SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8SKKN Phát huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
là nguồn lực con người Việt Nam, được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sỡ mặt bằng dân trí được nâng cao Để thực hiện yêu cầu trên của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, ngành GD bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, thì việc đẩy mạnh đổi mới PPDH trong hoạt động dạy học
là hết sức quan trọng
Chiến lược phát triển GD 2001 – 2020 ( ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ Tướng Chính Phủ), ở mục 5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp GD Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu thập thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của
HS, trong quá trình học tập ”
Đối với môn Địa lý cũng giống như các môn học khác việc đổi mới chương trình và SGK đã đòi hỏi PPDH cũng phải thay đổi cho phù hợp
Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên dạy học môn Địa Lý đã rất linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại kết hợp với các phương pháp truyền thống cho phù hợp với từng bài Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều giáo viên chỉ máy móc áp dụng các phương pháp truyền thống như: phương pháp giảng giải, phương pháp thuyết trình, phương pháp bản đồ Vì vậy, trong quá trình giảng dạy Địa lí vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: học sinh nắm kiến thức không vững, dễ quên, “học vẹt”, thể hiện qua khâu kiểm tra, học sinh chỉ sao
Trang 2chụp SGK ghi chép và trả lời, nhiều khi kiến thức sai dẫn đến không phát triển được tư duy
Sở dĩ còn tồn tại trên là do trong quá trình giảng dạy, giáo viên chỉ chú ý trình bày về kiến thức mà chưa kết hợp với việc giúp học sinh tìm ra phương pháp phát triển tư duy Từ đó, học sinh nắm được bản chất của sự vật hiện tượng địa lý nhằm nâng cao chất lượng dạy và học địa lý ở trường phổ thông
Bằng một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đã xây dựng đề tài “Phát
huy tính tích cực tự giác học tập của HS bằng phương pháp lập bảng trong môn Địa Lý 8” nhằm đóng góp một ý kiến nhỏ trong công cuộc đổi mới nâng
cao chất lượng GD hiện nay
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
1 Mục đích nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp lập bảng trong một số bài học ở môn Địa Lý 8 nhằm phát huy tính tích cực tự giác của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý
2 Nhiệm vụ của đề tài:
- Xác định được vấn đề nội dung để lập bảng trong từng mục, từng bài, từng chương
- Việc tiến hành lập bảng được tiến hành như thế nào đối với những nội dung đó
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Học sinh lớp 8
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Là đem đối tượng nghiên cứu và xem xét chúng trong một hệ thống hoàn chỉnh gồm những yếu tố có liên quan đến nhau theo một cấu trúc chặt chẽ
- Phương pháp phân loại: Là tập hợp tất cả các đối tượng và hiện tượng cần nghiên cứu
2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 3- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học của giáo viên và học sinh trên lớp
- Phương pháp điều tra: Điều tra giáo viên và học sinh đọc tài liệu có liên quan
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Được rút ra từ khả năng dạy và học của hoc sinh và giáo viên Tham khảo ý kiến đồng nghiệp
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành thực nghiệm trong qua trình giảng dạy ở trường để kiểm tra tính khả thi của sáng kiến
PHẦN II: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở lý luận:
1 1 Đối với việc giảng dạy của giáo viên
Trong quá trình giảng dạy môn Địa lý việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp là rất cần thiết nhằm giúp HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tùy thuộc vào mỗi nội dung bài học mà GV có thể đưa ra nhiều phương pháp khác nhau kể
cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, trong đó phương pháp dùng hình thức lập bảng là rất cần thiết nhằm tạo cho học sinh tính tự giác, tích cực trong học tập
Ví dụ: Khi dạy bài 2: Khí hậu Châu Á GV có thể sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau như phương pháp đàm thoại, gợi mỡ để giúp HS tìm ra đặc điểm chung về khí hậu Châu Á nhưng đến mục 2, GV có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm bằng hình thức lập bảng:
Đặc điểm
Kiểu khí hậu
Khí hậu gió
mùa
Khí hậu lục địa
GV có thể chia nhóm HS hay có thể tự mỗi cá nhân hoàn thành bảng, sau
đó có thể gọi đại diện nhóm hay cá nhân trình bày, như vậy sẽ bắt buộc tất cả
Trang 4HS đều phải tích cực làm việc để tự hoàn thành bảng, thông qua kết quả làm việc của HS, giáo viên sẽ kiểm tra đánh giá được thái độ hợp tác cũng như năng lực tự học của mỗi học sinh
Như vậy việc sử dụng sáng tạo linh hoạt các PPDH trong mỗi bài giảng là rất cần thiết nhằm tìm mọi cách để giúp HS tích cực tự giác lĩnh hội kiến thức
Để làm được điều này mỗi người GV phải không ngừng học hỏi tìm tòi các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học
1.2 Đối với việc học tập của học sinh.
Việc hoàn thành bảng sẽ tạo cho HS tính tự giác tích cực chủ động tìm hiểu kiến thức tránh sự thụ động trong quá trình học tập
Thông qua việc lập bảng so sánh giúp học sinh thấy được sự khác nhau rõ rệt trong tự nhiên và trong hoạt động kinh tế của con người ở trong các lãnh thổ khác nhau
Lập bảng hầu như là so sánh các sự vật hiện tượng nên thông qua đó góp phần phát triển tư duy của học sinh, vì để so sánh học sinh cần hình thành một loạt các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra các dấu hiệu cơ bản trong các đối tượng và hiện tượng tự nhiên
Các khái niệm, sự vật hiện tượng chỉ sống trong trí nhớ của học sinh nếu chúng được trình bày không phải một cách cô lập, đơn lẻ mà phải có sự liên kết logic với những vấn đề đã được học trước đó, hình thức lập bảng là sự tổng hợp đặc điểm, tính chất và mối quan hệ các sự vật hiện tượng nên học sinh sẽ nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng thông qua sự so sánh giữa sự vật này với sự vật khác
Việc sử dụng phương pháp lập bảng trong dạy và học địa lý còn giúp cho học sinh ghi nhớ sự kiện một cách tự nhiên, không gượng ép, máy móc Trái lại còn phát triển tư duy của học sinh, giúp học sinh học bài dễ nhớ, dễ thuộc, có sự liên hệ bổ sung kiến thức từ bài trước với bài sau
Tóm lại, trong quá trình dạy học Địa Lý việc sử dụng phương pháp lập bảng
là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa Lý ở trường THCS
Trang 51 3 Cơ sở tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh THCS.
Ở lứa tuổi 14 - 15 học sinh bước đầu có khả năng nhận thức vấn đề một cách độc lập, có quan điểm riêng Tuy nhiên, tư duy của các em chưa thật sắc bén, thiếu tính chất tổng hợp, song có những em thông minh, phát triển tư duy trừu tượng, các em có thể giải thích được hiện tượng tự nhiên, xã hội dựa trên cơ
sở kiến thức đã được học
Trong chương trình lớp 6, 7 các em đã được làm quen với các khái niệm, các hiện tượng địa lý chung về khoa học Trái Đất, các vấn đề kinh tế – xã hội của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đó là những vấn đề chung của Địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội đại cương
Chương trình Địa lý lớp 8 lại có đặc thù riêng, nó đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Châu á, đặc điểm tự nhiên của Việt Nam nói chung và từng khu vực nói riêng Với đặc thù về nội dung như vậy, yêu cầu học sinh phải có sự tổng hợp lập bảng so sánh, liên hệ các sự vật, hiện tượng của khu vực này với khu vực khác, của vùng này với vùng khác Nói cách khác, chương trình Địa Lý 8 yêu cầu các con bước đầu phát huy tính độc lập, sáng tạo
và phát triển tư duy tổng hợp
2 Cơ sở thực tiễn.
2.1 Nhận thức và việc vận dụng phương pháp lập bảng trong giảng dạy của giáo viên Địa lý THCS.
Cho đến nay hầu hết các trường THCS đều quan tâm đến vấn đề thay đổi phương pháp dạy học Địa lý Đặc biệt trong mấy năm gần đây, việc thay đổi phương pháp dạy học tích cực đã mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy và học
Khi sử dụng phương pháp lập bảng so sánh vào dạy học Địa Lý 8 hầu hết các giáo viên đều cho rằng cần thiết và đạt hiệu quả cao Với đặc thù môn Địa
Lý lớp 8 là địa lý Châu Á và địa lý tự nhiên Việt Nam, thì điều quan trọng là phải cho học sinh lập bảng so sánh từ các sự vật hiện tượng này đến các sự vật hiện tượng khác trong từng bài cụ thể là hết sức cần thiết Việc dạy cho học sinh
so sánh còn đưa lại những thay đổi lớn trong nhận thức và kiến thức cũng như
Trang 6phát triển tư duy tổng hợp cho học sinh Trong khi giảng bài, nếu giáo viên chỉ
sử dụng phương pháp lập bảng so sánh không thì chưa đủ, mà cần có sự phối hợp với các phương pháp khác Điều đó chứng tỏ rằng trong giảng dạy Địa lý cần phối hợp cả phương pháp truyền thống lẫn phương pháp hiện đại
Ngoài ra, sử dụng phương pháp lập bảng nhằm phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh và kết quả học tập sẽ cao hơn Trên thực tế không ít giáo viên
sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong đó có phương pháp lập bảng so sánh Song hiệu quả vẫn chưa cao do trong quá trình vận dụng, so sánh giáo viên còn gặp nhiều thiếu sót như:
Giáo viên không chú ý đến phương pháp lập bảng so sánh nhằm làm nổi bật lên những sự vật, hiện tượng, làm sáng tỏ, khắc sâu khái niệm để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu
Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh hoàn thành bảng so sánh, giáo viên thường
đưa ra cho học sinh so sánh nội dung chung chung mà không đưa ra cho học sinh hoàn thành những dấu hiệu yếu tố cụ thể nào => dẫn đến học sinh còn lúng túng và bị động
Khi sử dụng phương pháp lập bảng so sánh lại không kết hợp với vận dụng các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy khác Do đó kết quả đạt được chưa cao và hiệu quả của phương pháp lập bảng so sánh không rõ ràng
2.2 Nhận thức và việc thực hiện phương pháp lập bảng trong học tập Địa Lý 8 của học sinh THCS
* Nhận thức:
Để nắm được nhận thức của học sinh tôi đã tiến hành gặp gỡ, trò chuyện
và đặt ra các câu hỏi trong sách giáo khoa đối với học sinh ở các lớp tiến hành thực nghiệm Hầu hết các em cho rằng phương pháp lập bảng so sánh là phương pháp khó, nhất là đối với chương trình Địa Lý 8 Nhưng do đặc trưng của chương trình và môn học, vì vậy cần phải sử dụng phương pháp này trong giảng dạy Các câu hỏi đặt ra cho các em cụ thể: “Sử dụng phương pháp lập bảng tổng hợp, so sánh trong bài học có gây khó khăn gì trong việc tiếp thu bài của các em không?”
Trang 7Câu trả lời là “không” mà thậm chí các em còn cho rằng sử dụng phương pháp này còn giúp các em tiếp thu bài tốt hơn, tự giác hơn nắm chắc kiến thức
và làm bài tập trên lớp cũng như ở nhà tốt hơn
Như vậy nếu việc dạy học bằng phương pháp lập bảng được áp dụng phổ biến sẽ là PPDH rất hữu hiệu để nâng cao chất lượng học cho HS
* Những thiếu sót của học sinh thông qua việc lập bảng:
- Học sinh thường bị hạn chế do việc không quen với việc tự độc lập tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa để tự rút ra kiến thức trọng tâm của bài học
- Trong quá trình lập bảng so sánh thường không đầy đủ các dấu hiệu và yếu
tố cần phải hoàn thành
- Khi lập bảng so sánh học sinh rất hạn chế trong việc kết luận về đặc điểm giống và khác nhau của các sự vật được đưa ra trong bảng
Chính vì những lý do trình bày trên đây Chúng ta cần bàn đến việc dạy cho học sinh cách lập bảng so sánh như thế nào là đúng và đủ, chứ không chỉ dừng lại ở hoàn thành bảng đơn thuần?
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:
1 Vận dụng phương pháp lập bảng vào giảng dạy Địa lý 8 THCS
Những yêu cầu đối với học sinh khi vận dụng phương pháp lập bảng.
Muốn thực hiện phương pháp lập bảng, học sinh phải hiểu rõ lập bảng là một phương pháp học tập Phương pháp này chỉ cho phép học sinh chỉ ra được các đặc điểm của sự giống nhau và khác nhau của các đối tượng Địa Lý
Học sinh phải có kỹ năng nắm được những thông tin cần thiết từ bản đồ,
từ sách giáo khoa, các phương tiện trực quan và các nguồn tư liệu khác cần phải có
Ví dụ: Khi học bài “Đặc điểm khí hậu Việt Nam” trong mục 2: Tính chất
đa dạng, thất thường
Giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành bảng so sánh khí hậu của ba miền Bắc - Trung - Nam Điều đầu tiên yêu cầu học sinh phải có kỹ năng quan sát, xác định ranh giới phần lãnh thổ ba miền Bắc - Trung - Nam, phân tích bảng số liệu, biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa của 3 địa điểm Hà Nội, Huế và TP Hồ Chí
Trang 8Minh, kết hợp với SGK và bản đồ để đưa ra dấu hiệu so sánh Từ đó rút ra đặc điểm khí hậu của mỗi miền và giải thích nguyên nhân
PHIẾU HỌC TẬP
Nhiệm vụ: Đọc SGK mục 2, Bảng 31.1, Átlát trang 7 và biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, hãy hoàn thành bảng so sánh đặc điểm khí hậu ba miền Bắc - Trung - Nam nước ta Giải thích tại sao có sự khác nhau đó
[ơ
Nhiệt độ TB
Biên độ nhiệt
Mưa TB năm
Tổng lượng mưa mùa mưa
Kết luận khí hậu
Hà Nội
Huế
TP Hồ Chí
Minh
Có thể do các em chỉ liệt kê được những đặc điểm khác nhau mà chưa tìm
ra những đặc điểm giống nhau Hoặc các dấu hiệu đưa ra không cơ bản
Ví dụ: Khi dạy bài: Đặc điểm dân cư xã hội Châu Á, GV yêu cầu HS
hoàn thành bảng:
Tôn giáo Thời gian ra
đời
Địa điểm ra đời
Thần linh được tôn thờ
Khu vực phân bố chính ở châu á
Ấn độ
giáo
2500 trước
Đấng tối cao
Bà La Môn Ấn Độ
Phật giáo Thế kỉ VI
trước CN Ấn Độ Phật Thích Ca
- Đông Nam á
- Nam á Kitô giáo Đầu CN Pa-lê-xtin Chúa Giê - Su Phi lip pin
Trang 9Hồi giáo Thế kỉ XII
sau CN Arập Xêut Thánh A-la
- Nam á
- In đô nê xi a
- Ma lai xi a Hầu hết học sinh lớp 8 còn có nhiều thiếu sót khi hoàn thành bảng, có thể do các
em chỉ liệt kê được thời gian ra đời, địa điểm ra đời, khu vực phân bố còn yếu tố thần linh được tôn thờ sẽ không chỉ ra được
Cuối cùng học sinh phải có kĩ năng phân tích những dấu hiệu bản chất trong các đối tượng, hiện tượng cần chỉ ra khi hoàn thành bảng
2 Phương pháp và hình thức khi tiến hành dạy học bằng phương pháp lập bảng:
2.1 Lập bảng cả nội dung bài học hay nội dung từng mục
Ở mỗi bài học hay nội dung từng mục Gv lập bảng yêu cầu HS hoàn thành bằng hình thức có thể chia nhóm hoặc cá nhân tự hoàn thành, yêu cầu đại diện các nhóm hoặc cá nhân trình bày, sau đó GV sẽ nhân xét củng cố mở rộng chốt kiến thức và có thể cho HS điểm
Ví dụ: Bài 25: Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam Bảng sau sẽ
chứa nội dung của cả bài học
Giai đoạn
kiến tạo
Thời gian (triệu năm)
Đặc điểm
Ảnh hưởng tới địa hình, khoáng sản
Cách đây Kéo dài
Tân kiến tạo
Cổ kiến tạo
Tiền CamBri
- Còn đối với bài: “Sông ngòi và cảnh quan Châu Á” khi dạy mục 1 ta sẽ
có bảng sau:
Trang 10Đặc điểm
Bắc Á
Có mạng lưới sông ngòi dày đặc với nhiều sông lớn: sông
Ô bi, sông I-nê-nit-xây, sông Lê Na…
Nam lên Bắc + Mùa đông: sông bị
đóng băng kéo dài + Mùa xuân: nước sông lên nhanh (do băng tuyết tan ) gây
ra lũ băng lớn
Đông Nam Á
Nam Á
Đông Á
Có mạng lưới sông ngòi dày đặc với nhiều sông lớn: sông A-mua, sông Hoàng
Hà, sông Trường Giang, sông Mê Kông, sông Hằng…
- Đông - Tây
- Bắc - Nam
Chế độ nước phụ thuộc chế độ mưa + Mùa mưa: sông có nước lớn
+ Mùa khô: nước sông cạn
Tây Nam Á
Trung Á
Sông ngòi kém phát triển
Gần Đông -Tây
+ Mùa khô: nước sông cạn hoặc kiệt + Mùa mưa: nước không lớn (do mưa, tuyết và băng tan từ các núi núi cao)
- Mục 2 trong bài “Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội các nước Châu Á”:
Nhóm nước Đặc điểm phát triển kinh tế Tên nước và vùng
lãnh thổ
Phát triển cao KT- XH phát triển toàn diện Nhật bản
Công nghiệp mới Công nghiệp hoá cao ,nhanh Xing ga po, Hàn
quốc Đang phát triển Nông nghiệp phát triển chủ yếu Lào ,VN
Có tốc độ tăng trưởng
cao
CNH nhanh nhưng nông nghiệp còn quan trọng
TQ, Ân độ , Thái lan