Theo truyền thuyết và lời kể của những người cao tuổi trong làng Hội Xá, phường múa hát Ải Lao ra đời gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng.. Tính đến thời điểm hiện nay, công trình nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG MAI
MÚA HÁT ẢI LAO Ở PHƯỜNG PHÚC LỢI,
QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI:
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG MAI
MÚA HÁT ẢI LAO Ở PHƯỜNG PHÚC LỢI,
QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI:
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa Việt Nam
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Bộ môn Văn hóa học và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi tri thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử văn hóa
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người đã nhiệt tình cung cấp thông tin, số liệu cho luận văn, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của cộng đồng nắm giữ di sản văn hóa múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội
Do hạn chế về năng lực, nguồn lực đầu tư, luận văn khó tránh được những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm
Trang 45 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 11
Chương 1: HỘI GIÓNG LÀNG PHÙ ĐỔNG VÀ PHƯỜNG
1.1 Nguồn gốc, bản chất của Hội Gióng……… 13 1.2 Hội Gióng tại đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm,
1.3 Làng Hội Xá tham gia hội Gióng với múa hát Ải Lao……… 27 Tiểu kết chương 1……… 37 Chương 2: NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN MÚA HÁT ẢI LAO
2.1 Nguồn gốc và các giai đoạn hoạt động của phường Ải Lao… 38 2.2 Quy trình thực hành múa hát Ải Lao truyền thống………… 40 2.3 Giá trị của múa hát Ải Lao truyền thống……… 53 Tiểu kết chương 2……… 58 Chương 3: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN DÂN
GIAN MÚA HÁT ẢI LAO VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ MÚA HÁT ẢI LAO TRUYỀN THỐNG………… 59 3.1 Những thay đổi trong tổ chức và hoạt động trình diễn của
phường Ải Lao hiện nay ……… 59 3.2 Những thay đổi trong cách múa, cách hát Ải Lao………… 65 3.3 Nhận xét về sự biến đổi của múa hát Ải Lao 70 3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị truyền
thống của múa hát Ải Lao ……… 77 Tiểu kết chương 3……… 87
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội Gióng là lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi ở
Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam Tối ngày 16/11/2010, tại thành phố Nairobi (Thủ đô của Kenya), trong kỳ họp thứ 5 Ủy ban liên chính phủ theo Công ước năm 2003 của UNESCO, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Trong hội Gióng ở đền Phù Đổng, phường Ải Lao tham gia và thực hành một số nghi lễ không thể thiếu như câu ca “Phi Ải Lao bất thành hội Gióng”
Múa hát Ải Lao là nghệ thuật trình diễn hát và múa thờ Thánh Gióng Nhóm thực hành, giữ gìn và trao truyền nghệ thuật trình diễn múa hát được gọi
là phường Ải Lao Theo truyền thuyết và lời kể của những người cao tuổi trong làng Hội Xá, phường múa hát Ải Lao ra đời gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng Sau chiến thắng giặc Ân với chiến công lẫy lừng, Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt về trời Mẹ Gióng vì thế mà buồn bã thương nhớ con Đám trẻ trâu làng Hội Xá được lệnh vua múa hát cho mẹ Thánh Gióng vơi đi nỗi nhớ con Nghệ thuật múa hát Ải Lao ra đời từ đó Múa hát Ải Lao là nghệ thuật cổ xưa với các điệu múa cổ, ca từ cổ và làn điệu cổ từ bao đời truyền lại Các bài hát
Ải Lao với cách đảo từ, chêm từ, lặp từ… đã tạo nên một phong cách hát riêng không giống với bất kỳ thể loại nào Múa hát Ải Lao truyền thống có giá trị cả
về mặt lịch sử, nghệ thuật, ngôn ngữ và giá trị tâm linh xã hội
Tuy nhiên, trong thời kỳ 30 năm chiến tranh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hội Gióng không được tổ chức nên phường Ải Lao không tham gia biểu diễn Thời gian
Trang 6dài gián đoạn cùng những biến thiên của đời sống xã hội, số người thực hành
di sản hoặc đã mất hoặc tuổi đã cao không còn nhớ rõ những điệu múa và hát
Ải Lao nên múa hát Ải Lao truyền thống so với hiện nay có nhiều biến đổi về không gian biểu diễn, cách thức hát múa và một số biến đổi khác
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về sự biến đổi múa hát Ải Lao truyền thống
và hiện nay là việc làm cần thiết Đặc biệt, tháng 9/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên,
Hà Nội vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Việc nghiên cứu và phân tích rõ những biến đổi của múa hát Ải Lao truyền thống và hiện tại là cơ
sở đề xuất một số giải pháp và kiến nghị giúp các nhà chuyên môn, nhà quản
lý, nhà hoạch định chính sách, công tác văn hóa có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác chuyên môn có chính sách quản lý phù hợp, nhằm bảo vệ
và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa phi vật thể múa hát Ải Lao
Vì vậy, tôi chọn đề tài: Múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội: truyền thống và biến đổi làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội là một nghệ thuật trình diễn độc đáo tại hội Gióng Nghiên cứu về múa hát Ải Lao không chỉ xét đến các công trình nghiên cứu trực tiếp về múa hát Ải Lao mà còn cả những công trình nghiên cứu về hội Gióng
Tính đến thời điểm hiện nay, công trình nghiên cứu đầu tiên về múa hát Ải Lao là của nhà nghiên cứu người Pháp là G.Dumoutier với bài viết
Revue de l’histoire dé religions, Paris, 1983 (bài viết được Phan Phương Anh dịch sang tiếng việt là Một lễ hội tôn giáo nước Nam tại làng Phù Đổng – Bắc Kỳ) Bài viết là những ghi chép của tác giả về sự ra đời ly kì và những chiến
công của anh hùng Thánh Gióng Từ đó, tác giả đi sâu vào mô tả nơi thờ tự
Trang 7Thánh Gióng và diễn biến của lễ hội Gióng dưới góc độ một lễ hội tôn giáo của nước Nam Múa hát Ải Lao chưa được đề cập một cách hệ thống, đầy đủ
và trong bài viết tác giả cũng không gọi là múa hát Ải Lao mà chỉ đề cập đến một nghi lễ do phường Ải Lao thực hiện đó là nghi lễ bắt hổ và lời bài hát bắt
hổ - nghi lễ theo tác giả thì nó có nét đặc biệt
Người Việt nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết về múa hát Ải Lao đầu tiên phải kể đến là GS.TS Nguyễn Văn Huyên Trong những năm
1937, 1938 ông tiến hành những ghi chép về múa hát Ải Lao và biên tập lại
trong bài viết Ai Lao aux fêtes de Phu Dong đăng trên tạp chí của trường Viễn
Đông Bắc Cổ, phần 2, tập 39, Hà Nội, 1941 Sau này bài viết được dịch ra
tiếng việt “Hát và múa Ải Lao ở hội Phù Đổng (Bắc Ninh)” Năm 2009, Viện
Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam in lại nguyên văn bài viết bằng tiếng Việt trong
cuốn Lễ hội Thánh Gióng (2009), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội từ trang
397 đến trang 434 Múa hát Ải Lao được đề cập đến là một nghi lễ không thể thiếu trong hội Gióng, tác giả trình bày nguồn gốc và mô tả chi tiết các quy trình biểu diễn múa hát Ải Lao (trong bài viết tác giả gọi là hát và múa Ải Lao) tại hội Gióng Suốt thời gian diễn ra hội Gióng, phường Ải Lao biểu diễn những điệu hát và múa lễ thần Tác giả trích dẫn truyền thuyết và cho rằng phường Ải Lao có nguồn gốc ở Lào, nước Lào nộp cống một đội hát
xướng vào thời vua Lý Thái Tổ thể kỷ XI Nhà vua đã hiến dâng những bài
hát Lào trước các vị thần để tỏ lòng nhớ công lao của người anh hùng Thánh Gióng đối với đất nước Khi nước Lào không triều cống cho nước Việt Nam nữa, nhà vua giao cho làng Phù Đổng nằm bên bờ sông Đuống thuộc phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, tổ chức một đội hát xướng để dâng thần điệu Ải Lao Trong bài viết, tác giả mô tả chi tiết về từng nhân vật tham gia phường Ải Lao
và các điệu múa của phường khi tham gia biểu diễn 12 bài hát do phường Ải Lao biểu diễn cũng được tác giả ghi chép lại đầy đủ Song đây là công trình
Trang 8nghiên cứu đi sâu vào việc mô tả trình diễn Ải Lao đương thời, chưa đưa ra những kiến giải và làm rõ giá trị văn hóa của múa hát Ải Lao
Múa hát Ải Lao còn được đề cập đến trong các công trình khoa học
liên quan đến hội Gióng Cuốn sách Người anh hùng làng Gióng xuất bản
năm 1967 của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh được coi là cẩm nang về Thánh
Gióng và hội Gióng Cuốn sách Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (trường hợp hội Gióng) của Viện Văn hóa Nghệ
thuật Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 2012, thông qua việc nghiên cứu về hội Gióng trong bối cảnh tác động của toàn cầu hóa, đã đưa các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội cổ truyền nói chung trên cơ sở theo các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO và luật di sản văn hóa của Việt Nam Múa hát Ải Lao được nhắc đến khái quát trong phần mô tả hội Gióng Tuy đây không phải là công trình nghiên cứu về múa hát Ải Lao, nhưng thông qua kết quả nghiên cứu về biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa, tác giả có thể kế thừa trong phần đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của múa hát Ải Lao của luận văn
Trong công trình nghiên cứu khác về hội Gióng có thể kể đến như: tác
giả Trần Lê Văn (1983), Về hội Gióng, Nxb Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội; Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (2009), Lễ hội Thánh Gióng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Lê Trung Vũ (chủ biên) (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trần Thị Liên (2013), Truyền thuyết di tích và
lễ hội Thánh Gióng trên đất Thánh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội… Các
công trình nghiên cứu này có điểm chung là nghiên cứu về nhân vật Thánh Gióng và mô tả hội Gióng, đi sâu phân tích những giá trị của hội Gióng Múa hát Ải Lao được nhắc đến như là nghi lễ không thể thiếu trong Hội Gióng nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện Tuy vậy, các công trình nghiên cứu này đã cung cấp thông tin phong phú, nhiều mặt về hội Gióng - không gian chính của trình diễn múa hát Ải Lao
Trang 9Hai tác giả Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lý đồng chủ biên trong sách Lễ hội Việt Nam (2004), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, sách có dung lượng
239 trang mô tả các lễ hội ở Việt Nam, trong đó có các lễ hội trên địa bàn Hà Nội Hội Gióng được đề cập từ trang 200 đến trang 211 Tác giả khái quát nguồn gốc của hội Gióng và mô tả theo thời gian diễn biến hội Gióng Phần
mô tả diễn biến hội Gióng tác giả nhắc đến thời gian múa hát Ải Lao tại hội
đó là vào ngày 9/4 hội Gióng bắt đầu sau các nghi lễ rước cờ vào giờ Thìn
(7-9 giờ sáng) và kéo dài cho tới giờ Tỵ ((7-9-11 giờ), phường Ải Lao bắt đầu diễn trò săn hổ trước điện thần Tác giả nhấn mạnh đây là một trò diễn mang tính chất nghi lễ bắt buộc trong ngày hội Tuy nhiên, phường Ải Lao múa trò săn
hổ như thế nào thì chưa được mô tả kỹ lưỡng
Công trình nghiên cứu gần đây nhất về múa hát Ải Lao là những ấn phẩm do Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu
và Phát huy giá trị di sản văn hóa (CCH) đã thực hiện 02 chương trình nghiên cứu về múa hát Ải Lao và đã được công bố các kết quả nghiên cứu trong các
công trình cụ thể Cuốn sách thứ nhất là Nghệ thuật trình diễn, tập quán xã
hội hát và múa Ải Lao - những câu hỏi và gợi ý trả lời (2015), Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội Cuốn sách gồm 36 trang (khổ 14,5cmx20,5cm) được viết dưới dạng hỏi đáp, cung cấp các thông tin cơ bản về di sản nên cách viết ngắn ngọn, thiên về liệt kê và mô tả đơn thuần về múa hát Ải Lao nhằm phục vụ cho việc vận dụng vào giáo dục di sản Vì vậy, tài liệu này chưa có những phân tích sâu sắc về múa hát Ải Lao
Cuốn sách thứ hai là Các bài hát Ải Lao xưa và nay (2015), Nxb Văn
hóa Dân tộc, Hà Nội Với dung lượng 96 trang (khuôn khổ 145x20.5cm) cuốn sách được nhóm biên tập xây dựng dựa trên các nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Huyên xuất bản năm 1937 và các tư liệu do các thành viên hiện đang thực hành múa hát Ải Lao cung cấp Kết cấu tài liệu gồm 3 phần: Phần I
là Hát và múa Ải Lao, ở phần này nêu khái quát về cách hát và cách múa Ải
Trang 10Lao, hệ thống các bài hát Ải Lao theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Huyên; Phần II là Các bài hát của phường Ải Lao sưu tầm năm 2015, ở phần này các bài hát Ải Lao hiện nay do phường Ải Lao biểu diễn được chép lại bao gồm 12 bài thơ trước khi chuyển thể thành bài hát, 12 bài hát ở hội Gióng đền Phù Đổng và 02 bài hát mới biểu diễn tại đình và chùa ở Hội Xá Phần III
là 12 bài hát của phường Ải Lao năm 1937-1938 Đây là tài liệu được viết dưới dạng biên tập và liệt kê đơn thuần các bài hát chưa có sự phân tích, đối sánh giữa các bài hát trước đây và hiện nay
Một số bài viết trên báo, tạp chí về múa hát Ải Lao như: bài Về Hội Gióng nghe múa hát Ải Lao của tác giả Phương Lan đăng trên báo Tin tức online vào tháng 5/2011; Bài Độc đáo nghệ thuật hát và múa Ải Lao trong Lễ hội Gióng của tác giả Hồng Bắc đăng trên Website điện tử của VOV5 tháng 8/2016; Bài Bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao của tác giả Đinh Thị Thuận đăng
trên báo Công an Nhân dân online vào tháng 12/2015… những bài viết này có dung lượng khoảng 1000 từ, bài viết dưới dạng đưa tin nhằm cung cấp thông tin
cơ bản về múa hát Ải Lao, chưa có sự nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu
Tóm lại, những công trình nghiên cứu đề cập về múa hát Ải Lao đến nay còn hạn chế, chưa có nghiên cứu chuyên sâu múa hát Ải Lao với tư cách
là đối tượng nghiên cứu chính nên cũng chưa có sự so sánh giữa múa hát Ải Lao truyền thống và hiện nay và chưa nêu bật được giá trị lịch sử, văn hóa của trình diễn múa hát Ải Lao Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước
đó và kiến thức do chính bản thân sưu tầm và khảo sát thực tiễn về múa hát
Ải Lao truyền thống được ghi chép truyền lại, đối sánh với thực hành múa hát
Ải Lao hiện tại, tác giả phân tích rõ các biến đổi của nghệ thuật trình diễn dân gian này và đưa ra một số nhận xét, lý giải về sự biến đổi đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sự biến đổi của múa hát
Trang 11Ải Lao, phường Phúc Lợi, quận Long Biên Hà Nội qua đó đề xuất giải pháp phục dựng lại nghệ thuật trình diễn múa hát Ải Lao truyền thống
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực nhiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Khái quát về giá trị văn hóa lịch sử của múa hát Ải Lao
- Trên cơ sở đọc và phân tích các tài liệu lịch sử và tài liệu nghiên cứu
có sẵn, tác giả tiến hành khảo sát thực trạng múa hát Ải Lao hiện nay để thấy được những biến đổi trong hoạt động trình diễn
- Làm rõ nguyên nhân của sự biển đổi của nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao để góp phần khuyến nghị những giải pháp nhằm bảo tồn
và phát huy giá trị của múa hát Ải Lao hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội, từ nguồn gốc, quá trình hình thành, nghệ thuật trình diễn múa hát Ải Lao xưa và nay, đến tổ chức, hoạt động cũng như vai trò của phường Ải Lao trong hội Gióng, làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Trang 12đổi những nguồn tài liệu tác giả để tiếp cận đối cũng phong phú hơn: qua sách, báo, tạp chí… và thực tiễn thực hành múa hát Ải Lao ở phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội
- Không gian: Phường Ải Lao hiện nay được thành lập gồm các thành viên cư trú tại phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội; Phường Phúc Lợi cũng là địa phương được giao tổ chức phường múa hát Ải Lao tham gia hội Gióng bên làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Vì vậy, phạm vi không gian của luận văn là phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội và phạm vi không gian phường Ải Lao tham gia biểu diễn nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu chính của tác giả gồm: tư liệu thành văn và tư liệu điền dã, phỏng vấn, khảo sát Đối với nguồn tư liệu thành văn tác giả khai thác thông tin từ các thư tịch cổ (như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện điện u linh, Lĩnh Nam chích quái…) và các văn bản, ghi chép về hội Gióng và múa hát Ải Lao trong hội Gióng
Về tư liệu điền dã, phỏng vấn, khảo sát: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn các chủ thể trực tiếp tham gia trình diễn múa hát Ải Lao như người đóng vai Ông Câu, Ông Hổ, trưởng phường Ải Lao và một số thành viên cao tuổi nắm giữ những tri thức về múa hát Ải Lao truyền thống; Cán bộ văn hóa tại địa phương phường Phúc Lợi, quận Long Biên
Để xử lý tư liệu và trình bày kết quả nghiên cứu, tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu đó là:
- Phương pháp quan sát, khảo tả, liên ngành: Phỏng vấn sâu chủ thể thực hành nghệ thuật trình diễn múa hát Ải Lao, qua đó mô tả về múa hát Ải Lao trong hội Gióng Tác giả luận văn đã tham gia phối hợp cùng với đoàn của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (CCH) trong quá trình triển khai dự án “Nghiên
Trang 13cứu, bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” từ tháng 3/2016 đến hết tháng 9/2016, đã tiến hành phòng vấn 50 người bao gồm cả chủ thể thực hành múa hát Ải Lao, cộng đồng và chính quyền địa phương
- Phương pháp phân tích – tổng hợp và hệ thống hóa các tư liệu liên quan của các tài liệu tham khảo, dùng phương pháp so sánh, đối diến với các tài liệu điền dã thực địa, rút ra những kết luận của đề tài
- Phương pháp Lịch sử để nghiên cứu, phán đoán, suy luận, thuyết minh khái quát về di sản
- Phương pháp so sánh múa hát Ải Lao truyền thống và múa hát Ải Lao hiện nay để thấy rõ sự biến đổi của nghệ thuật trình diễn này
6 Đóng góp của luận văn
- Cung cấp tư liệu cụ thể, chi tiết cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, những người làm công tác văn hóa quan tâm đến nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao
- Đưa ra một số nhận xét lí giải về sự biến đổi của nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao Đây được xem là cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao cho những người quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn kết cầu gồm ba chương:
- Chương 1: Hội Gióng làng Phù Đổng và phường múa hát Ải Lao làng Hội Xá
- Chương 2: Nghệ thuật trình diễn múa hát Ải Lao truyền thống
- Chương 3: Sự biến đổi của nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị múa hát Ải Lao truyền thống
Trang 14Chương 1:
HỘI GIÓNG LÀNG PHÙ ĐỔNG VÀ PHƯỜNG MÚA HÁT ẢI LAO LÀNG HỘI XÁ
1.1 Nguồn gốc, bản chất của Hội Gióng
1.1.1 Nguồn gốc hội Gióng
Thánh Gióng và sự thờ phụng Thánh Gióng là một hiện tượng văn hoá tín ngưỡng khá đặc biệt của dân tộc Việt Nam Người anh hùng từng được nhà thơ Cao Bá Quát (1809-1853) ngợi ca: “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn, /Đằng vân do hận cửu thiên đê” (Nghĩa là: “Đánh giặc lên ba hiềm đã muộn / Lên mây tầng chín hận chưa cao”) đã trở thành vương, thành thánh, thành thần, thành nhân vật trung tâm của một loạt lễ hội dân gian vùng Kinh Bắc xưa Hội Gióng là lễ hội truyền thống tưởng nhớ và ca ngợi chiến công của người anh hùng Thánh Gióng - một trong tứ bất tử bảo hộ mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân
Về nguồn gốc ra đời của hội Gióng, theo GS Trần Quốc Vượng:
“Thoạt kỳ thủy, đây là một tín ngưỡng tự nhiên nguyên sơ của người Việt cổ:
sự sùng bái các lực lượng tự nhiên: như mưa dông (storm) - cây - đá…” [35, tr.323] Từ lâu người ta đã thờ Ông Đổng ở một cái miếu cổ và cúng ông bằng bát cơm đĩa cà Trong một đêm mưa gió, Ông Đổng về hái cà và để lại dấu chân khổng lồ, bà mẹ Gióng vô tình giẫm phải về nhà thụ thai và sinh ra Thánh Gióng Diện mạo nguyên thủy của Ông Gióng có thể là thần mưa dông, người khổng lồ với quy mô vũ trụ nên nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh
đã viết là Dóng để muốn liên hệ với Dông (dông bão)
Từ thế kỷ XV, với Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì cùng
với thời đại Hùng Vương, sự tích thần Phù Đổng đã được chính thức đưa vào
Trang 15sử sách và cùng với Lĩnh Nam chính quái của Vũ Quỳnh - thần đã trở thành
một thứ thần - người có công tích lớn là đánh giặc ngoại xâm
Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng Thị
ghi chép lại về Thánh Gióng như sau: “Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi
ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo vệ ra mời sứ vào, nói: “Xin có một gươm và ngựa, thì vua không còn lo gì nữa” Vua sai đem cho gươm và ngựa, đứa trẻ lập tức phi ngựa, vung gươm mà đi, quan quân theo sau, phá giặc ở chân núi Vũ Ninh Quân giặc tự quay giáo lẫn nhau, bị chết rất nhiều, dư chúng đều lạy rạp xuống, gọi là thiên tướng, đều đầu hàng cả Đứa trẻ phi ngựa bay lên trời đi mất Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập miếu thờ Đến sau Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương (Miếu thờ ở bên cạnh chùa Kiến
Sơ làng Phù Đổng)”.[8, tr.133-134]
Lý Công Uẩn đã cho xây đền thờ Phù Đổng Thiên Vương, phong Phù Đổng thành Xung Thiên thần vương trong ý nghĩa là vị thần có vai trò hộ quốc an dân nước Đại Việt đồng thời tổ chức lại hội Gióng với một quy mô lớn Đến thời Lê (thế kỷ XV-XVI), hội Gióng đã nổi tiếng và được triều đình
cử quan đại thần về chủ tế đức Thánh Gióng
Theo Việt Điện u linh, truyện Xung thiên dũng liệt chiêu ứng uy tín
đại vương (Chuyện Thần Phù Đổng), do Lý Tế Xuyên vào thời nhà Trần, thế
kỷ XIV dựa vào hồ sơ phong thần của vua Trần Nhân Tông vào năm 1285 có viết “Vương vốn là thần đất, xưa kia Chí Thành thiền sư dựng chùa ở hương Phù Đổng, lập ngôi thổ thần ở bên phải chùa” Căn cứ vào truyền bản này thì Chí Thành, tức là Cảm Thành là thiền sư đầu tiên nhìn nhận đức Phù Đổng là
Trang 16vị thổ thần của làng Phù Đổng có công gìn giữ non sông, gìn giữ Phật pháp và
đã lập đền thờ bên phải cửa chùa để tỏ lòng tôn kính, quy bái nhớ ơn Trong
khi đó, Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp căn cứ một phần vào Việt điện u linh tập, rồi thêm thắt, có truyện Phù Đổng Thiên vương thì ghi nhận:
Hùng Vương nghĩ về công lao không có gì để báo đáp, bèn tôn làm Phù Đổng đại Thiên vương, lập chùa ở trong vườn nhà của làng ấy, ban cho ruộng một trăm khoảnh, hôm sớm thờ phụng
Đại Nam nhất thống chí, tập 4 ghi chép: Đền Đổng Xung thần vương:
ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du Phần ngoại kỷ của Sử chép đời Hùng Vương gặc Ân xâm lược, thần cỡi ngựa sắt đánh tan giặc, đi đến núi Vệ Linh thì bay lên trời Hùng Vương sai lập đền ở trong hương để thờ Đời Lê Đại Hành, thần giúp sức đánh tan quân Tống, Lê Đại Hành phong Thượng đẳng thần Lê Thái tổ phong là Xung thiên thần vương Nay núi Vệ linh cũng có đền thờ [25, tr.121]
Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, khi
có giặc đến nhà kể cả người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà đều tham gia đánh giặc, ai có công quyên góp công, có sức quyên góp sức, có của quyên góp của để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Để tưởng nhớ công ơn của Ngài, người dân lập đền, thờ phụng ở nhiều nơi
và mở hội hàng năm
Hội Gióng mô phỏng một cách sinh động diễn biến các trận đấu của Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang trong cuộc chiến chống giặc Ân, thông qua đó nâng cao nhận thức cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ lạc thời
cổ xưa; đồng thời giáo dục lòng yêu nước, truyền thống thượng võ, ý chí quật cường và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Hội Gióng được tổ chức ở
Trang 17nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng tiêu biểu nhất là Hội Gióng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm - nơi sinh Thánh Gióng và hội Gióng ở đền Sóc ở Núi Sóc thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội là nơi Thánh hóa đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Ngoài ra còn hơn 10 hội Gióng cũng thuộc địa bàn Hà Nội (gọi là vùng lan tỏa vì chưa được UNESCO công nhận) như: hội Gióng Bộ Đầu xã
Bộ Đầu, huyện Thường Tín; lễ hội thờ Thánh Gióng ở các làng Đặng Xá, Lệ Chi (huyện Gia Lâm); các làng Phù Lỗ Đoài, Thanh Nhàn, Xuân Lai (huyện Sóc Sơn); Sơn Du, Cán Khê, Đống Đồ (huyện Đông Anh); Xuân Tảo (huyện
Từ Liêm); làng Hội Xá (quận Long Biên)
Hội Gióng tại đền Sóc diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng Giêng nên
Hội Gióng ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) được tổ chức từ ngày 6/4 âm lịch đến 12/4 âm lịch hàng năm nên ca dao có câu:
“Ai ơi mùng chín tháng tư Không đi hội Gióng cũng hư mất người”
Hội Gióng ở đền Phù Đổng do các làng Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên, Đổng Xuyên (huyện Gia Lâm) tổ chức Hội Gióng tại đền Phù Đổng là không gian biểu diễn chính của phường Ải Lao Vì vậy, Hội Gióng mà tác giả
Trang 18nhắc đến trong luận văn là Hội Gióng tại đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
1.1.2 Bản chất của hội Gióng
Thánh Gióng là sự khái quát hóa, hình tượng hóa và lí tưởng hóa toàn
bộ quá trình sinh ra, lớn lên, chiến đầu, chiến thắng của đội quân xâm lược đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ Văn Lang Trong sức mạnh của con người có cả sức mạnh thể lực, của cánh tay và sức mạnh của tinh thần, ý chí phi thường Hội Gióng từ một tín ngưỡng và lễ nghi nông nghiệp cổ truyền cầu mưa, thờ thần mặt trời, với thời gian lịch sử đắp đổi, đã trở thành một tín ngưỡng thờ anh hùng chống giặc và một nghi lễ diễn xướng anh hùng ca Người anh hùng văn hoá – thần thoại đã chìm vào trong vô thức mà người anh hùng chống giặc luôn hiển hiện trong hữu thức Nghi lễ nông nghiệp đã chìm trong vô thức mà lễ diễn xướng anh hùng ca dân gian thì luôn luôn là phần hữu thức của hội Gióng Hội Gióng làng Phù Đổng được coi là hoàn chỉnh nhất, mẫu mực nhất trên nhiều phương diện: truyền thuyết, ý thức, cách
tổ chức và nghệ thuật biểu hiện
Theo GS Trần Quốc Vượng: Hội Gióng tháng Tư mồng Chín lịch Trăng là hội kết thúc các hội Xuân, mùa nông nhàn, để bước vào mùa làm ruộng, vụ mùa tháng Tư, là đầu mùa mưa Việt Nam, đầu mùa làm ăn ở vùng
đồng mùa châu thổ Bắc bộ ngày xưa Đầu tháng Tư, đầu mùa mưa miền Bắc thường có Dông Đấy là bằng cớ cho huyền tích ông Đổng về hái Cà [42, tr.397-398]
Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh dày công điền dã vùng Trung châu cũng cho rằng: “Đây là dấu chân ông Đổng Ông Đổng cao lớn lạ thường Đầu đội trời, chân đạp đất, vai chạm mây Ông cào đất thành đồng ruộng, vun
đá thành đồi gò, xẻ cát thành sông bãi Ông bước dài từ đỉnh núi này sang
Trang 19đỉnh núi khác Dấu chân ông lún cả đá, thủng cả đất Tiếng nói ông vang ầm thành sấm Mắt ông sáng lóe chớp lửa Hơi thở ông phun ra mây đen, gió bão
và mưa dông Ông hay hiện ra trong những ngày hè có dông, lúc cà đã đậu trái, lúa chiêm sắp trổ đòng Ông đi đủ mọi chiều, lúc tốc thẳng, lúc xoay vòng Ông đi đằng Tây sang đàng Đông là Bão Tây Ông đập hết lúa, rụng hết
cà và gãy bật bao nhiêu là treo pheo, đa đề” [9, tr.198]
Tiếp nối dòng suy nghĩ của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh khi gắn các tên đổng, dóng với dông, GS Trần Quốc Vượng từng mệnh danh hội Gióng là Tết Mưa Dông Tiến hành hội Gióng là tuân theo một nghi lễ nông nghiệp như tết Pi May của Lào và Chôl Chnăm Thmây của Campuchia (khoảng giữa tháng
Tư dương lịch) Đó là tín ngưỡng cầu mưa Ở Lào là nghi thức té nước; ở hội Gióng là nghi thức múc nước và rước nước về đền tế Thần, ngày mồng Tám Tết mưa Dông tháng Tư mở đầu vụ mùa và Tết Cơm mới tháng Mười kết thúc vụ mùa là hai nghi lễ nông nghiệp vào loại cổ nhất của cư dân Việt cổ trồng lúa nước: Như GS Đào Thế Tuấn đã chứng minh là từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ này, cây lúa trồng xưa nhất là Lúa mùa và muộn, do được trồng ở đầu mùa mưa
Tháng Tư cày vỡ ruộng ra…
Tháng Năm gieo mạ chan hoà nơi nơi
Nó lớn lên trong suốt mùa mưa và chín (được gặt vào đầu mùa khô) Hội Gióng thoạt kỳ thuỷ là một nghi lễ nông nghiệp Cầu Trời “mưa nắng phải thì” cho dân quê làm ruộng trồng lúa Chi tiết hay nhất của dân làm ruộng lúa phú cho ông Gióng trong huyền tích “lớn lên như thổi” là nhờ “bảy nong cà” tức là nhờ lúa gạo của nền văn minh lúa nước Việt cổ và Đông Nam
Á cổ Mô-típ về một đứa bé sau khi ăn rất nhiều cơm đã lớn lên phi thường với tầm cỡ anh hùng khổng lồ được tìm thấy trong truyền thuyết dân gian ở nhiều vùng Đông Nam Á
Trang 20Hội Gióng phản ánh các truyền thuyết về người anh hùng từ nơi sinh
ra và lớn lên, lập chiến công, con đường thực thi số mệnh công dân, đạo làm con và cuối cùng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình thì bay về trời (hay trở về với lòng tưởng niệm của nhân dân) Mặt khác, trong huyền tích Thánh Gióng, con ngựa sắt khạc lửa phi về đông, rồi từ đông phi về tây là tượng trưng cho sự vận động biểu kiến của mặt trời: ánh sáng, nguồn sống, nguồn sức mạnh trần gian: MƯA và NẮNG: Hai nhân tố cần thiết nhất của trời đối với người và với việc làm nông trồng lúa nước
Thánh Gióng là vị thần được thờ với tư cách là một trong “Tứ bất tử” của Việt Nam, là một vị chính thần (phúc thần) có uy tín và sức mạnh vô hình quy tụ được nhân dân toàn quốc về một mối bảo vệ đất nước Từ một người anh hùng văn hoá, anh hùng huyền thoại, Thánh Gióng được biến dần thành người anh hùng chống ngoại xâm được tôn thờ Chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân là chiến trường truyền thống của người Việt chống giặc Bắc: Lý chống Tống, Trần chống Nguyên - Mông và trước đó, Lê Đại Hành phá Tống Với huyền thoại Thánh Gióng, người anh hùng làng Phù Đổng đã trở thành người tượng trưng vĩnh hằng cho các anh hùng Việt Nam chống giặc Bắc
Như vậy, hội Gióng làng Phù Đổng chứa đựng những lớp giá trị văn hóa - tín ngưỡng đã lắng đọng trong huyền thoại và lễ hội Trước hết là tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên Xét về bản chất sâu xa của hội Gióng là một tín ngưỡng và lễ nghi nông nghiệp cổ truyền đồng thời ca ngợi cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của người anh hùng Thánh Gióng
1.2 Hội Gióng tại đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
1.2.1 Làng Phù Đổng và Cụm di tích thờ Thánh Gióng
Làng Phù Đổng bên bờ sông Đuống, quê hương và là nơi xuất phát của Thánh Gióng - người Khổng Lồ 3 tuổi Đây là một vùng đất địa linh nhân kiệt
Trang 21thuộc xứ Kinh Bắc xưa có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa Phù Đổng cũng là nơi gắn với nhiều huyền thoại về thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc, mà tiêu biểu là người anh hùng Thánh Gióng, một nhân vật còn
in đậm trong tâm thức người dân nơi đây, với nhiều di tích còn lại cho đến ngày nay Xã Phù Đổng trước đây là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Năm 1961, xã được chuyển về huyện Gia Lâm; phía Đông giáp xã Trung Mầu, phía Tây giáp xã Đình Xuyên và Dương Hà, phía Nam giáp xã
Cổ Bi, Đặng Xá và phường Phúc Lợi, còn phía Bắc giáp xã Ninh Hiệp (Gia Lâm), Phù Chẩn, Đại Đồng, Chi Phương (Bắc Ninh)
Khu di tích lịch sử đền Phù Đổng nằm ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội phân bố trên địa bàn 3 thôn của xã Phù Đổng, với tổng diện tích 60.343,7m2 Cụm di tích thờ Thánh Gióng bao gồm đền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ
Đền Thượng còn được gọi là đền Gióng, nơi thờ Đức Thánh Gióng –
Phù Đổng Thiên Vương;
Đền Hạ là nơi phụng thờ đức Thánh Mẫu (mẹ Thánh Gióng) nên còn
gọi là đền Mẫu Tên chữ là “Khánh Quang điện” (điện Khánh Quang) Theo thần tích làng Phù Đổng thì trước đây đền thờ Thánh Mẫu được thờ chung ở đền Thượng Đến năm Chính Hòa thứ 4 (1683), tách ra thờ ở đền riêng trên đất làng Ngô Xá (quê của bà - tức làng Đổng Viên), năm 1693, dân làng mới
di dời về vị trí hiện nay;
Chùa Kiến Sơ tên chữ là “Kiến Sơ tự” Chùa được dựng từ khi nào cũng
chưa có tài liệu nào ghi chính xác Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang được sư Cảm Thành khi đó trụ trì tại chùa tôn làm thầy, từ đó mở ra dòng thiền Vô Ngôn Thông Đây cũng là ngôi chùa gắn với vị vua đầu tiên của triều Lý - Vua Lý Công Uẩn khi còn đi tu thường lui tới chùa học kinh
Trang 22Cụm di tích thờ Thánh Gióng bao gồm đền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ là không gian chính diễn ra Hội Gióng
1.2.2 Diễn trình hội Gióng
1.2.2.1 Thời gian và công tác chuẩn bị hội
Hội Gióng là biểu hiện của sự chuyển hoá từ nghệ thuật kể chuyện sang nghệ thuật diễn xướng có tính chất tổng hợp và ngược lại, cốt truyện về Thánh Gióng trong đó có những yếu tố cổ nhất, hồn nhiên nhất đã sống lại một cách chân thực trong tiến trình của lễ hội Về thời gian chính xác ra đời của hội Gióng thì chưa có tài liệu nào ghi chép song theo truyền thuyết tưởng nhớ đến công ơn Thánh Gióng, Hùng Vương phong Ngài là Phù Đổng Thiên Vương xây dựng ngôi miếu thờ Ngài tại làng Phù Đổng và cấp cho trăm mẫu ruộng để tổ chức lễ hằng năm Theo lời kể của ông Nguyễn Bá Trản thì ngay
từ thời Lý, lễ hội thờ Thánh Gióng đã được đặc biệt quan tâm Các vương triều sau đó như Trần - Lê cho tới thời Nguyễn hội Gióng vẫn luôn đươc gìn giữ và phát triển Chiến tranh loạn lạc, hội Gióng bị gián đoạn một thời gian dài nhưng đến năm 1955 hội Gióng lại được khôi phục Từ năm 1982 đến nay, hội Gióng bắt đầu được tổ chức thường xuyên, là một sinh hoạt văn hoá của nhân dân, do nhân dân tổ chức
Hội Gióng 5 năm được mở đầy đủ các nghi lễ được gọi là hội chính,
những năm còn lại gọi là hội lệ Nghi lễ chính của hội là: Tế Nam giao; Kén tướng, kén phù giá (“Kén” Tướng và “Kén” Phù giá tương tự như thi Hoa
hậu và thi thể hình ngày nay “Kén” Tướng, „Kén” Phù giá là những hình thức phát ngôn của dân gian về quan điểm thẩm mỹ: Người con trai đẹp, ngoài các yếu tố khác phải biểu lộ được tiềm năng sức mạnh Người con gái
đẹp phải hội đủ các yếu tố Công, Dung, Ngôn, Hạnh); Rước khám đường nhằm trinh sát giặc; Rước nước là để tôi luyện khí giới trước khi xuất quân;
Trang 23Rước trận Đống Đàm mô tả việc đi đàm phán kêu gọi hoà bình; Rước trận Soi Bia mô phỏng cách điệu trận đánh ác liệt trong trận này, roi sắt gẫy,
Thánh Gióng phải dùng tre đằng ngà, một vũ khí tượng trưng sức mạnh nội lực của dân tộc; Nghi thức chính của hội là: đánh cờ thuận, đánh cờ nghịch, múa đánh trống, múa đánh chiêng, múa quạt hầu, múa hát của phường Ải Lao, lễ xuất quân Các nghi lễ và nghi thức biểu đạt khát vọng chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm
Trước đây, các làng mạc vùng đồng bằng Bắc Bộ, đàn ông đều tập
hợp thành giáp Tổng Phù Đổng có mười lăm giáp, làng Phù Đổng có sáu
giáp (Ban Phú, Chợ, Bộ, Đông, Đoài); làng Phù Dực bốn giáp (Tựa, Gạo, Nông, Me); làng Đổng Viên ba giáp (Nam, Đông, Bắc) và làng Đông Xuyên hai giáp (Đông, Nam) Chỉ có mười giáp của làng Phù Đổng và làng Phù Dực
được chỉ định lần lượt hàng năm mở hội và chủ trì hội Đó là giáp hội trưởng (tức là giáp chủ tịch hội) và giáp kéo hội (tức là giáp tổ chức hội), nhưng cả
tổng đều phải tham gia [36, tr.87]
Công tác chuẩn bị hội Gióng bắt đầu từ ngày mồng 01/3 âm lịch cho đến ngày mở hội Hội Gióng ở Phù Đổng có dàn vai diễn hết sức phong phú
và độc đáo, tiến trình của hội như một kịch trường dân gian rộng lớn với hàng trăm vai diễn tiến hành theo một kịch bản đã được chuẩn hoá Số người trực tiếp tham gia trong ngày hội tới vài trăm người gồm: Một hiệu cờ (người cầm
cờ và múa cờ), một hiệu chiêng (người cầm chiêng và múa đánh chiêng), một hiệu trống (người cầm trống và múa đánh trống), một hiệu trung quân (người chỉ huy quân đội quân trung tâm của Gióng), hiệu tiểu cổ (hai người chỉ huy tiên phong), một phục dịch cho hiệu trống và một phục dịch cho hiệu chiêng, một đội quân thám sát và vận lương gồm 30 người có một người chỉ huy Còn
quân chính quy của Thánh Gióng gọi là Phú giá ngoại, đội quân này được
chọn trong cả 4 làng gồm những trai tráng từ 18 đến 36 tuổi Tất cả chia làm 6
Trang 24đạo Mỗi đạo gồm có 15 người và một xướng suất điều khiển Ngoài ra còn có
quân Phú giá nội gồm 12 người trẻ chọn trong làng Phù Đổng Trang phục
của đội quân này là mình trần, đóng khố bao đen, dải khố dài được quàng chéo qua ngực, qua vai, vòng ra sau lưng và thắt lại ở hông, bên hông đeo túi đen hình sừng trâu, đầu đội mũ vải đen thêu kim tuyến và đính mặt gương tròn nhỏ, đằng sau có mái rủ xuống gáy
Tham gia hội Gióng, còn có phường múa hát Ải Lao (hay phường Tùng Choắc) Phường này khoảng 20 người trai trẻ do các giáp làng Hội Xá hằng năm thay nhau cử ra để tế thần và góp vui cho hội Gióng
Giặc Ân từ phương Bắc được tái hiện tượng trưng bằng những tướng
nữ chọn ngay trong các cô gái của tổng từ 10 đến 13 tuổi Trừ giáp kéo hội ra, các giáp khác được cử mỗi giáp 2 cô Tất cả là 28 tướng Trong số 28 đó lại chọn hai người thống soái gọi là Tướng Đốc chánh soái và Tướng Ngựa phó soái Các tướng ăn mặc lộng lẫy, đội mũ thêu hoa, quấn vòng xuyến vàng bạc Giáp ban được phân công cử tướng Đốc và tượng Ngựa, trừ lúc đến phiên giáp Ban làm giáp hội trưởng, thì giáp Phú lại cử thay
Như vậy, sự phân công các vị trí nhiệm vụ của từng giáp, từng người trong hội Gióng rất chu đáo và quy củ Mặc dù hội diễn ra trong ba ngày nhưng quá trình chuẩn bị hội diễn ra trong một thời gian tương đối dài với kế hoạch cụ thể: Ngày mồng 01/3 âm lịch, trước mặt hội đồng hàng tổng, giáp hội trưởng cúng trầu lên đền Gióng (đền Thượng) và nhận sổ hội lệ Sổ hội lệ ghi chép những quy định, điều lệ trong tổ chức hội, giáp hội trưởng chiếu theo
sổ đó để tổ chức hội Ngày mồng 2/3 âm lịch, hội đồng giáp họp để phân công Từ mồng 6/3 âm lịch trở đi, hiệu cờ và các hiệu khác phải theo tục trai giới Riêng hiệu cờ phải ở riêng trong nhà cầu của đền, ăn ngủ một mình, có người phục dịch cho
Trang 25Ngày rằm tháng ba âm lịch, giáp hội trưởng rước bình hương lên đền và làm lễ trình diện các tướng (hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng) trước bàn thờ Gióng Trước mặt quan viên hàng tổng, thủ từ kính cẩn trao cho giáp hội trưởng
lá cờ, cái trống và cái chiêng Các hiệu nhận các vật đó và rước về nhà để bắt đầu tập biểu diễn Cũng trong ngày đó và theo nghi thức đó, các hiệu trung quân
và tiêu cổ cũng được nhận những vật biểu diễn của mình như trống con có tay cầm hay trống khẩu Rằm tháng ba âm lịch trở đi, mọi người, mọi bộ phận (các tướng cũng như phường Ải Lao) đều phải tập biểu diễn cho thành thạo
Ngày 25/3 âm lịch, giáp kéo hội lên đền quét dọn và lau chùi mọi thứ cho thật sạch sẽ, sửa sang lại đường sá và các địa điểm kéo hội Ngày mồng 2/4 âm lịch, cắt cử đội quân phù giá Ngày mồng 5/4 âm lịch là ngày tổng diễn tập múa, hát, đánh trống, đánh chiêng, hành quân và dàn trận trước cửa đền Thượng Ai cũng cố gắng tập đúng theo quy cách truyền thống và đẹp mắt, để cho ngày hội đạt kết quả Theo niềm tin dân gian thì chỉ có như vậy Thánh Gióng mới vui lòng và năm đó dân hàng tổng mới làm ăn được thịnh vượng
1.2.2.2 Các nghi thức, nghi lễ chính trong hội Gióng
Thời điểm mở hội Gióng bắt đầu từ 6/4 âm lịch song ngày hội chính vào ngày 9/4 âm lịch Ngày này được coi là “ngày Gióng đánh giặc Ân”, song đây cũng là ngày ông Đổng đã để lại dấu chân khổng lồ ở vườn cà, thường luôn là “sáng mưa trưa nắng” theo kinh nghiệm quan sát thời tiết của nhân dân qua nhiều năm1 Theo nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh: Ông Đổng để lại dấu chân nhiều nơi, trong đó có làng Gióng Mốt/Đổng Viên - nhà mẹ Gióng Gióng là một lưu xuất/hậu thân của Đổng Từ lâu, người ta thờ ông Đổng ở một ngôi miếu cổ và thường niên cúng ông một bát cơm và một đĩa cà vào
1 Cao Huy Đỉnh (1961), Người anh hùng làng Gióng NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 26ngày 9/4 âm lịch: Cúng chay vào tiết mưa giông đầu hè Ngày ấy, theo tục truyền, bao giờ cũng có gió bão, sấm chớp và mưa to Người dân ở đây, bảo
đó là “Ông Đổng về hái cà” hay “Gió hái cà” Do đó có tục cắm que bông ở ruộng để ông Đổng không trảy cà, gây thiệt hại mùa cà Việc ngày hội chính nhằm đúng vào ngày “mưa lệ”, ngày ông Đổng về hái cà đã chỉ ra nguồn gốc nghi lễ nông nghiệp cầu mùa của hội Gióng
Ngày 6/4 âm lịch, tức vào ngày hội, cử hành lễ Rước nước, đi từ đền Thượng đến giếng đền Mẫu được coi là “lấy nước rửa khí giới” Song
rõ ràng việc đi lấy nước tế lễ là nghi thức cầu mưa phổ biến trong nhiều lễ hội ở nước ta Sáng mồng 7/4 âm lịch : Rước cỗ chay (chủ yếu là cơm với cà) từ đền Mẫu đến đền Thượng, lúc này phường múa hát Ải Lao diễn xướng tế Gióng Đêm đến có tục trai gái đuổi bắt nhau trên bãi sông Đây
là “trò diễn” biểu thị tín lý phồn thực cầu được mùa Trò Săn hổ của phường Ải Lao diễn trong ngày lễ chính (9/4 âm lịch) cũng cho ta thấy chức năng thực hành nghi lễ cầu an cho cộng đồng
Trò diễn quan trọng nhất của hội Gióng là trò múa cờ Trò diễn tổng hợp này được coi là phục hiện việc Thánh Gióng đánh giặc Ân, gồm 2 trận: một ở Đống Đàm và một ở Soi Bia
Trận Đống Đàm và Soi Bia mở đầu với màn dàn trận: Bên phe giặc
Ân có 28 tướng (28 nữ) đứng thành hàng, mỗi tướng có một nữ hầu cầm lọng che và quan gia (đều là nữ); chỉ huy phe giặc là tướng Đốc và tướng Ngựa Bên phe Gióng có Hiệu tiêu cổ (2 người, thủ vai tướng Tiên phong), 12 em bé mặc áo đỏ đen (gọi “làng áo đỏ, áo đen”) cầm roi song; tiếp đó là ông Hổ, phường hát Ải Lao, cùng các ông Hiệu: Hiệu trống, Hiệu chiêng, Hiệu trung quân, Hiệu cờ; sau Hiệu là Long giá (tượng ngựa trắng bằng gỗ có 4 bánh xe
để kéo, tượng trưng cho ngựa sắt của Gióng)
Trang 27Trò diễn chính bắt đầu với việc viên Thừa tế mở bọc đựng cờ (cờ màu
đỏ, vàng Rộng 0,35m, dài 9 vuông; gọi là cờ lệnh), từ trong bọc hàng trăm con bướm cắt bằng giấy trắng cùng các mảnh gỗ trầm nhỏ trông như đồng tiền xu được xả ra: tung bay trước gió Hiệu cờ giương cờ lệnh múa chao từ phải sang trái tiến lên chiếu thứ nhất và rồi dùng chân phải hất cái bát lên, làm tung tờ giấy: ngụ ý Thánh Gióng có sức mạnh, dời núi bạt mây và đánh tan giặc Hiệu cờ tiếp tục múa như thế ở chiếu thứ hai và chiếu thứ ba Sau ba lần múa “ba ván thuận” ấy, các tướng nữ giặc Ân liền cho quay kiệu đi về phía Soi Bia Biểu thị Thánh Gióng đánh thắng trận thứ nhất
Trận Soi Bia, đại thể giống hệt ở Đống Đàm Ở đây, hiệu cờ múa chao
cờ từ trái sang phải, là “ba ván nghịch” Kết thúc, 28 tướng nữ xuống kiệu biểu thị là giặc thua trận: Hai tướng giặc là tướng Đốc và tướng Ngựa bị bắt giải về đền Ở đây, hiệu cờ lấy kiếm của giặc khoa mấy vòng trên đầu hai tướng giặc, đoạn dùng kiếm hất mũ, phanh áo của hai tướng giặc, ngụ ý chém đầu và phanh thây Vị thừa tế dùng mâm hứng lấy mũ giặc, đem vào nội cung dâng cho thần
Sau đó, qua ngày 10/4 âm lịch là lễ Rước vãn để duyệt quân và kiểm
tra khí giới Các tướng giặc được phóng thích, mang lễ vật dâng lên bàn thờ
Gióng và cùng quân Thánh Gióng tiệc tùng Ngày 11/4 âm lịch có lễ Rửa hội:
nước rước về đền rửa khí giới và mở các trò vui chơi hội hè Ngày 12/4 âm
lịch làm lễ rước Cắm cờ: Trở lại Đống Đàm và Soi Bia để soát lại chiến
trường và đi đến đâu cắm cờ trắng đến đấy biểu thị việc chiến tranh kết thúc
Chiều đến làm lễ “Tế cáo thắng trận” với trời đất và hạ hội
Như vậy, diễn biến của hội Gióng hàm chứa một nội dung kép, diễn tả cuộc chiến đấu chống lại thiên tai lẫn địch họa đồng thời diễn tả
uy lực của người anh hùng Thánh Gióng và cuộc chiến đấu thần kỳ của nhân dân chống giặc Ân
Trang 281.3 Làng Hội Xá tham gia hội Gióng với múa hát Ải Lao
1.3.1 Làng Hội xá
Làng Hội Xá nằm ở phía Nam bờ sông Đuống, phía Bắc giáp thôn Quán Tình, phường Giang Biên, phía Đông giáp bờ đê sông Đuống, phía Nam giáp thôn Phương Đồng, phường Phúc Lợi, phía Tây giáp với đường 21 (mới
mở - trước đây là cánh đồng lúa)
Trước đây, làng Hội Xá có tên là Hộ Xá, là một xã thuộc tổng Đặng
Xá, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (từ năm Minh Mạng thứ
12 - 1831 là tỉnh Bắc Ninh) Vào đầu đời Thành Thái (1889 – 1907), vì kỵ húy nên làng phải đổi thành Hội Xá Hội Xá xưa gồm có ba xóm: xóm Thượng, xóm Giữa và xóm Trại Trong kháng chiến chống Pháp, Hội Xá cùng với thôn Tình Quang, thôn Quán Tình thuộc về xã Trường Chinh Đến năm 1961, Hội Xá cùng với các thôn Thượng Đồng, Nông Vụ Trung, Nông
Vụ Đông hợp thành xã Phúc Lợi
Năm 1965, phong trào chăn nuôi ở Hội Xá phát triển, nhất là chăn nuôi lợn, có câu “Lợn Hội Xá, cá Đông Dư”, vì thế thành lập xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Đến tháng 11/2003, thành lập quận Long Biên, xã Hội Xá đổi tên thành phường Phúc Lợi Phường Phúc Lợi gồm có 21 Tổ dân phố, chia thành
5 cụm dân cư
Cụm 1: Hội Xá: gồm 6 Tổ dân phố
Cụm 2: Thượng Đồng: gồm 4 Tổ dân phố
Cụm 3: Nông Vụ Trung: gồm 3 Tổ dân phố
Cụm 4: Nông Vụ Đông: gồm 5 Tổ dân phố
Cụm 5: Sao Đỏ: gồm 3 Tổ dân phố
Trang 29Trước năm 1954, toàn xã có 186 hộ dân, 1672 nhân khẩu; đến nay dân
số phát triển, lên tới 780 hộ dân và 3218 nhân khẩu [19, tr.16]
1.3.1.2 Phường Ải Lao
Làng Hội Xá xưa có bốn giáp Đông, Đoài, Nam, Bắc, khi đến lượt giáp nào tham gia hội Gióng thì giáp đó phải chọn trai đinh ở giáp mình để lập phường múa hát Ải Lao phục vụ hội nên giáp nào cũng có người biết hát Khoảng vào ngày 21, 22 tháng ba hàng năm, bên tổng Phù Đổng cử người sang Hội Xá để mời phường tham gia
Đến lượt giáp nào thì giáp đó sẽ tổ chức cuộc họp và chọn ra khoảng 20-22 thành viên tham gia múa hát Ải Lao với tiêu chí chọn phải từ 18 đến 49 tuổi và không vướng bụi (tức gia đình có tang) Một trong những người đó
được cử làm trùm trưởng
Trùm trưởng giao cho mỗi người trong đội một nhiệm vụ nhất định
Cụ thể phân công trong phường Ải Lao như sau:
- 01 Ông trùm;
- 01 người đánh trống khẩu;
- 01 người đánh chiêng;
- 01 người cầm cung nỏ (tượng trưng cho người đi săn);
- 01 người cầm cần câu (tượng trưng cho người câu cá);
- 02 người cầm cờ lau (tượng trưng cho lũ trẻ chăn trâu Hội Xá chơi
cờ lau theo Thánh Gióng đánh giặc);
- 01 người hóa trang thành hổ để múa hổ;
- 12 người cầm sênh và hát (tương truyền khi Gióng ra trận, trẻ chăn trâu Hội Xá cũng đi theo, lôi cuốn cả thợ săn và người đi câu)
Trang 30Như vậy, phân công nhiệm vụ của phường Ải Lao rất rõ ràng, mỗi người đảm nhiệm một vị trí cụ thể: Người trong đội phải hóa trang thành hổ,
người trong đội cầm một chiếc trống khẩu có cán và một người nữa cầm
chiêng Hai người này được chỉ định điều khiển các động tác chào và múa Hai người nữa được chỉ định giữ cờ lau, làm bằng một que tre có buộc ở đầu những băng giấy sặc sỡ (hai màu chính là vàng và tím, không có màu đỏ) Một người khác mang một cây súng gỗ Mười hai người cầm sênh và hát
Bên cạnh tiêu chí lựa chọn chung thì người đóng vai Ông Hổ, Ông Câu còn có những tiêu chí lựa chọn kỹ lưỡng hơn Người đóng vai Ông Hổ phải có vóc dáng to lớn, có sức khỏe Vì hội ở đây là hội chạy thể hiện tinh thần của một đội quân tràn trề nhuệ khí chiến đấu trước kẻ thù Khi xuống Đống Đàm phất cờ ba ván rồi lại chạy về đình Nếu không có sức khỏe thì không thể đảm đương được ba ngày hội Ngoài tiêu chuẩn chọn vóc người to khỏe, Ông Hổ cũng phải có năng khiếu múa Các điệu múa Hổ phải toát lên được sức mạnh oai hùng Để múa được điệu múa Hổ thì thành viên trong phường phải trải qua nhiều tập luyện mới có thể được thuần thục vai này Đối lập với Ông Hổ, người đóng vai Ông Câu phải thể hiện được sự tình tứ, uyển chuyển và mềm mại
Ngoài các thành viên tham gia múa hát Ải Lao thì giáp còn cử một ông mõ đi theo phường để phục vụ cơm nước cho phường
Về trang phục: Mỗi thành viên khi tham gia phường Ải Lao phải tự chuẩn bị trước cho mình một số trang phục và vật dụng sau:
- 1 chiếc nón dứa (nón đội phải thấy được mặt);
- 01 áo the đen;
- 2 chiếc quần trúc bâu trắng;
Trang 31- 01 chiếc thắt lưng xanh hoặc đỏ;
- 01 đôi sinh tre: Sinh tre do các thành viên trong phường tự làm Sinh được làm bằng khúc tre ở gốc càng già càng tốt Tre được vót chỉ lấy phần cật Sau đó, tre được phơi khô
Trang phục của Ông Hổ do giáp chuẩn bị Hàng năm, giáp nào được
cử đến hội thì phải có mặt ở đình Hội Xá vào tháng ba âm lịch để nhận đầu Ông Hổ Lễ xin lốt hổ thường được thực hiện vào sáng ngày mồng 5/4 âm lịch Trùm trưởng cùng một số thành viên trong phường làm lễ ở ban thờ chính ở phía trước hậu cung Trùm trưởng đọc sớ để cầu xin Thành hoàng và ông Hoàng Hổ cho phường xin lốt hổ để đi biểu diễn ở hội Gióng Người đóng vai Ông Hổ rước lốt hổ từ ban thờ xuống Hai người khác sang làm lễ ở ban thờ ông Hoàng Hổ (phía bên phải hậu cung) để xin đôi bông lau Lốt hổ và bông lau được Ông Hổ rước về gia đình một thành viên trong phường Gia đình tạm giữ lốt hổ chuẩn bị một ban thờ nhỏ ở cuối phòng Lốt hổ được để chính giữa ban thờ, da hổ được để phía bên trái, trống khẩu và chiêng được để hai bên Khi
mọi thứ đã được sắp xếp xong, trùm trưởng thắp hương làm lễ yên vị
Suốt thời gian diễn ra hội Gióng, phường Ải Lao biểu diễn những điệu hát và múa lễ thần Phường Ải Lao tham gia biểu diễn ở Hội Gióng từ ngày mồng 6 đến ngày 12 tháng tư âm lịch Theo ghi chép về phường Ải Lao biểu diễn ở Hội Gióng năm 1937, 1938 của GS.TS Nguyễn Văn Huyên: Tất cả các ngày, phường đều đến lạy ở đền thờ thần và ở đền thờ bà thân sinh ra thần vào ngày mùng 7 và ngày mùng 9 là ngày trao cờ lệnh Phường làm lễ sau hai Ông Hiệu tiêu cổ, Hiệu trung quân, các Hiệu chiêng, Hiệu trống và Hiệu cờ Vào dịp hội phường Ải Lao ở hẳn trong chùa Kiến Sơ gần đền Thượng để phục vụ
Trong thời gian biểu diễn, 18 người tới đền Phù Đổng để hát, múa và tham gia đám rước Hai người khác ở lại nhà để pha trà và nấu nướng Trong
Trang 32tám ngày hội, họ được chỉ định thay phiên nhau, trừ trùm trưởng, người đóng vai Ông Hổ và những người cầm trống khẩu và chiêng Trùm trưởng có thể ở lại chùa, trừ ngày lễ chính mồng 9/4 âm lịch vì đó là ngày chính lễ mọi người đều phải có mặt ở đền Tất cả đầu chít khăn và mặc áo đen, chân đi đất, thắt lưng lụa màu xanh, buộc mút ở sườn bên trái
1.3.2 Tham gia của phường Ải Lao trong diễn trình hội Gióng
1.3.2.1 Phường Ải Lao tham gia múa hát tại lễ rước nước vào ngày 6/4 âm lịch
Ngày 6/4 âm lịch là ngày bắt đầu diễn ra hội Gióng Trong ngày này
nghi lễ quan trọng nhất là lễ rước nước Theo niềm tin dân gian, nước đó đã
được ông Gióng ban cho để người ta sinh sống và trồng trọt, nay đem về đền
để thờ Ông Gióng và rửa khí giới cho khí giới ấy giữ được uy lực chiến thắng của ông Và có làm lễ Rước nước như vậy thì sang ngày hội chính thức là ngày hôm sau mới có mưa; mưa ấy biểu hiện ông Gióng về dự hội, cây cối sẽ tốt tươi, mùa màng sẽ thuận lợi
Lễ rước nước được tiến hành vào giờ Dậu (15 giờ) với sự tham gia
của tất cả quân, tướng Đám rước nước đi từ đền Thượng đến giếng đền Mẫu
để lấy nước rửa khí giới Người ra khiêng đôi chum “thiêng” đến đặt lên bệ bên bờ giếng, 80 quân thù giá dàn thành hai hàng hai bên trên các bậc tam cấp xuống giếng Người đứng đầu hàng cạnh giếng nhất cầm giáo đồng múc nước
và chuyển đến cho người đứng bên chum Người này thong thả rót nước vào chum qua miếng vài đỏ trải trên miệng chum Tất cả các cử chỉ này đều được biểu diễn theo lệnh trống, chiêng và sênh của người xướng suất Sau đó đôi chum được rước trở về đền Thượng Đoàn quân rước nước đi đông vui, tràn đầy khí thế trong tiếng trống, chiêng đánh lên từng hồi rộn rịp Phường Ải Lao chính là đội quân đi tiên phong với vai trò dẫn đường của đoàn quân này Phường Ải Lao đi đầu là Ông Hổ vừa múa vừa hát
Trang 331.3.2.2 Phường Ải Lao trình diễn điệu hát tế Thánh Gióng và tham gia rước khám đường vào ngày 7/4 âm lịch
Giờ Tỵ ngày mồng 7/4 âm lịch là ngày diễn ra lễ rước cỗ chay (chủ yếu là cơm với cà) từ đền Mẫu lên đền Thượng Tại đền Thượng phường Ải Lao dâng những điệu hát múa để tế Thánh Gióng Phường Ải Lao hát bài hát khi mới vào hành lễ ở đền Thượng bày tỏ tâm trạng vui sướng, hân hoan của mọi người khi tham gia hội Gióng Bài hát có lời như sau:
Cây cây gạo mà là cao á cao Trèo á lên mà là trèo á lên Cây cây gạo mà là cao á cao Đồn mà rằng mà là hội mà Gióng Vui á sao mà là vui á này !
Vui á sao mà là vui á này ! Cây cây khế mà là nửa á ngày, Trèo á lên mà là trèo á lên Cây cây khế mà là nửa á ngày,
Ai mà làm mà là chua mà xót Lòng lòng này mà là khế á ơi?
Lòng lòng này mà là khế á ơi?
Bài hát thể hiện tâm trạng hân hoan của người tham dự hội Trong mỗi người, họ thấy rằng, hội Gióng là một lễ hội đặc biệt được tổ chức vào một tháng, một ngày, một giờ đặc biệt và họ cảm thấy đó là thời khắc vui nhất trong năm
Trang 34Trưa hôm ấy, có rước khám đường Rước này có ý nghĩa thăm dò
đường đi đến trận địa Người đóng vai Ông Hổ của phường Ải Lao phải khám dọc đường để trinh sát xem trận địa để Thánh Gióng đánh giặc được thuận lợi
1.3.2.3 Phường Ải Lao diễn trò săn hổ và vây bắt hổ vào ngày 9/4 âm lịch
Trong ngày 9/4 âm lịch phường Ải Lao thực hiện nhiều nghi thức quan trọng Cụ thể: Vào giờ Thìn (10 giờ) phường Ải Lao diễn trò săn hổ trước điện thần (ở Đền Thượng) Nghi thức này được thực hiện bởi các thành viên phường Ải Lao trong một không gian linh thiêng trước nơi thờ tự ông Gióng Trò săn bắt hổ giống như một “vở kịch” kết hợp nhịp nhàng giữa các động tác của từng nhân vật trên nền âm nhạc là tiếng chiêng, trống và nhịp gõ sênh Vở kịch ấy có kết cầu gồm 3 phần trọn vẹn: mở màn (sự xuất hiện của các nhân vật tham gia diễn trò săn hổ), cao trào (cảnh vây bắt hổ) và kết thúc (sự quy phục của người đóng vai Ông Hổ trước điện thần Thánh Gióng)
Các nhân vật tham gia diễn được chia làm hai phe rất rõ ràng: Nhân vật Ông Hổ là đối tượng sẽ bị quy phục (nói theo lối hiện đại là nhân vật phản diện) và những người cầm cờ lau, đánh trống, người cầm cung tên, cần câu là đại diện của nhân vật chính diện đi chiến đấu bắt Ông Hổ phải quy phục Các nhân vật này xuất hiện lần lượt trước bàn thờ Thánh Gióng Còn những người cầm sênh đại diện cho quần chúng tham gia cổ vũ trận chiến này
Mở đầu là sự xuất hiện của người đóng vai Ông Hổ tiến lên trước, tư thế đứng thẳng bằng hai chân sau hơi doãi ra trên chiếc chiếu đầu, bước chân trái lên, tiến về trước, quỳ xuống, hai chân trước chống xuống chiếu, đầu cúi sấp Đoạn đứng dậy, lùi lại một bước bằng chân phải rồi cúi đầu như trước người đóng vai Ông Hổ làm thế 4 lần xong đi giật lùi sang bên phải bàn thờ, tức là bên trái tượng Thánh Gióng Điệu múa đó được điểm bằng những tiếng trống ăn nhịp với từng động tác
Trang 35Tiếp đến là hai người cầm cờ lau, hai người đánh trống con và hai người cầm cần câu và cung tên lễ bốn lễ bình thường (chắp tay, quỳ gối) ở chiếu hai rồi đứng ra hai bên Lúc này tiếng trống và tiếng chiêng vang lên những người này vận động theo tiếng trống chiêng
Đến lượt 12 người cầm sênh tiến lên, đứng ở chiếu ba thành hai hàng
6 Họ gài sênh ở thắt lưng, đứng chụm gót, cánh tay gấp và nâng lên ngang vai, bàn tay ngửa ra về phía bàn thờ để ngang trước ngực rồi quay bên trái và quay bên phải Sau đó họ cúi đầu và quì xuống, xếp chéo sênh ở trên chiếu, rồi lại đứng dậy và múa hai bàn tay đủ ba mặt: trước, trái và phải như trước
Họ lặp lại những động tác đó 4 lần theo nhịp trống, xong cầm sênh lên gõ 4 tiếng và chia lại hai hàng đứng ra hai bên
Phần cao trào của trò săn hổ khi ba tiếng trống đứt, cả phương bắt đầu diễn trò vây bắt Hổ trong tiếng hát và tiếng sênh, trống,
Họ hát 6 lần câu mở đầu:
Lập đồn đắp luỹ xây thành Bên ngoài trống điểm tuần hành bên trong
Xen tiếng đệm lót khác nhau có trống và sênh giữ nhịp Động tác đánh trống, chiêng cũng có tính chất múa Trước khi nện dùi vào trống, chiêng, người đánh phải uốn nhanh bàn tay 3 vòng có cách điệu Sau mỗi lần cất dùi lên, cũng phải múa bàn tay lại như vậy rồi mới nện dùi lần khác
Cả phường hát xong, ông trùm đứng dậy nói:
- Chiềng hàng đội, đồn đây có Ông Hổ lang Ai nhân tài ra bắt, chúa hội thưởng
Hổ nhảy ra múa bằng nhiều động tác đẹp mắt Đồng thời người cầm cung và người cầm cần câu hát đối thoại và làm những động tác khoa trương:
Trang 36- Tôi với anh!
- Anh với tôi!
- (vỗ ngực khoe khoang) Mạnh đã có tôi!
- (làm vẻ hăm hở sắn tay áo) Bạo đã có tôi !
- (Tay chỉ về phía hổ, tỏ vẻ sợ sệt) Tối trời tôi không dám ra
- (Lo lắng mắt trước, mắt sau) Có làm sao anh lôi tôi cho chóng
Rồi hai người nhảy vờn với hổ Một người hỏi:
- Bò hay cóc?
- Bò, ái chà! To lắm (vờ nắm được đuôi), tôi không sao lôi được
- (Xắn tay áo hùng hổ) Anh ăn cơm vua mặc áo chúa cho hư, để tôi
vào lôi bắt anh coi
Họ hát múa như vậy trong tiếng trống, chiêng rất vui Được một lát, người cầm cung giương cung vờ bắn, hổ vờ bị thương lăn đùng ra đất, hai người nhảy vào vờ bắt trói Như vậy là trò săn hổ kết thúc, cả phường đứng dậy làm lễ một lần nữa trước bàn thờ Gióng
Trong lúc đó thì ở cuối làng Đổng Viên, trên bãi Đống Đàm cạnh một
hồ sen giữa hai con đê cũ và mới, 28 tướng nữ của giặc đã trực sẵn trên 28 kiệu, mỗi tướng như vậy có một cô gái đứng cạnh cầm lọng che xung quanh là quân gia gồm người nhà của cô gái đóng vai tướng ấy, phần lớn cũng là nữ khoảng cuối giờ tỵ điểm thì đội quân thám báo chạy về đền đưa tin có giặc vây đóng ở Đống Đàm Tiếng trống, chiêng nổi lên ba hồi liền, tất cả tướng quân chỉnh đốn hàng ngũ, vũ khí và nhạc cụ cầm sẵn để chờ lệnh xuất trận Trong giờ phút nghiêm trọng phường Ải Lao vừa múa vừa hát bài ca ngợi Gióng:
Thứ sáu đời vua Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng, tướng cường nữ nhung
Trang 37Lúc này những lời hát, điệu múa của phường Ải Lao đóng vai trò là động lực tinh thần, thúc giục tướng sĩ ra trận đánh giặc cứu nước Lời hát của phường Ải Lao vừa dứt thì tất cả các ông Hiệu (tướng của Thánh Gióng) đến múa lạy trước bàn thờ Gióng như lời tuyên thệ và tỏ rõ quyết tâm đánh giặc Một tiếng hô to và hàng loạt tiếng “dạ” ran Toàn quân hàng trăm người trong
đó có cả phường Ải Lao nhằm về phía Đống Đàm tiến bước rầm rập
Tất cả vừa đi gấp vừa chạy tiến đến chiến trường, áo quần đủ các màu sắc sặc sỡ, trống gióng, chiêng khua, cờ bay phất phới, tàn lọng rợp trời, bát bửu, siêu đao, dùi đồng, phủ việt uy nghiêm hùng dũng Tiếng hát, tiếng nhạc của phường Ải Lao rộn ràng Cảnh tượng rất náo nhiệt trên bờ đê dài ba cây
số Khi qua đền Mẫu, mọi người dừng lại cúi đầu chào mẹ Gióng
Tại trận địa, diễn ra thế giằng co quyết liệt giữa ta và địch, phường Ải Lao tiếp tục hát múa để cổ vũ tinh thần tướng sĩ, múa hát cho đến khi trận chiến kết thúc và quân ta thắng lợi trở về Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội phường Ải Lao vẫn tham gia biểu diễn những điệu hát và múa để góp vui
Tại hội Gióng múa hát Ải Lao được coi là một trong những nghi lễ quan trọng Ông Hoàng Hổ và phường Ải Lao là đoàn quân tượng trưng cho đội quân tổng hợp, đã đoàn kết một lòng vùng lên đánh thắng kẻ thù xâm lược Trước khi ông Gióng ra trận, phường Ải Lao thực hiện nhiệm vụ khám đường (kiểm tra đường, bãi đánh trận) Sau khi trận thắng của ông Gióng kết thúc, lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất và lễ khao quân tổ chức trong không khí rộn rã của lời ca, điệu múa của phường Ải Lao Các nhà nghiên cứu văn hóa đều khẳng định, hát múa Ải Lao góp phần tạo nên nét đặc sắc của hội Gióng, nhất là các bài hát Ải Lao còn có ý nghĩa tâm linh
Trang 38Tiểu kết chương 1
Hội Gióng làng Phù Đổng mang nhiều lớp văn hóa tạo nên một phức thể đa nghĩa, bên dưới tầng nghĩa trội bật và thời thượng của người anh hùng chống ngoại xâm vẫn có nội hàm những yếu tố ánh lên những hồi quang rực
rỡ của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên kỳ vĩ Nguồn gốc xâu xa của hội Gióng là từ tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy của cư dân nông nghiệp lúa nước Các nghi thức nghi lễ trong diễn trình hội đều thể hiện ước vọng của nhân dân về mưa thuận gió hóa và mùa màng bội thu
Làng Hội Xá tham gia hội Gióng với múa hát Ải Lao Phường múa hát
Ải Lao là một tổ chức đặc thù của những người thực hành một số nghi lễ trong hội Gióng Phường Ải Lao do một trong bốn giáp Đông, Đoài, Nam, Bắc của làng Hội Xá lập nên khi giáp đến lượt cử tham gia hội Gióng Phường gồm khoảng 20 đến 22 thành viên là các trai đinh tuổi từ 18 đến 49 không vướng bụi (tức gia đình có tang) Trùm trưởng phân công nhiệm vụ của từng thành viên rất rõ ràng, mỗi người đảm nhiệm một vị trí cụ thể song tất cả các thành viên đều có sự tương trợ trong thực hành các nghi thức, nghi lễ
Sự tham gia của làng Hội Xá với phường múa hát Ải Lao trong suốt tiến trình hội Gióng góp phần làm nên giá trị và nét độc đáo của hội Gióng Phường Ải Lao thực hiện những nghi lễ không thể thiếu như rước khám đường, diễn xướng tế Gióng, diễn trò Săn hổ thể hiện chức năng thực hành nghi lễ cầu an cho cộng đồng Trong suốt diễn trình hội, phường Ải Lao với hình tượng Ông Hổ dẫn đầu các đoàn rước, góp những điệu múa, bài hát để làm cho không khí lễ hội thêm phần vui tươi và hứng khởi Cách múa, cách hát của phường Ải Lao như thế nào? Và những giá trị văn hóa, lịch sử chứa đựng trong nghệ thuật trình diễn múa hát Ải Lao sẽ được trình bày cụ thể trong chương 2
Trang 39Chương 2:
NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN MÚA HÁT ẢI LAO TRUYỀN THỐNG
2.1 Nguồn gốc và các giai đoạn hoạt động của phường Ải Lao
2.1.1 Nguồn gốc phường Ải Lao
Nghệ thuật trình diễn dân gian múa hát Ải Lao truyền thống vốn là một nghi thức không thể thiếu trong hội Gióng Nguồn gốc của múa hát Ải Lao gắn với lịch sử ra đời của phường Ải Lao hay còn gọi là phường Tùng Choắc của làng Hội Xá Phường Ải Lao ở đây không phải là đơn vị hành chính “phường/xã” mà là phường múa hát gồm một nhóm khoảng 30 - 40 người cùng tham gia thực hành nghệ múa hát Hiện nay, có nhiều quan điểm
về nguồn gốc ra đời của trình diễn múa hát Ải Lao
Theo truyền thuyết và lời kể của những người cao tuổi trong làng Hội Xá: Phường múa hát Ải Lao ra đời gắn với truyền thuyết Thánh Gióng Vào thời Hùng Vương thứ 6, nước Văn Lang có giặc Ân phương Bắc xâm lược Ông Gióng, làng Phù Đổng đã cưỡi ngựa sắt phá cường Ân Qua sông Thiên Đức, đám trẻ trâu ở làng Hội Xá đã buộc trâu lại và đi theo ông Gióng đánh giặc Sau chiến thắng giặc Ân với chiến công lẫy lừng, Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt về trời Mẹ Gióng vì thế mà buồn bã thương nhớ con Đám trẻ trâu làng Hội Xá được lệnh vua múa hát cho mẹ Gióng vơi đi nỗi nhớ con Nghệ thuật múa hát Ải Lao ra đời từ đó
Theo nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh, nguồn gốc tên Ải Lao có hai giả thuyết: “Thứ nhất, do nước Ai Lao cung cấp phường múa hát hàng năm cho nhà Lý trong thời kỳ vương quyền Ai Lao thần phục nhà Lý, nên phường múa hát ấy lấy tên là Ải Lao Sau thời kỳ đó, nước Ai Lao không cung cấp nữa nên
Trang 40nhân dân tổng Phù Đổng phải tổ chức trai trẻ làng Hội Xá chuyên trách Thứ hai, theo nghĩa từ Hán thì Ải Lao có nghĩa là buộc trâu bò, nhắc lại chi tiết: Đoàn trẻ chăn trâu vội vàng buộc trâu bò, theo Ông Gióng đánh giặc Sau khi Gióng lên trời, bà mẹ Gióng buồn, vì không thấy con về nên đoàn trẻ chăn trâu
ấy đến múa hát cho bà vui Do đó mà có phường múa hát Ải Lao” [9, tr.59]
Khi nghiên cứu về phường múa hát Ải Lao vào năm 1937, 1938, GS.TS Nguyễn Văn Huyên viết: “Theo truyền thuyết, phường Ải Lao có gốc
ở Lào Nước Lào hàng năm nộp cống cho vua Việt Nam một đội hát xướng
Lý Công Uẩn (thế kỷ XI) lúc trẻ ở trong chùa Kiến Sơ tại góc phía Tây của đền thờ Để tỏ lòng nhớ công lao vị thần đối với đất nước, các vua kế nghiệp
cứ theo truyền thống đó mà hiến thần những bài hát Lào Sau đấy, khi nước Lào không triều cống cho nước Việt Nam nữa, nhà vua giao cho làng Phù Đổng, nằm bên sông Đuống thuộc phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh để tổ chức một đội hát xướng, để dâng thần điệu hát Ải Lao” [5, tr 110]
Đến thời điểm hiện nay, chưa có một cứ liệu lịch sử nào xác định nguồn gốc và thời gian chính xác ra đời của phường Ải Lao Song dựa theo những nghiên cứu và nguồn tài liệu hiện có thì nguồn gốc ra đời của múa hát
Ải Lao - Phường Ải Lao gắn liền với việc thờ Thánh Gióng Truyền thuyết về phường Ải Lao gắn liền với các câu chuyện truyền thuyết liên quan đến Thánh Gióng được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng
2.1.2 Các giai đoạn hoạt động của phường Ải Lao
Căn cứ vào hoạt động trình diễn múa hát Ải Lao của phường Ải Lao
có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Hoạt động của phường Ải Lao từ năm 1945 trở về trước
Đây là giai đoạn hình thành phường Ải Lao và trình diễn múa hát Ải Lao tại hội Gióng Ở giai đoạn này múa hát Ải Lao được biểu diễn liên tục và hầu