng và tay nghề được đào tạo và rèn luyện) để tìm kiếm việc làm, giúp họ có khả năng tự tạo việc làm, mà còn có thể áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới vào sản xuất nông nghiệp Vì thế, phải đào tạo kiến thức văn hóa cũng như nghề nghiệp cho lao động ở nông thôn, đặc biệt là lao động trẻ bằng mọi cách

Thứ tư, đào tạo nghề góp phần phát triển nguồn lao động về mặt thay

đổi cơ cấu lao động xã hội, nâng cao năng suất lao động xã hội và nâng cao đời sống cho người lao động

Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dạy nghề còn góp phần thay đổi cơ cấu lao động xã hội Cùng với trình độ nghề được đào tạo, người lao động đổi mới cách làm ăn, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc tìm được việc làm mới có thu nhập cao hơn để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn Công tác đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp người dân đa dạng các yếu tố hoạt động kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch lao động từ ngành nghề này sang ngành nghề khác

Trang 32

Đẩy mạnh đào tạo nghề cùng với việc tuyên truyền làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về việc học nghề là điều kiện để có việc làm, giảm nghèo bền vững, đồng thời đa dạng các hình thức đào tạo nghề

Các cơ sở dạy nghề phối hợp với các doanh nghiệp trong quá trình đào tạo phân luồng trong đào tạo qua đó tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Gắn kết với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, cơ sở dạy nghề có thể định hướng, phân luồng đào tạo thông qua việc: Xác định số lượng nghề đào tạo, qui mô đào tạo trên cơ sở năng lực của từng cơ sở và nhu cầu của doanh nghiệp, xây dựng chương trình đào tạo, lấy học sinh, người học nghề làm trung tâm và nhu cầu của doanh nghiệp làm định hướng đào tạo Nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác với các doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo Chính việc liên kết này giúp cho đào tạo nghề góp phần làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội một cách tích cực và phù hợp

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hai vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến sự thành công của sự nghiệp phát triển đất nước và sự sống còn của doanh nghiệp Hai yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên chất lượng nguồn lao động thì lại thấp Để nâng cao chất lượng nguồn lao động thì phải tăng năng suất lao động, nhưng muốn nâng cao năng suất lao động lại phải nâng cao chất lượng nguồn lao động Để giải quyết hai vấn đề này rõ ràng phải tiến hành đào tạo nghề Với các ngành nghề được đào tạo thông qua các hình thức đa dạng, nguồn lao động có thể có được những kiến thức, kỹ năng cũng như có những hiểu biết nhất định về khoa học công nghệ từ đó có thể áp dụng khoa học kỹ thuật vào làm việc, hay với kỹ năng thuần thục, kỹ xảo tinh tế được rèn luyện trong quá trình đào tạo nghề sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động

Trang 33

Đi đôi với quá trình làm tăng năng suất lao động sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh lành mạnh trong quá trình sản xuất tại một đơn vị, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế của một vùng miền, của cả nước phát triển

Theo pháp luật lao động, người lao động làm việc trong các cơ sở doanh nghiệp, thuộc các thành phần kinh tế được trả công, trả lương theo chất lượng và hiệu quả công việc Chính vì vậy, đi đôi với việc tăng năng suất lao động thì chất lượng sống của người lao động cũng được nâng cao từ việc nâng cao thu nhập Ngoài ra, với những lao động có khả năng tự tạo việc làm thì bằng các kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo họ có thể cạnh tranh được với nhau và làm tăng thu nhập, góp phần tạo việc làm ổn định

Đầu tư vào giáo dục đào tạo nghề nhằm tích lũy kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ngoài việc tạo ra chất lượng nguồn nhân lực còn mang lại lợi ích kinh tế quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững

Thứ năm, đào tạo nghề góp phần khai thác và sử dụng hợp lý nguồn

nhân lực

Thông qua việc nghiên cứu và đánh giá về cơ cấu nhân lực ở từng lĩnh vực ngành nghề để xác định những lĩnh vực đã thừa hay còn thiếu nhân lực, các cơ sở đào tạo nghề xác định chủ trương, định hướng cũng như quy mô đào tạo một cách hợp lý nhất góp phần giảm thiểu tối đa tình trạng thất nghiệp, tránh được sự lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hiện nay cần được sử dụng hợp lý và có khả năng thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính Và phát triển sử dụng hợp lý nguồn nhân lực nhằm phát triển cân bằng hơn nữa giữa các vùng miền đảm bảo giữ vững

ổn định chính trị và an ninh quốc phòng để phát triển đất nước

Trang 34

Đào tạo nghề là yếu tố quyết định tới sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực nước ta Sự phát triển ồ ạt theo số lượng dẫn đến sự mất cân đối giữa chất lượng và số lượng, giữa các ngành nghề…

Có thể thấy rằng: Số người trong độ tuổi lao động không đồng nghĩa với việc thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Bởi số lao động có tay nghề, có chất lượng ở nước ta đang còn rất hạn chế Vì thế, nhu cầu lao động của các doanh nghiệp thì lớn, nguồn lao động trong nước còn nhiều nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu lao động có trình

độ kỹ thuật tay nghề thích hợp, và người lao động vẫn thất nghiệp do tay nghề không đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là, trong các ngành nghề như vậy cần phải có sự nghiên cứu đánh giá để thấy được nhu cầu như thế nào, từ đó có định hướng đào tạo cho phù hợp với yêu cầu thực tế, tránh tình trạng doanh nghiệp phải tìm nguồn lao động ở bên ngoài quốc gia và nhân lực trong nước lại thất nghiệp tràn lan

Qui mô đào tạo các ngành nghề được xây dựng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, từ đó tránh được tình trạng lãng phí nguồn nhân lực đã được đào tạo mà không tìm được việc làm do dư thừa trong ngành nghề ấy

Thứ sáu, đào tạo nghề bên cạnh việc nâng cao kỹ năng nghề còn góp

phần bồi dưỡng, phát triển văn hóa nghề, đạo đức nghề nghiệp để người lao động có thể đáp ứng đầy đủ về phẩm chất, nhân cách cho các ngành kinh tế, vùng kinh tế đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm

và xuất khẩu lao động

Lao động sản xuất, một mặt nuôi dưỡng con người, mặt khác lại sáng tạo

ra chính con người và văn hóa, hoạt động nghề nghiệp của con người cũng là một hoạt động văn hóa, từ đó hình thành nên văn hóa nghề Mức độ ứng xử văn hóa của con người đối với hoạt động lao động nghề nghiệp như thế nào thì nó cũng có tác dụng để nhận thức đúng đắn về bản chất, vị trí của con người trong

Trang 35

hoạt động sản xuất Văn hóa nghề nghiệp chính là thước đo trình độ nhận thức của con người đối với nghề nghiệp, nó đòi hỏi người lao động phải có những hiểu biết sâu sắc về hành vi nghề nghiệp, các qui chuẩn trong công tác

Văn hóa, đạo đức nghề nghiệp là cơ sở để điều chỉnh hành vi trong công tác, đòi hỏi người lao động phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của công việc trong quá trình lao động, khiến người lao động trở thành người làm việc có kỷ luật, có sáng tạo, làm việc có hiệu quả, có chất lượng với năng suất cao Trong quá trình lao động, con người không chỉ sản xuất ra các sản phẩm lao động mà còn sản xuất ra kiến thức lao động, tích lũy những kinh nghiệm trong lao động, bởi vậy trình độ văn hóa nghề cũng có khả năng giáo dục cho con người về những đạo lý trong lao động Nó đòi hỏi người lao động những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ những chuẩn mực trong quan hệ lao động Văn hóa, đạo đức nghề cũng đòi hỏi người lao động phải gìn giữ, đoàn kết gắn bó trong tập thể những người lao động

Ngày nay, để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thì không chỉ dừng lại các thông số về kỹ năng, trình độ, tay nghề đơn thuần mà còn ở một trình

độ văn hóa nghề nghiệp, tức là ở nhận thức về nghề, ở những chuẩn mực, giá trị của người lao động, lòng yêu nghề và khả năng sáng tạo tích cực, góp phần tạo ra những nhân tố mới đem lại hiệu suất lao động cao

Nguồn nhân lực được đào tạo cả về kỹ năng nghề và văn hóa, đạo đức nghề nghiệp có thể tham gia lao động ở nước ngoài, đồng thời có đủ năng lực

để tham gia với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu, hay khu vực

Chính vì thế, bên cạnh việc đào tạo về kỹ năng nghề thì đào tạo văn hóa nghề là một việc làm quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Người lao động thuộc mọi thành phần, đặc biệt là lao động nông thôn khi tham gia vào bộ máy công nghiệp họ được đào tạo không chỉ về kỹ năng làm việc mà

Trang 36

bên cạnh đó là kỷ luật, tính khoa học, nề nếp, tác phong công nghiệp từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Dạy nghề có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững Đào tạo nghề phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế xã hội

Nhận thức được vai trò của đào tạo nghề, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động” và “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề” “Phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá chiến lược Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm…” Đây được coi là những định hướng cơ bản, là căn cứ để phát triển đào tạo nghề nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta trong giai đoạn tới

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm của Đảng về đào tạo nghề, tác giả đã phân tích và khái quát một số vai trò của đào tạo nghề đối với việc phát triển, nguồn nhân lực trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở nước ta hiện nay

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT HƠN VAI

TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHAT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực và thành tựu, hạn chế trong thực hiện vai trò đào tạo nghề ở nước ta hiện nay

2.1.1 Thực trạng nguồn nhân lực

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực được coi là một động lực của sự phát triển nhưng ở nước ta nguồn nhân lực lại bị hạn chế cả về mặt số lượng, cơ cấu và chất lượng

Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, tỷ lệ dân số trẻ cao so với thế giới Đây là một thuận lợi xét từ góc độ cung ứng lao động, nhưng lại là một khó khăn khi nền sản xuất xã hội không đáp ứng đủ việc làm cho người lao động

Về dân số, Việt Nam có qui mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, dân số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng

Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng trên 52 triệu người, và mỗi năm tăng thêm trung bình 1,5 – 1,6 triệu người Thể lực và tầm vóc của người Việt Nam (xét về thể lực của nguồn nhân lực) đã đươc cải thiện và từng bước được nâng cao, tuy nhiên, so với các nước trong khu vực (Nhật Bản, Thái Lan, Singapo, Trung Quốc…) nói chung thấp hơn cả chiều cao trung bình, sức bền, sức dẻo dai Là một quốc gia đông dân, Việt Nam có nguồn cung ứng lao động dồi dào, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi 60% dân

số (năm 2010) đất nước đang trong độ tuổi lao động (Số liệu sử dụng từ Niên giám thống kê năm 2013 của Tổng cục thống kê)

Trang 38

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là: 17, 9% Lực lượng lao động được thu hút vào làm việc trong nền kinh tế là khá cao Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIII, trong năm 2013, nền kinh

tế đã tạo ra khoảng 1,6 triệu việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp là 2,18%, tỷ lệ thiếu việc là 2,75% (Số liệu sử dụng từ Niên giám thống kê năm 2013 của Tổng cục thống kê)

Mặc dù số lượng nguồn nhân lực là lớn song nhân lực chất lượng cao, công nhân kỹ thuật, lành nghề so với nhu cầu của xã hội lại thiếu, nhất

là các nghề phục vụ nhu cầu phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của xã hội, gây lãng phí nguồn nhân lực của Nhà nước và xã hội Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn thiếu so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất

là tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như nâng cấp Việt Nam trong chuỗi giá trị đó

Ngoài ra, đối với một số đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có hiểu biết

lý thuyết thì lại kém về năng lực thực hành và cần thời gian để đào tạo thêm cho phù hợp với môi trường công nghiệp Vấn đề này nảy sinh do sự phát triển thiếu đồng bộ giữa giáo dục về mặt lý thuyết với dạy nghề, gây ra tình trạng phổ biến ở tất cả các vùng miền trong nước ta giai đoạn hiện nay đó là: Thừa thầy thiếu thợ

Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ của người lao động Việt Nam còn hạn chế Tinh thần trách nhiệm đối với công việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hóa công nghiệp, kỷ luật lao động của phần lớn người lao động còn kém

Ngày đăng: 27/12/2017, 19:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w