Hiểu một cách đơn giản tự sự chỉ các tác phẩm được viết theo các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký…nhìn chung đều thể hiện hiện thực cuộc sống cũng như tình cảm , suy nghĩ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong đời sống xã hội, văn học từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần, trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với con người Mỗi một tác phẩm văn học đều được kết tinh từ những tư tưởng, tình cảm, từ những suy nghĩ, sự trăn trở cũng như tài năng sáng tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn
“Văn học là nhân học” vì nó hướng con người ta đến cái Chân – Thiện –
Mĩ Người đọc tìm thấy ở văn học tính nghệ thuật, tính nhân văn và nhân bản cao cả, nó có khả năng giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người Vì vậy văn học ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống cũng như trong các trường PTTH
Tác phẩm văn học trong nhà trường PTTH được coi là những tác phẩm điển hình, được thanh lọc và chọn lựa kĩ lưỡng để giảng dạy cho học sinh Các tác phẩm ấy chứa đựng những giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc Nó không chỉ cung cấp trí thức, những hiểu biết về cuộc sống , thế giới xung quanh mà còn có tác dụng giáo dục nhân cách, phẩm chất, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh Bởi vậy, vai trò của người giáo viên dạy văn là vô cùng quan trọng Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết thì dạy văn và học văn không hề là chuyện đơn giản, đó là hoạt động khó khăn, phức tạp đòi hỏi người thầy không chỉ có tri thức trình độ mà đòi hỏi phải có kĩ năng, phương pháp hợp
lý, tích cực mang lại hiệu quả cao
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đang thực sự trở thành một diễn đàn sôi nổi, thu hút khá nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và giáo viên tham gia trao đổi, tranh luận Đã có nhiều ý kiến, quan điểm được
đề xuất, trong đó vấn đề đáng chú ý nhất là vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại Đây là phương pháp được đáng giá là tích cực,
Trang 2ngày càng được quan tâm ứng dụng vào trong dạy học Ngữ văn Mỗi một tác phẩm văn học đều tồn tại dưới một loại thể nhất định: tự sự - kịch - trữ tình… đòi hỏi phải có phương pháp cách thức giảng dạy phù hợp theo từng đặc trưng
cụ thể
Hiện nay, chương trình Ngữ văn mới được biên soạn theo nguyên tắc thể loại và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại Trong chương trình PTTH, một trong những thể loại chiếm số lượng lớn, khá phong phú và đồ sộ là thể loại tự sự Hiểu một cách đơn giản tự sự chỉ các tác phẩm được viết theo các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký…nhìn chung đều thể hiện hiện thực cuộc sống cũng như tình cảm , suy nghĩ của nhà văn thông qua hình tượng nhân vật với tâm trạng, hành động, ngôn ngữ, … những câu chuyện cụ thể, những không gian, phong tục, tập quán cụ thể…
Một trong những tác giả tiêu biểu cho thể loại tự sự được đưa vào giảng dạy ở trường PTTH phải kể đến Tô Hoài Tô Hoài được coi là nhà văn nổi tiếng, tài năng và có “số lượng tác phẩm nhiều nhất trong nền văn học Việt Nam” Hơn nửa thế kỉ cầm bút không biết mệt mỏi, Tô Hoài đã dành chọn tâm huyết , sức lực cũng như tài năng của mình cho sáng tạo nghệ thuật Mỗi chặng đường sáng tác của ông đều gắn với những chặng đường của lịch sử xã hội Việt Nam Trong chặng đường dài dằng dặc ấy, ông đã tìm được cho mình một hướng đi, một phong cách và giọng điệu riêng
Truyện ngắn của Tô Hoài đã được đưa vào giảng dậy trong chương trình PTTH với các tác phẩm như: Dế Mèn phiêu lưu kí, Vợ chồng A Phủ Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu viết về truyện ngắn Tô Hoài, khai thác cả hai mặt: nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, các bài viết và bài giảng đó dều chưa khai thác thấu đáo giá trị truyện Tô Hoài trên góc độ loại thể
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Đặc trưng thể loại tự sự với
việc giảng dạy các tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PTTH ” nhằm
Trang 3góp thêm một hướng tiếp cận, một hướng dạy học tác phẩm của Tô Hoài nói riêng và các tác phẩm tự sự trong nhà trường phổ thông nói chung từ đặc trưng thể loại Đồng thời tăng thêm hiểu biết cho bản thân, chuẩn bị hành trang vững chắc trước khi trở thành người giáo viên dạy văn tương lai
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Trong chương trình văn học Việt Nam ở bậc PTTH, số lượng tác phẩm
tự sự chiếm số lượng lớn cho nên, việc nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy học thích hợp là vấn đề đặt ra từ lâu, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học và các nhà giáo tâm huyết Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt những thàng tựu cao, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con đường tiếp nhận và giảng dạy khác nhau
* Đặng Anh Đào trong “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây
hiện đại”, NXBGD.H.1995, đã khẳng định vấn đề đổi mới trên các phương
diện có tính chất đặc trưng thể loại như: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ của tiểu thuyết phương Tây so với tiểu thuyết truyền thống Ở đây, tác giả đã vận dụng lý thuyết về đặc trưng thể loại trong nghiên cứu tác phẩm văn học
* Đỗ Đức Hiểu đã tập hợp hai cuốn “Đổi mới phê bình văn học”(1994)
và “Đổi mới Đọc và Bình văn”(1999) thành cuốn “Thi pháp hiện đại” trong
đó có một nội dung trọng tâm là thi pháp truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên, công trình này cũng mới chỉ thành công trên lĩnh vực nghiên cứu, phê bình,chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy
*Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn “Năm bài giảng về thể loại,Văn
học-học văn” đã trình bày về các thể loại văn học như: truyện ngắn, tiểu
thuyết, kí, tiểu luận, trường ca, sử thi anh hùng…và bước đầu ông đã đưa ra vấn đề phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại
* Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Hiểu văn ,dạy văn” Nxb GD.H
2001 cũng bàn về vấn đề vận dụng đặc trưng thể loại vào tiếp nhận và giảng dạy văn học
Trang 4*Hay cuốn “Những vấn đề thi pháp của truyện” Nxb GD 2000 do
Nguyễn Thái Hòa viết cũng đề cập một thể loại của tự sự hiện đại là truyện ngắn song chỉ dừng lại ở mức đọ khái quát
*Giáo sư Trần Thanh Đạm trong “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học
theo thể loại” cũng đi vào đặc trưng của thể loại tác phẩm tự sự, từ đó đưa ra
phương pháp giảng dạy song cũng chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược
Vấn đề giảng dạy tác phẩm Tô Hoài trong nhà trường PTTH đã được bàn tới Nhưng hướng dẫn giảng dạy từng tác phẩm cụ thẻ thì rất ít Phần lớn các tác giả viết dưới dạng phân tích, bình giảng tác phẩm cho hoc sinh
Ở đề tài này, người viết trên cơ sở kế thừa những thành tựu của người đi trước,bổ sung thêm một số hiểu biết về đặc trưng thể loại tự sự nói chung và tác phẩm tự sự của Tô Hoài nói riêng, từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy các tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PTTH
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Cơ sở lý luận chung về thể loại,thể loại tự sự và tự sự hiện đại Việc giảng dạy tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đặc trưng thể loại tự sự và việc giảng dạy các tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Xác định đặc trưng của thể loại tự sự và sự thể hiện của nó trong các tác phẩm của Tô Hoài
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm của Tô Hoài thông qua một số tác phẩm của ông trong nhà trường PTTH (Dế Mèn phiêu lưu kí và Vợ chồng
A Phủ)
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:
Trang 5Phương pháp nghiên cứu lý thuyết để tìm ra cơ sở lí luận .Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh .Phương pháp khảo sát thực tiễn dạy học văn ở trường PTTH .Phương pháp thực nghiệm
7 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN Khóa luận góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu đặc trưng của thể loại tự
sự và hướng dẫn việc giảng dạy một số tác phẩm của Tô Hoài theo đặc trưng thể loại trong nhà trường PTTH
8 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN Khóa luận gồm 3 phần:
1 : Phần mở đầu
2 : Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Giảng dạy tác phẩm tự sự của Tô Hoài trong nhà trường PTTH
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
3 : Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Cơ sở lí luận
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật được sáng tạo bằng ngôn
từ, nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống, con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại Như vậy, quá trình nhà văn làm ra tác phẩm là quá trình nhận thức hiện thực, phản ánh cuộc sống để đưa vào trong tác phẩm của mình
Mỗi một tác phẩm văn học lại tồn tại dưới một hình thức thể loại nhất định Đó là phương thức mà nhà văn lựa chọn để thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật của mình cũng như những quan điểm, tư tưởng được chứa đựng trong tác phẩm ấy
Khi đến với tác phẩm văn học, mỗi bạn đọc lại có một cách tiếp nhận khác nhau, nhưng dù tiếp nhận ở khía cạnh nào thì điều mà bạn đọc nhận thấy
và quan tâm đầu tiên là vấn đề loại thể Bởi, muốn hiểu được một tác phẩm văn học phải biết được nó được viết theo loại thể nào? Nắm được các đặc điểm của loại thể không chỉ giúp cho người đọc, người học hiểu văn mà còn giúp họ có khả năng tạo lập được văn bản ở một số loại thể nhất định
1.1 Thể loại văn học 1.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều cách để định nghĩa “Loại thể” văn học:
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, loại thể là “Dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy”
Trang 7Trong cuốn “Từ điển Hán Việt” các tác giả lại đưa ra một cách hiểu cụ thể hơn về vấn đề loại thể, đó là “Hình thức biểu hiện của các tác phẩm văn học chia theo tính chất có vần hay không có vần (văn xuôi, văn vần) hoặc dựa theo kết cấu (thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch…)”
Mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu có một cách định nghĩa khác nhau, nhưng trên thực tế, “Loại thể” không phải là một khái niệm mà đây là cách nói gộp của hai khái niệm: Loại và thể
Loại (loại hình) là phương thức mà người nghệ sĩ sử dụng để nhận thức khám phá, tái hiện đời sống khách quan và sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật
mà thông qua hình tượng nghệ thuật ấy để biểu hiện tư tưởng, tình cảm Có ba loại hình tiêu biểu: tự sự, trữ tình, kịch
Trong quá trình phát triển, ba thể loại này có mặt ở tất cả mọi nền văn học của các quốc gia trên thế giới, ở cả ba thời kì: cổ đại, trung đại và hiện đại, xuất hiện ở tất cả các trào lưu khuynh hướng văn học
Loại là vấn đề có tính quy luật, mỗi loại hình ấy ngoài đặc điểm phổ biến ra còn chứa đựng đặc điểm của thời đại, dân tộc, cộng đồng, cá nhân của người nghệ sĩ
Thể (thể tài) là phương thức tổ chức hình thức ngôn ngữ của tác phẩm Nếu “Loại” là khái niệm có tính bền vững thì “Thể” thường xuyên biến động và thay đổi Vì thế, số lượng của thể luôn nhiều hơn loại, như trong loại
tự sự có nhiều thể :tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện cực ngắn… Loại và thể có mối quan hệ độc lập tương đối, mối quan hệ bao chứa nhau Loại là khái niệm lớn, thể là khái niệm nhỏ nằm trong loại
Thể loại văn học là một hệ thống chỉnh thể của tác phẩm Nó chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó, một nội dung sẽ tương ứng với một hình thức nhất định Trong loại thể luôn có sự thống nhất về đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, kết cấu, lời văn Sự thống nhất giữa các phương diện
Trang 8trên được quy định bởi phương thức chiếm lĩnh đời sống Nó ứng với hoạt động nhận thức của con người và tạo ra một kênh giao tiếp đối với bạn đọc Như vậy, nói tới thể loại là nói tới cách thức tổ chức tác phẩm-một kiểu tái hiện đời sống theo lối gián tiếp
1.1.2 Phân loại Trong lịch sử tồn tại nhiều cách phân chia thể loại khác nhau Arixtôt [384-322 T.C.N] là người đầu tiên đề xuất chia tác phẩm văn học thành ba loại: Tự sự, trữ tình và kịch Đây là cách chia dựa vào quy luật xây dựng hình tượng và phương thức phản ánh đời sống Cho đến nay cách phân chia của Arixtôt vẫn còn nguyên giá trị khoa học đúng đắn Hiện tại, chúng ta vẫn chủ yếu sử dụng cách phân chia này
Ngoài ra, chúng ta cũng bắt gặp một số cách chia khác Chẳng hạn, ở Trung Quốc, văn học giai đoạn đầu chỉ phân chia làm hai loại: thơ và văn xuôi (tản văn) Sau đó, qua quá trình phát triển, văn học Trung Quốc chia làm nhiều thể loại mà phổ biến thừa nhận bốn loại: thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch
Sự phân loại tác phẩm văn học theo loại thể là căn cứ vào những đặc trưng có tính ổn định Tuy nhiên, không thể tuyệt đối hóa giữa các loại thể Trên thực tế, giữa các loại thể đều có hình thức trung gian và luôn có sự phát triển và tác động qua lại lẫn nhau Điều này rất dễ nhận thấy, bởi lẽ trong tác phẩm tự sự có chứa những yếu tố trữ tình và ngược lại, trong tác phẩm trữ tình cũng bao hàm cả yếu tố tự sự, đặc biệt trong kịch có sự kết hợp cả hai yếu tố trên
Trong phạm vi khóa luận này, người viết chỉ có điều kiện đi sâu vào thể loại tự sự
Trang 91.1.3 Thể loại tự sự 1.1.3.1 Khái niệm Trong giới nghiên cứu văn học có rất nhiều ý kiến khác nhau bàn về thể loại tự sự Bởi vậy, các khái niệm đưa ra khá phong phú và đa dạng
“Từ điển thuật ngữ văn học”, NxbGD, định nghĩa tự sự là “Phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”
Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể lại đưa ra một cách nhìn khác về thể loại tự sự, “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu chuyện có sự diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, của sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của con người Ở đây, tác giả chỉ đóng vai trò là người kể chuyện Tư tưởng tình cảm, thái độ của tác giả biểu hiện chủ yếu là ở bản thân câu chuyện ở xu hướng phát triển và kết thúc của sự việc, ở những con người mà tác giả muốn cho người đọc ghét hay yêu”
Bêlinxki căn cứ vào yêu cầu miêu tả tính cách và thể hiện tư tưởng tình cảm của nhà văn cho rằng: tác phẩm loại tự sự tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện Trong sự kiện có sự thâm nhập sâu sắc tư tưởng, tình cảm của tác giả vào các hành động bên ngoài của nhân vật, làm cho không phân biệt được nhau nữa Một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển Ở loại này, tác giả có thể đứng ngoài mà kể, cũng có thể để cho nhân vật tự kể, không bị hạn chế nào, sự phản ánh của nó có thể hết sức sâu rộng, chi tiết
Như vậy, thể loại tự sự có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng hiểu một cách chung nhất: Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực đời sống một cách khách quan, bằng việc kể lại một câu chuyện, câu chuyện ấy có thể bao gồm một hoặc một số sự việc, các sự việc này có mối quan hệ với nhau
Trang 10và cái đích cuối cùng của nó không để cho bạn đọc nắm được sự việc, nhớ được câu chuyện mà bạn đọc có thể nhận thức được một vấn đề, một lĩnh vực nào đó của đời sống cũng như tư tưởng tình cảm của tác giả gửi gắm vào đó 1.1.3.2 Cách phân chia thể loại tự sự
Cách phân chia thể loại tự sự căn cứ vào rất nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí lại tương ứng với một kiểu dạng Chẳng hạn:
Xét theo tiến trình lịch sử, có thể chia thành: Tự sự dân gian, tự sự trung đại, tự sự hiện đại
Xét theo phương thức sáng tác, chia thành: Tự sự chủ nghĩa cổ điển, tự
sự chủ nghĩa lãng mạng, tự sự chủ nghĩa hiện thực
Xét theo dung lượng của tác phẩm có: Truyện ngắn, truyện cực ngắn, truyện vừa, truyện dài…
Chia theo hình thức ta có: Anh hùng ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn…
1.1.3.3 Đặc trưng của thể loại tự sự:
Mỗi thể loại văn học đều mang trong mình những đặc trưng riêng biệt Thể loại tự sự cũng vậy Sự khác biệt đó thể hiện ở ba yếu tố: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ
Cốt truyện được coi như xương sống của mọi tác phẩm tự sự, là yếu tố đầu tiên để xây dựng nên một tác phẩm văn học Do vậy, muốn tạo ra một tác phẩm thì việc đầu tiên phải tạo ra được cốt truyện
“Từ điển tiếng Việt” định nghĩa “Cốt truyện là hệ thống sự kiện, là nòng cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự”
Một cách định nghĩa khác về cốt truyện “Cốt truyện là hệ thống sự kiện
cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành
Trang 11bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch”.(1)
Dù các khái niệm đưa ra không giống nhau nhưng đều thống nhất: Cốt truyện là một tập hợp các biến cố, sự kiện, các tình tiết được sắp xếp theo một trật tự, nguyên tắc nhất định Các biến cố, sự kiện ấy có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ có ý nghĩa quyết định đến cuộc đời của nhân vật
Cơ sở chung của mọi cốt truyện, xét đến cùng, là những xung đột xã hội được khúc xạ qua các xung đột nhân cách nên nó hết sức phong phú và đa dạng Nhưng dù phong phú và đa dạng thế nào thì mọi cốt chuyện đều trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và kết thúc Vì vậy, mỗi cốt truyện thường bao gồm các thành phần : mở đầu, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc Tuy nhiên, không phải cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ các thành phần như vậy, do đó tránh thái độ máy móc khi phân tích thành phần của cốt truyện
Thứ hai: Nhân vật
Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng có nhân vật Nhân vật là phương tiện hình thức để nhà văn phản ánh, tái hiện đời sống, gửi gắm quan điểm, tư tưởng, tình cảm của mình
Hiểu một cách cụ thể nhân vật văn học là “Con người cụ thể được miêu
tả trong tác phẩm văn học”
Theo giáo sư Trần Thanh Đạm: “Nhân vật là hình tượng những con ngời đang sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động trong những môi trường, hoàn cảnh, tình huống, những con người có quá trình, vận mệnh, có khi có bản sắc
và có tính cách”
-
(1) Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi-Từ điển thuật ngữ văn học -NxbGD-H.2006-tr.99
Trang 12Tuy nhiên, trong các tác phẩm ngụ ngôn, thậm chí cả chuyện hiện đại thì nhân vật trong tác phẩm không phải chỉ là con người, nó có thể là các con vật Vì vậy, nhân vật phải được hiểu theo nghĩa rộng, có mối quan hệ chặt chẽ với cái gọi là “Con người” trong đời sống nhưng nó không đồng nhất Nhân vật chỉ tồn tại trong tác phẩm văn học, trong tác phẩm văn học chỉ tồn tại nhân vật chứ không tồn tạo con người và ngược lại Theo cách hiểu này thì nhân vật văn học không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác, ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người được dùng như những phương thức để biểu hiện con người”
Nhân vật là một đặc điểm nổi bật của tác phẩm tự sự Ở mỗi một phương pháp sáng tác, mỗi trào lưu văn học mà cụ thể là ở mỗi nhà văn lại có một kiểu xây dựng nhân vật khác nhau Tuy vậy, các nhân vật trong tác phẩm
tự sự vẫn buộc phải tuân thủ theo một số quy ước: nhân vật phải có lai lịch xuất thân, có tính cách, luôn được đặt trong các mối quan hệ hiện hữu: quan
hệ với môi trường sống, với cộng đồng, với các nhân vật khác Những quy ước ấy không chỉ là căn cứ để nhà văn xây dựng nhân vật mà còn là cơ sở để người đọc có thể tiếp nhận, tìm hiểu các nhân vật trong tác phẩm
Thứ ba: Ngôn ngữ
Đặc trưng thứ ba của thể loại tự sự là ngôn ngữ Cùng với cốt truyện và nhân vật thì ngôn ngữ là một đặc trưng quan trọng vì nó vừa là công cụ vừa là chất liệu cơ bản của văn học Ngôn ngữ là yếu tố mang tính phi vật thể được dùng để xây dựng tác phẩm văn học Vì vậy, M.Gorki đã khẳng định “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - là chất liệu của văn học”
Căn cứ vào thể loại văn học, người ta chia ngôn ngữ văn chương thành
ba loại: ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch Cả ba loại ngôn
Trang 13ngữ này đều phải mang tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa và tính biểu cảm cao Tuy nhiên, những thuộc tính chung đó thể hiện qua các loại thể văn học khác nhau là khác nhau
Cụ thể, trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ chủ yếu là dùng lối kể chuyện
để phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tư con người Trong ngôn ngữ tự sự lại được chia thành: ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện Hai loại ngôn ngữ này luôn đan xen, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm Thông qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ ấy mà
ta hiểu được nội dung tư tưởng cũng như giá trị ngệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình
Cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ là ba yếu tố có mối quan hệ khăng khít với nhau, là cơ sở chính để tạo nên một chỉnh thể văn học
1.2 Tiếp nhận văn học 1.2.1 Tiếp nhận và tiếp nhận văn học
Theo “Từ điển tiếng Việt”, tiếp nhận là “Đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển giao cho”
Theo đó, tiếp nhận văn học là “Hoạt động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc”.(1)
Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương” lại quan niệm: “Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố
và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống”
-
(1) Từ điển thuật ngữ văn học-Sđd
Trang 14Về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất
cả trái tim, khối óc, hứng thú, nhân cách và tri thức của mình
Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo, nó thúc đẩy ảnh hưởng văn học, làm cho tác phẩm văn học không đứng yên mà luôn luôn vận động phát triển, phong phú thêm trong từng thời kì lịch sử khác nhau của văn học
Việc dạy tác phẩm văn học trong nhà trường thực chất là dạy cho học sinh cách tiếp nhận văn học Đối với học sinh, quá trình tiếp nhận ấy luôn có
sự giúp đỡ của giáo viên Điều đáng lưu ý là, mỗi một tác phẩm văn học đều được người nghệ sĩ sáng tạo bằng phương thức riêng vì vậy người giáo viên phải nắm được các phương thức đặc trưng ấy để giúp học sinh có cách tiếp nhận cho phù hợp và đạt hiệu quả cao
1.2.2 Cơ sở tiếp nhận tác phẩm văn học 1.2.2.1 Qúa trình sáng tạo tác phẩm của nhà văn
Có rất nhiều cách khác nhau để tiếp nhận một tác phẩm văn học Nhưng dù tiếp nhận bằng cách nào đi chăng nữa cũng nhằm vào mục đích: Hiểu và cảm được giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Muốn vậy trước tiên cần phải hiểu tác phẩm văn học ấy được nhà văn làm ra bằng con đường nào ?
Tác phẩm văn học được coi là con đẻ tinh thần, là tâm huyết sáng tạo của nhà văn Cảm hứng nghệ thuật kết hợp với khả năng quan sát, thâu tóm hiện thực khách quan đồng thời huy động tối đa tri thức tài năng, sức sáng tạo
sự nhiệt huyết của nhà văn, tất cả tạo thành quá trình thai ngén cho sự ra đời của một tác phẩm Các vấn đề được phản ánh trong tác phẩm chủ yếu được tác giả chọn lọc từ thực tiễn khách quan của cuộc sống Tuy nhiên thực tiễn
ấy được nhìn qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, nói cách khác, trong tác phẩm khách quan được phản ánh thông qua nhận thức qua sự khái quát,
Trang 15đánh giá của nhà văn, và nhà văn bao giờ cũng gửi gắm vào đó những tư tưởng tình cảm của mình
Có thể khẳng định rằng, trong bốn thành tố tạo nên một quá trình sáng tác và thưởng thức văn học : thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc thì nhà văn với tư cách một chủ thể sáng tạo, đóng vai trò quan trọng nhất
1.2.2.2 Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là một chỉnh thể Chỉnh thể ấy là sự kết hợp của ba yếu tố: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ Giảng dạy một truyện ngắn, ngoài việc nắm được các đặc trưng của thể loại tự sự đòi hỏi người dạy phải biết cách lựa chọn phương pháp sao cho hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học của học sinh đạt hiệu quả cao nhất Cơ chế của hoạt động tiếp nhận thường bao gồm bốn bước: đọc, phân tích, cắt nghĩa và bình giá Quá trình tiếp nhận tác phẩm tự sự cũng dựa trên các bước cơ bản này
* Hoạt động đọc
Thông tin trong đời sống là vô cùng phong phú và đa dạng Thông tin
ấy có ở nhiều nơi, được chứa trong nhiều vật chứa tin khác nhau Văn bản là một trong những vật chứa tin ấy Nó được coi là vật chứa có khả năng tích luỹ nhiều thông tin nhất và tác động đến nhiều người nhất Vì thế nó có tầm quan trọng trong đời sống xã hội, cộng đồng, văn hóa, lịch sử và khoa học
Để lấy thông tin từ các văn bản, cách duy nhất là phải đọc Đây là bước khởi đầu cho quá trình tiếp nhận văn học Đọc giúp ta tích lũy thông tin, sau
đó mới hiểu và cảm thụ về lượng thông tin mà tác giả gửi gắm trong văn bản văn học ấy Tuy nhiên mỗi một loại văn bản có cách đọc khác nhau Đọc thơ trữ tình khác đọc một tác phẩm văn xuôi, đọc một vở kịch khác đọc một truyện ngắn…Vì vậy cần có cách đọc phù hợp để việc tiếp nhận và tìm hiểu tác phẩm mang lại hiểu quả cao hơn
Trang 16* Hoạt động phân tích
Phân tích tức là chia nhỏ đối tượng thành nhiều phần khác nhau để việc tìm hiểu, khám phá đối tượng được chi tiết,cụ thể và cặn kẽ hơn
Quá trình tiếp nhận văn học luôn gắn liền với hoạt động phân tích, bởi
lẽ phân tích giúp người đọc hiểu được vấn đề mang tính cốt lõi ẩn sâu dưới bề mặt của câu chữ Phân tích càng cụ thể,chi tiết và đầy đủ bao nhiêu người đọc càng hiểu và cảm nhận tác phẩm ấy sâu sắc bấy nhiêu.Tuy nhiên quá trình phân tích phải có sự lựa chọn, không phải bất cứ một chi tiết nào của tác phẩm cũng đều phải phân tích, do đó người đọc phải linh hoạt trong việc chọn lựa các chi tiết điển hình,các chi tiết tập trung nội dung tư tưởng chính của tác phẩm để phân tích, sau đó có sự tổng hợp, khái quát lại để có cái nhìn tổng
thể về vấn cần tìm hiểu
* Hoạt động cắt nghĩa
Cắt nghĩa là giải thích,làm rõ ý nghĩa của những chi tiết, hình ảnh trọng tâm Những chi tiết, hình ảnh ấy là những điểm nhấn có vai trò to lớn trong việc truyền tải nội dung tưởng của toàn tác phẩm Điều quan trọng là người đọc phải có khả năng thâu tóm thông tin,chọn lọc những yếu tố liên quan đến chủ đề của truyện, sau đó đi vào xem xét, cắt nghĩa, lý giải để tìm ra nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm
Khả năng cắt nghĩa, hiểu và cảm thụ văn học của mỗi người là khác nhau Nó phụ thuộc vào trình độ hiểu biết, sự từng trải cũng như vốn sống vốn tích lũy tri thức của cá nhân trên nhiều lĩnh vực: văn hóa,khoa học,lịch sử,xã hội…
Hoạt động cắt nghĩa sẽ tạo ra cái nhìn đa chiều đối với mỗi tác phẩm đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá mức độ hiểu biết của mỗi người
Trang 17* Hoạt động bình giá
Bước cuối cùng cuả quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động bình giá Đây là hoạt động mang tính chủ quan,thể hiện thái độ đánh giá, bình phẩm cuả người đọc.Việc đưa ra thái độ khen, chê cũng đòi hỏi người đọc phải có trình độ am hiểu nhất định Người đọc càng hiểu biết rộng bao nhiêu thì việc đánh giá càng sâu sắc, đúng mức và chuẩn xác bấy nhiêu Tuy nhiên cần tôn trọng yếu tố khách quan trong quá trính đánh giá
Đây cũng là hình thức giao tiếp tự do giữa bạn đọc và tác giả thông qua tác phẩm văn học
1.3.Loại thể với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
Hoạt động tiếp nhận văn học và hoạt động dạy học có mối quan hệ biện chứng với nhau Vấn đề loại thể có tác động trực tiếp đến dạy học tác phẩm trong nhà trường phổ thông Nó được dùng như một công cụ quan trọng trong quá trình học tác phẩm nhằm tiến tới cái đích cao nhất là cảm và hiểu tác phẩm
Tìm hiểu tác phẩm văn học theo loại thể là phương pháp mới, đem lại hiệu quả cao trong việc dạy và học Ngữ văn ở nhà trường PTTH
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 2.1 Vị trí của nhà văn Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam Với gần nửa thế kỉ lao động nghệ thuật, Tô Hoài đã có những đóng góp rất quan trọng cho nền văn học nước nhà ở cả giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám Con số gần 200 tác phẩm đã xuất bản chứng tỏ ở Tô Hoài
có một sức sáng tạo mạnh mẽ, dài hơi, kiên nhẫn và liên tục, đủ để đưa ông trở thành một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam
Các sáng tác của Tô Hoài rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều đề tài và thể loại khác nhau như: tiểu thuyết (Quê người, Mười năm, Miền Tây ),
kí (Cỏ dại, Cát bụi chân ai), truyện (Nhà nghèo, Truyện Tây Bắc, Núi cứu
Trang 18quốc…), truyện thiếu nhi (Dế mèn phiêu lưu kí, Đảo hoang…), lí luận và kinh nghiệm sáng tác Ở mảng sáng tác nào ông cũng có những thành công và ghi được dấu ấn riêng, đặc biệt đề tài đem đến nhiều vinh quang cho Tô Hoài là
đề tài viết về miền núi Thành công ở đề tài này khiến ông trở thành “người đầu tiên đặt những viên gạch xây nền cho văn học viết về các dân tộc ít người” (Trần Hữu Tá)
Đáng lưu ý hơn cả, Tô Hoài cũng là một trong số ít những nhà văn quan tâm và viết về đối tượng thiếu nhi Những sáng tác cho thiếu nhi đã được tuyển chọn và in thành hai tập “Tuyển tập văn học thiếu nhi”, trong đó
“Dế mèn phiêu lưu kí” được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới
Với số lượng sáng tác đồ sộ như vậy cho thấy tài năng và sức sáng tạo mãnh liệt của Tô Hoài
Suốt một đời văn, Tô Hoài đã tạo cho mình một phong cách riêng, một
“thương hiệu” nghề nghiệp riêng đáng kính trọng Gần 70 năm cầm bút của ông thưc sự là một cuộc chạy đua đường trường mà ông phải hêt sức nỗ lực
Vị trí của ông trong lòng bạn đọc và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1(1996) cao quý mà ông vinh dự được nhận chính là minh chứng sinh động nhất cho cuộc đời lao động nghệ thuật không mệt mỏi, suốt đời phấn đấu, suốt đời cống hiến hi sinh
Đánh giá về Tô Hoài và văn nghiệp của ông không phải là công việc làm một lần bởi một người là có thể hoàn tất Bởi văn Tô Hoài đều là những tác phẩm có giá trị, nó như một mạch ngầm trong lòng đất, càng khơi càng trong,càng ngọt ngào bất ngờ và thú vị Nói như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn “Dường như cả cuộc đời từng trải đã chuẩn bị cho những trang viết hôm nay của ông”
Trang 192.2 Tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PT Trong nhà trường PT, một số sáng tác của Tô Hoài đã được tuyển chọn
và đưa vào giảng dạy ở cả hai bậc học: THCS và THPT
Ở bậc THCS, các em thiếu nhi được làm quen với nhà văn Tô Hoài thông qua đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” được trích từ chương1 của tập truyện “Dế mèn phiêu lưu kí”(1941)
Văn bản này được đưa vào giảng dạy ở bài đầu tiên của chương trình SGK Ngữ văn 6 tập 2 Sở dĩ như vậy là vì tác phẩm của ông đi miêu tả cả một thế giới loài vật hết sức sinh động, chúng mang những nét ngây thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, hóm hỉnh, khao khát và say mê lí tưởng, rất phù hợp với tâm lí của trẻ thơ Chính điều đó tạo nên sức hấp dẫn, hứng thú, kích thích trí
tò mò cũng như sự yêu thích của các em trong giờ học Đặc biệt, đằng sau những câu chuyện về loài vật ấy là những bài học kinh nghiệm quý báu, nó không chỉ bồi dưỡng, trau dồi kiến thức cho các em mà còn giúp các em bước đầu lĩnh hội đựơc những bài học đạo đức sâu sắc trong cách đối nhân sử thế ở đời
Lên bậc THPT, SGK Ngữ văn 12 tập 2 tiếp tục giới thiệu thêm một sáng tác nữa thông qua bài giảng văn “Vợ chồng A Phủ” được trích trong tập
“Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài.(1953) Đây là tác phẩm từng đoạt giải nhất của Hội văn nghệ Việt Nam năm 1956
Như vậy, có thể thấy, người biên soạn đã chú trọng trong việc chọn lựa một số tác phẩm tiêu biểu cho cá tính sáng tạo cũng như nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài để đưa vào giảng dạy cho học sinh trong nhà trường PTTH
Tóm lại, với tài năng và sức sáng tạo bền bỉ của mình,Tô Hoài đã sớm chiếm được một vị trí quan trọng, không thể thiếu trong nhà trường PT cũng như trên thi đàn văn học trong và ngoài nước Sức viết sức sáng tạo của nhà
Trang 20văn Tô Hoài, cho đến nay có thể khẳng định chưa một nhà văn Việt Nam hiện đại nào có thể vượt qua Ông xứng đáng là cây đại thụ văn học của nước nhà 2.3 Thực tiễn việc giảng dạy tác phẩm văn chương và tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PT hiện nay
Văn học là một bộ môn có vai trò vô cùng quan trọng trong nhà trường
PT ở tất cả các quốc gia trên thế giới Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này đang là vấn đề được các nhà giáo dục, các nhà khoa học, các nhà giáo tâm huyết tranh luận, nghiên cứu để tìm ra phương pháp giảng dạy tối ưu nhất
Trước đây, bộ môn Văn học đã từng trải qua hai lần cải cách (1958 và 1961), cả hai lần cải cách ấy, môn Văn đều bị tách thành phân môn riêng biệt
so với Tiếng Việt và Tập làm văn đồng thời được in thành một cuốn sách riêng Các cuốn sách này chủ yếu được người biên soạn xây dựng, tổ chức theo chủ đề và tiến trình lịch sử văn học Chính việc tổ chức như vậy đã kéo theo nhiều hạn chế và khó khăn trong quá trình giảng dạy, việc tiếp thu kiến thức của học sinh còn mang tính chất phiến diện, chưa hiểu kĩ, hiểu sâu tác phẩm
Xuất phát từ tình hình thực tiễn như trên, năm 2000 chính phủ ra quyết định thay đổi chương trình và nội dung SGK ở tất cả các phân môn trong đó chú trọng đặc biệt đến bộ môn Văn học
Ở đợt cải cách lần này có một điểm mới đó là cả ba phân môn: giảng văn-tiếng Việt-làm văn được tích hợp xây dựng thành một môn chung: Ngữ văn Phương pháp này có ưu điểm là học sinh có thể thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức có liên quan, bổ sung và hỗ trợ kịp thời cho các bài học ở các phân môn khác nhau Mặt khác, chương trình SGK mới lấy thể loại là nguyên tắc xây dựng cho sách Ngữ văn ở cả hai bậc học: THCS và THPT - Tức là dạy và học tác phẩm văn học phải căn cứ vào đặc trưng thể loại tương
Trang 21ứng của tác phẩm đó, nhằm giúp học sinh vừa có khả năng hiểu văn và làm được văn
Tuy nhiên hiện nay, việc giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng loại thể còn gặp rất nhiều khó khăn, phương pháp tiếp nhận còn nhiều lúng túng Bởi
lẽ, mỗi một thể loại tương ứng với một nội dung và hình thức là không giống nhau, đó là chưa kể đến sự phong phú và đa dạng của phương pháp sáng tác, phong cách cũng như quan điểm sáng tác của mỗi nhà văn Vì vậy, vấn đề đặt
ra ở đây là làm như thế nào để có một phương pháp giảng dạy thích hợp vừa đáp ứng được yêu cầu về nguyên tắc thể loại, vừa giúp học sinh có thể hiểu sâu, hiểu kĩ tác phẩm theo từng loại thể nhất định
Việc giảng dạy các tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm của Tô Hoài nói riêng cũng không nằm ngoài khó khăn ấy Hầu hết các sáng tác của
Tô Hoài đều mang một phong cách nghệ thuật rất riêng Phong cách nghệ thuật ấy in đậm cảm quan hiện thực đời thường và dư vị của những phong tục tập quán quen thuộc trong đời sống xã hội Cho nên các yếu tố cấu thành nên một tác phẩm như: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ… cũng hết sức đời thường
Do vậy, khi dạy các tác phẩm của Tô Hoài theo đặc trưng thể loại người đọc cần chú ý những đặc điểm nổi bật này để việc tiếp nhận và truyền đạt được chính xác, đúng hướng và hiệu quả hơn
Cụ thể giảng dạy các tác phẩm của Tô Hoài theo đặc trưng thể loại như thế nào cho hợp lí? Việc tìm hiểu các yếu tố: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ
ra sao? Người viết sẽ cố gắng lí giải vấn đề đó qua khóa luận này
Trang 22CHƯƠNG 2 GIẢNG DẠY CÁC TÁC PHẨM TỰ SỰ CỦA TÔ HOÀI
TRONG NHÀ TRƯỜNG PTTH
1 Đặc trưng các tác phẩm tự sự của Tô Hoài
Một tác phẩm tự sự bao giờ cũng gồm ba đặc trưng chính: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ Đó là những yếu tố cơ bản để cấu thành nên một tác phẩm hoàn chỉnh Soi chiếu vào các sáng tác của Tô Hoài, có thể thấy, dù ông viết ở thể loại nào đi nữa: tiểu thuyêt, truyện ngắn, bút kí… thì những yếu tố này đều được thể hiện rõ nét
1.1.Cốt truyện:
1.1.1 Cốt truyện của Tô Hoài mang đậm cảm quan hiện thực đời thường Văn học phản ánh hiện thực Hiện thực khách quan hiện diện trong tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng thẩm thấu qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Và mỗi một nghệ sĩ lại có lối cảm nhận riêng về hiện thực khách quan ấy
Đối với riêng Tô Hoài, trước cuộc sống hiện thực muôn màu muôn vẻ, nhà văn lại đặc biệt quan tâm và có niềm say mãnh liệt với “con người và cuộc sống đời thường”
Ngay từ những ngày đầu sáng tác, một cách tự nhiên, ngòi bút của Tô Hoài đã hướng vào “những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đang sa sút, nghèo khổ” Ông tâm sự: “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình”
Tại sao cảnh “đời thường” có sức hấp dẫn mạnh đối với Tô Hoài như vậy? Bởi lẽ, cảnh túng quẫn, khó khăn, vất vả của bản thân, của gia đình khiến ông khó có thể thả hồn phiêu diêu vào thế giới thơ mộng của “chàng”
Trang 23và “nàng”, vào những chuyện viển vông giang hồ kì hiệp được Theo Tô Hoài: “mạch sống của cuộc đời táp nham này còn có gì đáng lồng vào một dòng nước, một nhánh hoa, một làn nước trắng” Hơn nữa, những con người cần lao, chất phác, khốn khổ, cơ cực, những cảnh đời lầm than, điêu đứng, túng quẫn vốn đã quen thuộc, thân thiết với Tô Hoài từ lâu Chính vì vậy mà ông đã chuyển ngòi bút của mình vào mảng hiện thực ấy
Cảm quan hiện thực đời thường của Tô Hoài được thể hiện một cách nhất quán trong tất cả các thể loại sáng tác của ông
Chẳng hạn, trong tiểu thuyết “Quê người” người đọc không gặp những người dân nghèo bị đánh đập, cùm kẹp hay bắt bớ tù đầy mà ở đó có muôn cảnh sinh hoạt đời thường: cảnh chửi bới, bêu xấu nhau (thằng Khói bêu xấu
cô Ngây, anh Thìn bêu xấu thằng Toản), cảnh tan tác chia lìa, cảnh trai gái yêu nhau hẹn hò( Hời-Ngây, Thoại -Bướm), những cảnh đi xem hội,những tệ nạn cờ bạc, trộm cắp… Trong “Quê người” ta thấy có cả một xã hội thu nhỏ,
đó là xã hội dân quê, cùng sống bằng một nghề, cùng chịu những tai biến như nhau, trong đó tác giả đặc biệt chú ý đến gia đình Hời với Ngây và gia đình Thoại với Bướm Hai gia đình vốn chăm chỉ, cần cù nên kiếm đủ sống nhưng nghề dệt sa sút,họ lâm vào cảnh thiếu thốn, phải đi tha phương, cầu thực, mỗi người một nơi
Truyện ngắn “Buổi chiều ở trong nhà” là cảnh cha đàn hát, hai đứa con ngồi nghe Ba cha con vui vẻ ăn những chiếc kẹo ngọt lịm Nhưng niềm vui nhỏ nhoi đó chưa bao lâu đã bị dập tắt bởi tiếng chửi bới ngoa ngoắt của chị Hối vì lẽ anh đã “bán tào bán huyệt” cái chai đựng dầu của chị để mua kẹo Lời qua tiếng lại, vợ chửi chồng, chồng đánh vợ, con cái thi nhau khóc vì những cái bạt tai của bố Nhưng chỉ qua một đêm, cuộc sống của gia đình đáng thương, nheo nhóc ấy lại trở lại bình thường, yên ả: vợ đi làm, chồng ở nhà trông con, ba cha con lại hát đùa vui vẻ
Trang 24Trong “Nhà nghèo” gia đình Duyện đang lâm vào một chuyện xô xát vì những nguyên cớ không đâu khiến bố đe giết cả vợ lẫn con, rồi đe đốt cả nhà Nhưng may sao cơn mưa rào ập tới đã xoa dịu lòng người và không ai bảo ai,
cả nhà ra đồng bắt nhái Song không may, niềm hăm hở để chuẩn bị cho bữa cơm sắp tới ngay lập tức nhường chỗ cho nỗi đau xé lòng: đứa con gái đột ngột ra đi vì rắn độc cắn
Những cảnh sinh hoạt và quan hệ xóm giềng, gia đình trong sự sống hàng ngày làm nên thế giới truyện của Tô Hoài Đấy chính là bối cảnh sống,
là sự sống đích thực của con người Mà sự sống đích thực thì bao giờ mà chẳng đan xen những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc…
Tô Hoài cũng là một trong số ít nhà văn viết đều tay nhất cho thiếu nhi Ông viết nhiều loại truyện thuộc nhiều đề tài mà hầu hết đều là những tác phẩm hay được các em rất yêu thích, say mê như: Vừa A Dính, Kim Đồng, Chuyện nỏ thần… Đặc biệt là những truyện viết về thế giới loài vật được các
em hào hứng đón nhận hơn cả: Dế mèn phiêu lưu kí, Con mèo lười, Mụ ngan, Đám cưới chuột, Đôi ri đá… Các tác phẩm viết cho thiếu nhi cũng được Tô Hoài đặt trong cảm quan hiên thực đời thường nên nó hết sức gần gũi, quen thuộc,cảm giác như đã trải qua hay đang chứng kiến trước thực tại chứ không phải là đang đọc nữa
Trong số những tác phẩm viết cho thiếu nhi thì “Dế Mèn phiêu lưu kí” được coi là thiên đồng thoại hấp dẫn và nổi tiếng hơn cả Truyện kể lại cuộc phiêu lưu lý thú đầy sóng gió của chàng Dế Mèn Là một thanh niên cường tráng, khỏe mạnh, sớm có hoài bão, lí tưởng nên Dế Mèn chán cuộc sống quanh quẩn, tù túng, tầm thường bên bờ ruộng nên đã cất bước phiêu lưu để
mở rộng tầm mắt và tìm một lẽ sống tốt đẹp hơn Buổi đầu Dế Mèn còn có tính kiêu ngạo, hung hăng nhưng sau vài lần vấp váp, thất bại đã tỉnh ngộ và rút ra được nhiều bài học đường đời quý báu Trên hành trình của mình, Dế
Trang 25Mèn gặp và kết nghĩa anh em với Dế Trũi, cùng Trũi nay đây mai đó, sinh tử
có nhau Tuy gặp nhiều gian nan, nguy hiểm song Mèn và Trũi đều không lùi bước, tiếp tục đấu tranh cho một thế giới đại đồng, ở đó có công bằng, bình đẳng, mọi loài yêu thương, đoàn kết với nhau
Ra đời năm 1941(thời kì chiến tranh đế quốc xâm lược), “Dế Mèn phiêu lưu kí” như một lời kêu gọi đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh, sống hữu nghị
Ngoài ra, Tô Hoài còn viết nhiều đề tài về cách mạng và kháng chiến Tất cả các tác phẩm ấy cũng mang đậm những yếu tố đời thường
1.1.2 Cốt truyện của Tô Hoài mang dư vị của đời sống sinh hoạt, phong tục
Sinh hoạt phong tục từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của người Việt Nam Phong tục chính là “thói quen đã
ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và lam theo” Mỗi nhà văn khi viết về phong tục đều có cái nhìn khám phá qua lăng kính chủ quan của riêng mình: Nguyễn Tuân cảm nhận về phong tục gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc, gắn với một lớp người thuộc giai tầng xã hội đặc biệt- một lớp nghệ sĩ tài hoa, tài tử Kim Lân đến với phong tục trong thú chơi tao nhã đồng quê Tô Hoài lại cảm nhận phong tục trên mọi phương diện tồn tại
tự nhiên của nó: từ phong tục cho đến hủ tục, từ nét đẹp văn hóa cho đến những sinh hoạt lạc hậu, ấu trĩ Với nhãn quan phong tục đặc biệt như vậy, Tô Hoài đi đến đâu, phong tục tập quán mọi miền đi vào trang văn của ông đến
đó Thông qua sinh hoạt phong tục, hiện thực xã hội đa chiều được hiện lên hết sức sinh động và phong phú
Sau cách mạng, Tô Hoài đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong cuộc sống của các dân tộc miền núi Ông cùng ăn cùng ở cùng sinh hoạt với
họ Chính cuộc sống gần gũi, thân thiết trên mảnh đất mới này đã khơi nguồn
Trang 26cảm hứng cho những sáng tác của ông về đề tài miền núi Với đề tài này, nhãn quan phong tục của ông thả sức vẫy vùng, thu lượm, mọi phương diện phong tục cứ thế mà đi vào văn ông một cách hết sức tự nhiên
Tập “Truyện Tây Bắc” là một trong những thành quả xuất sắc mà Tô Hoài gặt hái được sau chuyến đi dài ngày lên vùng cao Tập truyện gồm ba tác phẩm: Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ Trong đó
“Vợ chồng A Phủ” là thiên truyện tiêu biểu và đặc sắc hơn cả
Tác phẩm kể về hai nhân vật chính là Mị và A Phủ Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, hiếu thảo, chăm chỉ, yêu cuộc sống Cô từng là ước mơ của rất nhiều chàng trai trong và ngoài bản “trai đứng nhẵn cả vách đầu buồng Mị” Nhưng món nợ của cha mẹ là nguyên nhân trực tiếp cướp đi tất cả Tục cho vay nặng lãi, tục cúng trình ma khiến Mị phút chốc trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra Cuộc sống đau khổ, tủi nhục, cơ cực nhanh chóng biến Mị trở thành con ở và ngày càng không nói, cứ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Không chỉ với Mị, tục phạt vạ, xử kiện, trình ma người vay nợ khiến A Phủ từ một chàng trai tự do trở thành nô lệ cho nhà Pá Tra Tưởng rằng cuộc sống chấm dứt ở đó, nhưng không, chính khát vọng sống tiềm ẩn vốn bị che lấp trong sâu thẳm trái tim Mị đã vùng dậy mãnh liệt khi nhìn thấy hình ảnh tiều tụy, bất lực và tuyệt vọng của A Phủ Sự đồng cảm, lòng thương xót cùng với nỗi bất mãn sâu sắc trước sự tàn nhẫn, dã man của gia đình Pá Tra đã thôi thúc lòng ham sống và sức phản kháng to lớn ở Mị Vượt lên tất
cả, Mị đã giải thoát cho A Phủ và cũng là giải thoát cho chính mình khỏi địa ngục trần gian ấy Từ đó, họ bước vào một cuộc sống mới, trở thành vợ chồng, sống và chiến đấu dưới ánh sáng của Đảng và Cách mạng
Từ hủ tục lạc hậu, nhà văn đưa người đọc đắm chìm trong những phong tục văn hóa lâu đời của người H’Mông Những ngày tết vùng cao,“trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con
Trang 27bướm sặc sỡ”, trai gái thổi khèn, thổi sáo, đánh pao, đánh còn… trong sắc trời mùa xuân đượm vẻ trữ tình nồng nàn say đắm Đêm tình mùa xuân trên rẻo cao, vang vọng những lời dân ca tình tứ, quyến luyến, những lời hẹn hò rủ bạn tình đi chơi Bên cạnh đó, những trang viết của Tô Hoài còn làm hiện lên những “bữa cơm Tết cúng ma”, nét ẩm thực riêng biệt của người dân miền núi Tất cả những vẻ đẹp phong tục vùng cao ấy trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc nơi đây
Các tác phẩm khác của Tô Hoài như: Mùa ăn chơi (truyện ngắn), Quê người, Nỏ thân, Nhà Chử, Đảo hoang… (tiểu thuyết) cũng in đậm những phong tục sinh hoạt truyền thống của làng quê Việt Nam: Vào những ngày đầu xuân, đất quê tưng bừng trong trong tiếng trống chèo, đấu vật, các cuộc thi bắn nỏ, thổi cơm, gói bánh trưng, bánh dày… cứ nô nức, xôn xao cả một vùng
Những năm gần đây, Tô Hoài trở lại với đề tài viết về những nét đẹp tao nhã của mảnh đất Hà Thành Với tập kí sự “chuyện cũ viết lại”, người đọc tìm thấy cả một kho phong tục từ: tục giỗ Tết, tảo mộ, cho đến tục cưới xin,
ăn cơm, ăn cỗ…
Điều thú vị trong các sáng tác của Tô Hoài là ở chỗ, ông không chỉ đi miêu tả các phong tục, tập quán của con người: cả miền xuôi lẫn miền ngược,
cả thành thị lẫn nông thôn mà còn đi khám phá cả thế giới phong tục của loài vật Điều đó chứng tỏ, ở Tô Hoài có một sức tìm tòi,học hỏi hết sức phong phú, khả năng quan sát tinh tế và nhạy cảm, có thể nắm bắt được mọi biến thái tinh vi nhất của vạn vật
Chú Dế Mèn (Dế Mèn phiêu lưu kí) sau khi sinh ra được sống trong vòng tay âu yếm của mẹ có hai hôm, đến hôm thứ ba đi theo mẹ vào một cái hang đất đào sẵn để “sống độc lập”, bởi lẽ, đó là phong tục lâu đời của họ nhà
Dế
Trang 28Hay họ nhà Cóc (Trê và Cóc), lại có phong tục, đến ngày “sinh nở”, Cóc “vợ” phải từ biệt “chồng” ra cái ao đầu xóm để sinh con Chính cái tục lệ này khiến cho “vợ chồng” nhà Trê gian ngoan, xảo quyệt, hiếm hoi, sinh năm
đẻ bảy không được một mọn con, bèn lập mưu cướp không con của gia đình nhà Cóc “Vợ chồng” nhà Cóc phải lao đao, lận đận theo kiện để đòi lại con Cho đến lúc nòng nọc đứt đuôi, mọi nan giải được giải quyết, mọi khúc mắc được sáng tỏ
Tóm lại, hầu hết các tác phẩm của Tô Hoài đều mang cốt truyện giản
dị, đời thường, hết sức gần gũi với đời sống sinh hoạt và phong tục của nhiều miền quê trên đất nước Kết hợp với ngoì bút miêu tả thiên nhiên bình dị, mang màu sắc tự nhiên, khách quan khiến cho các sáng tác của ông càng thêm lôi cuốn, hấp dẫn
1.2 Nhân vật 1.2.1.Con người đời thường , bình dị trong các sáng tác của Tô Hoài Thế giới nhân vật của Tô Hoài rất đa dạng, bao gồm nhiều loại người thuộc nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội
Trước cách mạng, Tô Hoài chủ yếu viết về những người nông dân, ngươì thợ thủ công, “những người dân thường ở cái làng Ngĩa Đô của ông mà ông vẫn tiếp xúc hàng ngày” Ông không viết về những mâu thuẫn xã hội gay gắt như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố hay “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, mà ông viết về những chuyện đời thường của những con người đời thừơng, giản dị, không có ước muốn cao sang, khát vọng mãnh liệt
Đó là anh Duyện trong “Cảnh nhà nghèo”, quanh năm túng bấn, điêu đứng vì miếng cơm manh áo Chính cái túng bấn, bần cùng ấy là nguyên nhân dẫn đến những cái vã, xô xát, chửi bới, đánh đập lẫn nhau… trong mối quan
hệ vợ chồng, con cái Đây là những cảnh tượng hết sức quen thuộc trong các gia đình nông thôn xưa kia
Trang 29Hay anh Hối trong “Buổi chiều ở trong nhà”,vợ đi làm, anh ở nhà trông con, hứng chí bán ngay cái chai đựng dầu mua kẹo, ba bố con vừa ăn vừa hát vui vẻ Chị Hối về, sót ruột, chửi bù lu bù loa, đay nghiến chồng con, vợ chồng cãi vã, con cái khóc lóc…
Những nhân vật như anh Duyện, anh Hối là đại diện tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám Cuộc sống của
họ lúc nào cũng chìm trong khổ cực, đói kém, luôn bị bủa vây trong cái vòng luẩn quẩn không hi vọng, không lối thoát
Tô Hoài không chỉ khai thác nhân vật của mình ở khía cạnh đời thường
mà còn khai thác cả mặt bên trong của nhân phẩm, đạo đức Gía trị nhân văn trong thế giới nhân vật của ông mang nét đẹp văn hóa truyền thống Họ không chỉ chịu thương chịu khó trong công việc, giản dị trong sinh hoạt mà còn rất nhân hậu, đầy ắp nghĩa tình
Cuộc sống quẫn bách khiến Bướm (Quê người) không thể có nổi một
xu mua thuốc cho con, đành ôm con đến nhờ người bạn thuở thiếu thời của mình.Dù gia cảnh nghèo nàn, món nợ vẫn chồng chất nhưng Ngây không ngần ngại lần tay áo đưa ngay cho bạn bốn xu duy nhất của mình.Tấm lòng thơm thảo của bạn khiến Bướm vô cùng xúc động và thấm thía được mối ân tình cao quý mà bạn dành cho mình
Nếu như trước cách mạng, không gian sáng tác của Tô Hoài chỉ xoay quanh vùng ven thành Hà Nội thì sau cách mạng, không gian sáng tác của ông được mở rộng lên vùng núi Tây Bắc Hai mảng không gian này đều là những nguồn cảm hứng không vơi cạn của nhà văn Không gian mở rộng đồng nghĩa với đối tượng sáng tác sẽ trở lên phong phú và đa dạng hơn Nhân vật của Tô Hoài lúc này chủ yếu là người dân vùng cao như: Mị, A Phủ (Vợ chồng A Phủ), bà Giàng Súa (Miền Tây), các anh hùng dân tộc như: Kim Đồng, Vừa A Dính, Hoàng Văn Thụ…Đồng thời có thêm kiểu nhân vật người Đảng xuất
Trang 30hiện: cán bộ Đức Xuân (Núi cứu quốc), cán bộ Nghĩa (Miền Tây)… Thông qua từng kiểu nhân vật, tác giả cho người đọc thấy được từng nét sinh hoạt, văn hóa truyền thống của từng vùng, từng miền, thấy được từng số phận khác nhau trong những giai đoạn lịch sử khác nhau
Bà Giàng Súa (tiểu thuyết “Miền Tây”) bị chế độ thổ ti lang đạo cùng những hủ tục lạc hậu man rợ cấu kế với nhau dìm cuộc đời người đàn bà nghèo khổ xuống tận cùng của nỗi tủi cực Chồng đi phu chẳng may chết mất xác, nỗi buồn chưa qua thì ngay lập tức một tai họa khác lại ập tới Người ta cho rằng bà có ma chài, phải đuổi vào rừng sâu, sống cách li với bản làng Không còn con đường nào khác, bốn mẹ con đành rắt ríu nhau vào rừng sâu, đào củ, bẫy chuột kiếm ăn cho qua ngày Bị hắt hủi, xa lánh, sống chui rúc, tạm bợ, người đàn bà bất hạnh ấy chỉ “thèm nghe tiếng gà, lợn kêu điếc tai, con bò rung chuông, con ngựa lọc cọc trên đá Tiếng ai đang gọi vọng ra nương” Tưởng rằng cuộc đời như vậy là đường cùng, là hết hi vọng nhưng không, ánh sáng cách mạng đã tràn về, khơi nguồn cho một cuộc sống mới, cứu vớt những số phận bất hạnh như gia đình bà Giàng Súa Bà được trở về với bản làng, được làm ăn sinh sống như mọi người bình thường khác Niềm vui lớn lao nhất trong cuộc đời của bà là những đứa con đã khôn lớn và trở thành người công dân có ích cho bản làng, cho cách mạng: Thào Khay trở thành y sỹ, Thào My tích cực tham gia phong trào xây dựng quê hương Chính chế độ mới đã đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc, đem lại ánh sáng và tương lai cho những số phận bần cùng, bất hạnh, khổ đau, tăm tối như bà Hẳn bạn đọc cũng không thể quên được hình ảnh một cô Ảng “mười bảy tuổi phải đem thân nâng giấc” cho một “ông lão sáu mươi”; một cô Mị phải chấp nhận làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra, trở thành vợ của A Sử mặc dù “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” Nhưng nhờ có Đảng và cách mạng mà cuộc đời của họ được giải thoát Bà Ảng không còn
Trang 31phải đi ăn mày nữa mà được lên du kích sống cùng con trai mình; Mị cùng A Phủ thoát khỏi nhà Pá Tra, chạy lên Phiềng Sa, tham gia cách mạng một cách tích cự để chống lại chế độ cũ, xây dựng một chế độ mới tốt đẹp hơn
Nhìn chung, thế giới nhân vật của Tô Hoài rất đa dạng Mỗi nhân vật
có một đời sống, một nét tính cách riêng Nhưng dù nhìn nhận ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì điều mà bạn đọc cảm nhận thấy đầu tiên đó là thế giới nhân vật của ông hết sức bình dị và đời thường
1.2.2 Thế giới loài vật đa dạng, sinh động Thế giới loài vật từng là nguồn cảm hứng sáng tác của rất nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước Cùng một đối tượng là loài vật nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ lại có cách cảm nhận và hướng khám phá riêng Nếu như Laphôngten đến với thế giới loài vật bằng những bài thơ ngụ ngôn, Kim Lân tìm thấy khả năng đặc biệt của những con vật đáng yêu ở nhiều vùng thôn quê như: chó săn, chim bồ câu, vẹt, chim khách, gà chọi… thì Tô Hoài đến với thế giới loài vật trong sự cảm nhận đặc biệt-cảm nhận như đời sống con người Mặt khác, các con vật trong sáng tác của Tô Hoài không phải là hổ, báo, hươu, nai hay những con vật cao sang, to lớn mà đó là những con vật hết sức “xoàng xĩnh”, bé nhỏ, gần gũi với đời sống sinh hoạt của con người như:
Gà, Ngan, Mèo, Lợn, Chim, Trê, Cóc, Nhái, Dế Mèn, Châu Chấu… Cũng giống như con người, mỗi loài có một đặc điểm, tính nết, đời sống và số phận khác nhau Dế Mèn thích phiêu lưu, mạo hiểm, sống có hoài bão, có lý tưởng, khao khát xây dựng một thế giới đại đồng hòa bình và yên ổn Vợ chồng Trê thì gian ngoan, xảo quyệt Đôi Ri Đá thì cần cù, chịu khó, luôn yêu thương quan tâm lẫn nhau Hay con My (Con mèo lười) là giống mèo mũi đỏ, không biết bắt chuột, chỉ biết ăn vụng, suốt ngày rong chơi, lười nhác Mụ Ngan (Mụ Ngan) thì đần độn, tồi tệ, tranh ăn với cả lũ con Khi con Ngan nhỏ vừa chết
“mụ làm như không biết rằng có một đứa con mình vừa mới chết”, không chỉ
Trang 32thế, mụ còn dí chân lên lưng nó mà xốc như thường Đối lập với mụ Ngan là
Gà Mái (Một cuộc bể dâu) Cô là “một người đàn bà giỏi giang” và “rất đa tình” Khi chưa có con thì Gà Mái “yêu hết mình” nhưng khi đã làm mẹ thì ra dáng một bà mẹ hiền lành, mẫu mực, quan tâm, lo lắng và ra sức bảo vệ, chăm chút cho đàn con của mình…
Trong số nhiều truyện viết về loài vật thì “Dế Mèn phiêu lưu kí” được coi là thiên đồng thoại xuất sắc nhất của Tô Hoài Tác phẩm miêu tả cả một thế giới loài vật hết sức phong phú và sinh động Dưới cảm quan của Tô Hoài, mỗi con vật cũng có những phẩm chất, thói tật, hay-dở, tốt-xấu khác nhau, thông qua đó, tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc những kinh nghiệm, những bài học đường đời bổ ích đồng thời thể hiện chất nhân văn sâu sắc
Như đã nói ở phần cốt truyện, thế giới loài vật không chỉ có tính cách,
số phận, đời sống nội tâm phong phú mà chúng còn có những phong tục, tập quán riêng Chính điều này tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn và thu hút trí tò mò của bạn đọc
Nghiên cứu thế giới loài vật của Tô Hoài ta thấy,một trong những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật xây dựng nhân vật là ông chủ yếu để cho nhân vật của mình thể hiện phẩm chất, thói tật, cá tính thông qua hành động và lời nói Điều này thể hiện rất rõ khi chúng ta khảo sát các tác phẩm của ông Chẳng hạn, trong “Dế Mèn phiêu lưu kí”, số lần xuất hiện hành động của Dế Mèn là 162 lần trong khi diễn biến tâm lí chỉ xuất hiện 9 lần Tương tự, ở nhân vật A Phủ là 39/1, Mị là 34/5…Điều đó chứng tỏ, nhân vật của Tô Hoài
ít có những xung đột nội tâm, ít có những trăn trở, suy tư, dằn vặt, day dứt, ở đây là nhân vật hành động, nhân vật hướng ngoại Tuy nhiên vì quá chú trọng miêu tả hành động của nhân vật mà tác giả đã để lại một khoảng trống trong tâm hồn của họ Mặc dù vậy, thế giới nhân vật Tô Hoài vẫn có sức thu hút độc giả , bởi ở đó, bạn đọc cảm nhận được sự thân quen, gần gũi, bình dị
Trang 33sở trường viết của mỗi người, điều đó tạo nên sự đa dạng, phong phú của các thể loại, phong cách, phương pháp sáng tác…
Đối với Tô Hoài, do bị chi phối bởi cảm quan hiện thực đời thường nên
Tô Hoài tìm đến mảng ngôn ngữ dung dị, tự nhiên, đời thường đậm tính khẩu ngữ Ông luôn có thói quen thu lượm, học hỏi, tích lũy những vốn từ mang tính quần chúng, dân dã, những ngôn ngữ được lượm lặt từ kiếp sống đói nghèo của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội
Ví dụ, ông sử dụng một cách tối đa những từ chỉ nghề nghiệp mà người dân thường gọi như: thanh go, vầy tơ, hồ cửi, hồ cháo, vuốt hồ… các từ thông tục hay dùng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày: đánh bỏ mẹ, sợ đếch gì, ngượng chó gì, thối mồm…
Ngoài ra Tô Hoài còn sử dụng phổ biến những thành ngữ, tục ngữ, phương ngữ như: gần mũi xa mồm, gà sống nuôi con, ngậm đắng nuốt cay, túng thì ăn vụng đói thì làm càn, gọt gáy bôi vôi… Các từ này được sử dụng với tần số cao, tạo nên cảm giác gần gũi, thân quen, thậm chí suồng sã, rút ngắn khoảng cách giữa bạn đọc và tác phẩm
Trong một số tác phẩm viết về vùng núi Tây Bắc, Tô Hoài còn sử dụng rất thành công ngôn ngữ của đồng bào dân tộc, như cách xưng hô: mày - tao trong quan hệ gia đình, bạ bè Tài tình hơn, ông còn kết hợp được nhiều câu
ca dao, dân ca của người dân tộc trong các tác phẩm, khiến tác phẩm của ông
Trang 34đậm đà phong vị miền núi Trong “Vợ chồng A Phủ”, các trang văn của Tô Hoài xuất hiện nhiều những lời dân ca tình tứ, quyến luyến mang bản sắc của dân tộc H’Mông:
“Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Hay:
“Anh ném phao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi”
Ngôn ngữ trong văn của Tô Hoài rất giàu khả năng tạo hình và gợi được sức liên tưởng mạnh mẽ cho người đọc Khi viết, ông luôn có thói quen chỉnh sửa, chọn lựa câu chữ sao cho phù hợp, cô đọng và gần gũi với cách nói thông thường của quần chúng Ngoài ra, Tô Hoài còn xen nhiều nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, những câu văn giàu chất thơ trong tác phẩm, làm cho các tác phẩm của ông có sự hài hòa và sinh động Hãy đọc đoạn văn miêu tả dốc Sình Hồ trong tiểu thuyết “Miền Tây”: “Bóng tối trùm nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn Các mỏm núi đương vàng rực, bỗng xanh tợn Gió chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngay giữa các triền đồi tranh im lặng” Các từ ngữ được ông lựa chọn rất đắt, rất trúng và có sức gợi cao
Ngôn ngữ dung dị, tự nhiên, đậm tính khẩu ngữ kết hợp với giọng điệu dí dỏm, hài hước, suồng sã, trữ tình tạo nên phong cách rất đặc trưng cho ngòi bút của Tô Hoài, nó khác hẳn với lối viết trang nhã, mực thước, hào hùng của
đa số các nhà văn giai đoạn 1945-1975
Có thể thấy, Tô Hoài có cả một kho từng vựng giàu có và phong phú Đây
là kết quả của cả một quá trình học hỏi, trau dồi vốn từ của quần chúng trong cuộc sống đời thường, sau đó “xào xáo” thành lối hành văn của mình Hầu
Trang 35như trang viết nào của ông ta cũng bắt gặp cách dùng từ, đặt câu mới mẻ, độc đáo, lối viết tự nhiên, biến hóa thú vị Phải là nhà văn bậc thầy mới sáng tạo được những trang văn đẹp đẽ, hấp dẫn như vậy
2.Việc giảng dạy tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường PTTH Tác phẩm của Tô Hoài được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy ở cả hai bậc học: THCS và THPT
Ở THCS, chương trình Ngữ văn lớp 6 tập 2 đưa vào giảng dạy đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” trích trong “Dế Mèn phiêu lưu kí”(1941) Lên THPT, chương trình Ngữ văn 12 tập 2 giảng dạy truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được rút từ tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài
Đây là hai tác phẩm được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá
là tiêu biểu và xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài Nhưng do dung lượng của tác phẩm quá dài, thời gian tiết học lại có hạn nên cả hai tác phẩm này không được giảng dạy trọn vẹn mà chỉ chọn phần hay và có giá trị thiết thực nhất trong việc bồi dưỡng tri thức, năng lực, tư tưởng cho học sinh
ở hai lứa tuổi tương ứng với hai cấp học trong nhà trường PTTH
Cả hai tác phẩm này mặc dù sáng tác cho hai đối tượng tiếp nhận khác nhau song chúng đều nhất quán trong một phong cách-cảm quan hiện thực đời thường Với năng lực quan sát tinh tế, sắc bén, nhậy cảm, vốn hiểu biết đời sống và phong tục (của cả con người lẫn loài vật) khá phong phú, Tô Hoài đã phản ánh vào trong trang văn của mình những “môi trường sống” khác nhau,
từ đó cho bạn đọc thấy được những mảng hiện thực khách quan hết sức đa dạng, sinh động trong cái nhìn nhiều chiều thông qua thể loại tự sự
Có thể khẳng định một điều rằng, tất cả các tác phẩm dù viết trước cách mạng, sau cách mạng hay viết trong thời kì đổi mới thì Tô Hoài đều thể hiện bằng một thể loại duy nhất - thể loại tự sự Chỉ có thể loại tự sự mới truyền tải một cách đầy đủ nhất các khía cạnh “đời thường, chuyện thường và người