1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dạy học bài phong cách ngôn ngữ khoa học trong SGK Ngữ văn 12

64 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 489,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của các phong cách chức năng ngôn ngữ chỉ được thực hiện trong một chùm bài ở SGK lớp 11 với một số tiết không nhiều, thậm chí chỉ đủ để giáo viên truyền đạt đến học sinh khối l

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau Về bản chất, đó là sự tiếp xúc giữa cá thể này với cá thể khác hay giữa các cá thể trong một cộng đồng xã hội Một trong những động lực thúc đẩy con người giao tiếp với nhau là xuất phát từ mong muốn có được sự hiểu biết

về đời sống, về những gì đang tồn tại xung quanh mình Để có được sự hiểu biết ấy, con người cần phải thu thập những thông tin, mở mang tri thức và có những sự hiểu biết, khám phá, tìm tòi từ kinh nghiệm vốn có, từ tri thức tích lũy được Đồng thời, cùng với những tri thức đã có, con người với khả năng nhất định của mình khái quát các vấn đề đang tồn tại trong xã hội thành những vấn đề chung nhất, chính xác nhất để truyền lại cho các thế hệ sau Nói một cách khác, con người trao đổi với nhau là để thể hiện, trình bày những kinh nghiệm, tri thức khoa học đã tích lũy được trong quá trình tác động vào thế giới khách quan, qua đó góp phần làm cho cuộc sống thực sự có ý nghĩa Xuất phát từ nhu cầu chính đáng ấy, các ngành khoa học ra đời Hơn nữa, khoa học là một lĩnh vực ra đời trong cuộc sống, đáp ứng những vấn đề quan trọng và cung cấp tri thức cho con người Vì thế, khoa học được coi là lĩnh vực lớn, quan trọng đối với con người Khi đời sống xã hội càng hiện đại, khoa học càng phát triển thì nhu cầu nghiên cứu khoa học cũng có những đòi hỏi cao hơn Mặt khác, từ những hiểu biết, những tri thức khoa học đã có, để

có thể truyền đạt cho các thế hệ sau, con người phải sử dụng ngôn ngữ để ghi lại những tri thức đó Để sử dụng đúng, sử dụng chuẩn mực ngôn ngữ khoa học, con người phải có những hiểu biết về cách thức dùng chúng trong hoạt động

Tuy nhiên, ta thấy ngôn ngữ khoa học là thứ ngôn ngữ được học sinh

sử dụng nhiều trong hoạt động học tập Nhờ có phong cách ngôn ngữ này học

Trang 2

sinh có thể phân biệt được ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và sử dụng ngôn ngữ đúng lúc, đúng chỗ Vì thế việc dạy học Phong cách ngôn ngữ khoa học trong hoạt động học tập cho đến nay là một vấn đề cần lưu ý Tuy nhiên học sinh khi sử dụng ngôn ngữ khoa học trong hoạt động học tập thường mắc phải một số hạn chế Hạn chế đó thể hiện ở việc học sinh quen sử dụng những từ ngữ dân dã, ít sắc thái khoa học và không có nhiều khả năng sử dụng những từ ngữ khoa học Chẳng hạn ta vẫn thường gặp học

sinh sử dụng những cụm từ :“Cái ấy” “Sự vật ấy”, “Những cái ấy” để

diễn đạt hay lý giải những câu hỏi có tính khoa học và các môn học Đây là những cụm từ không rõ ràng, có thể gây hiểu lầm và dường như mang ý nghĩa

mơ hồ Điều này dẫn đến một yêu cầu là phải làm thế nào để học sinh có thể

sử dụng đúng ngôn ngữ khoa học khi học tập Hơn nữa, mục đích của việc dạy học tiếng Việt ở trung học phổ thông không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức về từ ngữ, về câu, về cách dựng đoạn, tạo lập văn bản mà qua đó còn giúp học sinh nói, viết đúng phong cách, phù hợp với lĩnh vực giao tiếp Không chỉ có vậy qua việc học những tri thức về tiếng Việt các em có khả năng tạo lập những văn bản có tính sáng tạo Vì thế việc tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung và Phong cách khoa học nói riêng

là quan trọng và cần thiết

Trước đây, khi dạy học tiếng Việt ở trung học phổ thông các phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung và Phong cách ngôn ngữ khoa học nói riêng bố trí theo một chương trình riêng Nội dung của các phong cách chức năng ngôn ngữ chỉ được thực hiện trong một chùm bài ở SGK lớp 11 với một

số tiết không nhiều, thậm chí chỉ đủ để giáo viên truyền đạt đến học sinh khối lượng kiến thức giản đơn, khái quát nhất về các phong cách ngôn ngữ, Phong cách ngôn ngữ khoa học nằm trong chùm bài phong cách ngôn ngữ trên cũng được triển khai ở lớp 11 trong một tiết duy nhất Hiện nay cùng với việc biên

Trang 3

soạn SGK, các nhà giáo dục nhận thấy rằng: để cho học sinh rèn luyện bốn kĩ năng nghe, đọc, nói, viết thì cần quan tâm hơn đến việc dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung và Phong cách ngôn ngữ khoa học nói riêng Có điều này vì phong cách chức năng ngôn ngữ chính là cơ sở để các

em sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực nhằm đạt hiệu quả nhất định Xuất phát từ những điều cần thiết này, chương trình Ngữ văn đã triển khai dạy các phong cách chức năng ngôn ngữ từ lớp 10 đến lớp 12 và mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ được dạy trong hai tiết

Tuy vậy, thực tế dạy học tiếng Việt ở trung học phổ thông hiện nay, việc dạy học phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung, Phong cách ngôn ngữ khoa học nói riêng ít được coi trọng Hơn nữa, bản thân các kiến thức của Phong cách ngôn ngữ khoa học vừa khó, vừa khô khan lại trừu tượng khó hiểu nên hầu như những tiết học về nội dung này thường không có được hiệu quả cao

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong SGK Ngữ văn 12”

2 Lịch sử vấn đề

Gắn liền với nội dung đề tài, phần lịch sử vấn đề được triển khai ở hai phương diện: Thứ nhất là tìm hiểu quá trình nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ và Phong cách ngôn ngữ khoa học; Thứ hai là tìm hiểu quá

trình nghiên cứu việc dạy học bài “ Phong cách ngôn ngữ khoa học” Cụ thể

nội dung các phương diện ấy như sau:

Nghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữ là vấn đề được quan tâm ở Việt Nam nói riêng, ở thế giới nói chung

Có thể nói, trong những năm gần đây việc nghiên cứu về các phong cách năng ngôn ngữ có nhiều thành tựu mới Đặc biệt hiện nay khi Phong cách học đã trở thành nội dung bắt buộc đối với tất cả các sinh viên năm cuối

Trang 4

ở các học viện, các khoa chuyên ngành ngôn ngữ ở các trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các trường Đại học Sư phạm thì phong cách chức năng ngôn ngữ lại càng quan trọng và cần thiết Trong thực tế nghiên cứu đã

có nhiều nhà Ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu các ngành khoa học xã hội

và nhân văn quan tâm đến vấn đề này

Ngay từ thế kỷ XX, trên thế giới đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữ Trong đó, tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu của các nhà phong cách học nổi tiếng như:

R.Giacốp xơn “Bàn về ngôn ngữ học và thi học” N.Y.1960; “Những vấn đề của phong cách học ngôn ngữ học”, 1997…

Ở Việt Nam, trong những thập kỷ gần đây việc nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi chức năng ngôn ngữ cũng được nhiều nhà phong cách học quan tâm Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có bàn về phong cách chức năng ngôn ngữ

Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, các tác giả Đinh Trọng Lạc,

Nguyễn Thái Hoà bàn về các vấn đề lí thuyết của Phong cách học như về đối tượng nghiên cứu của Phong cách học, các phong cách chức năng ngôn ngữ

và việc phân chia chúng Đồng thời, ông cũng đưa ra khái niệm phong cách

chức năng là : “Phong cách chức năng là khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản (phát ngôn) tiêu biểu”

[6,19] Quan niệm này thể hiện những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ tương xứng với mọi lĩnh vực, mục đích giao tiếp cụ thể

Không đồng quan điểm với tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà,

tác giả Cù Đình Tú lại cho rằng : “Phong cách chức năng là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao

Trang 5

tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp ” [12,45] Về bản chất quan điểm này lại

chú trọng tới quy định về sử dụng ngôn ngữ theo từng phong cách chức năng

Bên cạnh hai công trình tiêu biểu kể trên, nhiều công trình khác cũng

đề cập đến vấn đề này Ở đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những hướng phân chia phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau Chẳng hạn, tác giả Đinh Trọng Lạc lại chia tiếng Việt ra thành hai phong cách lớn là Phong cách khẩu ngữ và Phong cách văn học Phong cách văn học lại bao gồm: Phong cách thư từ; Phong cách ngôn ngữ hành chính; Phong cách ngôn ngữ chính luận; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật [5,285 – 298] Trong cách phân loại này, chúng tôi thấy rõ xu hướng muốn đồng nhất phong cách chức năng với dạng lời nói Trong khi đó các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà lại dựa vào chức năng xã hội của tiếng Việt để chia thành hai loại phong cách chức năng cơ bản: Chức năng giao tiếp và chức năng thông báo Xuất phát từ thực tế nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ, chương trình tiếng Việt phổ thông trước đây và chương trình Ngữ văn hiện nay đã xác định có sáu kiểu phong cách chức năng ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt; Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật; Phong cách ngôn ngữ chính luận; Phong cách ngôn ngữ báo – công vụ; Phong cách ngôn ngữ hành chính; Phong cách ngôn ngữ khoa học

Tuy có nhiều hướng phân loại khác nhau nhưng có một sự đồng nhất về quan điểm khi xem xét Phong cách ngôn ngữ khoa học Đó là Phong cách ngôn ngữ khoa học thuộc ngôn ngữ phi nghệ thuật

Từ thực tế nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ nói chung và Phong cách ngôn ngữ khoa học nói riêng có thể dễ dàng nhận thấy rằng những bài nghiên cứu về phong cách chức năng nói chung là rất phong phú Nhưng việc nghiên cứu, tìm hiểu cách thức tổ chức dạy học một bài phong cách chức năng ngôn ngữ, cụ thể như Phong cách ngôn ngữ khoa học thì có lẽ

Trang 6

ít được chú trọng đến Vì thế đề tài “Dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong SGK Ngữ văn 12” là một đề tài có tính ứng dụng cao trong

quá trình dạy học Ngữ văn ở THPT

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra một phương hướng cho việc tổ chức dạy học Phong cách ngôn ngữ khoa học đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các bài phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, việc thực hiện đề tài này phải hướng tới những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày hệ thống kiến thức cơ bản về Phong cách ngôn ngữ khoa học Đánh giá thực tế dạy học nội dung này ở trường phổ thông

Thứ hai, nêu ra các định hướng dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” đạt hiệu quả

Thứ ba, trên cơ sở nắm vững kiến thức đó vận dụng vào tổ chức dạy

học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong chương trình SGK Ngữ văn

12

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ nội dung của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu bản chất, đặc trưng cơ bản, các thể loại và dạng tồn tại của Phong cách ngôn ngữ khoa học nhằm đưa ra cơ sở lí luận phục vụ cho việc tổ chức dạy học bài

“Phong cách ngôn ngữ khoa học” ở trường THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ những thành tựu về phong cách chức năng ngôn ngữ và Phong cách ngôn ngữ khoa học, chúng tôi đánh giá thực trạng dạy học và đưa ra một cách

Trang 7

triển khai dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong chương trình

SGK Ngữ văn 12 THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi lựa chọn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp điều tra khảo sát

- Phương pháp thuyết minh

6 Đóng góp của khoá luận

Về mặt lí luận: Khoá luận tập trung trình bày một cách hệ thống cơ sở

lí luận về Phong cách ngôn ngữ khoa học ở các phương diện khái niệm, đặc trưng, vai trò và cách thức thực hiện Phong cách ngôn ngữ khoa học trong văn bản

Về mặt thực tiễn, khoá luận giúp cho học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi sử dụng Phong cách ngôn ngữ khoa học cũng như vận dụng kết hợp phong cách ngôn ngữ này với phong cách ngôn ngữ khác trong quá trình tạo lập văn bản

7 Bố cục của khoá luận

Khoá luận được triển khai theo bố cục sau:

Phần mở đầu Phần nội dung Chương 1: Các phong cách chức năng ngôn ngữ và Phong cách ngôn ngữ khoa học

Chương 2: Dạy học bài Phong cách ngôn ngữ khoa học ở trường phổ thông Chương 3: Thực nghiệm

Phần kết luận

Trang 8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ VÀ

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC 1.1 Các phong cách chức năng ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ

Phong cách chức năng ngôn ngữ là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình nghiên cứu trong Phong cách học Vì thế, khi nghiên cứu Phong cách học, các nhà ngôn ngữ học luôn nghiên cứu và đưa ra các quan niệm về phong cách chức năng ngôn ngữ Bởi lẽ phong cách chức năng ngôn ngữ là cơ sở là vấn đề cơ bản quy định cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp đạt chuẩn mực, tạo ra lời nói hay, đẹp trong giao tiếp

Thực tế nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ cho thấy đây là một khái niệm vừa phong phú vừa phức tạp Sự phức tạp của vấn đề này được thể hiện ở việc ngay cùng một thời điểm nghiên cứu song mỗi nhà nghiên cứu nhìn nhận nó theo những cách khác nhau

Tuy nhiên để nghiên cứu cách tổ chức dạy học “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong chương trình Ngữ văn 12 THPT, chúng tôi lựa chọn khái niệm của tác giả Cù Đình Tú Ông cho rằng: “Phong cách chức năng là một dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp; đối tượng tham gia giao tiếp” [13,14]

Việc lựa chọn khái niệm này là bởi nó không những chỉ rõ được đặc điểm nội dung phong cách chức năng ngôn ngữ, xác định rõ các nhân tố cấu thành của phong chức chức năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng mà còn thể hiện rõ mục đích và sử dụng ngôn ngữ theo những lĩnh vực giao tiếp khác nhau

Trang 9

1.1.2 Phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ

Các nhà ngôn ngữ học hiện đại khi nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ cho đến nay đã được đưa ra rất nhiều hướng phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ Tiêu biểu phải kể đến các hướng phân chia sau:

Cùng một tác giả Đinh Trọng Lạc nhưng ở thời kỳ khác nhau lại có hướng phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau Cụ thể, trong

cuốn “Giáo trình Việt Ngữ (Tập III) Tu từ học” [5,285 – 298] Theo tác giả:

Phong cách chức năng tiếng Việt được chia thành hai bậc: Bậc một chia ra hai phong cách lớn, Phong cách khẩu ngữ và Phong cách văn học; Còn bậc hai chia thành năm phong cách nhỏ Phong cách văn học được chia ra: Phong cách ngôn ngữ thư từ; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ hành chính; Phong cách ngôn ngữ chính luận; Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Như vậy, chúng ta thấy tác giả như muốn đồng nhất phong cách chức năng với dạng lời nói

Cũng tác giả Đinh Trọng Lạc nhưng trong cuốn “Phong cách học”

[7,66] lại đưa ra một hướng phân chia mới với năm phong cách ngôn ngữ Ở quan điểm này, Phong cách hội thoại và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật không được coi là phong cách chức năng ngôn ngữ mà chỉ là kiểu chức năng ngôn ngữ Vì vậy, phong cách chức năng tiếng Việt có năm phong cách: Phong cách ngôn ngữ hội thoại; Phong cách ngôn ngữ hành chính; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ báo – công vụ; Phong cách ngôn ngữ chính luận Trên thực tế việc phân loại này chưa thể hiện đầy đủ các lĩnh vực có sử dụng ngôn ngữ trong thực tế giao tiếp

Không đồng nhất quan điểm với Đinh Trọng Lạc, tác giả Cù Đình Tú

trong cuốn “Tu từ học tiếng Việt hiện đại” lại chia ngôn ngữ toàn dân thành:

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện chức năng biểu hiện và Phong cách ngôn ngữ trình bày thực hiện chức năng trình bày Phong cách ngôn ngữ

Trang 10

trình bày lại được chia thành Phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ tự do và Phong cách ngôn ngữ gọt rũa (Phong cách ngôn ngữ gọt rũa bao gồm: Phong cách ngôn ngữ hành chính và Phong cách ngôn ngữ khoa học) Trong hướng phân chia này tác giả khi thì dựa vào chức năng khi thì dựa vào phạm vi giao tiếp

để phân loại Và như vậy dẫn tới việc khó xác định giá trị lĩnh vực của từng phong cách ngôn ngữ

Nhìn chung có nhiều quan điểm phân chia khác nhau nhưng hầu như kiểu phân chia nào cũng đều chỉ rõ được các chức năng và phạm vi sử dụng ngôn ngữ Khảo sát chúng tôi thấy hiện nay SGK THPT có sự phối hợp các quan niệm trên và từ đó phân chia phong cách chức năng thành 6 kiểu: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ hành chính – công vụ; Phong cách ngôn ngữ báo; Phong cách ngôn ngữ chính luận và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là phù hợp và nó thể hiện rõ tính khoa học

Do phạm vi của đề tài nên khóa luận này chúng tôi tập trung trình bày một phong cách chức năng ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ khoa học

1.2 Phong cách ngôn ngữ khoa học

1.2.1 Khái niệm phong cách ngôn ngữ khoa học

Phong cách ngôn ngữ khoa học là một trong những cách sử dụng ngôn ngữ gắn liền với lĩnh vực khoa học Cũng vì thế ngôn ngữ khoa học được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Để xem xét ngôn ngữ khoa học chúng ta xét ngữ liệu dưới đây:

“Mặt trăng: vệ tinh tự nhiên của trái đất, phản chiếu ánh sáng của mặt trời và chiếu sáng trái đất vào ban đêm, có hình dạng nhìn thấy, thay đổi dần từng ngày từ khuyết đến tròn và ngược lại” (Từ điển văn học)

Ngữ liệu trên dùng để định nghĩa, để xác định bản chất của một sự vật,

hiện tượng trong thực tế khách quan đó là “mặt trăng” Ở ngữ liệu này ta

Trang 11

không thể tìm thấy yêu tố ngôn ngữ thể hiện thái độ, cảm xúc của người viết… Ngữ liệu là một câu dài gồm nhiều vế câu liên tiếp như một định nghĩa chuẩn xác Đặc biệt, ngữ liệu sử dụng những từ ngữ, thuật ngữ thuộc lĩnh vực Thiên văn học và Vật lý như: mặt trăng, vệ tinh tự nhiên, trái đất, ánh sáng, mặt trời, ban đêm Cách sử dụng như vậy là cách sử dụng ngôn ngữ trong khoa học và nó tạo thành ngôn ngữ khoa học

Như vậy, có thể hiểu: “Phong cách ngôn ngữ khoa học là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực khoa học Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà khoa học, người nghiên cứu, giáo viên, kĩ sư, sinh viên… Tất cả những ai tham gia vào công việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy phổ biến khoa học”

1.2.2 Các dạng thức cơ bản của ngôn ngữ khoa học

Ngôn ngữ được sử dụng trong Phong cách ngôn ngữ khoa học tồn tại ở

cả hai dạng nói và viết

Ở dạng viết có: Các công trình nghiên cứu khoa học, các tạp chí tập san, thông báo, báo cáo khoa học, các hình thức tóm tắt giới thiệu, lược thuật

và tổng thuật khoa học, các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, các bài thi, luận văn, đồ án tốt nghiệp…

Ở dạng nói có: Lời giảng bài, lời thuyết trình, lời phát biểu trong các buổi thảo luận khoa học, hội nghị khoa học, lời hỏi đáp và các vấn đề khoa học

Tuy nhiên tất cả văn bản đều có thể được đọc lên hoặc được in ra Một thông báo khoa học có thể được chuẩn bị trước ra giấy rồi sau đó thông thường là đọc lên theo văn bản viết Do đó ngôn ngữ khoa học còn có dạng nói: Đọc báo cáo, đọc bài giảng…

Trang 12

1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của phog cách ngôn ngữ khoa học

Phong cách ngôn ngữ khoa học hình thành, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt các tri thức khoa học nhằm phục vụ nhu cầu tìm tòi hiểu biết của con người Và khi sử dụng ngôn ngữ để ghi lại những tri thức khoa học ấy phong cách này có những quy định riêng về cách sử dụng ngôn ngữ và chính những quy định ấy dần tạo nên những đặc trưng cơ bản cho phong cách ngôn ngữ này Có thể khái quát Phong cách ngôn ngữ khoa học bao gồm chức năng sau:

1.2.3.1 Tính khái quát trừu tượng

Đây là đặc trưng cơ bản của Phong cách ngôn ngữ khoa học Nó có đặc trưng này bởi khoa học là một lĩnh vực được con người thực hiện trong một thời gian nhất định và trong quãng thời gian ấy con người phải phân tích nghiên cứu đối tượng, sự vật trong thế giới khách quan để đưa ra một nhận định, một chân lí khoa học cụ thể Quá trình ấy gắn liền với quá trình tư duy của con người Và với quá trình tư duy ấy, con người ghi lại kết quả khoa học với đầy đủ bản chất của các tri thức khoa học, cũng vì thế ngôn ngữ trong phong cách này bao giờ cũng có tính khái quát trừu tượng

VD:: “Hai mặt phẳng phân biệt cùng song song với mặt phẳng thứ ba thì song song với nhau”

(SGK Hình học 11)

Ngữ liệu trên là một hệ quả trong toán học Hệ quả này là một câu ghép

có hai vế với nhau nhờ quan hệ từ “thì” và nó dùng các từ ngữ thuật ngữ khoa

học như: Mặt phẳng, song song Hơn nữa, hệ quả toán học đó không bao quát các hoạt động cụ thể con người đã thực hiện mà nêu thẳng kết quả đã tìm ra được Vì thế ngôn ngữ trong hệ quả này có tính khái quát

Trang 13

Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật tồn tại trong các sự vật hiện tượng nên càng không thể dừng lại ở những cái gì riêng lẻ, bộ phận,

mà đây là sự phát hiện ra một định lý toán học mang tính phổ quát sâu rộng

Tính khái quát được thể hiện thông qua việc sử dụng các từ ngữ có ý

nghĩa khái quát qua các từ ngữ có tính định dạng như: “sự”,“cuộc”,“tính”…

VD1: “Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh”

(SGK Lịch sử 12) VD2: “Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 là một phong trào quần chúng rộng lớn,,có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương”

(SGK Lịch sử 12)

Tính khái quát trừu tượng còn được thể hiện qua những từ ngữ chỉ vật chất trừu tượng có ý nghĩa khái quát, ngắn gọn chính xác như: sự sáng tạo, sự phát triển, yếu tố…

Ngôn ngữ khoa hoc dùng nhiều danh từ trừu tượng như: thời gian, hiện tượng, nhiệt độ, quá trình…

Trên đây là những nét cơ bản của tính khái quát trừu tượng Nó là một đặc trưng quan trọng để hình thành nên Phong cách ngôn ngữ khoa học

Trang 14

1.2.3.2 Tính lôgíc nghiêm ngặt

Bên cạnh tính khái quát trừu tượng ,ngôn ngữ khoa học còn mang tính lôgíc nghiêm ngặt Sở dĩ có điều đó là vì nghiên cứu khoa học là một quá trình của tư duy Trong khi đó, ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ dùng để ghi lại các kết quả khoa học Vì thế ngôn ngữ trong khoa học phải thể hiện rõ quá trình nghiên cứu khám phá khoa học tức phải thể hiện rõ con đường tư duy

Do vậy, ngôn ngữ trong phong cách này còn phải đạt tính lôgíc nghiêm ngặt

VD: “Đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu, thành thị đóng một vai trò quan trọng Nó đã phá vỡ nền kinh tế tự nhiên, tạo điều kiện cho kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển Thành thị đã góp phần xóa bỏ chế độ tản quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, thống nhất quốc gia dân tộc Đặc biệt nó mang không khí tự do và phát triển tri thức cho mọi người Các trường Đại học đầu tiên như Oxphớt, Xooc bon đã ra đời trong các thành thị trung đại Châu Âu”

(SGK Lịch sử 10)

Ngữ liệu trên có năm câu, thể hiện một lập luận chặt chẽ theo kết cấu diễn dịch Câu thứ nhất trình bày luận điểm, bốn câu sau nêu ba luận cứ, mỗi luận cứ là một vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu Nhờ thế luận điểm có tính thuyết phục cao

Tính lôgíc nghiêm ngặt là cơ sở giúp người tiếp nhận có thể gợi mở trí tuệ và thuyết phục bằng lí tính, lời trình bày, các suy luận phải biểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy lôgíc hình thức đến tư duy lôgíc biện chứng Tính lôgíc đó là tính chất nhất quán trong

sự có mặt của các mối liên hệ về nghĩa giữa các đơn vị ngôn ngữ Tính nhất quán này chỉ có thể ở những văn bản trong đó các kết luận được rút ra một cách hợp lí từ nội dung, nghĩa là các kết luận không gây ra mâu thuẫn và

Trang 15

những đoạn văn riêng lẻ tạo nên văn bản thì phản ánh đúng thẳng sự vận động của tư duy từ cái riêng đến cái chung hoặc từ cái chung đến cái riêng

Tư duy khoa học yêu cầu tính chứng minh và tính có lí do cụ thể nên lôgíc trong khoa học là lôgíc được chứng minh Tư duy khoa học không chấp nhận một sự mâu thuẫn hay phi lôgíc nào

Như vậy tính lôgíc nghiêm ngặt là một đặc trưng quan trọng để hình thành nên Phong cách ngôn ngữ khoa học

1.2.3.3 Tính chính xác khách quan

Tính chính xác của Phong cách ngôn ngữ khoa học biểu hiện cụ thể ở tính một nghĩa trong cách hiểu, nó đòi hỏi không tạo ra sự khác biệt giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt Bởi vì quá trình lời nói bên trong (quá trình nhận thức khoa học) và quá trình lời nói bên ngoài (quá trình thể hiện các kết quả tư duy) vốn không đồng nhất về cấu tạo lời nói, về sự thể hiện ngôn ngữ

Mà kết tinh cuối cùng của tư duy (của những luận điểm khoa học) lại thực hiện chính là lời nói bên ngoài chứ không phải lời nói bên trong Đồng thời, tính chính xác còn được thể hiện rõ qua cách dùng từ đơn nghĩa, cách kết cấu

rõ ràng, bố cục văn bản mạch lạc

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ văn học có tính chính xác nhưng đa nghĩa còn ngôn ngữ khoa học có tính chính xác nhưng đơn nghĩa Chẳng hạn:

“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

(Ca dao)

Ở đây “thuyền” và “bến” là hình ẩn dụ chỉ người con gái và người con

trai trong tình yêu đôi lứa Người con gái trong câu ca dao hiện lên là một cô gái có một tâm hồn tha thiết yêu thương, một trái tim yêu chân thành thuỷ

Trang 16

chung và son sắc Ở cô gái toát lên một vẻ đẹp giản dị, thanh tao mà đáng quý biết bao

“Thuyền” và “bến” trong ngôn ngữ văn học là vậy nhưng trong ngôn ngữ khoa học lại khác Cụ thể trong ngôn ngữ khoa học “thuyền” chỉ một sự vật, phương tiện giúp con người đi lại trên đường thuỷ; “bến” là nơi neo đậu tập kết các phương tiện đi lại Nói một cách khác “thuyền” và “bến” trong

ngôn ngữ khoa học chỉ là những định danh, nó có vai trò xác định đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội

Tính khách quan của ngôn ngữ khoa học được thể hiện ở việc khi nêu các bản chất của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan thì người viết hạn chế việc thể hiện tình cảm, cảm xúc hoặc những nhận định của bản thân về đối tượng được nêu mà người viết trình bày trực tiếp cụ thể đối tượng

ấy

So sánh với ngôn ngữ văn học ta thấy: Ngôn ngữ văn học có tính chủ quan thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm cảm xúc của người viết nhưng ngôn ngữ khoa học hạn chế điều đó

Chẳng hạn, viết về Bác Tố Hữu có những vần thơ rất hay chứa đựng nhiều tình cảm:

“Bác ơi tim bác mênh mông thế

Ôm cả non sông vạn kiếp người”

(Bác ơi)

Hai câu thơ là lời ngợi ca và là sự khẳng định ca ngợi trái tim dạt dào

tình thương bao trùm cả non sông và “mọi kiếp người” của Bác Tố Hữu

khẳng định lòng yêu thương của Bác vừa lớn lao, vừa lan toả đến mọi kiếp người

Thế nhưng, cũng viết về Bác SGK Ngữ văn 12 lại viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời là

Trang 17

một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào Quốc tế cộng sản” Ở đây, người

viết không biểu hiện tình cảm, cảm xúc đối với Bác mà đó chỉ là một nhận định trình bày trực tiếp cụ thể về con người Bác

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của tính chính xác khách quan Nó góp phần hình thành nên Phong cách ngôn ngữ khoa học

Kết luận chương 1: Phong cách chức năng ngôn ngữ là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình nghiên cứu Phong cách học Nó không những chỉ rõ được đặc điểm nội dung phong cách chức năng ngôn ngữ

mà còn xác định rõ xác nhân tố cấu thành của phong cách chức năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng Hơn nữa, nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ các nhà nghiên cứu học đã đưa ra rất nhiều hướng phân loại khác nhau để thấy được chức năng ngôn ngữ và phạm vi sử dụng ngôn ngữ Phong cách ngôn ngữ khoa học là một trong những phong cách chức năng ngôn ngữ tiêu biêu biểu với ba đặc trưng là tính khái quát trừu tượng, tính lô gíc nghiêm ngặt và tính chính xác khách quan Ba đặc trưng cùng tồn tại hỗ trợ đã tạo nên nét riêng cho ngôn ngữ khoa học

Trang 18

CHƯƠNG 2: DẠY HäC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Sự đổi mới nội dung chương trình tiếng Việt

Để đánh giá thực trạng dạy học bài này ở trưởng phổ thông chúng tôi tập trung đánh giá sự đổi mới trong SGK và phần tiếng Việt

Chương trình THPT trước đây, phần tiếng Việt được triển khai ở lớp 10

và lớp 11 Cách triển khai nội dung kiến thức tiếng Việt là SGK trình bày nội dung kiến thức cơ bản về Phong cách ngôn ngữ khoa học, giáo viên căn cứ vào đó để tổ chức dạy học cho học sinh Vì thế, học sinh ỷ lại dựa dẫm vào SGK

Còn trong chương trình hiện nay tiếng Việt triển khai đến lớp 12 Phong cách ngôn ngữ khoa học cũng được dạy ở lớp 12 trong hai tiết chứ không dạy một tiết như ở chương trình cũ, tức là lượng thời gian được phân

bố nhiều hơn Khi dạy kiến thức này SGK đã giải thích một số ngữ liệu giúp học sinh nhận thấy đặc điểm của các kiểu văn bản thuộc Phong cách ngôn ngữ khoa học, từ đó nêu ra những đặc trưng cơ bản cho phong cách ngôn ngữ này Do vậy học sinh phải làm việc tích cực ,chủ động

Dạy học bài phong cách ngôn ngữ khoa học, học sinh có thể lồng ghép tích hợp với những tri thức trong các văn bản nghiên cứu về văn chương như:

Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc; Đọc thêm

Đô - xtôi – ep – xki Hay với những tri thức về nghiên cứu một ý kiến văn học

trong làm văn Hoặc nghiên cứu luật thơ trong tiếng Việt

Hiện nay, phần tiếng Việt chú trọng việc thực hành Ngay cả những bài

về kiến thức và kĩ năng cũng được hình thành qua hoạt động thực hành (từ tìm hiểu, phân tích ngữ liệu thực tế) Thêm nữa, cuối mỗi bài có phần luyện tập giúp học sinh thực hành để củng cố kiến thức, kĩ năng

Trang 19

Cùng với nguyên tắc coi trọng thực hành, việc dạy học tiếng Việt ở lớp

12 cũng như ở cả cấp THPT còn coi trọng cả nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh Điều đó thể hiện ở việc thực hành, học sinh tự hình thành kiến thức, kĩ năng, rồi củng cố nâng cao kiến thức kĩ năng SGK được biên soạn theo nguyên tắc như vậy và GV khi thiết kế giáo án, khi tiến hành hoạt động dạy học trên lớp cũng cần theo nguyên tắc đó Giáo viên không thuyết trình, không cung cấp hay truyền thụ đơn phương kiến thức cho học sinh Căn

cứ vào SGK và SGV, GV gợi dẫn để học sinh tìm hiểu, phân tích và hình thành kiến thức, kĩ năng

Cách triển khai trên đây cho thấy sự đổi mới của chương trình, trang bị đầy đủ hơn những tri thức cơ bản của phong cách ngôn ngữ này Đồng thời từ

đó giúp học sinh có một nền tảng nhất định để các em có thể chủ động tự tin, tạo lập những văn bản khoa học Hơn nữa, cách triển khai ấy trang bị cho các

em những tri thức tiếng Việt để các em có thể học tập theo hướng tích hợp khi học làm văn và học một số văn bản

Như vậy, sự đổi mới chương trình dạy học môn Ngữ văn nói chung và

việc dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” nói riêng là một sự đổi

mới tiến bộ, hiệu quả và thuận lợi, phù hợp cho cả người dạy và người học 2.2.Thực trạng dạy bài Phong cách ngôn ngữ khoa học

Mặc dù đã có sự đổi mới nhưng việc dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” ở trường phổ thông vẫn tồn tại một số thực trạng sau:

Tồn tại thứ nhất khi dạy học bài này là sự hạn chế về thời gian “Phong cách ngôn ngữ khoa học” là một bài khó dạy bởi lẽ đây là một bài có tính

chất khô khan, trừu tượng và mức độ chuẩn xác của kiến thức cao Vì thế học sinh khó có thể hiểu hết bài học trong một khoảng thời gian ngắn Từ đó dẫn đến hiệu quả dạy học không cao Với lượng thời gian hai tiết, giáo viên và học sinh phải tìm hiểu văn bản khoa học, ngôn ngữ khoa học, các đặc trưng

Trang 20

và phần luyện tập Đây là một khối lượng kiến thức khá lớn khó truyền tải một cách kĩ càng trong hai tiết học Điều đó dẫn tới tình trạng dạy sơ lược, vắn tắt

Tồn tại thứ hai, đó là giáo viên phổ thông khi tiến hành tìm hiểu soạn

giảng bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” để dạy cho học sinh vẫn máy

móc, áp đặt theo SGK, SGV Tức là vẫn dùng nhiều phương pháp thụ động, phụ thuộc vào SGK, ít có sự mở rộng nên việc dạy học chưa đạt được hiệu quả Vì thế việc dạy học bài này chưa có nhiều sự tìm tòi và sáng tạo, học sinh khi tiếp nhận tri thức sẽ có những hạn chế nhất định

Tồn tại thứ ba, vấn đề hệ thống ngữ liệu của bài học Hệ thống ngữ liệu trong bài có ít, chưa thực sự phong phú Do đó, khi lí giải các đặc trưng cơ bản của Phong cách ngôn ngữ khoa học chưa được thoả đáng, cụ thể: việc lí giải tính khái quát trừu tượng, tính lí trí lôgíc và tính khách quan phi cá thể ở bài học chưa rõ ràng có phần mơ hồ khó hiểu Ở tính khái quát trừu tượng, bài học chỉ đưa ra một số thuật ngữ khoa học làm ngữ liệu chứng minh cho đặc trưng ấy, với số lượng ngữ liệu ít ỏi này khiến cho giáo viên gặp phải hạn chế trong quá trình giảng dạy và học sinh khó nắm kĩ tri thức khoa học

Tồn tại thứ tư là việc tổ chức luyện tập thực hành cho học sinh Luyện tập thực hành cho học sinh còn hạn chế do lượng thời gian của bài học dành cho nó quá ít Tiết một học về văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học, giáo viên cùng học sinh lần lượt phân tích ba ngữ liệu trong SGK Việc làm này tốn khá nhiều thời gian Hơn nữa, sau khi phân tích ngữ liệu giáo viên phải mất một lượng thời gian nhất định để chỉ ra những kiến thức lý thuyết cơ bản

Từ đó GV và HS trao đổi, thảo luận, tìm hiểu về ngôn ngữ khoa học với hai dạng nói và viết được thể hiện như thế nào Hai công việc này chiếm khoảng thời gian gần như cả tiết học Thời gian không nhiều còn lại mới dành cho phần luyện tập thực hành Đến tiết hai cũng vậy để lí giải hết ba đặc trưng cơ

Trang 21

bản của Phong cách ngôn ngữ khoa học phải mất một lượng thời gian nhiều, thời gian còn lại mới dành cho phần luyện tập Như vậy, lượng thời gian ở cả hai tiết học dành cho phần thực hành hạn chế Khi luyện tập thực hành, GV chỉ dựa vào một số gợi ý khái quát trong các tài liệu tham khảo để hướng dẫn học sinh làm bài tập mà chưa chú ý người học có lĩnh hội được tri thức thấu đáo hay chưa Đặc biệt tổ chức luyện tập là phần rất quan trọng sau mỗi tiết học, nó củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng lý thuyết để học sinh giải bài tập đạt kết quả tốt Qua phân tích trên, ta thấy luyện tập thực hành nằm trong lượng thời gian ngắn, hiệu quả đạt được ở phía người học chưa cao và gây nên những hạn chế nhất định trong việc vận dụng lý thuyết vào giải bài tập của học sinh

Trên đây là những thực trạng phổ biến khi dạy bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong trường phổ thông Để điều chỉnh chúng theo hướng tích

cực thì cần phải có những phương hướng thực sự xác đáng

2.3 Thực trạng của học sinh

“Phong cách ngôn ngữ khoa học” là một bài khó, vì tính chất khô khan

và mức độ chuẩn xác của kiến thức cao Điều này dẫn đến một số hạn chế của học sinh khi học bài này

Học sinh là người tiếp nhận trực tiếp những tri thức trong bài học, nhưng trong quá trình học, học sinh còn học theo hình thức chống đối, chưa

có hứng thú học tập Hơn nữa, học sinh học dường như còn trong tình trạng bắt buộc với tinh thần không thoải mái và đôi lúc thiếu thiện chí

Việc vận dụng ngôn ngữ khoa học của học sinh cũng còn nhiều hạn chế Điều này thể hiện qua cách học sinh trả lời các câu hỏi (chưa phù hợp với ngôn ngữ khoa học) Đồng thời, hạn chế cả trong cách các em học sinh giải bài tập ở các môn toán, hoá, sinh, vật lí Học sinh trong quá trình giải bài tập nhiều khi còn chưa khoa học, chưa đảm bảo được đặc trưng cơ bản

Trang 22

của Phong cách ngôn ngữ khoa học, trình bày các bước giải bài tập chưa rõ ràng, mạch lạc

2.4 Phong cách ngôn ngữ khoa học trong SGK Ngữ văn 12

Phong cách ngôn ngữ khoa học được dạy trong hai tiết:

Tiết một, SGK trình bày các nội dung cụ thể: Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học Với việc triển khai nội dung này bước đầu cho HS nắm được các thể loại cơ bản của Phong cách ngôn ngữ khoa học để từ đó các em

có thể nệân diện được chúng trong thực tế sử dụng Hơn nữa thông qua những thể loại văn bản cụ thể mà giúp cho HS nắm được cách thức sử dụng ngôn ngữ trong từng kiểu văn bản của phong cách ngôn ngữ này Từ những văn bản

cụ thể, phần tiếp theo của tiết học chính là sự khái quát về các thể loại và cách

sử dụng ngôn ngữ của phong cách chức năng đó Việc nhận xét các thể loại văn bản được trình bày ở các phương diện thể loại, dạng tồn tại, các chức năng ngôn ngữ Về thể loại, văn bản khoa học có ba thể loại, đó là các văn bản khoa học chuyên sâu: chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học Loại văn bản này thường mang tính chuyên ngành khoa học cao và sâu, dùng để giao tiếp giữa những người làm công việc nghiên cứu trong các ngành khoa học; Các văn bản khoa học giáo khoa: giáo trình, sách tham khảo, thiết kế bài dạy về các môn khoa học Tự nhiên, Khoa học Công nghệ, khoa học Xã hội và Nhân văn, ngoài yêu cầu về khoa học các văn bản này còn có yêu cầu về sư phạm tức là phải trình bày nội dung từ dễ đến khó, từ thấp đến cao phù hợp với trình độ học theo từng cấp từng lớp, có định lượng kiến thức từng tiết, từng bài, có phần trình bày kiến thức và có phần thực hành; các văn bản khoa học phổ cập (khoa học đại chúng) bao gồm các bài báo và sách phổ biến khoa học kĩ thuật nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học cho đông đảo bạn đọc, không phân biệt trình độ chuyên môn, các văn bản này dễ hiểu, hấp dẫn, có thể dùng cách miêu tả, dùng cách ví von so sánh sao cho ai cũng

có thể hiểu được để đưa khoa học vào cuộc sống Về dạng tồn tại của văn bản

Trang 23

khoa học, văn bản khoa học tồn tại ở hai dạng: Dạng viết, ngoài việc sử dụng

từ ngữ, ngôn ngữ khoa học còn dùng các kí hiệu, công thức các ngành khoa học hay sơ đồ , bảng biểu để tổng kết, so sánh, mô hình hoá nội dung khoa học; Dạng nói, ngôn ngữ khoa học yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn,

về diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ, người nói thường dựa trên cơ sở đề cương viết trước Về chức năng ngôn ngữ, văn bản khoa học có những chức năng cơ bản:tính khái quát trừu tượng, tính lí trí lôgíc, tính khách quan phi cá thể Sau các nội dung trên là phần ghi nhớ, phần ghi nhớ được khái quát ở nội dung cơ bản: ngôn ngữ khoa học là gì, các chức năng cơ bản, các dạng tồn tại của ngôn ngữ khoa học

Sang đến tiết hai, SGK triển khai trình bày các đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ khoa học: tính khái quát trừu tượng, tính lí thí lôgíc và tính khách quan phi cá thể Tính khái quát, trừu tượng thể hiện ở: Nội dung khoa học và ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là thuật ngữ khoa học; Kết cấu văn bản (qua các phần chương, mục, đoạn) Tính lí trí, lôgíc thể hiện ở: Nội dung và phương tiện ngôn ngữ (dùng từ ngữ, thuật ngữ khoa học); Câu văn, cấu tạo đoạn văn và văn bản Tính khách quan, phi cá thể thể hiện ở từ ngữ và câu văn, chúng có màu sắc trung hoà, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc Sau các đặc trưng SGK đã đưa ra ghi nhớ và cho HS luyện tập Từ việc triển khai

bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” ở tiết hai , SGK chưa trình bày khái

niệm phong cách chức năng ngôn ngữ này Đồng thời khi triển khai các đặc trưng SGK hầu như không có các ví dụ cụ thể và đó là khó khăn cho GV trong việc lí giải các đặc trưng ấy

Trên đây là toàn bộ nội dung bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” với

hai tiết học cụ thể, rõ ràng

2.5 Quy trình dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học”

Sự đổi mới chương trình dạy học, thực trạng dạy và thực trạng học bài

“Phong cách ngôn ngữ khoa học” ở trường phổ thông là những vấn đề quan

Trang 24

trọng, đáng được quan tâm Do vậy xuất phát từ thực tế này, chúng tôi đưa ra

quy trình dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học”.Quy trình ấy cụ thể

như sau:

Ở tiết một, chúng tôi tập trung làm rõ hai nội dung: Văn bản khoa học

và ngôn ngữ khoa học Với phần một: Văn bản khoa học, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, thông báo giải thích, và thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt hình thành những hiểu biết ban đầu về các thể loại văn bản khoa học, về cách sử dụng ngôn ngữ trong các văn bản GV giúp HS phân tích ngữ liệu (ba ngữ liệu) để làm rõ đặc điểm các thể loại văn bản, đồng thời qua đây giúp HS nhận diện được thế nào là văn bản khoa học chuyên luận, thế nào là văn bản khoa học giáo khoa, thế nào là văn bản khoa học phổ cập Tiếp

đó GV sử dung phương pháp thông báo giải thích để hệ thống những nhận xét

cơ bản về ngôn ngữ và các kiểu văn bản của Phong cách ngôn ngữ khoa học Phần hai của tiết học là phần ngôn ngữ khoa học Phần này GV sử dụng phương pháp dẫn dắt thuyết trình giúp HS nắm được khái niệm ngôn ngữ khoa học Sau đó GV sử dụng phưong pháp đàm thoại để HS nắm được dạng tồn tại nói và viết của ngôn ngữ khoa học đươc thể hiện cụ thể ra sao Từ những vấn đề này, GV đưa ra nhận xét một cách khái quát nhất về ngôn ngữ khoa học giúp HS nắm kĩ tri thức hơn Sau khi giúp HS nắm văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học, GV cho HS đọc nhập tâm phần ghi nhớ để khái quát được những nét chính của tiết học Cuối cùng GV tổ chức luyện tập thực hành cho HS Ở bài tập một, GV dẫn dắt gợi mở những câu hỏi theo yêu cầu của đề bài để HS theo đó thảo luận nhóm và đưa ra câu trả lời, GV nhận xét rồi chốt lại ý chính Ở bài tập hai GV hướng dẫn và gợi ý để HS về nhà làm bài tập đạt hiệu quả

Đến tiết hai, chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm Phong cách ngôn ngữ khoa học và các đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ khoa học Đây là một trong

những nhiệm vụ càn thiết, không thể thiếu trong dạy học bài “Phong cách

Trang 25

ngôn ngữ khoa học” Ở phần một GV giúp HS nhận diện khái niệm Phong

cách ngôn ngữ khoa học, để tạo thành tính hệ thống với các khái niệm mà HS

được học ở lớp 10 và lớp 11 chúng tôi đưa ra khái niệm: “Phong cách ngôn ngữ khoa học là phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản thuộc lĩnh vực khoa học” Sở dĩ định nghĩa Phong cách ngôn ngữ khoa học theo

cách này vì là HS không được học các khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn mực phong cách Vì thế định nghĩa Phong cách ngôn ngữ khoa học như trên giúp HS dễ hiểu nhất Sang phần hai của tiết học: Các đặc trưng, GV cùng HS lần lượt đi tìm hiểu từng đặc trưng của Phong cách ngôn ngữ khoa học Với tính khái quát, trừu tưọng GV sẽ kết hợp các phương pháp phát vấn đàm thoại, phân tích ngôn ngữ, thông báo giải thích để làm rõ đặc trưng, đồng thời GV nêu những ví dụ cụ thể chứng minh cho đặc trưng này giúp HS nắm và hiểu bài hơn Với tính lí trí ,lôgíc và tính khách quan ,phi cá thể GV cũng lần lựợt sử dụng các phưong pháp trên để làm rõ đặc điểm của chúng, qua đó giúp HS nắm kĩ tri thức của bài học Khi kết thúc hai phần của tiết hai, GV cho HS đọc ghi nhớ để khái quát kiến thức trong tiết học Phần việc còn lại GV cho HS luyện tập thực hành Ở bài tập

ba, GV đưa câu hỏi yêu cầu HS thảo luận và trả lời theo nhóm, sau đó GV nhận xét và chốt lại ý chính Ở bài tập bốn, GV gợi ý để HS về nhà hoàn thiện bài tập

Như vậy, trên đây là quy trình dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” Quy trình này có tính chặt chẽ, lôgíc và mang lại hiệu quả dạy học cao

Kết luận chương 2: Thực trạng dạy học “Phong cách ngôn ngữ khoa học” ở trường THPT là vấn đề đã và đang được quan tâm hiện nay Ở đó có

sự đổi mới nội dung chương trình tiếng Việt nói chung và sự đổi mới nội dung dạy học bài Phong cách ngôn ngữ khoa học nói riêng – sự đổi mới tiến

bộ và có hiệu quả Việc dạy bài “ Phong cách ngôn ngữ khoa” học tồn tại

một số những thực trạng cơ bản dễ nhận thấy, song song với hoạt động dạy

Trang 26

hoạt động học của học sinh cũng gặp phải những hạn chế nhất định Từ đây

chúng tôi đưa ra một quy trình dạy học cho bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học” Về cơ bản, vẫn áp dụng theo SGK song sử dụng linh hoạt các phương

pháp dạy học tiếng Việt và cho HS tích cực, chủ động làm việc để tìm ra những vấn đề cơ bản nhất cho Phong cách ngôn ngữ khoa học

Trang 27

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 3.1 Mục đích yêu cầu

Thực nghiệm là quá trình đưa nội dung nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tế nhằm đánh giá nội dung dạy học và xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của việc dạy các phong cách chức năng ngôn ngữ trong quá trình học sinh học văn Đó là cơ sở chúng ta có thể tìm ra những hướng dạy học thích hợp cho nội dung này

Để tổ chức thực nghiệm, chúng tôi luôn tuân thủ những yêu cầu chung của thực nghiệm sư phạm, đồng thời có chú ý đến đặc trưng riêng của vấn đề nghiên cứu Từ đó, có sự nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan về hướng dạy học, cách tổ chức nội dung bài dạy và xem xét sự nhận thức của học sinh về nội dung này

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

Về đối tượng thực nghiệm: Xuất phát từ nhiệm vụ nghiên cứu, quá trình thực nghiệm được thuận lợi, đạt yêu cầu và mục đích đề ra, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trên các đối tượng sau:

Gắn với nội dung dạy học và tiến hành dạy học theo phân phối chương trình, đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 12

Về giáo viên thực nghiệm: Chúng tôi trực tiếp giảng dạy có giáo viên

dự giờ, đồng thời chúng tôi chọn những giáo viên có năng lực chuyên môn từ trung bình trở lên, có ý thức trách nhiệm trong dạy học, có thâm niên công tác, nhằm thu thập ý kiến thông tin về tình hình dạy nội dung này để từ đó điều chỉnh nội dung tổ chức thực nghiệm cho phù hợp

Về địa bàn thực nghiệm: Để thuận lợi cho việc đánh giá thực nghiệm, chúng tôi tổ chức thực nghiệm tại Tuyên Quang

Trang 28

3.3 Kế hoạch thực nghiệm

Thời gian được tiến hành trong học kỳ I của năm học 2009 – 2010

Chúng tôi tiến hành thực nghiệm giảng dạy “Phong cách ngôn ngữ khoa học” trong hai tiết 13 và 14 cho đối tượng học sinh các lớp 12A1, 12A2

trường THPT Nguyễn Văn Huyên – Yên Sơn – Tuyên Quang

3.4 Nội dung thực nghiệm: Giáo án

Bài soạn: Tiết 13

VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC

- Về tư tưởng: Giúp cho HS có ý thức hơn trong việc sử dụng các đơn

vị ngôn ngữ phù hợp với phong cách chức năng

2 Yêu cầu

- Cung cấp khái niệm Phong cách ngôn ngữ khoa hoc

- HS nhận diện các đặc điểm về ngôn ngữ của Phong cách ngôn ngữ khoa học

B Phương pháp, phương tiện thực hiện

Trang 29

có gì khác so với phong cách ngôn ngữ đã học, chúng ta sẽ tìm hiểu trong giờ học hôm nay

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cần đạt

Hoạt động 1: Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học

GV: + Yêu cầu HS đọc ngữ liệu”( SGK, 71) + Yêu cầu đọc đúng từ ngữ, ngữ điệu của câu

GV: Đoạn trích bàn về

- HS thực hiện đọc:

+ Đọc to, rõ ràng

+ Đọc đúng từ ngữ, ngữ điệu

I Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa hoc

1 Văn bản khoa học

a) Ngữ liệu

* Ngữ liệu 1

Trang 30

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cần đạt vấn đề khoa học như thế

nào?

GV: + Yêu cầu HS đọc ngữ liệu (SGK, 71)

+ Yêu cầu HS đọc đúng

từ ngữ, ngữ điệu của câu

- HS Trả lời:

Ngữ liệu nói về vấn đề khoa học với các nội dung sau:

+ Văn bản bàn về lịch sử,

ở đó sử dụng các từ ngữ lịch sử như: Thống nhất, chia rẽ, chính quyền, tập đoàn, tranh giành

+ Văn bản được sử dụng trong phạm vi những người có chuyên môn hẹp

và sâu, dùng để giao tiếp giữa những người làm công việc nghiên cứu trong ngành khoa học lịch

sử và được gọi là văn bản chuyên luận

- HS thực hiện đọc

-Ngữ liệu nói về vấn đề khoa học:

+Văn bản bàn về lịch sử

+Văn bản được sử dụng trong phạm vi những người có chuyên môn hẹp và sâu

* Ngữ liệu 2

Trang 31

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cần đạt GV: Văn bản bàn về vấn

đề khoa học như thế nào?

GV: Yêu cầu HS đọc văn bản

GV: Vấn đề khoa học

- HS tìm hiểu và trả lời câu hỏi:

Văn bản bàn về vấn đề khoa học:

+ Văn bản nêu bản chất của một khái niệm là:

Vectơ

+ Văn bản là một định nghĩa của toán học, nó được sử dụng trong SGK

Vì thế nó được gọi là khoa học giáo khoa

+ Văn bản thường được sử dụng trong các sách giáo khoa các môn học ở nhà trường

- HS thực hiện đọc

Văn bản bàn về vấn

đề khoa học:

- Văn bản nêu bản chất của một khái niệm : Véctơ

- Văn bản là một định nghĩa toán học

- Văn bản thường được sử dụng trong các sách giáo khoa các môn học ở nhà trường

* Ngữ liệu 3

Trang 32

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung cần đạt được thể hiện như thế nào

trong văn bản?

GV: Em có nhận xét gì sau khi phân tích ba ngữ liệu?

- HS suy nghĩ và trả lời câu hỏi:

Vấn đề khoa học được thể hiện:

+ Văn bản bàn về vấn đề dinh dưỡng hiện nay Nó nêu ra các nguyên nhân suy dinh dưỡng, sau đó đưa ra hướng giải quyết

cụ thể

+ Văn bản bàn về vấn đề khoa học trong đời sống hàng ngày Nó là khoa học phổ cập giúp cho tất cả mọi người có hiểu biết thông thường

- HS nhận xét: Sau khi phân tích ba ngữ liệu: Các văn bản trên thuộc văn bản khoa học

- Vấn đề khoa học được thể hiện:

+ Văn bản bàn về vấn đề dinh dưỡng hiện nay

+ Văn bản bàn về vấn đề khoa học trong đời sống hàng ngày

b) Nhận xét

- Văn bản khoa học

Ngày đăng: 27/12/2017, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w