1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết trong nhà trường PTTH theo đặc trưng thi pháp thể loại

80 388 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 585,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm thi pháp: Lê Trường Phát đã đưa ra khái niệm: "Thi pháp là hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian làm khoá luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của Ban chủ nhiệm khoa, cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tận tình của các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp, đặc biệt là ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh - người trực tiếp hướng dẫn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2010

Tác giả khoá luận

Quách Thị Hương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn của ThS.GVC

Trang 3

ĐHSP Đại học sư phạm ThS Thạc sĩ

TPVH Tác phẩm văn học TPVC Tác phẩm văn chương THPT Trung học phổ thông SGK Sách giáo khoa SGV Sách giáo viên VBVH Văn bản văn học VHDG Văn học dân gian

Trang 4

1.1.3 Đặc trưng thi pháp thể loại truyền thuyết 13

1.3 Mối quan hệ giữa thể loại và tiếp nhận TPVH 24

Chương 2: Đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết trong nhà trường

Trang 5

2.2 Tổ chức HS đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thi pháp thể loại

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1.1 Trong công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục được coi là một trong những chính sách hàng đầu Nhà trường Cách mạng Việt Nam từ

1945 đến nay đã trải qua nhiều lần cải cách giáo dục từ việc phân bố lại nội dung chương trình, đến SGK và đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học Nhằm thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh, với sự tổ chức và hướng dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát huy

tư duy độc lập, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập tạo niềm tin, niềm vui cho học sinh trong học tập

Văn học là nguồn năng lượng tinh thần không thể thiếu, có ý nghĩa cổ

vũ và tiếp sức cho con người trong cuộc sống Nó đem lại cho con người sự hiểu biết, sự thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, góp phần hoàn thiện nhân cách

Chính vì vậy việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông là vô cùng quan trọng Hơn nữa, môn Văn vừa là môn học mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Nó có khả năng nhanh nhạy để đi sâu vào giới tâm linh bạn đọc, lắng đọng, kết tinh trong họ niềm hứng thú, say mê, sự chân thành mộc mạc mang đậm tình người, tình đời giúp cho con người vươn tới cái Chân - Thiện - Mỹ Đồng thời nó còn là công cụ và phương tiện giúp cho học

sinh biết được cái hay, cái đẹp về con người và cuộc sống Do vậy dạy văn học chính là dạy cho học sinh biết tiếp nhận VBVH một cách sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tư duy văn học, tư duy thẩm mỹ để các em có thói quen tiếp nhận chủ động những giá trị văn minh, văn hóa tinh thần của dân tộc và nhân loại

Theo tinh thần đổi mới ấy, cấu trúc và nội dung chương trình SGK được sắp xếp theo thể loại, và các thời kì văn học đã làm nổi bật vai trò và đặc

Trang 7

trưng của thể loại văn học, giúp cho người dạy, người học hiểu sâu sắc TPVH

Từ đó áp dụng vào học tập và nghiên cứu văn chương đúng đắn thiết thực

Trong đó thi pháp thể loại được chú trọng đặc biệt, nó được coi là đặc trưng

cơ bản để tiếp nhận TPVH

1.2 VHDG có vị trí và vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc Nó giống như một cuốn sách bách khoa, một kho tri thức tổng hợp đem lại những hiểu biết cực kì phong phú và đa dạng về cuộc sống mà cha ông đã để lại như: Kinh nghiệm sản xuất, những phong tục tập quán tín ngưỡng, những quan niệm về vũ trụ nhân sinh quan Những hiểu biết ấy không dễ gì mà thế

hệ trẻ ngày nay có được nếu không tìm đến VHDG Đồng thời nó còn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trong nhà trường, mà cốt lõi là bồi đắp tâm hồn dân tộc

Truyền thuyết là một bộ phận quan trọng trong các thể loại tự sự dân

gian Nó dùng "một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng", kết hợp với các thủ

pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức thẩm mỹ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp Đến với truyền thuyết con người luôn tìm thấy ở đó tình yêu, khát vọng vươn tới

cuộc sống với bao điều kì diệu, một thế giới đầy "thơ và mộng" Với những

bài học lịch sử, bài học về cuộc sống nhuốm màu sắc huyền thoại kì ảo để rồi trở về với kí ức của thời xa xưa mà cha ông ta đã gửi gắm Và chính điều đó

đã làm nên sức lôi cuốn, hấp dẫn kì diệu của truyền thuyết đối với bạn đọc qua nhiều thế hệ Nói như Chủ Tịch Phạm Văn Đồng: "Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thé

hệ đã lý tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích" [16, 141]

Trang 8

1.3 Bản thân là một sinh viên sư phạm, và là một giáo viên tương lai, việc nghiên cứu vấn đề dạy đọc - hiểu văn bản văn học không chỉ giúp cho người nghiên cứu có con đường tiếp cận văn bản đúng đắn, khoa học mà còn từng bước vận dụng lý thuyết ấy vào thực tiễn giảng dạy sau này

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề giảng dạy theo đặc trưng thi pháp thể loại là vấn đề được đặt ra

từ lâu trong nghiên cứu văn học cũng như trong giảng dạy văn học ở trường phổ thông hiện nay Có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này song vẫn chưa thống nhất

Công trình đầu tiên phải kể đến đó là cuốn: "Vấn đề giảng dạy tác

phẩm văn học theo loại thể" của GS Trần Thanh Đạm (NXB GD - HN -

1971), cuốn sách đề cập đến hai mục đích chính:

Thứ nhất, giới thiệu một số kiến thức cơ bản về các loại, thể văn học chủ yếu có liên quan đến chương trình văn học cấp 3, nhất là phần Văn học Việt Nam xưa và nay

Thứ hai, giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng các loại thể vào việc giảng dạy các tác phẩm trong chương trình văn học cấp 3, có kết hợp phân tích một số bài tiêu biểu thuộc các thể loại khác nhau Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề thể loại, đồng thời đưa ra một số phương pháp giảng dạy TPVH theo đặc trưng thể loại

Cũng đề cập đến vấn đề loại thể tác giả Nguyễn Viết Chữ đã " hệ thống lại cách nhìn vào môn Văn, các biện pháp, phương pháp, câu hỏi, các cách thức chiến thuật Nhằm góp thêm tiếng nói về việc vận dụng phương pháp, biện pháp Vào các thể tài cụ thể trong nhà trường mà người giáo viên thường xuyên phải giải quyết" [2, 5]

Trong cuốn: "Thi pháp VHDG " của Lê Trường Phát (NXB GD - 2000)

đã khái quát chung về thi pháp và lần lượt đi vào đặc điểm thi pháp của từng

Trang 9

thể loại trong bộ phận VHDG cùng với việc phân tích đặc điểm thi pháp của một số tác phẩm cụ thể

Trên tinh thần nghiên cứu TPVH theo thể loại, Nguyễn Xuân Lạc với

bài viết: "Giảng dạy văn học dân gian theo thể loại"[13, 337] đã nêu lên vấn

đề giảng dạy VHDG theo thi pháp thể loại và đưa ra phương pháp day học cụ thể một số loại thể VHDG ở trường THPT Song tác giả mới chỉ đề cập đến phương pháp dạy học truyện cổ tích và ca dao theo đặc trưng thi pháp thể loại, còn thể loại truyền thuyết chưa được tác giả quan tâm

Hoàng Tiến Tựu trong cuốn: "Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy

nghiên cứu VHDG” (NXB GD - 1997) đã đặt vấn đề và khẳng định sự cần

thiết xây dựng những quy phạm cho việc dạy học VHDG ở trường phổ thông Tài liệu này cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu VHDG trong chừng mực cần thiết làm sáng tỏ những vấn đề phương pháp giảng dạy

Kế thừa và phát triển từ những nghiên cứu của các nhà tiền bối,

Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn: “Hiểu văn, dạy văn" (NXB GD - HN, 2000)

đã tìm hiểu đặc trưng tác phẩm trữ tình và đề xuất một cách sơ giản phương pháp lĩnh hội tác phẩm trữ tình trong giảng dạy văn học Tuy nhiên tác giả chưa chú ý đến các thể loại khác như: Tự sự, kịch

Như vậy, vấn đề tiếp nhận và giảng dạy TPVH nói chung, truyền thuyết nói riêng theo đặc trưng thi pháp thể loại đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến và thể hiện ở những mức độ khác nhau trong thực tế giảng dạy văn học Song chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tâp trung và trực diện, mặc dù đã có những thành công nhất định

Qua đề tài này, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói vào vấn đề đang bàn luận để có thể tìm được hướng tiếp nhận phù hợp trong quá trình dạy

và học VHDG nói chung, thể loại truyền thuyết nói riêng

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề xung quanh việc dạy học theo đặc trưng thi pháp thể loại, từ đó vận dụng vào việc dạy học thể loại truyền thuyết ở trường phổ thông Đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy và học Văn trong nhà trường phổ thông hiện nay theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thi pháp Văn học dân gian

- Thể loại truyền thuyết

- Hoạt động đọc - hiểu văn bản truyền thuyết ở trường PTTH

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Vấn đề dạy học văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thi pháp thể loại

- Các văn bản truyền thuyết trong SGK Ngữ văn PTTH

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong phạm vi của khóa luận, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Trang 11

6.2 Về thực tiễn

Tạo ra hướng tiếp cận mới cho học sinh khi tiếp văn bản truyền thuyết ở trường phổ thông Đồng thời phục vụ cho công việc giảng dạy của bản thân sau này

7 Bố cục khóa luận (gồm ba phần)

Mở đầu Nội dung (gồm ba chương)

Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết trong nhà trường PTTH theo đặc trưng thi pháp thể loại

Chương 3: Giáo án thực nghiệm Giáo án 1: Thánh Gióng (Ngữ văn 6 – tập 1) Giáo án 2: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy (Ngữ văn 10 – tập 1)

Kết luận

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Vấn đề thi pháp thể loại

1.1.1 Thi pháp là gì?

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm thi pháp:

Lê Trường Phát đã đưa ra khái niệm: "Thi pháp là hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lựa chọn và xây dựng, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học - nghĩa là toàn bộ hình thức nghệ thuật được nhà văn sáng tạo nhằm thể hiện nội dung tác phẩm" [17, 6]

Thi pháp là tất cả những gì làm nên tính cách độc đáo riêng biệt về phương diện nghệ thuật của tác phẩm, tác giả (hoặc của trường phái, trào lưu)

Để trả lời cho câu hỏi "Thi pháp là gì?", Kráp xốp (1906-1980) nhà

phônclo học Xô Viết nổi tiếng đã đưa ra khái niệm: "Thi pháp với tư cách là

tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ bao gồm: những đặc điểm cấu trúc của tác phẩm; hệ thống phương tiện phản ánh; những chức năng tư tưởng - thẩm mĩ của các phương tiện thể hiện tác phẩm"

Giáo sư Trần Đình Sử đưa ra quan niệm: “Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp, thể loại tạo thành đặc trưng của văn học, nhưng đó không bao giờ chỉ là các hình thức kĩ thuật thuần túy bề ngoài mà là hệ thống cảm nhận về thế giới” [21, 25]

Còn trong cuốn "Thi pháp thơ Đường" Nguyễn Thị Bích Hải đã đưa ra

khái niệm: "Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Hệ thống đó có thể

Trang 13

chia tách các phương diện: Thể loại, kết cấu, phương pháp, không gian, thời gian, ngôn ngữ "[11, 10]

Những quan điểm trên về thi pháp tuy khác nhau, song chúng ta vẫn nhận ra điểm nổi bật của thi pháp là tính hệ thống một hệ thống các yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng tạo nên một thế giới nghệ thuật nhất định

Đến đây không thể không nói tới khái niệm thi pháp học Đây là một ngành chuyên biệt nghiên cứu văn học chuyên nghiên cứu những nguyên tắc nghệ thuật nằm bên trong TPVH

"Thi pháp học là khoa học nghiên cứu những nguyên tắc đặc thù tạo thành văn học như một thế giới khác biệt thế giới thực tại” [17, 9]

Tức nó nghiêng về khám phá, phát hiện bản thân các quy luật hình thức (tất nhiên là quy luật này mang ý nghĩa - tức nó biểu hiện một kiểu nhìn nhận thế giới và con người của nhà văn)

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: " Thi pháp học là khoa học nghiên cứu

thi pháp, tức là hệ thống các phương pháp, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học" [8, 304]

Có thể nói, thi pháp học chính là công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm

Vì vậy khi phân tích tác phẩm, cần đặt tác phẩm đó trong phạm vi thi pháp học, tức là phải đi từ những yếu tố hình thức đến nội dung Đó là con đường tiếp nhận, khám phá bản chất, giá trị của tác phẩm văn học một cách hiệu quả và khoa học

1.1.2 Thể loại truyền thuyết

1.1.2.1 Quan niệm về thể loại

Trang 14

Mỗi một tác phẩm văn học là một công trình sáng tạo độc đáo về nội dung và nghệ thuật Và dù được sáng tác theo phương pháp phương thức nào thì tác phẩm văn học ấy cũng thuộc một thể loại nhất định Vậy hiểu thế nào là thể loại?

Vấn đề thể loại được đặt ra từ lâu và thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, song đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm thể loại

Theo G.S Phương Lựu: "Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể"[15, 339]

Trong Từ điển thuật ngữ văn học nêu khái niệm về thể loại: "Thể loại là

dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy" [8, 299]

Trên đây là những quan niệm khác nhau về thể loại, song nhìn vào ta thấy, loại thể là một phạm trù của LLVH, đây là một khái niệm kép gồm thể

và loại:

Loại (loại hình) chỉ hình thức tồn tại duy nhất của chỉnh thể tác phẩm văn học, nó cho ta biết phương thức sử dụng để chiếm lĩnh, tái hiện đời sống, biểu hiện tư tưởng Đồng thời nó cũng quy định cách thức mà bạn đọc giao tiếp với tác giả thông qua tác phẩm

Thể (thể tài) là một khái niệm chỉ quy mô, dung lượng hình thức tổ chức của tác phẩm

Trang 15

Loại và thể có mối quan hệ độc lập tương đối, quan hệ giữa chúng là quan hệ bao chứa Loại là phương thức tồn tại chung còn thể là sự hiện thực hóa của loại

Từ đó các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia văn chương thành ba loại: Tự sự, trữ tình, kịch Mỗi loại bao gồm nhiều thể

Tóm lại, loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học có liên quan chặt chẽ với nội dung Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một thể loại nhất định, đòi hỏi cần phải có một phương pháp, một cách thức giảng phù hợp đối với từng thể loại văn học Bởi vậy, giảng dạy văn chương theo đặc trưng thể loại được đặt lên hàng đầu và đó cũng là hướng

đi có hiệu quả trong dạy học văn hiện nay ở trường phổ thông

1.1.2.2 Thể loại truyền thuyết 1.1.2.2.1 Khái niệm

Truyền thuyết là bộ phận quan trọng của VHDG, lâu nay đã có nhiều người bàn tới Tuy nhiên, ý kiến của các tác giả về truyền thuyết còn nhiều bàn cãi, trao đổi Nhưng xét kĩ, đó không phải là sự đối lập hay khác nhau mà

là sự nhất trí với nhau về mặt thuật ngữ Song nhìn chung, các tác giả đều nặng về nhấn mạnh tính lịch sử của truyền thuyết - tức là mới chỉ nói đến giá trị nhận thức mà còn xem nhẹ hoặc chưa chú ý đúng mức đến giá trị thẩm mĩ

và các đặc tính dân gian của thể loại này

Theo ý kiến của thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã

lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích" [16, 141]

Tuy không nhằm định nghĩa về truyền thuyết, nhưng ý nghĩa của thủ tướng cũng giúp ích rất nhiều cho việc xác định thể tài này

Trang 16

Trong một bài viết của tác giả Kiều Thu Hoạch đưa ra khái niệm:

"Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; Nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích các nguồn gốc của các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; Biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như truyện cổ tích và thần thoại, nó khác cổ tích ở chỗ nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn

đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; Nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng [16, 141]

SGK Ngữ văn 6 - tập 1, định nghĩa: “Truyền thuyết là loại truyện dân

gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân với các dự kiện và nhân vật lịch sử được kể” [19, 7]

Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể

loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật

và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ tộc, một quốc gia hay một địa phương” [8, 367]

Nhìn chung, khái niệm về truyền thuyết vẫn chưa đi đến thống nhất, song các nhà nghiên cứu đều nhất trí lựa chọn khái niệm về truyền thuyết

trong "Từ điển thuật ngữ văn học" làm trung tâm khi đi vào tìm hiểu cũng như

nghiên cứu về thể loại này Và trong đề tài này người viết cũng xin được lựa chọn và vận dụng khái niệm này vào soi sáng cho vấn đề nghiên cứu

Trước khi đi vào tìm hiểu đặc trưng thi pháp thể loại truyền thuyết, cần phân loại truyền thuyết

Trang 17

1.1.2.2.2 Phân loại truyền thuyết

Trong đời sống cũng như trong văn học, truyền thuyết có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Nó chiếm một số lượng lớn tác phẩm (mà đến nay chưa sưu tầm hết được) và cách ghi chép lịch sử của dân gian, dân tộc Bởi vậy phân loại truyền thuyết là công việc không dễ, còn gây nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến chưa thống nhất

GS Hoàng Tiến Tựu đã phân loại truyền thuyết dựa vào sự phân kì lịch

sử xã hội và căn cứ vào đặc điểm nội dung nghệ thuật của truyền thuyết Việt thành các bộ phận:

1 Truyền thuyết về "Họ Hồng Bàng" và thời kì Văn Lang

2 Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc

3 Truyền thuyết thời kì phong kiến tự chủ

4 Truyền thuyết thời kì pháp thuộc [17, 16]

Cách phân chia trên đây vừa có tính chất tiểu loại,vừa có tính chất phân

kì Song sự phân kì ở đây chưa hợp lí Bởi có thể phân chia truyền thuyết thành các thời kì ngắn hơn

Trong cuốn "Thi pháp văn học dân gian" của Lê Trường Phát chia

truyền thuyết vừa căn cứ theo lịch sử, vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện

và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm, theo cách này có:

- Những truyền thuyết về các thời kì các vua Hùng

- Những truyền thuyết về thời sau các vua Hùng

Đỗ Bình Trị đưa ra một cách phân loại truyền thuyết không căn cứ theo lịch sử mà căn cứ vào những đặc trưng chung của cả thể loại và một mặt khác, vào sự khác biệt của đối tượng được truyện kể đến, có thể chia truyền thuyết thành ba loại

- Truyền thuyết phổ hệ gồm những truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, thành thị, xưởng máy

Trang 18

- Truyền thuyết địa danh: Gồm những truyện kể dân gian về những nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lí khác nhau hoặc về nguồn gốc bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lí ấy

- Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (thường gọi là truyền thuyết lịch sử) [17, 17]

Cách phân chia này rất dễ gây nhầm lẫn, và chưa thấy được đặc trưng của truyền thuyết, khiến người ta còn mơ hồ khi đứng trước một văn bản truyền thuyết

Tóm lại, phân loại truyền thuyết được quan tâm song chưa có giải pháp

cụ thể và hệ thống Song có thể thấy tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu cho thể loại hơn cả, các tiểu loại khác của truyền thuyết rút cục cũng đều là phản ánh lịch

sử ở những mức độ khác nhau Bởi vậy, ở khóa luận này chỉ tập trung phân tích, tìm hiểu đặc điểm thi pháp của tiểu loại truyền thuyết lịch sử

1.1.3 Đặc trưng thi pháp thể loại truyền thuyết

Truyền thuyết là một thể tài lớn của VHDG, nó xuất hiện, tồn tại và diễn biến trước hết như là sự thay thế, sự hóa thân của thể loại sử thi (anh hùng ca) cổ đại

Nó là cái mắt xích nối liền thần thoại Việt với các truyện dân gian khác, đảm bảo tính liên tục, hoàn chỉnh, và hợp lí trong cơ cấu thể loại cũng như trong tiến trình lịch sử của loại hình tự sự dân gian

Truyền thuyết mang đặc trưng riêng có của nó Trong đề tài này, người viết sẽ trình bày những nét đặc trưng cơ bản về thi pháp thể loại truyền thuyết

1.1.3.1 Nhân vật truyền thuyết

Bất kì một TPVH thuộc loại hình nào cũng đều tồn tại nhân vật và nó thuộc phương diện hình thức tác phẩm Văn học sử dụng nhân vật như một phương diện hình thức để tái hiện đời sống Đây cũng là đặc trưng nổi bật của tác phẩm tự sự dân gian nói chung, thể loại truyền thuyết nói riêng Có thể

Trang 19

khẳng định trọng tâm của sự việc, biến cố là con người, trung tâm của tình tiết

Có thể nói nhân vật trong truyền thuyết là những con người có thật ngoài đời được tác giả dân gian lựa chọn đưa vào truyền thuyết, tùy theo cách nhìn nhận, xem xét, đánh giá của quần chúng nhân dân (các nhân vật ấy thường là gần gũi với cuộc sống của nhân dân được nhân dân biết đến) Vì vậy, truyền thuyết ít nói về các vua chúa, dù trong tầng lớp này nhiều người cũng là minh quân, đức cao, tài lớn Và dân gian thể hiện nhân vật, xậy dựng nhân vật của truyền thuyết không giống như một sự sao chép mô phỏng nguyên si, không phải là một sự tái hiện nguyên mẫu mà trên cái cốt lõi lịch

sử Truyền thuyết có thể tiến hành một sự sắp xếp lại để tạo nên tầm vóc của

sự kiện và nhân vật, đưa thêm vào đó những gì là tâm tình, thái độ của nhân dân

Trên cơ sở là cái lõi "sự thật lịch sử" khi xây dựng các nhân vật truyền thuyết tác giả dân gian thường có khuynh hướng "lí tưởng hóa" những con

người mà họ thường kính trọng, yêu mến Nhiều nhân vật của truyền thuyết đã trở thành những biểu tượng đẹp đẽ của văn hóa, của truyền thống dân tộc Do vậy mà người sáng tác không ngần ngại khi mang yếu tố thần kì vào trong tác

Trang 20

phẩm Nhưng không phải vì thế mà các nhân vật của truyền thuyết mất đi những nét dân dã, đời thường của nó

Như vậy nhân vật chính là cảm hứng, là đề tài, là chất liệu để góp phần làm nên những truyền thuyết Sự tồn tại và hoạt động của nhân vật trong tác phẩm tự sự dân gian nói chung, trong truyền thuyết nói riêng là yếu tố không thể thiếu Nó còn cho thấy sự chuyển biến trong tư duy nghệ thuật - tư duy nhân loại của một giai đoạn nhất định trong lịch sử văn học

1.1.3.2 Xung đột trong truyền thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Xung đột là sự đối lập, sự so sánh

được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hình tượng của nghệ thuật" [8, 431]

Truyền thuyết phản ánh, nhận thức và lí giải lịch sử Vì vậy mà truyền thuyết không chú ý hướng vào các hiện tượng trong thế giới tự nhiên như thần thoại mà chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa trọng đại và nhân vật nổi lên trên những sự kiện, những biến cố ấy Xung đột trong truyền thuyết được biểu hiện dưới những dạng khác nhau như:

- Với loại nhân vật là anh hùng dân tộc thì xung đột trong truyện là xung đột giữa dân tộc ta, nhân dân ta với bọn xâm lược

- Với loại nhân vật là nông dân khởi nghĩa thì xung đột là xung đột giữa quần chúng nhân dân với các thế lực áp bức cường quyền

Tóm lại, xung đột là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm truyền thuyết Xung đột chi phối biến cố, sự kiện, tình tiết của tác phẩm, tạo nên giá trị và sức sống cho tác phẩm

1.1.3.3 Kết cấu trong truyền thuyết

Khi nói đến tác phẩm tự sự dân gian là phải nói đến kết cấu và truyền thuyết không nằm ngoài phạm trù ấy Bất cứ một tác phẩm nào cũng có một

Trang 21

kết cấu nhất định Kết cấu là phương tiện tất yếu và cơ bản của sự khái quát nghệ thuật

Mỗi tác phẩm là một "sinh mệnh", một "cơ thể sống" nên kết cấu tác

phẩm là một cấu trúc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể của tác phẩm

Kết cấu trong tác phẩm văn học nói chung, thể tài truyền thuyết nói riêng thường đi theo đường thẳng, theo sự việc, hành động, theo thứ tự thời gian, cái gì xảy ra trước kể trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau Mỗi truyền thuyết kể về một nhân vật, mỗi nhân vật đó lại có diễn biến cuộc đời khác nhau Các truyền thuyết vẫn sử dụng một mô típ kết cấu truyền thống gồm ba phần:

- Phần mở đầu: Hoàn cảnh xuất thân và thân thế của nhân vật chính Các mô típ phổ biến trong truyền thuyết là : sự thụ thai kì lạ, tướng mạo hoặc tài năng khác thường (Thánh Gióng), gia đình nghèo khổ hoặc mang mối thù với giặc ngoại xâm hoặc truyền thống học hành

- Phần nội dung chính: Cuộc đời, sự nghiệp cùng những chiến công, những đóng góp của những anh hùng, các danh nhân cho quê hương, đất nước

- Phần kết: Đoạn cuối cuộc đời nhân vật Phần này cũng có một số mô típ thường gặp: Ví như sự hiển linh, sự hóa thân

Bên cạnh đó truyền thuyết còn mang những nét riêng về kết cấu, đó là kết cấu chuỗi - một kiểu kết cấu đặc biệt của truyền thuyết lịch sử

Ngoài ra còn có rất nhiều truyền thuyết gắn kết với nhau thành chuỗi: Mỗi "hạt" kể về một sự kiện hoàn chỉnh xoay quanh một nhân vật, nhiều "hạt" gắn kết với nhau thành một chuỗi nhờ có một nhân vật xuyên suốt, đóng vai trò nhân vật trung tâm của cả một sự kiện lịch sử lớn

Trang 22

Chẳng hạn, chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gồm hàng chục truyện như : Truyện "Trao gươm thần" (với các nhân vật như:

Lê Thận, Lê Quân, Lê Lợi, trong đó nhân vật Lê Thận là nhân vật chính) Hay truyện "Sự tích Hồ Gươm" (với các nhân vật chính là Lê Lợi và Rùa Vàng)

Tóm lại, với những đặc điểm thi pháp kết cấu làm cho truyền thuyết mang đậm màu sắc dân gian, mang vẻ đẹp giản dị, trong sáng của tác phẩm phônclo, tạo nên sức hấp dẫn của truyền thuyết với bạn đọc

1.1.3.4 Lời kể của truyền thuyết

Đặc điểm tiêu biểu của lời kể truyền thuyết là bằng lối kể cô đọng rất ít

sự miêu tả, chủ yếu chỉ thuật lại hành động của nhân vật, có sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật nhằm tô đậm tính xác thực của truyện: những chi tiết về hoàn cảnh xuất thân của nhân vật, về bối cảnh của câu chuyện, về hành động

và một số lời nói cô đúc của nhân vật chính Những lời cô đúc ấy, do tính chất ngắn gọn về hình thức, xúc tích về nội dung thể hiện được tính cách, đạo đức của nhân vật

Chẳng hạn lời Gióng bảo mẹ, lúc ngồi vụt dậy, ra mời sứ giả vào, lời Gióng dặn sứ giả về tâu đức vua xin đúc quần áo, khí giới, ngựa

Đối với những nhân vật lịch sử, truyền thuyết giữ lối kể cô đọng, đầy ắp chất tưởng tượng, tươi mát, bay bổng mà vẫn mộc mạc với lối tư duy và kiểu diễn đạt của dân gian, làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm phônclo

1.1.3.5 Thời gian, không gian nghệ thuật truyền thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Thời gian, không gian nghệ thuật là

hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó" [tr.322]

Tư duy cộng đồng và cảm hứng dân gian đã làm nên thời gian và không gian nghệ thuật trong văn học viết Với phương thức tự sự, tác giả dân gian kể

Trang 23

lại những câu chuyện xảy ra trong quá khứ Song thời gian và không gian ở truyền thuyết không giống với thời gian và không gian trong truyện cổ tích

Nếu thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích mang tính phiếm chỉ, nhiều trường hợp mang tính chất công thức, ước lệ, mang ý nghĩa tượng trưng thì ở truyền thuyết lại khác, thời gian và không gian nghệ thuật ở đây không mang tính phiếm chỉ mà mang rõ tính xác thực

Như vậy, thời gian và không gian nghệ thuật là một trong những đặc trưng thi pháp quan trọng của thể loại truyền thuyết Trong đó không gian nghệ thuật mang tính chủ quan, cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo của hình tượng nghệ thuật Còn thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ

sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng tác phẩm

1.2 Vấn đề tiếp nhận TPVH

1.2.1 Khái niệm

Vấn đề tiếp nhận văn học đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu và nó cũng đang mở ra khả năng mới cho việc khám phá và dạy học TPVH

Trong Giáo trình Lí luận văn học do G.S Phương Lựu (chủ biên) đưa ra

khái niệm: "Tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất của quá trình sáng tác - giao tế của văn học” Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm là để truyền đạt những khái quát, cảm nhận về cuộc đời cho người đọc, chỉ khi người đọc tiếp nhận quá trình sáng tạo mới hoàn tất

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương khẳng định: “Tiếp nhận văn học là một quá trình” và “quá trình tiếp nhận văn học là một quá trình tâm lí phức tạp vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan” [12, 34]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là hoạt động

chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của TPVH Bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ

Trang 24

thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể " [8, 325]

Tác phẩm văn học là cuộc đối thoại giữ người đọc với tác giả thông qua tác phẩm, sau đó là của người đọc đối với người đọc qua tác phẩm đó Ở đó thể hiện nhu cầu giao tiếp, chia sẻ, trao đổi, giãi bày giữa người với người Dù sợi dây liên hệ là gián tiếp, nhưng nó lại mang tính giao diện rất cao, thể hiện một phần cức năng của văn học Mỗi tác phẩm lúc này là phương tiện giao tiếp giữa nhà văn với độc giả mà mỗi độc giả là một cuộc mói chuyện khác nhau Đó là cuộc giao tiếp đa chiều, đa dạng: Người đọc giao tiếp với tác giả, với nhân vật và hình tượng trong tác phẩm; Đó là cuộc giao tiếp trong không gian : Giữa dân tộc và nền văn hoá và thời gian, giữa các thế hệ và thời đại khác nhau Tuy nhiên mỗi một tác phẩm văn học có thể có sự tiếp nhận khác nhau từ phía độc giả, tuỳ theo trình độ, gu thẩm mỹ, quan niệm, sở thích của người đọc TPVH là một hệ mở mà khi chủ thể tiếp nhận tác phẩm đã đánh thức những con chữ "khô cứng" trên trang giấy Chính thế giới tâm hồn và sự tưởng tượng của bạn đọc đã thổi linh hồn vào ngôn từ tác phẩm, đem lại sức sống cho TPVH

1.2.2 Con đường chiếm lĩnh TPVH

TPVH là một đối tượng nhận thức đặc thù vì nó là sản phẩm tinh thần đặc biệt Mỗi sáng tác văn học đều là sự sáng tạo độc đáo của nhà văn, nhằm truyền đạt những khái quát và cảm nhận về cuộc đời cho người đọc TPVH là

nguồn cung cấp thông tin" có nhiều dải sóng mà người nhận là kẻ chỉnh sóng

để bắt đúng chương trình mà mình mong đợi" Điều này cho thấy thực chất

của quá trình sáng tác văn học là quá trình chuyển cảm xúc đến với bạn đọc

Tiếp nhận văn học là quá trình bạn đọc "cộng hưởng" được cảm xúc

đó Và nếu đặc thù của quá trình sáng tác văn học là các giai đoạn tồn tại hình

Trang 25

tượng nghệ thuật thì đặc thù của quá trình tiếp nhận là quá trình đi ngược lai quá trình sáng tác Ở đó người đọc phải bắt đầu từ việc đọc tác phẩm, từ những yếu tố nhỏ nhất trong văn bản như âm vị, câu, thu nhận ý nghĩa của toàn bộ văn băn, chuyển nội dung văn bản thành ý nghĩa tinh thần của mỗi người Trong quá trình này người đọc chia sẻ, tìm ra những tính chất thẩm mỹ quan trọng như tính chân thực và chói sáng của ngôn ngữ nghệ tthuật, sự thống nhất nội tại trong kết cấu, tính độc đáo của những phát hiện, chân lý của

sự phản ánh, trọng lượng của xung đột, đặc trưng thi pháp thể loại, quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả

TPVC là một sinh mệnh cực kì đa dạng và độc đáo, con người học sinh

là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng Bởi vậy, mọi công thức khuôn sáo, máy móc trong giảng dạy TPVC đều không thích hợp với bản chất sáng tạo của lao động, phân tích và tiếp nhận văn chương

Con đường chiếm lĩnh TPVH thường được triển khai theo năm hoạt động: Chuẩn bị tâm thế, tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tượng nghệ thuật, phân tích khái quát nghệ thuật, đánh giá và tự biểu hiện

1.1 2.1 Tạo tâm thế cho người học

Trong một giờ dạy học Ngữ văn luôn diễn ra hoạt động song phương giữa thầy và trò Họ từng bước đi vào khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm diễn ra trên cơ sở những mối liên hệ qua lại một cách hữu cơ biện chứng giữa ba chủ thể: Nhà văn - Giáo viên - Học sinh, trong đó học sinh giữ vai trò là trung tâm Đối với một giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn cụ thể, công việc đầu tiên

và cũng là bước đệm khởi đầu cho một giờ học là giáo viên tạo tâm thế cho người học Hoạt động này được thực hiện thông qua hệ thông công việc như:

- Chuẩn bị bài ở nhà của GV và HS

- GV chuẩn bị lời vào bài ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa định hướng cho học sinh vào bài mới

Trang 26

- Với các văn bản nghệ thuật có thể tạo tâm thế cho người học bằng việc kể một câu chuyện, một giai thoại, một nhận định, hoặc có thể bằng một trò chơi manh tính định hướng Hoạt động này giúp người học - học sinh nhớ bài cũ và chuẩn bị được về mặt ý thức và tâm lý, vừa huy động được các kĩ năng đã có để giải quyết những yêu cầu mới, tạo dần tâm thế văn học cho học sinh Bởi vậy đây là hoạt động khởi đầu không thể bỏ qua trong dạy học văn, tạo hiệu quả cho các hoạt động tiếp theo, nhất là việc khêu gợi hứng thú tìm hiểu văn chương của học sinh

1.1 2.2 Tri giác ngôn ngữ

Đây là hoạt động chuyển đổi ngôn ngữ từ dạng kí hiệu sang dạng viết

để hiểu ý ngôn ngữ của văn bản hay nói khác đi đây chính là hoạt động đọc Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp nhận TPVH và định hướng cho việc phân tích Nó là khởi đầu cho việc tiếp nhận Đọc văn trước hết phải phụ thuộc vào văn bản tác phẩm Văn bản tác phẩm nói một cách khách quan là sản phẩm sáng tạo của nhà văn Nó được tổ chức bởi các kí hiệu ngôn ngữ Bởi tiếng nói của nhà văn gửi gắm cho bạn đọc thông qua hệ thống ngôn ngữ kết dệt nên hình tượng tác phẩm, nhưng trước mặt bạn đọc vẫn chỉ là những kí hiệu

"vô hồn" Âm vang lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng và tái hiện hình ảnh Vì vậy, muốn chiếm lĩnh TPVH người đọc phải tri giác ngôn ngữ tức phải đọc văn bản để "giải mã" các kí hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm

Như vậy, hoạt động tri giác ngôn ngữ là hoạt động đầu tiên mang tính

chất "mở đường" cho quá trình khám phá, chiếm lĩnh một văn bản Ngữ văn,

nó cung cấp cho người đọc những thông tin đầu tiên có ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tiếp theo tìm hiểu hình thức tổ chức và nội dung thông tin văn bản Cụ thể nó cho người đọc biết được những vấn đề cơ bản có liên quan đến tác giả, liên quan đến sự ra đời của văn bản ấy (hoàn cảnh sáng tác, cảm xúc, tình huống, mối quan hệ giữa văn bản với lịch sử đời sống xã hội)

Trang 27

1.1 2.3 Tái tạo hình tượng nghệ thuật

Đọc văn để tiếp nhận và lĩnh hội, đọc văn để hiểu và cảm nhận văn, có

ấn tượng và định hình biểu tượng về tác phẩm văn học Người đọc phải làm sống dậy hình tượng nghệ thuật từ văn bản tác phẩm rồi chuyển hình tượng đó vào trong đầu trở thành biểu tượng, ấn tượng của mình Đây là hoạt động tái tạo lại hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương, bởi văn chương phản ánh đời sống và biểu hiện tư tưởng bằng hình tượng Mặt khác, hình tượng trong tác phẩm văn chương là bức tranh đời sống kết dệt bằng ngôn từ, vô hình, vô ảnh Bởi thế muốn chiếm lĩnh được tác phẩm buộc người đọc phải sử dụng các khả năng liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức, phán đoán để tái tạo lại

" bức tranh đời sống" bằng ngôn ngữ và bằng hiểu biết của chính mình

Muốn cho thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện hình lên, người đọc phải có khả năng tái hiện bằng hoạt động tưởng tượng TPVH chỉ thực sự tồn tại và có sức sống trong sự tiếp nhận bằng tưởng tượng, tái hiện của người đọc Có thể nói tri giác ngôn ngữ là hoạt động đánh thức cánh cửa các kí hiệu của tác phẩm thì tưởng tượng, tái hiện là bước giúp người đọc nhìn ra thế giới bên trong của tác phẩm nằm dưới các kí hiệu ngôn ngữ Có tưởng tượng tái hiện thì thế giới tác phẩm mới hiện hình với bao nhiêu bức tranh nhiều màu, với bao nhiêu con người khác nhau về diện mạo, tích cách Từ đó mới hiểu được giá trị đích thực của tác phẩm

1.1.2.4 Phân tích - khái quát nghệ thuật

Đây là hoạt động quan trọng nhất, trọng tâm trong cơ chế tiếp nhận văn học cũng như trong giờ đọc - hiểu văn bản nói chung, đặc biệt là giờ đọc - hiểu VBNT

Như chúng ta đã biết, TPVH là một chỉnh thể Mỗi một từ, một chi tiết, một hình ảnh, một nhân vật, một bức tranh, một sự kiện là những yếu tố hợp thành một chỉnh thể nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên bằng tài năng của

Trang 28

mình Vậy làm thế nào để hiểu được lớp ý nghĩa đằng sau những yếu tố ấy?

Không có con đường nào thay thế được con đường phân tích, cắt nghĩa tác phẩm

Phân tích là tách rời yếu tố này ra để giải thích, để có cái nhìn cụ thể những yếu tố làm nên chỉnh thể sâu hơn Ở hoạt động này, người tiếp nhận sau khi đọc, giải mã được ý nghĩa ngôn ngữ, kết cấu, thể loại thì phải có năng lực tích hợp, khái quát những gì đã phân tích

Sau khi phân tích cần làm công việc khái quát nghệ thuật: Việc khái quát nghệ thuật thực ra được tiến hành với các văn bản nghệ thuật (TPVC)

Bởi bất kì một TPVH nào thì tác giả là người sáng tạo cũng gửi vào hình tượng nghệ thuật mà mình tạo nên tư tuởng của chính mình Đó có thể là một vấn đề mang ý nghĩa xã hội, mang ý nghĩa nhân sinh, đó có thể là nỗi niềm, là

sự day dứt, một dự cảm, một hoài niệm nhưng tất cả những điều đó không bao giờ được bộc lộ một cách trực tiếp mà nó ẩn chứa trong các chi tiết nghệ thuật, trong toàn bộ hình tượng nghệ thuật tác phẩm Quá trình khám phá và tìm hiểu tác phẩm thực chất là quá trình phát hiện tư tưởng mà tác giả gửi gắm vào hình tượng nghệ thuật Điều đó sẽ được thực hiện bằng việc khái quát hình tượng nghệ thuật, khái quát từ những hình ảnh riêng lẻ, đặc biệt từ việc sáng tạo những hình tượng sinh động của nhà văn để tìm ra tư tưởng tác phẩm

Tóm lại, hoạt động phân tích - đánh giá nghệ thuật nhằm khám phá chiều sâu nội dung tư tưởng nghệ thuật của TPVH, hiểu được ý đồ và tư

tưởng của nhà văn

1.1 2.5 Hoạt động đánh giá - tự biểu hiện

Đây là hoạt động cuối cùng trong quá trình tiếp nhận Hoạt động này mang tính chủ quan của người đọc khi đứng trước tác phẩm

Trang 29

Đánh giá để chỉ ra cái hay, cái dở của các yếu tố trong tác phẩm cũng như hiệu quả của chúng Đánh giá là khẳng định giá trị nhiều mặt của tác phẩm trong quá trình phân tích và sau khi phân tích Giá trị đó bao gồm: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, đóng góp của nhà văn, bài học cho cuộc sống Kết quả của đánh giá tác phẩm phụ thuộc vào giá trị khách quan của tác phẩm, chủ thể của hoạt động đánh giá, điển hình được lựa chọn và thước đo

để đánh giá tác phẩm Đánh giá được coi như là một cuộc giao tiếp giữa tác giả và độc giả qua tác phẩm tạo thành đời sống lịch sử của tác phẩm văn học, xác nhận vai trò chủ động sáng tạo của chủ thể người đọc trong việc chiếm lĩnh giá trị văn học Nói đúng hơn, nhờ có hoạt động đánh giá mà văn chuơng

có sức sống gây được những rung động thẩm mỹ sâu xa trong lòng bạn đọc Như vậy, con đường tiếp nhận TPVC là một hệ thống gồm các hoạt động: Tạo tâm thế cho người học, tri giác ngôn ngữ, tái tạo hình tượng, phân tích - khái quát nghệ thuật và đánh giá, tự biểu hiện Các hoạt động này không tồn tại độc lập mà luôn gắn bó, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một vòng khép kín trong quá trình chiếm lĩnh TPVC

1.3 Mối quan hệ giữa thể loại và tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại

Thể loại văn học là một loại hình sáng tác mang tính quy luật chứa đựng những yếu tố mang tính ổn định trong cấu trúc tác phẩm Đó là sự kết hợp giữa nội dung và hình thức để tạo nên một chỉnh thể Nó chỉ ra một giới hạn tiếp xúc với đời sống một cách tiếp nhận, một góc nhìn, một trường quan niệm về đời sống Điều này vừa mang tính quy luật, vừa có ý nghĩa như một nguyên tắc xây dựng một thế giới nghệ thuật Vì vậy, nghiên cứu thể loại giúp

ta nhận ra được những vấn đề có tính chất kế thừa trong tiến trình phát triển của văn học nhưng tất yếu, nó có vai trò to lớn đối với quá trình tiếp nhận văn học

Trang 30

Tiếp nhận văn học là một phạm trù văn học, là giai đoạn cuối cùng để hình thành quá trình sáng tác của một tác phẩm

Hoạt động tiếp nhận thực chất là quá trình chuyển biến tác phẩm văn học của nhà văn thành tác phẩm của bạn đọc, hay nói khác đi là quá trình chuyển tác phẩm từ bên ngoài vào trong Tiếp nhận văn học có liên quan chặt chẽ đến phương thức tiếp nhận tương ứng Điều này chỉ rõ hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học diễn ra ở mỗi tác phẩm thuộc mỗi thể loại khác nhau cũng khác nhau Điều này còn cho thấy giữa thể loại và tiếp nhận tác phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc nắm vững những kiến thức về thể loại là nắm vững một công cụ, phương tiện hữu hiệu cho việc tiếp nhận tác phẩm, không những vậy nó còn giúp người học văn không chỉ có kĩ năng đọc văn, hiểu văn mà còn có kĩ năng tạo lập văn bản Loại thể văn học như là phương thức kết cấu hình tượng có ý nghĩa đối với việc đọc văn và cảm thụ văn

Từ đó hình thành một con đường tiếp nhận TPVH, một phương pháp dạy học tích cực theo đặc trưng thể loại Bản chất của phương pháp này là hoạt động đọc - hiểu tác phẩm dựa trên những cơ sở của đặc trưng thể loại, để tiếp nhận TPVH là một hệ thống các hoạt động thao tác trong đó hoạt động

đầu tiên cơ bản xuyên suốt quá trình tiếp nhân là "đọc - hiểu"

Đọc văn là phương tiện trau dồi hàng loạt năng khiếu cần thiết cho sự cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm, cho sự phát triển toàn diện các năng lực tinh thần trí tuệ, tâm hồn của học sinh

Đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại là quá trình xác định kiểu quan hệ giao tiếp giữa các chủ thể tiếp nhận và đối tượng tiếp nhận là tác phẩm văn học, dựa trên cơ sở những tri thức lí lụân mang tính nền tảng Những kiến thức về đặc trưng thể loại sẽ mang lại cho người tiếp nhận một khả năng nhìn nhận tác phẩm khoa học, chính xác tạo tiền đề cho những khám phá sáng tạo tinh thần trên một cơ sở vững chắc

Trang 31

Tóm lại, thực tiễn của hoạt động tiếp nhận văn học nói chung và hoạt động dạy học nói riêng đã cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa phương pháp dạy học với vấn đề thể loại và tiếp nhận tác phẩm Nắm vững những tri thức

về đặc trưng thể loại và chuyển hoá chúng thành phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu TPVH là một trong những con đường để rút ngắn khoảng cách tiếp nhận và đạt đến một chất lượng tiếp nhận đạt hiệu quả cao

1.4 Lý thuyết đọc - hiểu

Theo tinh thần đổi mới giáo dục về cấu trúc, nội dung chương trình SGK và lựa chọn phương pháp giảng dạy "Giảng văn" được thay thế bằng việc đọc hiểu văn bản Trước đổi mới, chương trình, SGK phần lớn quan niệm văn bản nghệ thuật là tác phẩm văn học, mỗi văn bản ứng với một tác phẩm văn học và dạy học tác phẩm theo kiểu "Giảng văn" Tức là giáo viên là người chiếm lĩnh giá trị của văn bản, sau đó truyền lại cho học sinh theo kiểu đọc - chép và kết quả là khi kiểm tra, các em tái hiện lại những điều mà giáo viên đã giảng Điều này dẫn đến học sinh tiếp nhận thụ động, mất đi vai trò chủ thể của người học và khám phá giá trị tác phẩm Nhận thức được điều đó chương trình tích hợp ba phân môn Tiếng Việt - Làm Văn - Văn thành bộ môn Ngữ văn mà văn bản lại bao gồm văn bản nghệ thuật thuộc nhiều phong cách chức năng khác nhau Không thể dạy văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản phong cách báo chí theo kiểu giảng văn Vì vậy dạy đọc - hiểu văn bản văn học được coi là bước đột phá trong phương pháp dạy học văn và

là con đường đặc thù tiếp nhận tác phẩm văn học có hiệu quả

Đọc là hoạt động để tiếp nhận thông tin từ văn bản Hiểu là mục đích của hoạt động đọc văn bản Đọc - hiểu là mục đích cuối cùng của các giai đoạn đọc và mức độ đọc đối với văn bản nghệ thuật Đọc - hiểu là hoạt động truy tìm và giải nghĩa, ý nghĩa của văn bản, nói khác đi đọc - hiểu là hoạt động cơ bản của học sinh đem tích hợp các tầng ý nghĩa của văn bản, tuỳ theo

Trang 32

loại văn bản mà người đọc cần tích hợp những tri thức đọc - hiểu nào Chẳng hạn, muốn đọc - hiểu tác phẩm văn học dân gian thì người học sinh phải được trang bị tri thức đọc - hiểu về thi pháp văn học dân gian, văn hoá dân gian, tri thức về phônclo Hoạt động đọc - hiểu của học sinh trở thành trọng tâm khi tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá tác phẩm văn chương Nói như GS.TS Nguyễn Thanh Hùng: "Đọc hiểu văn chương là năng lực đầu tiên cần

có trong quá trìng tiếp nhận tác phẩm văn học Đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa

tiềm ẩn của văn bản, để rồi từ đó đọc hiểu một "văn bản lớn hơn", là thế giới

và cuộc đời, nói cách khác là đi tìm thế giới nhân sinh qua văn bản văn học” [10, 3]

Thông thường khi đi vào tiếp nhận một văn bản văn học bằng con

đường "đọc" phải trải qua bốn bước ứng với các hoạt động tổ chức chiếm lĩnh

tác phẩm văn học như: Đọc thông - đọc thuộc, đọc kĩ - đọc sâu, đọc hiểu- đọc sáng tạo, đọc đánh giá - đọc ứng dụng

Tóm lại, đọc - hiểu là trọng tâm và cũng là yêu cầu cấp thiết trong dạy

và học tác phẩm văn chương theo tinh thần đổi mới Đọc - hiểu là hoạt động thu nạp và toả sáng âm thầm với sức mạnh nội hoá kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và văn hoá trong cấu trúc tinh thần cá thể, đó là lối đọc để tự học suốt đời Vì vậy người ta coi đọc hiểu là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học

Như vậy, ở chương1 chúng tôi đã đi vào tìm hiểu những vấn đề lí thuyết chung có liên quan đến đề tài Dựa trên cơ sở thành tựu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các nhà giáo tâm huyết, chúng tôi đã đưa ra những khái niệm, các cách phân loại và các cách hiểu về những vấn đề lí thuyết chung Tuy chưa thống nhất song chúng tôi cũng góp phần giải quyết cho những vấn đề mà chúng tôi sắp trình bày ở chương tiếp theo, trọng tâm là vấn đề đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thi pháp thể loại được cụ thể ở chương 2

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỌC - HIỂU CÁC VĂN BẢN TRUYỀN THUYẾT THEO

ĐẶC TRƯNG THI PHÁP THỂ LOẠI 2.1 Văn bản và văn bản văn học

2.1.1 Văn bản

Theo Đỗ Hữu Châu: “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, là một biến thể dạng viết liên tục của ngôn bản, thực hiện một hoặc một số đích nhất định nhằm vào những người tiếp nhận nhất định, thường là không có mặt khi văn bản được sinh ra”

SGK Ngữ văn 6 – tập 1: “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có

chủ đề thống nhất, có kiên kết chặt chẽ, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [19, 17]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Văn bản là bản ghi bằng chữ viết

hoặc in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng” [8, 394]

Các quan niệm về văn bản tuy không thống nhất song có thể thấy rằng văn bản chính là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Về mặt hình thức nó là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ, các yếu tố trong hệ thóng ấy quy định lẫn nhau tạo thành một kết cấu bền vững có chứa đựng một nội dung thông tin nào đó

2.1.2 Văn bản văn học

Theo SGK Ngữ văn 10 – tập 2: “Văn bản văn học là những văn bản đi

sâu khám phá hiện thực khách quan, khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu khám phá của con người Văn bản văn học được xây dụng bằng hệ thống ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao

Trang 34

Mỗi văn bản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định, và theo quy ước, cách thức của thể loại đó”

Tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm: “Văn bản văn học là một tổ chức nghệ thuật gồm từ, câu, nhóm, đoạn tạo thành một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát nhằm phản ánh đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh thái

độ, tình cảm nhất định đối với thực tại đời sống qua việc xây dựng nhân vật, thời gian, không gian, qua việc sắp xếp các chi tiết để biểu hiện bức tranh đời sống sinh động nhằm biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả”

Văn bản văn học là văn bản của tác phẩm văn chương có hình thức chặt chẽ thống nhất, nó nội dung thông tin hoàn chỉnh mang tính thẩm mĩ và dược thể hiện qua hình tượng

2.1.3 Phân biệt tác phẩm văn học với văn bản văn học

“Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại” [8, 290]

Văn bản văn học và tác phẩm văn học là hai khái niệm thuộc hai phạm trù khác nhau, không đồng nhất với nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau:

Văn bản là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ được nhà văn sử dụng như một phương tiện để chuyển tải tác phẩm đến bạn đọc Văn bản văn học chỉ là một

mớ những kí hiệu ngôn ngữ cố định, những con chữ vô hồn trên trang giấy Muốn hiểu văn bản phải có người đọc làm công việc giải mã ngôn ngữ

Còn tác phẩm văn học là sản phẩm của tinh thần, là kết quả của quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn, kết quả của việc đọc - hiểu

Quan niệm truyền thống cho rằng: Văn bản văn học chính là tác phẩm văn học, mỗi văn bản ứng với một tác phẩm Việc dạy học thực chất là việc

Trang 35

tìm hiểu tác phẩm của giáo viên để rồi giáo viên đem tất cả sự hiểu biết của mình đến cho học sinh

Quan niệm hiện đại lại khác: Quan hệ giữa TPVH và VBVH là quan hệ giữa hai yếu tố hằng biến và bất biến VBVH là cái bất biến và chỉ có một, còn TPVH là cái hằng biến và vô hạn

Chúng ta đồng ý với quan niệm thứ hai, bởi văn bản văn học có một nhưng thông tin được gửi trong văn bản đến người tiếp nhận là vô hạn tùy

theo cách hiểu của bạn đọc Nói như Khrapchenko: “Có bao nhiêu bạn đọc sẽ

có bấy nhiêu tác phẩm”

Như vậy, việc phân biệt VBVH và TPVH là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy văn trong nhà trường phổ thông Xác định khái niệm văn bản cũng chính là đề cao, khẳng định vai trò của bạn đọc - học sinh trong nhà trường.Từ

đó giúp giáo viên có phương pháp hướng dẫn, tổ chức học sinh tiếp cận VBVH phù hợp, đặc biệt chú trọng phương pháp đọc - hiểu

2.2 Tổ chức học sinh đọc hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thi pháp thể loại

Như ở trên đã nói, thể loại hiện nay đang là một trong những trục tích hợp của SGK Ngữ văn PTTH Bởi vậy quan tâm đến những đặc điểm thi pháp của từng thể loại nhất định có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ đối với việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu TPVH cho học sinh Đồng thời nó cũng

cung cấp một “chìa khóa” khoa học mở cánh cửa văn chương, đáp ứng yêu

cầu của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang đi dần vào chiều sâu trong nhà trường phổ thông hiện nay Vận dụng thi pháp thể loại vào việc đọc hiểu TPVC bài viết này chúng tôi xin đưa ra một quy trình tổ chức học sinh

“đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thi pháp thể loại”

Để một giờ văn thực sự thu hút kích thích được hứng thú học tập của học sinh, trước tiên người giáo viên cần tạo cho học sinh được tâm thế tiếp

Trang 36

nhận Bởi đọc văn bản Ngữ văn là một hoạt động học tập, hoạt động ấy chỉ có thể diễn ra khi nó xuất hiện đồng thời hai thành tố cơ bản là chủ thể và đối tượng (người đọc - văn bản)

Nhưng trên thực tế trong một giờ đọc - hiểu VBVH không phải học sinh nào cũng ý thức được vai trò chủ thể của mình Vì vậy, hoạt động tạo tâm thế cho người đọc là một hoạt động mang ý nghĩa khởi động cho một quá trình tiếp cận với văn bản của học sinh Tức chuẩn bị cho học sinh ý thức và tâm thế để học sinh sẵn sàng tham gia vào hoạt động, cụ thể là việc đọc - hiểu văn bản Ngữ văn xác định nào đó

Chẳng hạn: Khi dạy đọc - hiểu truyền thuyết “Con Rồng cháu tiên"

(SGK Ngữ văn 6 - tập 1) GV học sinh quan sát tranh ảnh Đền Hùng gợi cho

học sinh nguồn gốc lịch sử dân tộc, tạo tâm thế vào bài Học sinh gọi được tên Đền Hùng Tiếp theo GV gợi nhắc đến câu nói của Bác Hồ:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Tổ chức tốt tâm thế tiếp nhận cho học sinh với một bài đọc hiểu trên lớp

có giá trị như một sự “khơi mào” của tưởng tượng Bước tiếp theo mới là đọc

Thông thường, con đường đến với TPVC bằng con đường đọc hiểu trải qua bốn bước: Đọc thông - đọc thuộc ; Đọc kỹ- đọc sâu ; Đọc hiểu- đọc sáng tạo và Đọc đánh giá - đọc ứng dụng

2.2.1 Đọc thông - đọc thuộc

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu đặc trưng để xây dựng hình tượng của TPVC Để khám phá tác phẩm, hiểu được các vấn đề tác giả gửi vào trong tác phẩm, người đọc không có con đường nào khác là đọc văn bản Tức là đi vào “mã hóa” những con chữ khô cứng trên trang giấy để đi tìm ra ý nghĩa văn bản Hay nói khác đi, đó là quá trình chuyển đổi ngôn ngữ từ dạng kí hiệu sang dạng viết để hiểu ý nghĩa của văn bản đó

Trang 37

2.2.1.1 Đọc thông

Đọc thông là đọc không vấp, mục đích là để người đọc có thể tri giác toàn bộ văn bản, có được những cảm nhận đầu tiên về toàn bộ văn bản Hoạt động đọc có thể diễn ra dưới nhiều hình thức: Đọc bằng mắt, đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc một mình, đọc trước tập thể Tùy từng tác phẩm mà giáo viên hướng dẫn học sinh đọc cho linh hoạt trong quá trình tìm hiểu văn bản

Đối với văn bản truyền thuyết, giáo viên tổ chức cho học sinh đọc truyện và kể chuyện theo phương thức diễn xướng

Chẳng hạn với truyền thuyết: “Thánh Gióng” (SGK Ngữ văn 6 - tập 1)

giáo viên hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, phân vai (người kể chuyện, nhân vật Thánh Gióng) Qua đó góp phần tái hiện được không khi của truyện cũng như sự việc diễn ra trong truyện (chọn những học sinh có khả năng đọc tốt, có

sự chuẩn bị ở nhà)

2.2.1.2 Đọc thuộc

Sau khi học sinh đọc phân vai, GV gọi một vài học sinh kể tóm tắt lại văn bản câu chuyện mà không cần nhìn văn bản, đồng thời nhớ được nội dung

cơ bản và những tình tiết, chi tiết tiêu biêu của truyện

Chẳng hạn, khi đọc - hiểu truyền thuyết “Thánh Gióng” học sinh cần nhớ và

kể lại được:

- Sự ra đời kì lạ của Gióng

- Lời nói của Gióng khi nói với mẹ và sứ giả

- Gióng cùng nhân dân đánh giặc

- Gióng bay về trời Trong quá trình đọc, GV phải huy động vai trò chủ thể của học sinh, chú ý cho các em các từ khó, chú thích văn bản, vừa đọc vừa nhập vai vào nhân vật, hiện thực hóa chức năng biểu cảm của ngôn ngữ

Trang 38

Tóm lại, đọc thông - đọc thuộc là hoạt động đầu tiên mang tính chất mở đường cho quá trình chiếm lĩnh một tác phẩm văn học thuộc thể loại truyền thuyết nói riêng, VBVH nói chung Nó cung cấp cho người đọc thông tin đầu tiên có ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tiếp theo tìm hiểu hình thức

tổ chức và nội dung của văn bản

2.2.2 Đọc kỹ - Đọc sâu

Bước này nhằm tái tạo hình tượng nghệ thuật của TPVC, bởi TPVC phản ánh đời sống và biểu hiện tư tưởng bằng hình tượng Hình tượng trong TPVC là bức tranh đời sống được kết dệt bằng ngôn từ vô hình, vô ảnh Muốn chiếm lĩnh TPVC buộc người đọc phải huy động khả năng liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức, phán đoán để tái tạo lại “bức tranh đời sống” bằng ngôn ngữ và bằng hiểu biết của chính mình Vì vậy, người đọc phải tiến hành hoạt động tiếp theo đó là hoạt động đọc kỹ - đọc sâu văn bản tác phẩm

VHDG nói chung, truyền thuyết nói riêng là thế giới của niềm mơ ước Khi dạy đọc - hiểu các văn bản truyền thuyết, giáo viên giúp các em sống lại không khí xa xưa của dân tộc để yêu mến, tự hào về truyền thống văn hóa, truyền thống anh hùng, và đạo đức của dân tộc

2.2.2.1 Đọc kỹ

Đọc để phát hiên ra giá trị nội dung và hình thức của văn bản Từ đó có cái nhìn bao quát toàn bộ văn bản về cả hai phương diện: Nội dung và hình thức

Chẳng hạn khi dạy đọc - hiểu truyền thuyết “Thánh Gióng” giáo viên cần hướng dẫn học sinh chỉ ra được nội dung chủ yếu và hình thức tổ chức của văn bản, cụ thể:

Về nội dung: Ca ngợi người anh hùng làng Gióng đánh giặc cứu nước, đồng thời, thể hiện niềm mơ ước của nhân dân ta từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm

Trang 39

Về hình thức: Tác phẩm được triển khai theo trình tự gắn với cuộc đời

và hành động của nhân vật Thánh Gióng từ đầu đến kết thúc câu chuyện

2.2.2.2 Đọc sâu

Sau khi có những cảm nhận khái quát về toàn bộ văn bản, giáo viên tổ chức cho học sinh tiếp tục quá trình đọc đó là đọc sâu Đọc sâu là đọc tập trung vào chi tiết, hình ảnh, một số yếu tố có vai trò đưa đẩy Đọc sâu để hiểu được cấu trúc lôgic bên trong, sự vận động tất yếu của các sự kiện, sự việc, và hình tượng của tác phẩm

Tác phẩm tự sự dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng bước đọc này sẽ cung cấp cho ta cốt truyện biến cố, sự việc xoay quanh nhân vật chính

để thuật lại câu chuyện theo cách của mình Học sinh kể lại được câu chuyện tức học sinh đã nắm được biến cố, sự kiện, tình tiết trong truyện Qua đó học sinh có thể tái hiện lại hình tượng nghệ thuật trong truyện về những nét bên ngoài như: Cử chỉ, lời nói, diện mạo, hành động và những phẩm chất bên trong của nhân vật, thấy được sự vận động tất yếu của, sự việc, hình tượng

Nhờ có bước đọc này mà những hình tượng văn học được hiện lên một cách sinh động, phong phú trong sự khêu gợi trí tuệ, tưởng tượng, và kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng của người đọc, người nghe Đồng thời bước đọc này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc dạy học TPVC theo đặc trưng của hoạt động tiếp nhận

Trang 40

mênh mang ý tưởng và cảm xúc Đọc văn bản sẽ giúp họ hiểu sâu hơn tài nghệ của tác giả khi vận dụng tiếng mẹ đẻ để bày tỏ những điều sâu xa hơn về quan hệ giữa con người với đời sống trong TPVC

Học sinh sau khi đọc văn bản tác phẩm, tái hiện lại hình tượng tác phẩm

có thể liên tưởng tới nhiều chi tiết, nhiều hình tượng liên quan nhưng chưa chắc các em đã nắm được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Đọc - hiểu văn bản hay chính là hoạt động phân tích, cắt nghĩa sẽ giúp các em hiểu sâu hơn những thông tin trong văn bản và ở mức độ cao hơn có thể đưa lại cho nó những giá trị mới - tức các em đã đọc sáng tạo văn bản

Từ kết quả tìm hiểu ở chương 1 cho thấy, con đường để tiếp cận TPVC theo tinh thần thi pháp thể loại là con đường hiệu quả, cụ thể là vấn đề thi pháp truyền thuyết Vì vậy, không thể tiếp cận văn bản theo hướng xã hội học, cũng không thể phân tích cắt nghĩa một văn bản truyền thuyết như một truyện hiện đại mà phải dựa vào yếu tố nghệ thuật thi pháp đặc thù của thể loại truyền thuyết Vì vậy, khi tổ chức học sinh đọc - hiểu một văn bản truyền thuyết cụ thể, cần dựa vào những đặc trưng sau của thể loại truyền thuyết:

2.2.3.1 Thi pháp cốt truyện của truyền thuyết

Tác phẩm tự sự dân gian nói chung, truyền thuyết nói riêng luôn tồn tại

sự kiện, biến cố cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu, tư tưởng, và nghệ thuật nhất định Tức luôn có cốt truyện, đây là đặc trưng cơ bản không thể thiếu của truyện

Xét về phương diện thi pháp truyền thuyết, lại hướng sự chú ý vào cách cấu tạo cốt truyện Bởi cốt truyện thuộc nội dung còn cách cấu tạo cốt truyện lại thuộc về yếu tố hình thức nghệ thuật của tác phẩm phônclo - đây chính là tinh thần của thi pháp học nghiêng về hình thức nghệ thuật

Cốt truyện của truyền thuyết hấp dẫn người đọc không phải bởi những tình huống gay gắt của xung đột, mà là ở những sự kiện biến cố xảy ra liên

Ngày đăng: 27/12/2017, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w