Xuất phát từ thực trạng đó, là một sinh viên sắp ra trường và bước vào nghề dạy học, người viết chọn đề tài: ''Áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài thực hành phép tu từ ẩn dô và h
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đất nước đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển ấy là yêu cầu tất yếu đặt ra với giáo dục: làm sao giáo dục phải đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội Và để làm được điều đó thì một vấn đề bức thiết đặt ra lúc này là phải xây dựng một nền giáo dục tiên tiến đào tạo ra được những con người năng động sáng tạo Đây cũng chính là một trong những quốc sách hàng đầu của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Để làm được điều đó nhà trường với những phương pháp cũ phải dần được thay thế bằng những phương pháp mới phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của xã hội Thế kỷ XXI - thế kỷ của sự hội nhập cùng phát triển, đáp ứng nhu cầu của thời đại quan điểm tích hợp đã ra đời Nó nhằm giải quyết nhu cầu về khả năng lĩnh hội tri thức của nhân loại Quan điểm tích hợp ra đời có vai trò quan trọng trong việc rút ngắn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học, đồng thời nó còn giúp học sinh chủ động trong việc vận dụng tổng hợp tri thức, kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống
Những năm gần đây, ở nước ta quan điểm tích hợp đã được áp dụng trong xây dựng nội dung chương trình ở một số môn học trong nhà trường phổ thông
Bộ môn Ngữ văn cũng là một trong những môn học đầu tiên lấy tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo việc tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa
và lựa chọn phương pháp giảng dạy Trong quỹ đạo ấy, người giáo viên không thể đứng ngoài quá trình đổi mới này Vì vậy, cần phải có cái nhìn đúng đắn về tích hợp trong giảng dạy Ngữ văn nói chung và dạy các bộ phận Văn và Làm văn, Tiếng Việt nói riêng
1.2 Theo quan điểm tích hợp, phần Tiếng Việt hiện nay trong chương trình
Trang 2THCS và THPT không còn là môn học độc lập như trước nữa mà nó đã được tích hợp với Văn và Làm văn để tạo thành bộ môn Ngữ văn Phần học này đã được bố trí xen kẽ với phần Văn và Làm văn Xuất phát từ đổi mới nội dung chương trình dẫn tới đổi mới về phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và Tiếng Việt nói riêng đã quán triệt quan điểm này trong xây dựng nội dung chương trình Vì vậy, tất yếu phải đổi mới phương pháp giảng dậy cho phù hợp
1.3 Khi nội dung chương trình đã thay đổi, đòi hỏi phương pháp dạy học cũng phải có những thay đổi tương ứng Song một điều thấy rõ trong thực tế giảng dạy là quan điểm tích hợp vẫn còn là điều mới lạ đối với giáo viên Vì thế, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy Ngữ văn nói chung và Tiếng Việt nói riêng vẫn còn một số những hạn chế nhất định Bởi thực tế người giáo viên vẫn quen dạy từng môn tách rời Chính vì vậy, việc giảng dạy môn Ngữ văn như một thể thống nhất vẫn chưa đạt được những kết quả đáng kể Do đó phải dạy Tiếng Việt thế nào và áp dụng quan điểm tích hợp ra sao vẫn còn là vấn đề đặt ra với không ít giáo viên
Xuất phát từ thực trạng đó, là một sinh viên sắp ra trường và bước vào
nghề dạy học, người viết chọn đề tài: ''Áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy
học bài thực hành phép tu từ ẩn dô và hoán dụ trong SGK Ngữ văn 10 " với
mong muốn sẽ góp thêm tiếng nói của mình vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cao cho dạy học Tiếng Việt nói riêng và Ngữ văn nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử phát triển của nhân loại song song với vấn đề phát triển của các ngành khoa học là việc tìm ra tri thức mới Để giúp cho việc lĩnh hội tri thức trong quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao là việc tìm ra phương pháp dạy học
Trang 3mới Một xã hội phát triển thì bắt buộc phải có giáo dục phát triển Vì thế, tìm ra phương pháp dạy mới là vấn đề đã từ lâu được các nhà cải cách giáo dục quan tâm và nghiên cứu Từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX, phương pháp dạy học tích hợp đã ra đời nhưng chưa phổ biến Những thông tin về quan điểm tích hợp xuất hiện nhiều trên các báo và tạp chí
Từ năm 1973 trên tạp chí nghiên cứu giáo dục, cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng trong bài: "Dạy văn là quá trình rèn luyện toàn diện" đã nêu ra yêu cầu tất
yếu phải đổi mới phương pháp dạy học Theo đó, tác giả đã tìm ra phương pháp mới là dạy văn phải tích hợp với tất cả khía cạnh của đời sống để con người phát triển một cách toàn diện Tuy rằng, bài viết này đã ra đời khá lâu nhưng nó được xem là tư tưởng chủ đạo cho việc dạy học theo hướng tích hợp
Sau đó đến năm 1997 với bài viết: "Biên soạn SGK theo quan điểm tích
hợp cơ sở lí luận và một số khái niệm" trong một tạp chí nghiên cứu giáo dục,
tác giả Đào Trọng Quang đã trực tiếp đề cập đến bản chất của dạy học tích hợp, quan điểm tích hợp và những khái niệm có liên quan
Đến năm 2000 Bộ GD - ĐT thực hiện việc đổi mới nội dung chương trình
và biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp càng trở nên cần thiết Nhiều tác giả
đã đề cập đến việc thay đổi sách cũng như phương pháp dạy học các môn học nói chung và Ngữ văn nói riêng Những quan điểm ấy được đề cập trên các báo
và tạp chí có thể thấy những quan điểm sau:
Trong bài "Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn"
(Tạp chí giáo dục số 22 - 2002), Nguyễn Trọng Hoàn đã nêu rõ quan điểm của mình về tích hợp trong dạy học Ngữ văn Trong bài viết này tác giả đã đi sâu trình bày quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn trên cơ sở một số văn bản
có vai trò là kiến thức nguồn phục vụ cho các phân môn Tuy vậy thì bài viết này
Trang 4vẫn hạn chế trong việc tác giả quá chú trọng đến khai thác văn bản mà không đề cập đến việc tích hợp kiến thức theo chiều dọc và chiều ngang
Sau đó vài năm trong tạp chí giáo dục số 6 - 2006 với bài "Tích hợp trong
dạy học Ngữ văn", Nguyễn Thanh Hùng cho rằng tích hợp là phương pháp phối
hợp một cách tốt nhất quá trình học tập của nhiều môn học
Cũng đưa ra ý kiến về quan điểm tích hợp Nguyễn Minh Phượng và Cao
Thị Thăng trong bài viết "Xu thế tích hợp môn học trong nhà trường phổ thông”
thì cho rằng: tích hợp có nghĩa là hợp nhất, hoà nhập, liên kết Trong giáo dục tích hợp có thể hiểu là lồng ghép, kết hợp các nội dung với nhau Tác giả cũng hướng mọi người đến việc liên kết, kết hợp các kiến thức kỹ năng liên môn để mỗi bài học sẽ đạt kết quả cao hơn
Đó là một số các quan điểm của các tác giả đề cập đến việc dạy học theo quan điểm tích hợp Nó có thể xem là những định hướng giúp ta đi sâu tìm hiểu
quan điểm này trong khi dạy bài "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ"
Ngoài ra thì quan điểm tích hợp còn được đề cập trên các sách tham khảo
Trong cuốn "Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn ở THPT", TS Đỗ
Ngọc Thống đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Theo ông tích hợp là sự hợp nhất, hoà trộn các phân môn với nhau Tuy nhiên, ông chưa đi sâu vào trình bày quan điểm này ở việc dạy từng phân môn cụ thể của Ngữ văn
Trong cuốn "Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá Ngữ văn" (NXB Hà Nội), đã đề cập đến các vấn đề có tính định hướng
về đổi mới chương trình và SGK Tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu quan điểm tích hợp trong thiết kế giáo án dạy học còn việc áp dụng quan điểm tích hợp trong dạy từng bộ phận của Ngữ văn vẫn chưa được xem xét cụ thể
Trang 5Trong cuốn "Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT những vấn đề cập
nhật", tác giả Nguyễn Thanh Hùng đã trình bày những vấn đề chung về mục tiêu
và chương trình Ngữ văn về nguyên tắc tích hợp, về các phương pháp khác Khi viết về nguyên tắc tích hợp ông đã khẳng định đây là một nguyên tắc dạy học hiện đại và cũng nêu ra phương hướng khi vận dụng nguyên tắc này
Cũng trong cuốn "Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS" -
NXB ĐHSP, Nguyễn Thanh Hùng đã đi sâu vào tìm hiểu nguyên tắc dạy tích hợp trong khi dạy học Ngữ văn ở THCS Tác giả đã đề cập đến vấn đề như: Tích hợp là gì, phương pháp vận dụng tích hợp trong dạy học Ngữ văn như thế nào Những vấn đề mà tác giả đề cập trong cuốn sách này cũng chính là định hướng giúp chúng tôi triển khai đề tài
Trong cuốn SGV Ngữ văn 6 - tập 1, GS Nguyễn Khắc Phi thì cho rằng:
Tích hợp là một phương pháp nhằm hướng đến lĩnh hội tri thức một cách tối ưu các quá trình dạy học riêng rẽ, các môn học khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích yêu cầu cụ thể khác nhau
Trong cuốn SGV Ngữ văn 10 - tập 1, các tác giả cũng đã gợi ý về mặt
phương pháp cho giáo viên Đặc biệt ở phần Tiếng Việt ngoài định hướng giảng dạy gắn với giao tiếp "bằng thực hành và thông qua thực hành, hướng đến thực hành" Đồng thời nhóm biên soạn cũng đề ra yêu cầu tích hợp: giáo viên cần chú
ý thực hiện tích hợp trong loại bài luyện tập Có thể yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm hoặc phát biểu các định nghĩa về các hiện tượng ngôn ngữ có liên quan rồi áp dụng vào lĩnh hội phân tích và thực hành sử dụng hoặc ngược lại" Tuy nhiên định hướng nói trên vẫn chỉ ở mức độ khái quát
Trong cuốn "Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK
Ngữ văn 10", GS Phan Trọng Luận và GS Trần Đình Sử cũng đã đề cập đến các
Trang 6vấn đề đổi mới chương trình sách chuẩn và sách nâng cao Theo các tác giả quan điểm tích hợp được lấy làm tư tưởng chủ đạo trong xây dựng nội dung chương trình và SGK Đặc biệt trong cuốn sách này, chương trình Ngữ văn đã được các tác giả phân tích cụ thể xác đáng theo quan điểm tích hợp Họ cũng chỉ ra phương hướng dạy học theo quan điểm tích hợp khi dạy phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 10 Song đây cũng chỉ là định hướng mang tính khái quát
Trong cuốn "Nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học Văn",
PGS.TS Nguyễn Huy Quát đã viết: "Khái niệm tích hợp là sự phối hợp các kiến thức gần gũi, quan hệ mật thiết với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc" Tuy nhiên, chỉ là kết quả nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn
Hiện nay quan điểm tích hợp đã được áp dụng trong dạy học nói chung
Đã có nhiều công trình tài liệu nghiên cứu về quan điển này, nghiên cứu về sự quán triệt quan điểm đó trong xây dựng nội dung chương trình và SGK Tuy nhiên, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy từng bộ phận của môn Ngữ văn thế nào và dạy từng bài cụ thể của phần Tiếng Việt ra sao vẫn chưa có những quan điểm cụ thể chi tiết Những tài liệu được đề cập đến chỉ mang tính chất chung chung, mang tính chất định hướng Kế thừa những kết quả nghiên cứu
trên, chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu đề tài "Áp dụng quan điểm tích hợp
vào dạy bài Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ trong SGK Ngữ văn 10"
3 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nói trên chúng tôi nhằm những mục đích sau:
- Đưa ra định hướng hướng đi mới trong dạy học nhằm đáp ứng được nhu cầu đổi mới của giáo dục; phù hợp với thực tiễn của công cuộc cải cách giáo dục
- Nhằm triển khai việc dạy học Tiếng Việt đặc biệt bài: "Thực hành các
Trang 7phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ" theo quan điểm tích hợp có hiệu quả hơn góp phần
nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá tài liệu nghiên cứu để kế thừa, vận dụng, giải quyết vấn
đề
- Xác định được cơ sở thực tiễn của đề tài
- Áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học đặc biệt bài: "Thực hành phép
tu từ ẩn dụ và hoán dụ" trong SGK Ngữ văn 10
- Tổ chức thực nghiệm bằng thiết kế giáo án thể hiện rõ quan điểm tích hợp
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
5.1 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu vấn
đề áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy một bài thực hành cụ thể: "Thực hành
phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ trong SGK Ngữ văn 10" Trong khoá luận, tích hợp
được nghiên cứu chủ yếu là tích hợp ngang và tích hợp dọc chứ không đề cập đến tích hợp mở rộng
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Bài: "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ" trong SGK Ngữ văn 10
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê
- Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo sát thực trạng của học sinh trước khi tiến hành thực nghiệm, phân tích kết quả thực nghiệm
Trang 86.2 Phương pháp hệ thống hoá
Phương pháp này được dùng để hệ thống hoá các tri thức lí thuyết về tích hợp (các quan điểm, cơ sở điều kiện thích hợp ) về chương trình Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 10
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được sử dụng để kiểm chứng dưới hình thức quy trình dạy học và tổ chức thực nghiệm kiểm chứng tính khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận chung
7 Đóng góp của khoá luận
Khoá luận đóng góp tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học
Tiếng Việt nói chung và cụ thể là bài: "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ"
8 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận của chúng tôi gồm 3 chương chính
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học theo quan điểm tích hợp
- Chương 2: Áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy bài: "Thực hành phép tu
từ ẩn dụ và hoán dụ" trong SGK Ngữ văn 10"
- Chương 3: Thực nghiệm
Trang 91.1.1 Định hướng đổi mới của phương pháp dạy học
Giáo dục luôn là một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Bởi đối tượng chịu tác động trực tiếp của nó là con người
Sự tác động của ấy bao gồm cả trí tuệ và tâm hồn, cả năng lực và kinh nghiệm sống Như vậy, rõ ràng quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách, tri thức phụ thuộc rất nhiều vào GD Trọng trách này đòi hỏi giáo dục và đào tạo (GD - ĐT) phải không ngừng đổi mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội: đào tạo ra những con người mới vừa có tri thức vừa có nhân cách
Bước sang thế kỷ XXI, nước ta đang đứng trước thử thách lớn: Thế giới đang phát triển như vũ bão trên tất cả các mặt vật chất và tinh thần Trong khi
đó, nước ta đang trong tình trạng lạc hậu về nhiều mặt Để vượt qua những thách thức đó đòi hỏi chúng ta phải phát huy tiềm lực con người, phát huy tiềm năng trí tuệ Xuất phát từ nhận thức đó, Đảng và nhà nước ta đặc biệt coi trọng sự nghiệp GD - ĐT, coi con người là mục tiêu, động lực phát triển, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Sự quan tâm đó đã đặt ra cho nghành GD - ĐT những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi GD phải đổi mới trong đó có đổi mới về phương pháp dạy học và SGK
Trong báo cáo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ban chấp hành
Trang 10TW, Đảng ta đã đặt ra cho nghành GD - ĐT nhiệm vụ chiến lược từ 2001-2010
"Khẩn chương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương
trình và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới" Vì thế mà đòi hỏi
GD - ĐT phải có nhiều đổi mới cải tiến về phương pháp và SGK. [13; tr 6 ]
Trải qua các kỳ đại hội VII,VIII, IX, X đặc biệt định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong các nghị quyết TW khoá VII (1-1993), nghị quyết TW 2 khoá VIII và được thể chế hoá trong luật giáo dục (2005) Trong điều 24 luật giáo dục (do quốc hội khoá X thông qua) chỉ rõ
"phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học tự rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn, tác động vào tình cảm đem lại hứng thú học tập cho học sinh" Có thể nói, cốt lõi của đổi mới
lần này là hướng tới hoạt động học tập tự chủ, chủ động chống lại thói quen thụ động trong học tập của học sinh
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được các tác giả quán triệt vào quá trình lựa chọn nội dung, vào trình bày nội dung Người giáo viên là nhịp cầu đưa học sinh đến bến bờ tri thức cần phải nắm vững những yêu cầu và quy trình
đó để hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ngày càng được mở rộng và nâng cao
Tuy nhiên, đổi mới dạy học phải dựa trên quan ®iểm kế thừa các phương pháp truyền thống, vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm tích cực kết hợp với phương pháp dạy học mới
1.1.2 Quan điểm tích hợp trong dạy học
1.1.2.1 Một số vấn đề chung về quan điểm dạy học tích hợp
a Quan điểm tích hợp
Trang 11Thông thường một quan điểm khi mới ra đời thường không tránh khỏi những ý kiến bàn luận khác nhau Quan điểm tích hợp cũng là trường hợp không ngoại lệ Có ý kiến cho rằng tích hợp là tổ hợp (combi-nation) hay phối hợp (co-odination) các môn học …
Trong chương trình THPT dự thảo, môn Ngữ văn năm 2002 của Bộ GD -
ĐT khái niệm tích hợp được hiểu là "sự phối hợp các tri thức gần gũi có liên quan, quan hệ mật thiết với nhau trong thực hiện để chúng bổ sung hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên một kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc".[4; tr27]
Tác giả Nguyễn Hải Châu cho rằng "Tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất liên kết giữa các môn có liên quan, giữa các phân môn có quan hệ hỗ trợ nhau nhằm tạo thành một thể thống nhất tránh tình trạng dạy học tách biệt qua
đó rèn luyện khả năng liên môn để người học phát huy khả năng tư duy sáng tạo tổng hợp” [3; tr16]
Theo GS Phan Trọng Luận “SGK Ngữ văn 10 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở THCS” Cụ thể là học Ngữ văn trong nhà trường PT không tách rời ba
bộ phận Văn, Tiếng Việt, Làm văn
TS Đỗ Ngọc Thống và GS.TS Nguyễn Thanh Hùng lại có cùng quan điểm về tích hợp "Tích hợp là tinh thần ba phân môn hợp nhất hoà trộn trong nhau, học cái này thông qua học cái kia và ngược lại" Như thế sẽ tránh được những vướng mắc dư thừa chồng chéo nội dung trong qu¸ trình dạy Văn, Tiếng Việt và Làm văn như trước đây
Ngoài ra còn rất nhiều ý kiến của các tác giả khác nữa như Nguyễn Huy Quát, Nguyễn Văn Đường Mặc dù những ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại các tác giả đều có điểm chung khi nhìn nhận về tích hợp là sự thống nhất của
Trang 12nhiều môn học
Trong khoá luận, người viết sử dụng quan điểm của GS Nguyễn Khắc Phi
trong cuốn SGV Ngữ văn 6 - tập 1 cho rằng: "Tích hợp là một phương hướng
nhằm phối hợp tri thức một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích yêu cầu cụ thể khác nhau"
Tuy nhiên, không nên quan niệm tích hợp là cách dùng để bớt thời lượng môn học, giảm tải kiến thức hoặc đó là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các bộ phận Ngữ văn là một trong những môn thể hiện rõ nhất quan điểm tích hợp trong cả nội dung chương trình, môc tiêu và phương pháp dạy học Ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trước đây được tích hợp thành môn Ngữ văn việc nắm được quan điểm đúng đắn về tích hợp sẽ là kim chỉ nam định hướng để chúng ta đi vào tìm hiểu bộ môn đạt hiệu quả cao hơn
b Tích hợp ngang và tích hợp dọc
- Tích hợp ngang được hiểu là tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình
thức tích hợp theo từng thời điểm Đây là hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một hoặc một số văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn Nói cụ thể hơn đó là sự khai thác triệt để mối liên hệ kiến thức giữa các phần Văn, Tiếng Việt và Làm văn trong từng đơn vị bài học, cũng có khi là giữa các đơn vị bài häc với nhau [2; tr17]
Có thể cụ thể hoá mối liên hệ này qua sơ đồ sau:
Trang 13Theo quan điểm tích hợp mỗi đơn vị bài học đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng về những mối quan hệ ngang nhau như:
+ Văn bản tạo điều kiện cho Tiếng Việt, Làm văn ở những điểm nào? + Tiếng Việt có thể tận dụng những gì ở văn bản và phục vụ gì cho rèn kỹ năng dùng từ, đặt câu diễn đạt trong Làm văn, phục vụ gì cho đọc hiểu văn bản
+ Làm văn đã củng cố tri thức kỹ năng ở phần Văn bản, Tiếng việt với đặc trưng tổng hợp thế nào
- Tích hợp dọc là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề trong từng
phân môn Cụ thể đó là hướng tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa các vấn đề trong cïng một phân môn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp giữa lớp truớc với lớp sau thậm trí giữa các cấp học Đó là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mối liên hệ theo kiểu sâu chuỗi, móc xích một cách chặt chẽ [2; tr19] Có thể hình dung mối quan hệ này theo sơ đồ sau:
Trang 14Trong đó S1 là lớp 6, S2 là lớp 7, S3 là lớp 8, Sn là lớp cao hơn
Tích hợp theo chiều dọc bao gồm tích hợp kiến thức và kỹ năng Các kiến thức và kỹ năng mới phải được kết hợp với kiến thức và kỹ năng đã được học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Do vậy để thực hiện được hình thức này đòi hỏi giáo viên phải nắm được toàn bộ kiến thức trong chương trình THCS Đây
là điểm đặc biệt cần nhấn mạnh bởi giáo viên muốn bài học của mình tích hợp tốt thì đòi hỏi phải quan tâm đến kiến thức các em đã học ở lớp dưới
- Ngoài ra còn có tích hợp mở rộng đó được là sự tích hợp mở rộng giữa
các kiến thức trong bài học Ngữ văn với kiến thức của các bộ môn KHTN - KHXH và các nghành khoa học nghệ thuật khác và với kiến thức đời sống mà các em đã tích luỹ được từ cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh
Tuy nhiên trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ nói tới tích hợp dọc và tích hợp ngang trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng, chứ không đề cập đến tích hợp mở rộng
Trang 15c Mối quan hệ giữa tích hợp và tích cực
- Quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau
Tích hợp - một đặc điểm về nội dung và tích cực - một đặc điểm về phương pháp trong dạy học SGK Ngữ văn có mối liên hệ mật thiết với nhau Bởi
lẽ, bất kỳ một nội dung dạy học nào cũng phải được cụ thể hoá bằng một phương pháp cụ thể Ngược lại phương pháp dạy học chính là cách thức để học sinh lĩnh hội tri thức Từ đó, có thể thấy quan hệ giữa tích hợp và tích cực là mối quan hệ biện chứng, bổ sung tác động lẫn nhau
- Tích hợp để tích cực
Dạy học Ngữ văn theo hướng tích cực thực ra cũng là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của häc sinh Bằng cách tích hợp, học sinh được rèn luyện thói quen tư duy nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và logic Qua
đó học sinh cũng thấy được mối liên hệ biện chứng giữa các kiến thức đã được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lý thuyết và các kỹ năng thực hành, đưa được những kiến thức về Văn, Tiếng Việt vào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả
Tích hợp cũng tạo điều kiện để giáo viên đổi mới phuơng pháp dạy học xoá bỏ dần thói quen dập khuôn máy móc, dựa dẫm thụ động vào SGK, SGV và các tài liệu hướng dẫn, tham khảo Trên cơ sở đó, giáo viên được quyền phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình khi trả lời câu hỏi: Tích hợp ở chỗ nào? Tích hợp ở điểm nào? Tích hợp như thế nào trong mỗi bài dạy?
- Tích cực để tích hợp
Để tích hợp có hiệu quả đòi hỏi học sinh phải tích cực suy nghĩ tìm tòi để phát hiện mối liên hệ giữa các kiến thức được học, kết nối các tri thức đó với nhau để nhằm bổ sung, làm sáng tỏ bài học và vận dụng tốt các kỹ năng
Trang 16Trong khi sử dụng tích hợp, giáo viên cũng có thể sử dụng các hình thức dạy học tích cực để bài học đạt kết quả cao Việc thực hiện tích hợp không hạn chế cũng không ảnh hưởng đến việc vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học Ngữ văn Trái lại, tích hợp còn có thể góp phần làm cho việc sử dụng các hình thức dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao hơn đối với người học
Tuy có mối liên hệ mật thiết, bổ sung hỗ trợ cho nhau song tích hợp và tích cực cũng có tính độc lập tương đối Tích hợp để kết nối kiến thức một cách
hệ thống, logic Tích cực là phương hướng tìm tòi những cách thức hiệu quả nhanh nhất để người học tiếp nhận những kiến thức đã được tích hợp Do vậy, tích hợp chi phối nội dung giảng dạy, tích cực chi phối hình thức giảng dạy là
chính Nói cách khác, hai định hướng "tích hợp" và "tích cực" có mối liên hệ mật
thiết nhưng vẫn có tính độc lập tương đối
1.1.2.2 Tích hợp trong xây dựng chương trình Ngữ văn THPT
a Trục tích hợp của chương trình Ngữ văn THPT
Ở bậc THPT mục tiêu trực tiếp và chủ yếu của môn Ngữ văn là hình hành
và rèn luyện cho các em năng lực đọc hiểu và tạo lập các loại văn bản Vì vậy
mà chương trình được xây dựng theo hai trục chính là: Đọc văn và làm văn Tuy
nhiên, cần xác định rằng đấy không phải là hai phần Văn học và Làm văn mà là
hai hoạt động chính cần hình thành và rèn luyện cho học sinh trong quá trình học môn Ngữ văn Tất cả những tri thức của ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm
văn được tích hợp ở hai trục này Khi đọc văn cũng phải trang bị những kiến thức về Tiếng Việt và Làm văn Có hiểu được nghĩa của từ ngữ, cách tiến hành một bài viết thì học sinh mới đọc văn tốt Mặt khác, học sinh cũng cần nắm thêm những tri thức kỹ năng khác để việc đọc văn đạt hiệu quả cao hơn Đối với trục làm văn các tri thức về Tiếng Việt như từ, câu và các tri thức về văn hoá nghệ
Trang 17thuật khác cũng đều được trang bị để tạo lập văn bản
Như thế, có thể thấy rằng các tri thức văn học, ngôn ngữ văn hoá lịch sử cũng sẽ trở thành những tri thức chung như các tri thức công cụ giúp các em giải
mã và tạo lập văn bản Nó cũng có nghĩa là dạy văn thực chất là dạy cách đọc, cách giải mã văn bản Thông qua văn bản tác phẩm giúp các em thấy được cái hay cái đẹp cái cụ thể độc đáo của văn bản Mặt khác, hình thành và rèn luyện cho các em cách thức khám phá, cách đọc hiểu một văn bản tác phẩm cụ thể
Trong môn Ngữ văn, phần Tiếng Việt là tri thức công cụ cho đọc văn vừa phục vụ cho làm văn Bởi thế, nó không chỉ cung cấp tri thức về tiếng Việt, phong cách, thi luật mà còn có nhiệm vụ làm giàu vốn ngôn từ và rèn luyện cho các em kỹ năng tạo lập văn bản Trong trục đọc văn, còn tích hợp với những tri thức của lí luận văn học, lịch sử văn học và văn hoá dân tộc Trong trục làm văn, còn tích hợp với kỹ năng tạo lập văn bản, kỹ năng tư duy logic, năng lực quan sát, phân tích liên tưởng … và các tri thức của thực tiễn cuộc sống Có thể nói, tích hợp trong môn Ngữ văn THPT khá phong phú và toàn diện
Nói tóm lại, tích hợp là một quan điểm đã và đang được sử dụng một cách triệt để nhằm tạo ra sự hỗ trợ giữa các phân môn để đáp ứng được mục tiêu dạy học cụ thể của môn học
b Kết cấu của chương trình Ngữ văn THPT
Chương trình Ngữ văn THPT được xây dựng theo hai trục tích hợp đọc văn và làm văn Vì thế, nó đòi hỏi phải thay đổi kết cấu chương trình Cụ thể là phải dùng nguyên tắc hàng ngang và nguyên tắc đồng tâm để sắp xếp nội dung chương trình
Theo nguyên tắc hàng ngang, khi dạy một kiểu văn bản (tức là dạy kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết về văn bản đó) thì ở các bộ phận cần lựa chọn nội dung
Trang 18và sắp xếp nội dung sao cho thích ứng với kiểu văn bản đó Các nội dung làm văn tự sự, thuyết minh hay nghị luận cũng như các kiến thức về văn bản phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ nghệ thuật, khoa học đều được kết cấu thích ứng với sự sắp xếp các văn bản của từng lớp học
Ví dụ: Phần Làm văn tự sự được sắp xếp song song với việc học các văn bản truyền thuyết, truyện cổ tích hay truyện cười Hay phần thực hành các biện pháp tu từ được sắp xếp đi với các văn bản ca dao, các tác phẩm văn học trung đại hay hiện đại có giá trị nghệ thuật cao
Theo nguyên tắc đồng tâm chương trình được sắp xếp sao cho các kiến
thức kỹ năng ở bậc sau phải bao hàm các kiến thức kỹ năng ở bậc trước và nâng cao hơn Đồng tâm có nghĩa là không học lại những kiến thức đã được học ở lớp dưới mà mở rộng nâng cao khắc sâu thêm kiến thức ấy trên cơ sở nền tảng kiến thức các em đã học
Ví dụ: Phần Tiếng Việt không dạy lại các tri thức mà các em đã được học trong chương trình THCS lên đến bậc THPT chỉ ôn luyện kiến thức qua các bài thực hành Phần Làm văn tiếp tục mở rộng hơn kiến thức kỹ năng các kiểu văn bản, những tri thức về thể loại tự sự nghị luËn, thuyết minh đã được học ở THCS thì đến bậc THPT không được học lại nữa mà nâng cao bằng kỹ năng quan sát liên tưởng chọn sự việc chi tiết tiêu biểu và học thêm các phương pháp thuyết minh
1.1.2.3 Định hướng dạy học Ngữ văn THPT theo quan điểm tích hợp
Chương trình Ngữ văn THPT được xây dựng theo nguyên tắc "lấy quan
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình biên soạn SGK và lựa chän phương pháp giảng dạy" Ba phân môn trước đây được tách
biệt riêng rẽ là Văn, Tiếng Việt, Làm văn, thì nay chúng được sắp xếp thành một
Trang 19môn học gọi tên là môn Ngữ văn Sự thay đổi của chương trình SGK theo quan điểm tích hợp dẫn đến sự lựa chọn phương pháp dạy học phải thấm nhuần quan điểm trên Sau đây là một số định hướng khái quát về mặt phương pháp dạy Ngữ văn theo quan điểm tích hợp
a Đối với giờ đọc hiểu văn bản
Tinh thần của quan điểm tích hợp trong quá trình tổ chức dạy học từng phần của bộ môn Ngữ văn là người giáo viên phải chú ý khai thác các tri thức kỹ năng hỗ trợ Trong giờ văn, giáo viên phải hướng dẫn học sinh khai thác tối đa các yếu tố ngôn ngữ, thấy được ý nghĩa vai trò của chúng trong việc biểu đạt nội dung tác phẩm văn học Khi giáo viên chú trọng việc yêu cầu học sinh đọc kỹ văn bản và chú thích nội dung văn bản (trong đó có giải nghĩa những từ khó) nghĩa là qua đọc hiểu văn bản mà dạy cả các tri thức về vốn từ tiếng Việt Trong khi đọc hiểu học sinh phải hiểu nghĩa câu chữ thì mới nhận thấy cái hay cái đẹp
ẩn chứa trong tác phẩm văn học
Mỗi tác phẩm văn học là một văn bản nghệ thuật ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, chủ đề, tư tưởng của các tác phẩm được thể hiện bằng hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù Như vậy tiếng Việt sẽ trở thành công cụ để nhà văn xây dựng nên tác phẩm văn học Đó cũng chính là sự thống nhất biện chứng giữa Tiếng Việt và Văn mà mỗi giáo viên khi dạy văn phải chú ý tới
Một điểm cần thấy trong sự tích hợp giữa Tiếng Việt và Văn học qua trình bày mục chú giải từ ngữ sau mỗi văn bản Điều này giúp các em có kiến thức về nghĩa của từ Vì mục đích của phần chú giải là giúp học sinh xác định nghĩa văn cảnh, nhận biết sắc thái và khuynh hướng chuyển nghĩa Do đó, khi dạy Văn giáo viên không thể bỏ qua phần này Đây sẽ là điều kiện để giáo viên tích hợp Văn với Tiếng Việt
Trang 20Trong giờ Văn, song song với việc giỏo viờn hướng dẫn học sinh tỡm ra cỏc yếu tố ngụn ngữ tiếng Việt, cỏc biện phỏp tu từ thỡ người giỏo viờn cũn phải giỳp học sinh biết cỏch bỡnh giảng, phõn tớch tỏc phẩm Để từ đú học sinh khỏm phỏ vẻ đẹp của tỏc phẩm ẩn chứa sau lớp vỏ ngụn từ Đồng thời cựng với việc hướng dẫn học sinh phõn tớch bỡnh giảng giỏo viờn sẽ tạo cho học sinh biết cỏch thức phương phỏp tiếp cận tỏc phẩm văn học theo những đặc trưng thể loại Khi làm được những cụng việc như vậy trong giờ Văn là chỳng ta đó tớch hợp Văn với cỏc thao tỏc phõn tớch bỡnh giảng văn học trong giờ Làm văn Qua Văn, học sinh hiểu thờm được cỏch thức hành văn của từng thể loại, nắm được kết cấu thể loại văn bản đú Từ đú, học sinh cú thể thực hành viết đoạn văn, làm văn bằng việc cho cỏc em làm bài tập về nhà trong phần hướng dẫn học bài Đồng thời Văn sẽ cung cấp vốn sống, vốn văn húa cho học sinh Những hiểu biết ấy sẽ được học sinh ứng dụng vào viết những bài viết về nghị luận văn bản văn học
b Đối với giờ Tiếng Việt
Nguyờn tắc tớch hợp trong giờ Tiếng Việt thể hiện ở chỗ cung cấp những tri thức về một đơn vị ngụn ngữ nào đú Người giỏo viờn luụn hướng dẫn học sinh liờn hệ với tỏc phẩm đó và đang học, đặt đơn vị đú, trong văn bản tỏc phẩm
cụ thể vận dụng một cỏch thành thạo để hiểu đỳng, núi đỳng và viết đỳng Khi học sinh phõn tớch những từ ngữ, hỡnh ảnh cú giỏ trị trong tỏc phẩm văn học nghĩa là học sinh đó sử dụng kiến thức Tiếng Việt Học sinh biết hướng tới nội dung tư tưởng, chủ đề của tỏc phẩm và biết nhận xột bỡnh giỏ về vấn đề đề cập là
đó sử dụng kiến thức của văn học Tiếng Việt dựng cỏc văn bản nghệ thuật của văn học để khỏm phỏ cỏc giỏ trị ngụn ngữ được sử dụng và ngược lại dạy học Tiếng Việt giỳp học sinh cảm thụ được vẻ đẹp của cỏc tỏc phẩm văn học Như vậy, khi phõn tớch từ ngữ hỡnh ảnh tập trung thể hiện chủ đề nội dung tỏc phẩm
Trang 21chúng ta đã hiểu và cảm thụ tốt hơn tác phẩm văn học
Mặt khác, những tri thức của Tiếng Việt còn được dùng để tích hợp với Làm văn Giáo viên cần chú ý giúp học sinh vận dụng những tri thức kỹ năng của Tiếng Việt vào tạo lập văn bản Tuy nhiên, để việc phối hợp đó đạt hiệu quả cao thì nó phải không gò ép Ví dụ: Những kiến thức về đặc điểm ngôn ngữ nói
và viết có thể giúp hướng đến xác định văn bản sao cho cách dùng từ đặt câu, cú pháp đạt đến chuẩn khi tạo lập các văn bản làm văn
Như vậy, trong mỗi giờ dạy việc tích hợp các kiến thức trong các bộ môn được thể hiện qua nhiều hình thức Phần Tiếng Việt được tích hợp với Văn và Làm văn qua quá trình giải mã và tạo lập văn bản
c Đối với giờ Làm văn
Bản chất của giờ Làm văn là dạy cho học sinh cách thức để tạo ra văn bản
Để làm được điều đó, học sinh phải có những tri thức về từ, câu và có những kỹ năng trong việc đặt câu, viết đoạn để tạo thành một văn bản hoàn chỉnh
Tích hợp giữa Làm văn với Tiếng Việt và Văn học dựa trên những cơ sở sau:
Văn bản sẽ cung cấp cho Làm văn những kiến thức về đặc trưng thể loại như tự sự, miêu tả biểu cảm những kiến thức phần Văn cung cấp sẽ giúp học sinh tạo ra những kiểu văn bản đúng thể loại Đây là cơ sở để tích hợp Làm văn với đọc hiểu văn bản
Những kiến thức của Tiếng Việt như câu, đặc điểm ngôn ngữ nói và viết
sẽ tạo điều kiện cho học sinh viết câu, dựng đoạn và sử dụng đúng đặc điểm ngôn ngữ khi tạo lập văn bản Đây là cơ sơ để tích hợp Làm văn với Tiếng Việt
Khi đã xác định được cơ sở tích hợp giáo viên phải chủ động xây dựng nội dung tích hợp Cụ thể:
Trang 22Tích hợp với Văn ví dụ: Khi học bài: "Tóm tắt văn bản tự sự" thì học sinh phải đọc lại một số văn bản như: "Tấm Cám, An Dương Vương và Mị Châu
Trọng Thuỷ" nắm được đặc trưng thể loại của những tác phẩm này thuộc tự sự
hay miêu tả thì học sinh mới tóm tắt được tác phẩm
Tích hợp với Tiếng ví dụ: Khi học "Đặc điểm ngôn ngữ nói và viết" và học
về "Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt" sẽ giúp học sinh sử dụng đúng đặc điểm và
phong cách ngôn ngữ trong viết bài văn cho phù hợp với thể loại
Như vậy, nguyên tắc tích hợp được phối hợp tổ chức trong xây dùng chương trình Ngữ văn, việc giảng dạy phải liên kết, hỗ trợ nhau giữa các phân môn Để từ đó học sinh có những kiến thức tổng hợp trong việc giải quyết tốt hai hoạt động đọc văn và làm văn
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Từ những cơ sở đã trình bày trên chúng tôi tiến hành kiểm tra trên cơ sở thực tiễn thông qua quá trình giảng dạy của giáo viên và sự nhận thức của học sinh
1.2.1 Điều tra thăm dò dự giờ giáo viên
Chương trình SGK Ngữ văn THPT được xây dựng có sự đổi mới về nội dung dựa trên quan điểm tích hợp Đây là điểm mới quan trọng nhất mà hầu hết tất cả các giáo viên đều nắm được Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm đó như thế nào trong dạy học Ngữ văn nói chung và phần Tiếng Việt nói riêng lại là vấn
đề đáng bàn bạc
Để giải quyết vấn đề nêu trên, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát thăm dò ý kiến các giáo viên giảng dạy Ngữ văn và trực tiếp dự giờ của họ Cụ thể như sau:
Trang 231.2.1.1 Phát phiếu thăm dò ý kiến giáo viên
Trong hoạt động dạy học, giáo viên là người có vai trò quan trọng Họ là người đầu tiên được tiếp nhận sự thay đổi của sách cũng như định hướng của phương pháp mới Bởi vậy, chúng tôi đã tiến hành điều tra về phía giáo viên xung quanh vấn đề đổi mới phương pháp và sự quán triệt quan điểm tích hợp vào
dạy bài tiếng việt cụ thể là bài: “Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ” trong
Câu 2: Trong quá trình soạn giáo án giảng dạy bài: “Thực hành phép tu từ
ẩn dụ và hoán dụ” theo quan điểm tích hợp đồng chí thấy:
Câu 3: Bài: “Thực hành các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ” trong chương
trình Ngữ văn 10 được đồng chí tích hợp với phần Văn và Làm văn như thế nào?
Câu 4: Theo đồng chí ưu điểm và nhược điểm của việc dạy học theo quan điểm tích hợp là gì?
Nhận xét kết quả điều tra:
Qua thống kê chúng tôi nhận thấy
Câu 1: Với câu hỏi này chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời nhưng tổng
Trang 24hợp lại chúng tôi nhận thấy đa số đều nhất trí với ý kiến của GS Nguyễn Khắc
Phi tức là “"Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp tri thức một cách tối
ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích yêu cầu cụ thể khác nhau"
Câu 2: Chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời tổng hợp chung những ý
kiến của giáo viên là:
Thuận lợi:
- Bài giảng sinh động bớt khô khan nhàm chán, huy động được nhiều kiến thức về ca dao, thơ ca có chứa những hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ của học sinh
- Giáo viên chủ động trong soạn giáo án và giảng bài
- Có điều kiện hệ thống lại kiến thức cũ về ẩn dụ và hoán dụ đồng thời bổ sung thêm những kiến thức bên ngoài và liên hệ áp dụng ẩn dụ và hoán dụ vào thực tiễn
Khó khăn:
- Mất nhiều thời gian trong soạn bài và giảng dạy vì phải đặt nhiều câu hỏi Nếu học sinh không nắm được kiến thức cũ về ẩn dụ và hoán dụ thì lại phải tổng hợp những kiến thức đó
Câu 3: Đa số các giáo viên đều trả lời việc tích hợp với Văn và Làm văn
khi dạy bài: “Thực hành các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ” như sau:
Tích hợp với Văn
- Thông qua những tác phẩm văn đã được học trước đó như những bài ca dao có chứa những hình ảnh ẩn dụ trong chùm bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa, các tác phẩm văn học trung đại…
- Thông qua những câu hỏi ở phần hướng dẫn học bài sau những văn bản tác phẩm
Trang 25Tích hợp với Làm văn
- Thông qua việc học sinh viết đoạn văn theo sự gợi ý của giáo viên
- Tích hợp thông qua những bài viết trước đó của học sinh để sửa những lỗi về dùng từ, đặt câu, phong cách…
Câu 4: Đa số giáo viên trả lời ưu điểm của dạy học theo quan điểm tích
hợp là:
- Rút gọn được thời lượng trình bày tri thức môn học
- Giúp học sinh vận dụng được những tri thức ấy vào thực tiễn cuộc sống
và các môn học khác
- Góp phần rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh
Nhận xét: Qua khảo sát trên chúng tôi thấy rằng đa số các giáo viên đã nắm được những kiến thức lý thuyết về quan điểm tích hợp Tuy nhiên, họ có đem được những hiểu biết này vào quá trình giảng dạy hay không mới là điều đáng bàn bạc Để việc điều tra có tính khách quan cao, chúng tôi đã tiến hành dự giờ của giáo viên
1.2.1.2 Dự giờ giáo viên
Trước khi đi thực tập, chúng tôi đã liên hệ với trường THPT Mỹ Lộc -
Nam Định và đã tiến hành dự giờ bài: "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ"
của giáo viên
Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy chỉ một số giáo viên có tâm huyết với nghề và có năng lực thực sự mới có khả năng áp dụng quan điểm tích hợp trong bài dạy của mình Những giáo viên này đã có ý thức trong việc soạn câu hỏi có nội dung mang định hướng tích hợp nên kết quả học sinh hiểu bài và có kiến thức tổng hợp Còn đa phần giáo viên chưa biết áp dụng quan điểm tích hợp trong khi giảng dạy Giáo viên chỉ đơn thuần gọi học sinh lên làm bài tập sau đó
Trang 26chữa bài Điều này khiến bài học khô khan, không tạo nên được kết quả tổng hợp cho học sinh
Như vậy, giữa lý thuyết mà giáo viên trả lời với thực tế giảng dạy có độ vênh rất lớn Quan điểm tích hợp chưa thực sự được họ áp dụng trong tiết dạy của mình Giáo viên chỉ đơn thuần dạy theo những gì đã có trong SGK giáo viên chưa mở rộng kiến thức tích hợp với phần Văn và Tiếng Việt Vì vậy, học sinh chưa có cái nhìn liên môn với hai phần còn lại
Qua việc điều tra khảo sát quá trình dạy trên lớp, chúng tôi nhận thấy quán triệt quan điểm tích hợp vào dạy chương trình Ngữ văn 10 mới chỉ dừng lại
ở bên ngoài Sự tích hợp mới chỉ hời hợt chưa đúng tinh thần tích hợp mà ngành giáo dục đã đề ra
1.2.2 Điều tra - khảo sát đối tượng học sinh
Dạy học theo quan điểm tích hợp là lấy học sinh làm trung tâm, người thầy đóng vai trò điều khiển trong hoạt động dạy học để học sinh lĩnh hội tri thức phát huy được tính chủ động sáng tạo của mình Vì vậy, muốn biết giờ dạy có thành công hay không cần đánh giá trình độ nhận thức của học sinh sau bài học Vì lý
do đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên đối tượng học sinh để làm rõ vấn đề trên
1.2.2.1 Điều tra thái độ không khí học tập của học sinh
- Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 10 trường thpt Mỹ Lộc - Nam Định
- Chúng tôi tiến hành khảo sát về thái độ không khí học tập của học sinh trong quá trình dự giờ giáo viên
Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy, giờ học bài: "Thực hành phép tu từ ẩn dụ
và hoán dụ" nhìn chung có không khí hào hứng sôi nổi với những hình thức thảo
Trang 27luận, đố vui Học sinh tham gia nhiệt tình, tích cực Tuy nhiên, với những câu hỏi phân tích giá trị biểu đạt của phép tu từ học sinh tỏ ra lúng túng trong quá trình phân tích giáo viên mất nhiều thời gian gợi dẫn nên chưa có nhiều điều kiện
mở rộng kiến thức
Nhận thức rõ vấn đề trên của học sinh trong việc dạy học theo quan điểm tích hợp, chúng ta cần phát huy thế mạnh của các em đó là sự thông minh nhanh nhạy để dù ở vị trí nào, lĩnh vực nào cũng khẳng định được mình đáp ứng nhu cầu của thời đại
1.2.2.2 Điều tra khảo sát kết quả nhận thức của học sinh sau bài học
Sau khi tiến hành khảo sát thái độ không khí học tập của học sinh thông qua dự giờ của giáo viên, chúng tôi tiến hành điều tra trình độ nhận thức kết quả của học sinh sau tiết học Nhằm mục đích xem các em có hiểu bài không và vận dụng vào làm bài tập thế nào
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát kết quả của học sinh lớp 10A, 10B, 10D Trường THPT Mỹ Lộc- Nam Định Hình thức dưới dạng một bài kiểm tra đề bài như sau
ĐỀ KIỂM TRA
Câu 1: Em hãy nêu khái niệm phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ?
Câu 2: Em hãy nhận diện và phân tích hiệu quả nghệ thuật của các biện
pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ trong những câu thơ sau:
"Thân em như miếng cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày"
"Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
Trang 28Câu 3: Em hãy viết đoạn văn kể về một chuyến đi thăm quê ngoại của
mình trong đó có dùng các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
Nhận xét kết quả Sau khi học sinh làm bài kiểm tra chúng tôi nhận thấy:
Câu 1: Học sinh chưa nêu được khái niệm về ẩn dụ và hoán dụ một cách
hoàn chỉnh Nhiều em chưa thật sự hiểu bản chất của hai phép tu từ này nên nhầm lẫn giữa ẩn dụ và hoán dụ
Câu 2: Một số học sinh có học lực khá đã nhận diện và phân tích được giá
trị của phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Tuy nhiên, đa phần học sinh còn lúng túng trong việc nhận diện ẩn dụ và hoán dụ Nhiều học sinh vì chưa nắm được đặc trưng thể loại nên chưa phân tích được hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ một cách thấu đáo và sâu sắc
Câu 3: Đã có những học sinh tạo ra được ẩn dụ và hoán dụ Song số đó
không nhiều đa phần học sinh chưa biết cách tạo lập ẩn dụ và hoán dụ Các em chưa nắm được đặc trưng thể loại nên bài viết chưa đạt kết quả cao Nhiều học sinh còn mắc lỗi diễn đạt
Với thực tiễn điều tra bài viết từ phía học sinh, chúng tôi thấy quan điểm tích hợp đã quán triệt trong học tập của học sinh Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế khi áp dông chương trình mới Nhưng dần dần với sự định hướng và tìm tòi đổi mới chắc chắn mỗi giờ học Tiếng Việt sẽ thực sự lí thú và bổ ích khi được tích hợp với nhiều kiến thức và kỹ năng khác nhau
1.2.3 Khảo sát tần số xuất hiện của ẩn dụ và hoán dụ trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của phần Văn SGK Ngữ văn 10 - tập 1
Chương trình Tiếng Việt THPT hiện nay được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm Vì vậy, bài học về phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ không phải là bài học
Trang 29mới Bài học này, các em đã được học những kiến thức lý thuyết (về khái niệm, các dạng biểu hiện của ẩn dụ và hoán dụ) ở lớp 6 Trong chương trình THCS, các em được học khá nhiều các phép tu từ như nhân hoá, chơi chữ, so sánh Nhưng lên đến THPT, các em chỉ thực hành củng cố nâng cao một số các biện pháp tu từ trong đó có biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ Sở dĩ hai biện pháp
tu từ này n»m trong số những biện pháp tu từ được củng cố, rèn luyện và nâng cao, bởi nó xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn chương học trong ch¬ng trình Ngữ văn THPT Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ khảo sát tần số xuất hiện của ẩn dụ và hoán dụ trong SGK Ngữ văn 10- tập 1 thông qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của phần Văn
+ Ví dụ 1: Văn bản "An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ" là
truyện truyền thuyết lịch sử với các nhân vật lịch sử Truyện dân gian này chứa đựng những dụng ý nghệ thật mà dân gian rút ra và truyền lại cho đời sau: Bài học lịch sử về ý thức đề cao canh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược Những câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài giúp học sinh đọc hiểu tác phẩm tốt hơn Ví
dụ: Câu 4/43/SGK Ngữ văn 10 - tập 1: " Trọng Thuỷ gây nên sự sụp đổ cơ đồ
Âu Lạc và cái chết của Mị Châu Vậy anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh “ ngọc trai - giếng nước”?"
+Ví dụ 2: Văn bản "Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa" là những
tiếng nói dân gian bình dị gần gũi với người dân lao động Người bình dân gửi gắm vào đó những tâm tư tình cảm của mình Và thể hiện những cung bậc tình cảm qua việc sử dụng hệ thống những hình ảnh ẩn dụ Để giúp học sinh đọc hiểu
tốt ca dao SGK đưa ra những câu hỏi sau: Câu 1b/84/SGK Ngữ văn 10 - tập 1:
"Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng
được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau Anh (chị) cảm
Trang 30nhận được gì qua mỗi hình ảnh?"
Câu 5/84/SGK Ngữ văn 10 - tập 1: "Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người ca dao lại dùng những hình ảnh muối gừng ? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm của hình ảnh này trong ca dao và t×m thêm một số câu khác có hình ảnh muối và gừng để minh hoạ?"
+ Ví dụ 3: "Ôn tập văn học dân gian Việt Nam" là bài củng cố hệ thống
các kiến thức về văn học dân gian đã được học: Kiến thức chung, kiến thức về thể loại, tác phẩm Tác giả biên soạn SGK đã có câu hỏi có những câu hỏi giúp
học sinh định hình nội dung kiến thức như: Câu 5b/102/SGK Ngữ văn 10-tập1 :
"Thống kê những hình ảnh ẩn dụ trong những bài ca dao đã học và cho biết
người bình dân đã lấy những hình ảnh đó từ đâu ? (giải thích lí do và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng)"
+ Ví dụ 4: Văn bản "Cáo bệnh, bảo mọi người" là tác phẩm văn học trung
đại chứa đựng hai nội dung chủ yếu có liên quan: nội dung triết lí đạo phật và ý nghĩ nhân sinh toát lên từ tác phẩm Phần hướng dẫn học bài đã định hướng cách
tiếp cận của học sinh thông qua một số câu hỏi.Câu 3/141/SGK Ngữ văn 10 - tập 1:
"Hai câu của bài thơ không miêu tả thiên nhiên, 2 câu đầu khẳng định “ xuân
qua trăm hoa rụng” Vậy mà hai câu cuối lại nói “xuân tàn vẫn nở cành mai” Như thế có mâu thuẫn không? Vì sao? Cảm nhận của anh (chị ) về hình tượng cành mai trong câu thơ thế nào?"
+ Ví dụ 5: Văn bản "Nỗi oán của người khuê phòng " là đoạn trích tố cáo
chiến tranh phi nghĩa và sự chờ đợi mỏi mòn của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến Để giúp học sinh hiểu được tâm trạng của người chinh phụ SGK đã
dẫn một số câu hỏi Ví dụ: Câu 2/162/SGK Ngữ văn 10 - tập 1: "Vì sao thấy
màu dương liễu nàng lại thấy hối hận vì để chồng đi kiếm tước hầu?"
Trang 31Qua khảo sát, chúng tôi thấy tần số xuất hiện của ẩn dụ và hoán dụ trong
hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của phần Văn chiếm số lượng tương đối nhiều Nó cho thấy ẩn dụ và hoán dụ có vai trò rất quan trọng để tạo ra dụng ý nghệ thuật Đây là điều kiện để giáo viên tích hợp ngang với đọc hiểu văn bản Điều này là cơ sở khiến hai biện pháp tu từ này được thực hành củng cố trong chương trình Tiếng Việt THPT
1.2.4 Khảo sát mối quan hệ của nội dung dạy học Làm văn với bài "Thực
hành phép tu tư ẩn dụ và hoán dụ"
Trước bài "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ" Làm văn có bài học:
"Miêu tả biểu cảm trong văn tự sự" Bài học này có mối quan hệ mật thiết với
bài "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ" Trong bài này, có mục II: Quan
sát, liên tưởng, tưởng tượng đối với việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự Với phần này, kết quả cuối cùng của liên tưởng và tưởng tượng là tạo ra những biện pháp tu từ trong đó có ẩn dụ và hoán dụ Có như vậy người kể chuyện mới bộc lộ cảm xúc, tình cảm của mình trong quá trình kể chuyện Đây chính là điều kiện để tích hợp Làm văn với Tiếng Việt
1.2.5 Kết luận
Qua hai phần khảo sát, dự giờ giáo viên cũng như điều tra khả năng vận dụng kiến thức Tiếng Việt của học sinh vào làm đề kiểm tra có thể thấy rằng quan điểm tích hợp trong dạy học phần Tiếng Việt đã được áp dụng Đây chính
là cơ sở để những người thực hiện chương trình xem xét đánh gi¸ để đưa ra những định hướng khi áp dụng quan điểm này Người giáo viên khi giảng dạy theo quan điểm tích hợp sẽ tổng hợp được nhiều kiến thức và giảng dạy khoa học hơn Với học sinh khi học tập theo nội dung dạy học tích hợp các em sẽ có kiến thức, kỹ năng tư duy tổng hợp và trở thành người năng động sáng tạo trong nhiều
Trang 32lĩnh vực
Như vậy, quan điểm tích hợp khi áp dụng vào bộ môn Ngữ văn nói chung
và phần Tiếng Việt nói riêng vừa đáp ứng được sự đổi mới về phương pháp dạy
học cho giáo viên, đảm bảo kiến thức cho học sinh góp phần “hướng người học
từ tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ tiềm năng sang khả năng hiện thực”
Và với tần số xuất hiện của ẩn dụ và hoán dụ trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của phần đọc hiểu văn bản và mối quan hệ giữa Làm văn với
bài: "Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ" như trên sẽ là cơ sở để giáo viên
tích hợp kiến thức của Tiếng với Văn và Làm văn đạt hiệu quả cao tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các phần tạo nên kết quả tổng hợp trong nhận thức của học sinh
Trang 33Chương 2
ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY BÀI: "THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ"
TRONG SGK NGỮ VĂN 10
2.1 Phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ dưới góc độ ngôn ngữ
2.1.1 Khái niệm “giá trị tu từ”
Trong giáo trình “Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt”, tác giả
Cù Đình Tú đã đưa ra định nghĩa về đặc điểm tu từ như sau:
“Đặc điểm tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần tin riêng mang tính chất bổ sung của hình thức biểu đạt cùng nghĩa Phần tin riêng này một mặt chỉ
rõ thái độ tình cảm đối với đối tượng được nói đến, một mặt chỉ rõ giá trị sử dụng trong phong cách chức năng ngôn ngữ của hình thức biểu đạt cùng nghĩa”
[16; tr15]
Cũng trong phần trình bày khái niệm, Cù Đình Tú đã giải thích: cùng chỉ phần nội dung bổ sung (phần tin riêng) người ta đã sử dông bốn thuật ngữ: đặc điểm tu từ, sắc thái tu từ, màu sắc tu từ và giá trị tu từ Tuy nhiên việc lựa chọn thuật ngữ nào trong cụm từ trên thường gắn liền với dụng ý thể hiện sự khác nhau chút ít về góc độ quan sát và khía cạnh nhấn mạnh, chẳng hạn muốn nhấn mạnh về hiệu quả sử dụng người ta dùng “giá trị tu từ”
Trong giáo trình: “Phong cách học Tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã
đưa ra định nghĩa về biện pháp tu từ như sau:
“Biện pháp tu từ được định nghĩa một cách khái quát nhất đó là sự phối
hợp sử dụng trong hoạt động giao tiếp các phương tiện ngôn ngữ (không kể trung hòa về nghĩa hay biểu cảm) nhằm tạo ra hiệu quả tu từ (tức là tác dụng gợi
Trang 34hình, gợi cảm, nhấn mạnh…) do sự tác động qua lại của các yếu tố ngôn ngữ trong một ngữ cảnh rộng Các biện pháp tu từ được chia thành biện pháp tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản.” [11; tr24] Trong khóa luận, chúng tôi sử dụng khái niệm này để triển khai nghiên cứu về phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ 2.1.2 Phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
2.1.2.1 Ẩn dụ
a Khái niệm
Trong giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc – NXB
GD, tác giả định nghĩa “Ẩn dụ tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa mà một từ, một
ngữ vốn dùng để chỉ đặc điểm trạng thái tính chất của đối tượng này chuyển sang biểu thị đối tượng khác trên cơ sở giữa hai đối tượng có quan hệ liên tưởng tương đồng” [11; tr244]
b Cơ chế tạo nên ẩn dụ
* Về hình thức: Ẩn dụ chỉ xuất hiện một vế (vế B) Còn vế A bị ẩn đi
Ví dụ:
“Lá xoè từng tia nắng Giống hệt như mặt trời
Tôi yêu thương vẫn gọi
Mặt trời xanh của tôi”
“Mặt trời” là một ẩn dụ Đó là vế B Cách nói này để chỉ hình ảnh lá cọ
* Cơ sở liên tưởng: Dựa trên quan hệ liên tưởng tương đồng
Ví dụ:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên núi
Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng”
“Mặt trời” là một ẩn dụ Đó là vế B Hình ảnh này để chỉ người con (vế A
Trang 35bị ẩn đi) Nếu mặt trời của tự nhiên mang lại ánh sáng cho muôn loài thì con
chính là mặt trời của mẹ mang lại tương lai hy vọng cho mẹ
c Các dạng thể hiện của ẩn dụ
c1. Ẩn dụ hình thức: Tức là hai đối tượng có điểm giống nhau về hình thức (hình
dáng, màu sắc)
Ví dụ:
“Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông”
"Lửa lựu" là một ẩn dụ Đó là vế B Ẩn dụ đó để chỉ hình ảnh của những bông hoa lựu đang nở (vế A bị ẩn đi) Giữa hai đối tượng này giống nhau về màu sắc đó là màu đỏ
c2. Ẩn dụ phẩm chất: Giữa A và B giống nhau về phẩm chất
Ví dụ:
“Người cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm”
"Người cha" là một ẩn dụ Đó là vế B Đây là ẩn dụ để chỉ Bác Hồ Hai đối tượng này giống nhau ở phẩm chất chu đáo, hiền từ, ân cần
c3. Ẩn dụ cách thức: Giữa A và B giống nhau về cách thức hành động hoặc
“Đan sàng” là một ẩn dụ Đó là vế B Đây là cách nói để chỉ sự đan kết
Trang 36hòa hợp lứa đôi Giữa chúng có sự tương đồng về trạng thái đan quyện vào nhau kết hợp với nhau
c 4. Ẩn dụ chức năng: Giữa A và B giống nhau về mặt chức năng
Ví dụ:
“Đây là con mắt phía tây của thành phố”
"con mắt" là một ẩn dụ Đó là vế B Cách nói này để chỉ trạm gađa Hai đối tượng này tương đồng nhau về chức năng quan sát, mục tiêu bảo vệ
c 5. Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Đó là sự chuyển đổi cảm giác này sang cảm giác
khác trong nhận thức cũng như trong tâm lý tình cảm thể hiện thông qua các phương tiện ngôn ngữ
c 6. Ẩn dụ tượng trưng: là loại ẩn dụ kết hợp một từ chỉ khả năng trừu tượng với
một từ chỉ sự vật cụ thể hoặc ngược lại
Ví dụ: “Lửa tình yêu”
“Lửa” là cái cụ thể kết hợp với tình yêu tạo thành ẩn dụ trừu tượng chỉ
sức nóng ấm, nhiệt huyết của tình yêu
d Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng
Cũng theo Đinh Trọng Lạc thì “Ẩn dụ từ vựng là những ẩn dụ được hình
thành một cách ổn định quen thuộc, nó trở thành những đơn vị ổn định trong kho
từ vựng tiếng Việt được mọi người thừa nhận Những ẩn dụ này do được sử dụng
nhiều nên tính hình tượng bị hao mòn"[11; tr245] Ví dụ “miệng bát, chân núi,
Trang 37+ Ẩn dụ từ vựng có tính chất cố định tồn tại trong kho từ vựng tiếng Việt
và được mọi người công nhận
- Về tính chất biểu cảm:
+Ẩn dụ tu từ mang tính hình tượng và có tính chất biểu cảm cao
+Ẩn dụ từ vựng do được sử dụng nhiều nên tính hình tượng bị hao mòn
- Ẩn dụ mang dấu ấn chủ quan thể hiện phong cách tác giả, chính là sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn nhà thơ
- Việc sử dụng ẩn dụ sẽ tạo ra cách nói bóng bẩy hàm súc, chứa đựng được nhiều dụng ý của người dùng
2.1.2.2 Hoán dụ
a Khái niệm
Theo Đinh Trọng Lạc trong giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” thì
“Hoán dụ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa mà một từ một ngữ vốn dùng để chỉ đối
Trang 38tượng này được chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa trên quan hệ liên tưởng tương cận (mối quan hệ gần gũi đi đôi với nhau trong thực tế khách quan)”. [11; tr244]
b Cơ chế tạo nên hoán dụ
* Hình thức thể hiện: chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ chỉ xuất
hiện vế B Người đọc phải liên tưởng để tìm ra vế A
Ví dụ:
“Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm sông hương mặc người”
“Áo rách” là một ẩn dụ Đó là vế B Cách nói này để chỉ người nghèo
“Áo gấm” là một ẩn dụ Đó là vế B Hoán dụ này để chỉ người giàu
* Cơ chế chuyển nghĩa dựa trên quan hệ liên tưởng tương cận Tức là quan
hệ gần gũi đi đôi với nhau trong thực tế khách quan
c Các dạng thể hiện của hoán dụ
c 1. Hoán dụ dùng dấu hiệu để biểu thị vật có dấu hiệu
Ví dụ:
“Tủ sắt ngai vàng quăng xuống đất
Công nông ta làm chủ đời ta”
“Tủ sắt, ngai vàng” là hình ảnh hoán dụ để chỉ triều đình phong kiến
c 2. Hoán dụ dùng bộ phận để chỉ toàn thể
Ví dụ:
“Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu
Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp”
“Bàn chân” là hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ hình ảnh con người
c 3 Hoán dụ dựa trên mối quan hệ động tác và kết quả của động tác
Ví dụ: “Vừa nói hắn vừa bịch vào ngực chị Dậu mấy bịch”
Trang 39“bịch” là là hoán dụ để chỉ hành động đấm Hành động này thể hiện sự tàn
nhẫn dã man của quan lại cường hào với những người dân nghèo mà điển hình là hình ảnh chị Dậu
c 4. Hoán dụ dùng vật chứa để chỉ vật bị chứa
Ví dụ:
“Cả nước cho em cho tất cả”
“cả nước” là hình ảnh hoán dụ để chỉ tất cả con người Việt Nam
c 5. Hoán dụ dùng số lượng xác định biểu thị số lượng không xác định
Hoán dụ được tạo nên từ mối quan hệ này được gọi là phép cải số
c 6. Hoán dụ trên cơ sở dùng tên riêng để biểu thị tên chung hoặc ngược lại
Hoán dụ được xây dựng từ mối liên hệ này được gọi là phép cải danh Trong đó
có các loại sau:
- Hoán dụ lấy tên riêng của một người làm tên chung của một thế hệ
Ví dụ:
“Những Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi”
“Thạch Sanh” là hoán dụ chỉ hình ảnh anh giải phóng quân
- Hoán dụ dùng tên riêng của người sáng tạo sản phẩm hoặc địa phương
để gọi tên cho sản phẩm
Ví dụ: “Chiếu Nga Sơn, Gạch Bát Tràng…”
- Hoán dụ lấy nghề nghiệp thứ bậc trong gia đình xã hội để gọi tên
Trang 40Ví dụ: ông Ba, anh Hai…
- Hoán dụ dùng y phục vật sở hữu, đặc điểm tính cách, đặc điểm hình dáng để gọi tên
Ví dụ:
“Những thằng cu áo đỏ chạy lom xom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ”
d Phân biệt hoán dụ tu từ và hoán dụ từ vựng
Cũng theo Đinh Trọng Lạc thì “Hoán dụ từ vựng là kết quả chuyển nghĩa
của từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt của dân tộc Chúng có tính chất chung, tính chất xã hội và trung hòa về sắc thái biểu cảm Được ghi trong từ điển tiếng Việt.” [11; tr245]
Giữa hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ khác nhau ở những mặt sau:
+ Hoán dụ từ vựng trung hòa về sắc thái biểu cảm
+ Hoán dụ tu từ không những có chức năng biểu hiện chức năng phản ánh
mà còn có chức năng biểu cảm
- Về phạm vi nghiên cứu
+ Hoán dụ từ vựng là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành từ vựng ngữ nghĩa học