Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tiếp tục dành 8 Điều từ Điều 66 đến Điều 71, Điều 80 và Điều 81 để quy định về chế độ tử tuất, bộ luật đã tiếp thu, sửa đổi những hạn chế, bất cập trong Luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ MINH NGA
CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ MINH NGA
CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trịnh Thị Minh Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỬ TUẤT VÀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 6
1.1 Chế độ tử tuất 6
1.1.1 Thuật ngữ tử tuất 6
1.1.2 Khái niệm chế độ tử tuất 7
1.1.3 Đặc điểm của chế độ tử tuất 8
1.1.4 Nguyên tắc chế độ tử tuất 14
1.1.5 Nội dung chế độ tử tuất 19
1.1.6 Ý nghĩa chế độ tử tuất 23
1.2 Chế độ tử tuất trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam 24
1.2.1 Công ước của ILO về chế độ tử tuất 24
1.2.2 Chế độ tử tuất trong pháp luật của một số nước 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN 34
2.1 Thực trạng các quy định về chế độ tử tuất trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 34
2.1.1 Thực trạng quy định chế độ tử tuất trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc 34
2.1.2 Thực trạng quy định chế độ tử tuất trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện 45
2.2 Những điểm mới của chế độ tử tuất trong luật BHXH năm 2014 49
Trang 52.3 Thực tiễn thi hành chế độ tử tuất tại tỉnh Nghệ An 54
2.3.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội tại tỉnh Nghệ An 54
2.3.3 Nhận xét chung về thực thi chế độ tử tuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An 60 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 70
3.1 Những yêu cầu đặt ra cần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất 70
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất 74
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An 79
3.3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về chế độ tử tuất 79
3.3.1 Về nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời đã trở thành xương sống của hệ thống
an sinh xã hội và được tất cả các quốc gia thừa nhận là một trong những quyền con người, điều đó được thể hiện rất rõ trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội”
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế thị trường - nơi mà có những nhóm người gặp rủi ro, bất hạnh, bị giảm hoặc mất thu nhập, rơi vào tình trạng không tự lo được cuộc sống hoặc bị rơi vào vị trí yếu thế trong xã hội Ở Việt Nam, BHXH là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, đóng vai trò to lớn trong việc góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động Bên cạnh việc quy định các chế độ ưu việt cho người trực tiếp tham gia, thì BHXH còn góp phần hỗ trợ,
ổn định đời sống đối với đối tượng thụ hưởng gián tiếp Một trong số các chế
độ đó chính là chế độ tử tuất, đây là khoản trợ cấp đối với nhân thân, gia đình người tham gia BHXH đã mất nhằm mục đích hỗ trợ một phần chi phí mai táng, trợ cấp cho những người mà khi còn sống, người tham gia BHXH có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng Việc quy định chế độ tử tuất nằm trong hệ thống chế độ BHXH thể hiện tính ưu việt của chế độ, đã và đang phát huy nhiều mặt tích cực, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần ổn định
và nâng cao đời sống nhân dân Chế độ tử tuất là một chế độ nằm trong hệ thống các chế độ của BHXH có số lượng đối tượng thụ hưởng chiếm tỷ lệ lớn Theo số liệu báo cáo của BHXH Việt Nam, kết quả thực hiện 5 năm sau khi Luật Bảo hiểm xã hội 2006 có hiệu lực 2007 - 2012, có bình quân 21.048 người/ năm hưởng trợ cấp tuất hàng tháng, 26.788 người hưởng trợ cấp tuất
Trang 8một lần Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tiếp tục dành 8 Điều (từ Điều 66 đến Điều 71, Điều 80 và Điều 81) để quy định về chế độ tử tuất, bộ luật đã tiếp thu, sửa đổi những hạn chế, bất cập trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006, ở thời điểm tác giả nghiên cứu về chế độ tử tuất thì Luật Bảo hiểm 2014 đã có hiệu lực và bước đầu thể hiện sự phù hợp, đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết đặt ra trong tình hình kinh tế hiện thời, tuy nhiên với sự phát triển rất đa dạng của đời sống xã hội sẽ không tránh khỏi những bất cập trong những quy định mới này, gây ra sự bỡ ngỡ và ít nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước cũng như đảm bảo chế độ cho người có đủ điều kiện hưởng Việc nghiên cứu về chế độ tử tuất không chỉ là một chế độ nằm trong
hệ thống các chế độ BHXH mà còn dưới góc độ khoa học, nhằm đánh giá một cách toàn diện, thống nhất về chế độ này là rất cần thiết Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể về vấn đề này Do đó, để góp phần vào việc hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
chế độ tử tuất, học viên lựa chọn đề tài: “Chế độ tử tuất trong luật Bảo hiểm
xã hội hiện hành từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Chế độ tử tuất tuy không phải là một nội dung mới trong hệ thống BHXH, tuy nhiên hiện nay trên thực tế, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về chế độ này Chế độ này mới chỉ được nghiên cứu như là một thành tố nằm trong hệ thống các chế độ BHXH như:
cuốn sách “Pháp luật an sinh xã hội- những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương; Luận văn thạc sĩ của Phạm Lan Hương “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Lan Hương “Pháp luật về bảo hiểm
xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”; Luận văn thạc sĩ của
Trang 9Nguyễn Thị Hà “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay”; hoặc
đề tài này mới chỉ được đề cập đến một số bài viết, chuyên đề của các nhà khoa học trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành như Tạp chí Bảo hiểm xã hội, Tạp chí Luật học, Tạp chí Lao động - Xã hội, một số các báo cáo, chuyên đề tại các hội thảo chuyên ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội,…
Việc luận văn đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về chế độ tử tuất là một trong số các chế độ thuộc hệ thống pháp luật BHXH Việt Nam, đánh giá những ưu điểm, những hạn chế về quy định pháp luật về chế độ tử tuất và việc thực thi chế độ này trong thực tế, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ tử tuất
là cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đây
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Luận văn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về chế độ tử tuất và
sự điều chỉnh của pháp luật về chế độ tử tuất Ngoài ra, luận văn rút kinh nghiệm pháp luật về chế độ tử tuất trong pháp luật của một số nước trên thế giới để từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam cũng được tác giả luận văn đề
thực tiễn tỉnh Nghệ An
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về chế độ tử tuất
Trang 10trong hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2014 và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Nghệ An
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận của pháp luật về chế độ tử tuất nói chung và các điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014, và các văn bản hướng dẫn Ngoài ra, trên cơ sở so sánh với những ưu điểm và tồn tại của Luật Bảo hiểm 2006, đồng thời đánh giá sự phù hợp của Luật Bảo hiểm 2014 với thực tiễn thực hiện từ đó rút ra những tồn tại và hạn chế của quy định pháp luật và đưa ra một số đề xuất giải quyết những tồn tại đó cũng như giải pháp tăng cường thực thi pháp luật về chế độ tử tuất từ thực tiễn tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Các phương pháp khác: trên cơ sở phương pháp luận, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài
- Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, một số cuộc khảo sát, các báo cáo liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài từ năm 2013 đến năm 2016
6 Những đóng góp của đề tài
Luận văn đã nghiên cứu một cách đầy đủ các vấn đề lý luận về chế độ
tử tuất như khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ tử tuất; nghiên cứu chế độ tử tuất theo quy định pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới từ đó rút kinh nghiệm đối với thực tiễn ở Việt Nam Luận văn cũng đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về chế độ tử tuất hiện hành, thực tiễn thực thi các quy định đó và từ đó đưa ra các đề xuất
Trang 11mới mang tính xây dựng, góp phần hoàn thiện, tăng cường đưa pháp luật về chế độ tử tuất được thực thi tối đa trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và đảm bảo an sinh xã hội trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trên phạm vi toàn quốc Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ tử tuất
Chương 2: Thực trạng chế độ tử tuất trong luật BHXH năm 2014 và
thực tiễn thực tại tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỬ TUẤT VÀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT
1.1 Chế độ tử tuất
1.1.1 Thuật ngữ tử tuất
Trong xã hội, con người là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội, vừa
là đối tượng trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa là đối tượng tiêu dùng Con người có nhiều nhu cầu khác nhau và để thỏa mãn những nhu cầu đó phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của mỗi người Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống cũng như quá trình sản xuất ngoài những điều kiện thuận lợi, con người sẽ gặp phải nhiều rủi ro như: ốm đau, tai nạn, bệnh tật, dịch bệnh, mất việc làm, mất khả năng lao động, già cả, bị chết… Để vượt qua những khó khăn tác động đến bản thân, gia đình con người cần có sự đùm bọc, chia sẻ từ
xã hội Trong quy luật phát triển của mỗi người, luôn trải qua các giai đoạn: sinh - lão - bệnh - tử, vì vậy, cuộc đời mỗi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, màu da, điều kiện kinh tế cuối cùng đều phải đối mặt với cái chết, tuy nhiên, việc cuộc đời mỗi người dài hay ngắn, và rủi ro xảy đến với mỗi người có thể vào bất kì giai đoạn nào và với mỗi hoàn cảnh thì rủi ro đó lại có những tác động khác nhau đến những người thân của họ
Tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc hoạn nạn, khó khăn đã trở thành phong tục, truyền thống ngàn đời của dân tộc ta Theo từ điển Tiếng Việt, “tử” nghĩa là chết, “tuất” nghĩa là rủ lòng thương mà cửu giúp Tử tuất mang hàm ý hỗ trợ, cứu giúp gia đình, người thân của người đã chết Việc giúp đỡ gia đình của người đã chết thể hiện qua việc hỗ trợ tổ chức ma chay,
hỗ trợ thân nhân của người chết khi họ mất một phần thu nhập trong gia đình
là việc làm cần thiết để có thể giúp họ ổn định bước đầu khi khó khăn mới xảy ra Tinh thần này không chỉ bỏ hẹp trong phong tục, hương ước làng xã
Trang 13mà đã được luật hóa nhằm huy động sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng
xã hội Như vậy có thể hiểu khái quát rằng, “tử tuất” chính là một phần của chính sách an sinh xã hội mà mỗi nhà nước, mỗi quốc gia đều thể chế hóa thành quy định pháp luật nhằm tạo nên những quy định chung mang tinh thần nhân văn và kết nối giữa những người cùng sống chung trong cộng đồng, xã hội, thể hiện tinh thần và trách nhiệm đối với thành viên trong xã hội mình
1.1.2 Khái niệm chế độ tử tuất
Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm xã hội đối với thân nhân của người được bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết Chế độ tử tuất bao gồm: trợ cấp tiền mai táng và tiền tuất Các nước còn gọi chế độ này là “bảo hiểm đối với người còn sống” (survivos insurance)
Trong Công ước 102 (năm 1952) và Công ước số 128 (năm 1967) đều quy định là: người chết (nam hoặc nữ) phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội
ít nhất 15 năm trở lên thì thân nhân mới được quyền hưởng trợ cấp tiền tuất Trường hợp người lao động chết vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì không đòi hỏi số năm đã đóng bảo hiểm xã hội của người chết, thân nhân được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật quốc gia, thậm chí với người vợ (chồng) góa hưởng chế độ tiền tuất thì không cần điều kiện về tuổi đời và khả năng lao động
Đối với các con của người lao động chết, Công ước số 102 (năm 1952)
và Công ước số 128 (năm 1967) đều định nghĩa là: con dưới 15 tuổi hoặc dưới độ tuổi học hết giáo dục phổ cập bắt buộc, tùy theo quy định của pháp luật từng quốc gia, bao gồm con đẻ và con nuôi mà người chết đã được trực tiếp nuôi dưỡng khi còn sống Con đẻ có thể là con chung của vợ hoặc chồng,
có thể là con riêng của chồng hay của vợ nhưng đều sống chung trong gia đình, kể cả con ngoài giá thú vì trong bảo hiểm xã hội không có sự phân biệt
mà vẫn được xếp vào hàng thân nhân để xét hưởng tiền tuất theo quy định của
Trang 14chế độ tử tuất Nhiều nước giới hạn tuổi của các con được xét hưởng tiền tuất khoảng 14 tuổi trở xuống hoặc thấp dưới 18 tuổi nếu con còn đi học Đối với trẻ em tàn tật thì thường không có giới hạn tuổi
Do đó, khi người lao động chết, gia đình sẽ nhận khoản trợ cấp nhằm bảo đảm và ổn định cuộc sống khi họ không còn tồn tại Bảo hiểm xã hội với bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nên cũng sẽ có trách nhiệm trợ giúp cho thân nhân của người lao động - những đối tượng được hưởng từ thu nhập của người lao động tham gia bảo hiểm khi còn sống
Có quan điểm cho rằng: “Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm xã hội đối với thân nhân của người lao động đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết.” (1)
Có quan điểm khác cũng cho rằng: “Chế độ tử tuất là chế độ do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả chi phí mai táng người lao động khi chết cho người đứng ra lo mai táng và nuôi dưỡng những người mà khi còn sống người lao động phải có trách nhiệm nuôi dưỡng.” (2)
Theo tôi, chế độ tử tuất là: chế độ do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả, gồm: chi phí mai táng cho người lao động khi chết mà người lo mai táng chịu trách nhiệm và trợ cấp nuôi dưỡng những người khi còn sống người lao động hoặc người đang đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng (chu cấp)
1.1.3 Đặc điểm của chế độ tử tuất
Từ khái niệm chế độ tử tuất đã phân tích ở trên, đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa chế độ tử tuất và các chế độ khác trong hệ thống bảo hiểm xã hội Chế độ tử tuất là hình thức bảo đảm có tính xã hội cao và mang những đặc điểm cơ bản như sau:
Trang 15Thứ nhất, đối tượng tham gia chế độ tử tuất là người lao động và người
sử dụng lao động Chế độ tử tuất là chế độ bảo hiểm có sự tham gia của NLĐ
và NSDLĐ nhằm mục đích mang lại lợi ích trước tiên cho NLĐ, kể cả khi họ không còn sống, chính vì lẽ đó, chế độ tử tuất hướng đến đối tượng là NLĐ và người thân của họ Nói cách khác, khi đã tham gia vào chế độ bảo hiểm tử tuất, NLĐ được bảo vệ trực tiếp quyền lợi của bản thân và gia đình họ thông qua việc bảo đảm thu nhập cho đến cả sau khi chết Khi còn làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được tiền chôn cất
và gia đình được hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc trưng riêng của chế độ tử tuất khác biệt hẳn so với các chế độ bảo hiểm xã hội khác
Thứ hai, đối tượng thụ hưởng chế độ tử tuất là thân nhân người lao
động Trong các loại hình chế độ BHXH, tất cả các chế độ khác đều hướng đến đối tượng thụ hưởng là người trực tiếp tham gia bảo hiểm - NLĐ còn chế
độ tử tuất lại có sự phân biệt giữa người tham gia và người thụ hưởng chế độ Đối tượng được bảo hiểm là thu nhập của NLĐ và khi phát sinh rủi ro dẫn đến bảo hiểm thì gia đình được hưởng các khoản bù đắp khi NLĐ thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ đóng bảo hiểm và đáp ứng điều kiện do luật định Sự kiện làm căn cứ phát sinh chế độ tử tuất là rủi ro dẫn đến cái chết của người tham gia bảo hiểm Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao động và những người được họ chu cấp bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Vì vậy, những người phụ thuộc một phần (hoặc hoàn toàn) vào thu nhập của người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp tiền tuất Tuy nhiên, để đám bảo sự công bằng, tất yếu phải có các điều kiện làm phát sinh quyền lợi đối với bên thụ hưởng chế độ Đây là đặc thù riêng của chế độ tử tuất so với các chế độ khác
Trang 16trong hệ thống bảo hiểm xã hội Bởi vì, chế độ tử tuất có thể được xem là chế
độ bảo hiểm gián tiếp - dành cho người còn sống mà người đó không nhất thiết phải là đối tượng tham gia bảo hiểm Mỗi quốc gia có những quy định riêng về điều kiện được nhận trợ cấp tuất đối với thân nhân người lao động chết tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia đó, tuy nhiên tất cả các quy định này đều được xây dựng dựa trên các tiêu chí đánh giá sự tổn thất của gia đình khi người lao động chết đi và mức độ phụ thuộc của từng thân nhân vào người lao động khi họ còn sống
Thứ ba, sự đóng góp của các bên tham gia chế độ tử tuất, bao gồm
người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH nói chung, trong đó có quỹ hưu trí, tử tuất Mọi người lao động khi tham gia BHXH trong đó có chế độ tử tuất có quyền được thanh toán trợ cấp tuất khi chết, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH Điều này xuất phát từ nguyên tắc chính của bảo hiểm xã hội là “có thu có hưởng” Người chủ sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn Nhà nước đóng góp vào quỹ tử tuất với hai tư cách: là NSDLĐ đóng góp vào quỹ tử tuất cho đội ngũ cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước và với tư cách là chủ thể bảo hộ chế độ tử tuất có trách nhiệm đóng góp nhằm bảo toàn sự hoạt động của quỹ Vì vậy để được bảo đảm quyền lợi khi các rủi ro xảy đến với mình, người tham gia có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ đóng góp theo quy định nhằm duy trì sự ổn định và bền vững của nguồn quỹ chi trả chế độ cho họ Mặt khác, ngoài ra nguồn thu từ các đối tượng tham gia bảo hiểm còn có thể đến từ các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp/đơn
vị chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác Quỹ tử tuất dùng để chi trả các trợ cấp về chế độ tử tuất và chi phí cho
Trang 17các hoạt động quản lý của bộ máy thực hiện chế độ Như vậy, có thể thấy quỹ
tử tuất là một bộ phận của quỹ BHXH và về mặt bản chất tài chính, quỹ này
có thể vừa là quỹ tài chính, vừa là quỹ phát triển…
Thứ tư, hoạt động của chế độ tử tuất nhằm mục đích phi lợi nhuận Các
hình thức bảo hiểm trong thực tế hoạt động với mục đích mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư, tuy nhiên sự tồn tại của chế độ tử tuất và hệ thống bảo hiểm
xã hội lại nhằm mục tiêu xã hội Trên thực tế, chức năng này được thể hiện thông qua tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội, đây là tổ chức dịch vụ công do Nhà nước thành lập và hoạt động nhằm phục vụ mục đích do nhà nước đặt ra Qũy tử tuất được quản lý tập trung thống nhất, việc đầu tư quỹ tử tuất không nhằm mục đích kinh doanh, không mang lại lợi ích cho cá nhân khi thực hiện hoạt động đó và mục tiêu cuối cùng là nhằm phục vụ sự nghiệp bảo hiểm xã hội nói chung
Thứ năm, các hoạt động chế độ tử tuất được thực hiện trong khuôn khổ
pháp luật Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của chế độ tử tuất Mối quan hệ trong chế độ tử tuất dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia bảo hiểm, bên thực hiện bảo hiểm và bên thụ hưởng chế độ Bên tham gia chế độ tử tuất gồm: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ tử tuất Bên thực hiện chế độ tử tuất là bên nhận tiền đóng vào quỹ tử tuất từ những người tham gia và có trách nhiệm chi trả các khoản trợ cấp cho các bên được hưởng chế độ khi có sự kiện phát sinh, đồng thời còn có nghĩa vụ đầu tư phát triển quỹ tử tuất Bên được hưởng chế độ là thân nhân của người lao động nhận các khoản trợ cấp tiền tuất khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm
Việc tham gia vào quỹ tử tuất còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức công đoàn) và người sử dụng lao động (thông qua tổ chức của giới chủ) theo cơ chế ba bên Đây cũng là đặc trưng rất riêng của chế độ các chế độ BHXH trong đó có chế độ tử tuất Tất cả những khía
Trang 18cạnh đã nêu trên, một lần nữa cho thấy, chế độ tử tuất được lập ra là để tác động vào thu nhập theo lao động của người lao động tham gia BHXH Nói cách khác, chế độ tử tuất nhằm bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động trong trường hợp người này bị chết nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho thân nhân của họ
Các mối quan hệ của chế độ tử tuất với những đặc điểm nêu trên, có mối quan hệ rất đa dạng và nhiều chiều, nhiều tầng; có những mối quan hệ bên trong của chế độ tử tuất và quan hệ giữa chế độ tử tuất với các chế độ khác trong hệ thống BHXH
* Mối quan hệ nội tại của chế độ tử tuất: Mối quan hệ xuyên suốt
trong mọi hoạt động là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia và bên thụ hưởng chế độ Khác với bảo hiểm thương mại, trong mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia chế độ, bên thực hiện chế độ và bên được thụ hưởng chế độ ở đây cũng cần làm rõ, ba bên trong chế độ tử tuất khác với ba bên trong quan
hệ lao động Nếu như trong quan hệ lao động, ba bên bao gồm Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, thì trong quan hệ chế độ tử tuất ba bên này chỉ là một bên tham gia chế độ là bên có trách nhiệm đóng góp vào quỹ tử tuất theo quy định của pháp luật Bên tham gia BHXH, như đã nêu, gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước (trong một số trường hợp) Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông người lao động khác Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn Khi tham gia chế độ tử tuất, người sử dụng lao động còn vì lợi ích của chính
họ và người thân họ
Nhà nước tham gia trong mối quan hệ chế độ tử tuất với hai tư cách Thứ nhất, Nhà nước tham gia với tư cách là người sử dụng các công chức và
Trang 19những người hưởng lương từ ngân sách Khi đó, Nhà nước phải tham gia đóng góp vào quỹ tử tuất thông qua kinh phí từ ngân sách, với tỷ lệ đóng góp tương đương người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp Thứ hai, Nhà nước tham gia hoạt động BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ tử tuất, bảo đảm giá trị đồng vốn, và hỗ trợ cho quỹ tử tuất trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra, Nhà nước tham gia chế độ tử tuất còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động bảo hiểm tử tuất
Bên thực hiện chế độ tử tuất, đó là bên nhận tiền đóng góp vào quỹ tử tuất từ những người tham gia Bên thực hiện chế độ thường là một số tổ chức (cơ quan…) do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân, tổ chức kinh tế - xã hội lập ra theo quy định của pháp luật) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ tử tuất theo quy định chặt chẽ của pháp luật Bên thực hiện chế độ có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được thụ hưởng chế độ khi có nhu cầu phát sinh và có trách nhiệm quản lý và đầu tư cho quỹ tử tuất phát triển
Bên thụ hưởng chế độ tử tuất, là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh nhu cầu được bảo hiểm, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi ro được bảo hiểm gây ra Trong chế độ tử tuất, bên thụ hưởng
là nhân thân của người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật, khi họ
có phát sinh nhu cầu và đáp ứng các điều kiện được do pháp luật quy định Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi, trên cơ sở các quy định của pháp luật (khác với bảo hiểm thương mại là trên cơ sở hợp đồng) Nếu không thực hiện đúng các quy định về nghĩa
vụ, trách nhiệm đóng góp (của bên tham gia bảo hiểm) cũng như trách nhiệm đảm bảo quyền lợi cho người thụ hưởng (của bên thực hiện bảo hiểm), thì đều
là vi phạm pháp luật về BHXH
Trang 20* Mối quan hệ bên ngoài: Với tư cách là một chính sách, chế độ tử
tuất có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của hệ thống bảo hiểm
xã hội mỗi quốc gia mà trước hết là với chính sách về an sinh xã hội và các chính sách xã hội Trong hệ thống bảo hiểm xã hội của một quốc gia, gồm các
bộ phận: chế độ hưu trí, chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, chế độ tử tuất… Trong đó, chế độ tử tuất là một trong những chế độ cơ bản nhất hình thành trên rủi ro tất yếu mà ai cũng sẽ trải qua theo quy luật của tự nhiên là sinh ra - chết đi, quỹ tử tuất cũng là nguồn quỹ chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu chung của quỹ BHXH Chính sách
về chế độ tử tuất có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng bởi các chính sách xã hội khác như chính sách dân số; chính sách lao động - việc làm; chính sách chăm sóc sức khỏe dân cư…Mỗi sự thay đổi của chính sách xã hội đều
có những ảnh hưởng nhất định hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đến chính sách về chế độ tử tuất
bộ xã hội phải thực hiện trách nhiệm đối với công dân của mình, quản lý toàn
bộ các quan hệ BHXH, trong đó có chế độ tử tuất Chỉ có Nhà nước mới có đầy đủ các điều kiện, khả năng thực hiện trọng trách này Mặt khác, sự tham gia của nhà nước khi quản lý chế độ tử tuất trong BHXH thể hiện sự tiến bộ
và tinh thần nhân đạo của pháp luật nước ta
Việc thống nhất quản lý về chế độ tử tuất trước hết thể hiện bằng việc nhà nước định ra các chính sách, cụ thể hóa bằng việc ban hành hệ thống pháp luật điều chỉnh trực tiếp, chi tiết các quan hệ bảo hiểm, trong đó có quan hệ về
Trang 21chế độ tử tuất, quy định về cơ chế quản lý quỹ hưu trí và tử tuất, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện trong thực tế, xử phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến chế độ tử tuất Vai trò quản lý nhà nước còn thể hiện bằng việc nhà nước tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, bộ máy cơ quan BHXH để thống nhất quản lý trong phạm vi toàn quốc
Với vai trò là chủ sử dụng của những người lao động trong khu vực nhà nước đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất, Nhà nước còn có vai trò là người bảo trợ, hỗ trợ tài chính cho quỹ nhằm bảo toàn sự tăng trưởng của quỹ này cũng như các loại quỹ khác trong BHXH
Thứ hai, mọi người lao động đều có quyền tham gia chế độ tử tuất và thân nhân của họ được hưởng chế độ tử tuất
Cơ sở của nguyên tắc xuất phát từ mục đích ra đời của chế độ tử tuất, đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho những rủi ro khi người lao động chết, không có sự phân biệt giữa các thành phần xã hội Quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội nói chung đã được quy định trong Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hiệp quốc 10/12/1948 “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội” Ở Việt Nam, quyền tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, trong đó có chế độ tử tuất được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 56) và Bộ Luật lao động (Điều 7) [ 3 ]
Nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia chế độ tử tuất được thể hiện rõ nhất ở việc quy định phạm vi đối tượng áp dụng chế độ tử tuất Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, theo đó những đối tượng chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
sẽ thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện và cả hai loại hình BHXH này đều
có chế độ tử tuất [4]
Đối với người có quan hệ lao động, quyền tham gia chế độ tử tuất của NLĐ được quy định cho chủ sử dụng lao động NSDLĐ có NLĐ thuộc diện
Trang 22tham gia bảo hiểm thì có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho NLĐ, đối với những trường hợp không tuân thủ theo quy định thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật Đối với những người không tham gia quan hệ lao động mà vẫn trong độ tuổi lao động thì sẽ thuộc diện tham gia bảo hiểm tự nguyện Đối với những người đã từng tham gia quan hệ lao động nay đang được hưởng các trợ cấp do mất sức lao động hoặc tuổi già cũng xem xét là người tham gia chế độ
tử tuất và thu nhập của họ cũng là đối tượng được bảo hiểm khi họ chết
Thứ ba, chế độ tử tuất được chi trả trong mọi trường hợp người lao động chết
Là một chế độ quan trọng trong hệ thống các chế độ nhằm đảm bảo an sinh xã hội, chế độ tử tuất không phân biệt nam, nữ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, không phân biệt khu vực làm việc khi tham gia đóng góp BHXH nếu
đủ điều kiện theo những quy định đã đề ra thì người thân của họ đều được hưởng quyền lợi về chế độ trên cơ sở mức đóng góp của người tham gia khi còn sống Nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi cho mọi người lao động đồng thời khuyến khích mọi người lao động tham gia vào quỹ BHXH
Thứ tư, mức hưởng chế độ tử tuất dựa trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm xã hội và chia sẻ giữa những người tham gia chế độ tử tuất
Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH nên cần xác định một cách công bằng hợp
lý, tức mức hưởng căn cứ vào khoảng thời gian đóng góp vào quỹ BHXH Nằm trong nguyên tắc chung đó của BHXH, mức hưởng chế độ tử tuất cũng cần có sự tương xứng với thời gian đóng góp, hạn chế sự bù đắp của nhà nước đối với quỹ tử tuất, hạn chế sự bù đắp của Nhà nước vào quỹ tử tuất, tránh tình trạng ngân sách Nhà nước phải bảo trợ cho những trợ cấp tiền tuất ở mức cao; vì vậy mức đóng quỹ thường được khống chế ở mức trần nhất định
Trang 23Vai trò của bảo hiểm xã hội là nhằm mục đích chia sẻ rủi ro, mang tính tương trợ cộng đồng, vì vậy, không phải ai tham gia đóng bảo hiểm xã hội cũng đều được hưởng các loại hình trợ cấp tiền tuất và mức hưởng như nhau Trên cơ sở đó, các mức chi trả cho chế độ tử tuất được tính trên cơ sở thời gian đóng không được cao hơn mức lương cơ sở khi người lao động đang làm việc, tránh tình trạng gây khó khăn cho quỹ bảo hiểm xã hội trong việc cân đối thu chi và tạo tâm lý ý lại của đối tượng thụ hưởng, trông chờ vào khoản tiền BHXH Việc kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc chia sẻ rủi ro trong cộng đồng và mức hưởng trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm còn được thể hiện ở việc điều chỉnh mức trợ cấp, tuy nhiên phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ
Mặt khác, mức hưởng chế độ tử tuất phải được xây dựng trên cơ sở điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư và nhu cầu đặc biệt của người không đủ khả năng tự nuôi sống bản thân như: người già, người tàn tật và trẻ nhỏ Đây cũng chính là một trong những đặc điểm đặc thù của chế độ tử tuất,
là hướng đến đối tượng được thụ hưởng chế độ không phải là người tham gia nhưng lại có những điều kiện kinh tế đặc biệt nhằm giảm tải gánh nặng cho xã hội và thể hiện trách nhiệm cộng đồng
Như vậy, mức hưởng trợ cấp tiền tuất phải được tính toán hợp lý trên
cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có chia sẻ cộng đồng, phải đảm bảo ý nghĩa bù đắp thu nhập, cân đối tài chính giữa thu và chi đồng thời phải căn cứ vào tình hình thực tế nền kinh tế - xã hội và các quy định chung của luật pháp quốc tế
Thứ năm, chế độ tử tuất được thực hiện trên cơ sở lấy số đông bù số ít
Quỹ tử tuất là một quỹ thành phần nằm trong quỹ BHXH, là một quỹ tài chính tập trung được tồn tích dần bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và
có sự hỗ trợ một phần của Nhà nước Tuy nhiên, NSDLĐ đóng vào quỹ
Trang 24BHXH không phải trực tiếp cho bản thân họ mà cho NLĐ do mình sử dụng NLĐ đóng vào quỹ tử tuất để bảo hiểm cho người thân của mình Tuy thế, không phải bất kì ai tham gia đóng vào quỹ tử tuất đều được chi trả mức tiền trợ cấp tuất giống nhau mà chỉ khi họ gặp rủi ro và người thân của họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định mới được hưởng Thông thường, mức chi cho trợ cấp tuất thường chiếm tỉ lệ nhỏ hơn tổng số mức đóng mà người tham gia đóng góp, và trong số đông những người tham gia đóng góp thì chỉ những người tham gia gặp rủi ro mới được hưởng chế độ
Nhở đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít trên cơ sở hình thành quỹ BHXH tập trung độc lập mà BHXH thực hiện được phương thức vốn có của mình là chia sẻ rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện phân phối lại thu nhập, trên cơ sở đó, mục đích BHXH được thể hiện Nguyên tắc số đông bù số ít là nguyên tắc thể hiện tính nhân đạo và cộng đồng của hoạt động BHXH, trong
đó có chế độ tử tuất, có tác dụng điều hòa thu nhập, tạo ra sự ổn định chung cho xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách toàn diện và bền vững
Thứ sáu, quỹ tử tuất là một bộ phận của quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập
Chế độ tử tuất là một chính sách ảnh hưởng đến đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý Để đảm bảo thực hiện hài hòa các nội dung trên và đạt được những mục tiêu đề ra thì một trong những vấn đề cần quan tâm là việc quản lý và sử dụng quỹ Việc quản
lý và sử dụng quỹ trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý, hạch toán theo quy định của pháp luật, độc lập với ngân sách Nhà nước Trong cơ cấu của quỹ BHXH có nhiều bộ phận cấu thành và quỹ tử tuất là một quỹ thành phần có yêu cầu sử dụng, đối tượng và chế độ hưởng khác biệt, do đó việc sử dụng quỹ tử tuất phải đúng mục đích
Đồng thời, quỹ tử tuất cũng được lập theo mô hình quỹ tồn tích cộng
Trang 25đồng nên việc hạch toán của quỹ được hạch toán hàng năm và báo cáo định
kỳ với cơ quan quản lý Về mặt tài chính, quỹ tử tuất là một dạng quỹ tài chính độc lập tự thu, tự chi nằm trong tổng thể quỹ BHXH và độc lập với ngân sách Nhà nước, có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham gia: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước
Thứ bảy, việc thực hiện chế độ tử tuất phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm thực hiện áp dụng chế độ đối với mọi đối tượng người lao động
Trong hoạt động quản lý nhà nước về BHXH, thực hiện chế độ BHXH giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội đối với đối tượng thụ hưởng chế độ cần phát sinh những thủ tục, trình tự mang tính chất hành chính để giải quyết Để tránh tình trạng gây phiền hà, thủ tục nhiêu khê đối với đối tượng thụ hưởng, cần có quy định về việc tạo điều kiện dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng trong quá trình làm thủ tục thụ hưởng cho đối tượng thụ hưởng, vừa đảm bảo yêu cầu của quản lý nhà nước, mặt khác phải đảm bảo thực hiện chế độ đối với mọi người lao động, không phân biệt người lao động có tham gia loại hình BHXH bắt buộc hay BHXH tự nguyện, bởi ở cả hai loại hình BHXH này Luật BHXH đều có quy định về chế độ tử tuất cho người lao động tham gia BHXH
1.1.5 Nội dung chế độ tử tuất
* Chế độ trợ cấp mai táng
Về thực chất thì chế độ này nhằm mục đích trợ giúp một phần cho những phí tổn mà người thân của người lao động phải chi trả cho việc tang lễ, chôn cất người lao động chết Mặc dù hình thức, cách thức cũng như phương thức tổ chức ma chay ở mỗi nước, mỗi địa phương là khác nhau, phụ thuộc vào phong tục, tập quán nhưng cho dù ở bất cứ đâu khi người lao động qua đời, người thân của họ dù ít hay nhiều đều phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định để tổ chức tang lễ Do đó, khoản trợ cấp mai táng phí sẽ chia sẻ phần nào gánh nặng về tài chính này Ở bất kể xã hội nào không phải mọi người lao
Trang 26động khi mất đi cũng có con cháu hoặc người thân lo liệu, có thể vì lí do này hoặc lí do khác, có người lao động sống cô đơn không có giá đình hoặc không
có nhưng người thân cũng có hoàn cảnh khó khăn không đủ điều kiện đứng ra
lo mai táng cho người chết Vì vậy, khoản trợ cấp mai táng sẽ là nguồn kinh phí tối thiểu để giúp cho thân nhân hoặc cơ quan, tổ chức địa phương tổ chức mai táng phí cho người lao động chết [5]
Về điều kiện hưởng trợ cấp mai táng, là điều kiện nhằm xác định những thân nhân nào được đứng ra nhận chế độ trợ cấp mai táng và điều kiện về đóng góp vào quỹ BHXH của người chết
Về mức hưởng chế độ trợ cấp mai táng tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, căn cứ vào mức thu - chi và các điều kiện khác về kinh tế - xã hội
mà mỗi quốc gia có quy định khác nhau về mức hưởng trợ cấp Ví dụ như ở Việt Nam, luật BHXH quy định mức hưởng chế độ trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung và đây là mức chung cho tất cả các đối tượng đủ điều kiện hưởng chế độ, không phân biệt địa vị, mức hưởng, mức bảo hiểm của người chết… và khi điều kiện kinh tế chung thay đổi thì mức lương tối thiểu cũng thay đổi cho phù hợp với giá cả các chi phí trong từng thời kì mà không cần phải thay đổi quy định của pháp luật
* Chế độ trợ cấp tuất
Đây là chế độ trợ cấp cho thân nhân của người tham gia bảo hiểm khi
họ chết, chế độ này được xây dựng dựa trên các cơ sở như:
Thứ nhất, trợ cấp tuất là khoản bảo hiểm thu nhập cho người lao động,
phần thu nhập mà người lao động sẽ dành cho các thành viên mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng trong gia đình như những người vì đã già (hết tuổi lao động), hoặc trẻ em (chưa đến tuổi lao động) không thể hay chưa thể làm việc
để kiếm tiền sinh sống, những người này vẫn sống bằng nguồn thu nhập (hoặc nguồn bảo hiểm thu nhập) của người lao động Nay nguồn sống này không
Trang 27còn nữa do người lao động chết, thì họ cần sự trợ giúp và quỹ BHXH thực hiện vai trò trợ giúp này cho họ Ngay cả trong trường hợp người chết không còn thân nhân phụ thuộc hoàn toàn trợ giúp thì tổn thất từ mức đóng góp về mặt tài chính của người lao động vào quỹ tài chính chung của gia đình cũng không phải là nhỏ, vì vậy một khoản tài chính giúp cho gia đình họ thích nghi với hoàn cảnh cũng là điều cần thiết
Thứ hai, tiền trợ cấp tuất cũng được coi như là kết quả của quá trình
đóng góp của người lao động lúc sinh thời (khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm cho chế độ tử tuất) Ở một khía cạnh khác, trong quan điểm này ta có thể liên
hệ với chế độ hưu trí Bởi vì nếu người lao động đã đóng góp vào quỹ BHXH nhưng không được hưởng hoặc chưa được hưởng đầy đủ, chưa được hưởng đến mức trung bình…mà bị chết thì rõ ràng những người thân trong gia đình phải được hưởng phần trợ cấp mà đáng lẽ người lao động được nhận Vì vậy cũng có quan điểm cho rằng trợ cấp tiền tuất là chế độ cấp dưỡng chuyển quyền Tức là có sự chuyển nhượng quyền hưởng trợ cấp của người quá cố cho người thừa kế quyền[6] Tuy nhiên, khi mỗi người lao động mất, hoàn cảnh gia đình họ thường khác nhau Vì vậy, mà tùy thuộc vào từng trường hợp, thân nhân người lao động sẽ được hưởng tiền tuất một lần hoặc tiền tuất hàng tháng
Từ ý nghĩa của chế độ tử tuất cũng như từ cơ sở làm căn cứ xây dựng chế độ này cho thấy, không phải cứ khi người lao động chết, thì có nghĩa là tất cả mọi thân nhân của họ đều được hưởng tiền trợ cấp tuất hàng tháng Việc thân nhân của họ có được hưởng tiền tuất hàng tháng hay không sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: thứ nhất đó là mức độ đóng góp của chính bản thân người lao động và thứ hai là thân nhân của người chết có đủ điều kiện nằm trong diện được hưởng tuất hàng tháng hay không Với yếu tố thứ nhất, việc đóng góp của người lao động chính là yếu tố quyết định đến mức độ hưởng
Trang 28của chế độ, bởi vì quỹ BHXH hạch toán độc lập nên để đám bảo việc cân đối giữa thu chi bảo hiểm đòi hỏi người lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoảng thời gian nhất định thì khi họ chết thân nhân của họ mới được hưởng tiền tuất hàng tháng Đối với yếu tố thứ hai, thân nhân của người lao động được hưởng tiền tuất hàng tháng thông thường phải là những người thân ruột thịt của người lao động mà khi còn sống người lao động có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, những người này thường là đã hết tuổi lao động hoặc chưa đến tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động và họ sẽ gặp khó khăn về kinh tế khi người lao động nuôi dưỡng họ mất đi Khó khăn này không chỉ diễn ra trong thời gian đầu khi người lao động mất đi mà sẽ diễn ra hằng ngày, hàng tháng Do đó cần phải có khoản trợ cấp thường xuyên nhằm đam bảo cuộc sống cho các thân nhân của người lao động
Về chế độ tử tuất một lần, với mục tiêu cơ bản là trợ giúp cho thân nhân của người lao động không đủ điều kiện để hưởng tiền trợ cấp tuất hàng tháng có thể giải quyết được những khó khăn ban đầu, giúp họ thích nghi với hoàn cảnh mới khi người lao động chết Chế độ tuất một lần được áp dụng cho những đối tượng cụ thể là người lao động đang làm việc, người lao động đang bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm, người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm hàng tháng mà không có thân nhân thuộc diện đủ điều kiện hưởng hàng tháng hoặc không có nguyện vọng hưởng một lần
Mức hưởng chế độ tuất một lần trong các trường hợp không có sự giống nhau mà được xác định tùy thuộc vào việc người lao động trước khi chết đang còn tham gia quan hệ lao động hay không còn tham gia quan hệ lao động Những người lao động đang làm việc, chưa hưởng chế độ bảo hiểm hàng tháng thì gia đình họ sẽ được nhận mức trợ cấp cao hơn những người mà trước khi chết đang hưởng trợ cấp Điều này là phù hợp với nguyên tắc thực hiện BHXH trên cơ sở phân phối theo lao động
Trang 291.1.6 Ý nghĩa chế độ tử tuất
Thứ nhất, đối với gia đình người lao động, chế độ tử tuất thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người tham gia bảo hiểm dành cho người thân của họ khi người tham gia bảo hiểm mất đi Đây là ý nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của chế độ tử tuất
Thứ hai, chế độ tử tuất góp phần vào quá trình phân phối lại thu nhập
giữa những người tham gia Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH nói chung và quỹ tử tuất nói riêng và quỹ này dùng để chi trả trợ cấp cho một số đối tượng thụ hưởng chế độ khi họ đủ điều kiện Như vậy theo quy luật số đông bù số ít thì chế độ tử tuất cũng là một kênh phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang, phân phối lại thu nhập giữa những người khỏe mạnh đang làm việc và những người gặp rủi ro…Đây chính là ý nghĩa trọng việc góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thứ ba, chế độ tử tuất góp phần kích thích người lao động hăng say sản
xuất, làm việc Khi khỏe mạnh tham gia vào lao động sản xuất, được trả tiền lương và tiền công và khi bị rủi ro không tiếp tục duy trì cuộc sống nữa thì vẫn phần nào yên tâm vì gia đình họ đã có được sự bảo đảm ổn định cuộc sống và chỗ dựa Như vậy, vai trò của chế độ này như một đòn bẩy kinh tế nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội
Thứ tư, chế độ tử tuất cũng góp phần quan trọng trong việc gắn bó lợi
ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với
xã hội Trong thực tế, các mối quan hệ này luôn tồn tại những mâu thuẫn nội tại, khách quan về quan hệ lao động Thông qua chính sách về chế độ tử tuất, mối mâu thuẫn đó phần nào được điều hòa Đặc biệt là cả người lao động và người sử dụng lao động đều thấy mình được bảo vệ, từ đó phần nào gắn bó với nhau hơn Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho chế độ BHXH nói chung
và chế độ tử tuất nói riêng là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất
Trang 30nhưng vẫn giải quyết được những khó khăn về đời sống người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định kinh tế - chính trị và tạo nền tảng để xã hội phát triển và an toàn hơn
1.2 Chế độ tử tuất trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam
1.2.1 Công ước của ILO về chế độ tử tuất
Một trong những chức năng chính của ILO là hình thành những quy định có tính pháp lý và chương trình mang tính toàn cầu nhằm cải thiện điều kiện sống và việc làm cho người lao động Một trong những phương thức cơ bản để thực hiện các chức năng đó là thông qua các Công ước và khuyến nghị Năm 1952, Công ước 102 về an sinh xã hội (những tiêu chuẩn tối thiểu)
đã được hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế thông qua, bao gồm 9 nhánh (tạm thời gọi là 9 chế độ: chăm sóc y tế, ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động, trợ cấp gia đình, thai sản, mất sức lao động, tuất) Những quốc gia phê chuẩn Công ước này áp dụng các điều khoản của Công ước vào pháp luật nước mình và sẽ hình thành hệ thống tối thiểu bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, mất sức lao động
và trợ cấp tuất Công ước 102 đã dành 6 Điều từ Điều 59 đến Điều 64 để quy định về chế độ trợ cấp tiền tuất, mức chi trả trợ cấp tiền tuất định kỳ, các điều kiện của đối tượng được bảo vệ và thân nhân của đối tượng được hưởng trợ cấp tiền tuất Những người được bảo vệ gồm:
“Người vợ và con cái của người trụ cột gia đình thuộc loại làm công ăn
lương được quy định và những loại này tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương, hoặc vợ, con của người trụ cột gia đình thuộc các loại được quy định trong dân số hoạt động kinh tế, tổng số ít nhất chiếm 20% toàn bộ người thường trú, hoặc vợ góa hoặc con cái có tư cách thường trú đã
Trang 31mất người trụ cột gia đình mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo
vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định của Công ước này” (3)
Việc áp dụng Bảo hiểm xã hội ở từng quốc gia tùy thuộc vào nhu cầu bức bách và yêu cầu đảm bảo cuộc sống của người lao động ở từng nơi mà mỗi quốc gia áp dụng và xây dựng các chế độ riêng phù hợp nhưng xu thế chung vẫn là mở rộng về số lượng và chất lượng của từng chế độ, trong đó có chế độ tử tuất
Công ước số 128(1967) về trợ cấp tuổi già, người tàn tật, tiền tuất của
Tổ chức lao động Quốc tế cũng dành phần IV đề đề cập đến trợ cấp tiền tuất cho các đối tượng BHXH, đối tượng được hưởng và điều kiện hưởng chế độ một cách chặt chẽ và rõ ràng Phần I Công ước là những quy định chung, trong đó định nghĩa rõ các khái niệm như sau: “phụ thuộc” là chỉ tình trạng phụ thuộc xảy ra trong những trường hợp quy định, “vợ” là chỉ người vợ phụ thuộc vào người chồng, “vợ góa” chỉ người vợ phụ thuộc vào người chồng tới khi người chồng chết; “con” chỉ đứa con trong độ tuổi bắt buộc đi học hoặc con dưới 15 tuổi, những độ tuổi cao hơn bắt buộc phải xem xét, nếu con trên
15 tuổi đang học nghề, đang đi học hoặc bị một bệnh kinh niên, hoặc bị bệnh tật khiến cho không thực hiện được một nghề nghiệp nhất định Điều 22, Công ước 128 quy định “những đối tượng được bảo vệ gồm: vợ, con cái hoặc các đối tượng ăn theo khác theo quy định mà người trụ cột gia đình là người làm công ăn lương hoặc người học nghề; hoặc vợ, con cái và các đối tượng ăn theo khác theo quy định mà người trụ cột gia đình thuộc những loại được quy định trong số dân hoạt động kinh tế, tổng số những loại này ít nhất chiếm 75% toàn bộ số dân hoạt động kinh tế; hoặc tất cả những người vợ góa, tất cả con cái và tất cả đối tượng ăn theo khác quy định có tư cách thường trú, đã mất người trụ cột gia đình ” (4)
Trang 32Hai công ước nêu trên được xem là các văn kiện quốc tế xương sống về BHXH nói chung trong đó có chế độ tử tuất, là cơ sở quan trọng tạo tiền đề cho các quốc gia trên thế giới cũng nhưng các quốc gia thành viên Công ước thực hiện và hoàn thiện pháp luật về BHXH của mỗi nước Mỗi quốc gia đều
có những đặc điểm phát triển hệ thống BHXH riêng chịu ảnh hưởng bởi hình thái kinh tế-xã hội của nước đó Các nước phát triển và có hệ thống an sinh xã hội lâu đời như Thụy Điển, Canada và các nước Châu Âu như Đức, cùng với sự phát triển kinh tế, đối mặt với những vấn đề xã hội và cách thức điều chỉnh chính sách BHXH nhằm đảm bảo một hệ thống công bằng và rõ ràng hơn là những kinh nghiệm và gợi mở quý báu cho quá trình hoàn thiện và phát triển hệ thống BHXH nói chung và chế độ tử tuất của Việt Nam hiện nay
1.2.2 Chế độ tử tuất trong pháp luật của một số nước
* Chế độ tử tuất theo pháp luật Canada (5)
Trong bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về các chỉ số phát triển con người những năm gần đây, Canada thường được đứng vị trí cao, người dân đất nước này tự hào về mạng lưới bảo hiểm xã hội và chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân của đất nước họ Những thập kỷ qua, hệ thống an sinh xã hội trong đó có BHXH của Canada đã phát triển dần dần từng bước đáp ứng
và phù hợp với các yếu tố xã hội, kinh tế và chính trị đa dạng trong từng thời
kì Liên quan đến an toàn thu nhập, Bộ phát triển các nguồn nhân lực Canada (DRHC) đã quản lý hai chương trình của chính phủ liên, trong đó có Chương trình bảo hiểm người già với Phần bổ sung thu nhập được đảm bảo và Phụ cấp cho vợ chồng Chế độ trợ cấp tử tuất tại Canada gồm có: trợ cấp cho vợ hoặc chồng góa, trợ cấp cho con của người đóng bảo hiểm đã chết và trợ cấp mai táng phí Cụ thể như sau:
* Trợ cấp mai táng phí: người đóng bảo hiểm phải thỏa mãn điều kiện:
đã đóng góp ít nhất 1/3 số năm tài chính trong thời kí có thể đóng bảo hiểm;
Trang 33nếu người đóng chết trước năm 65 tuổi thì thời kì có thể đóng kết thúc vào tháng chết Số tiền trợ cấp mai táng phí có thể được chuyển cho người thừa kế của người đóng bảo hiểm đã chết, nếu không có di chúc hoặc không có người thừa kế, tiền trợ cấp mai táng phí được chuyển cho người có trách nhiệm chi phí mai táng, vợ hoặc chồng còn sống hoặc cho người bà con gần nhất Trợ cấp này được trả 1 lần với số tiền bằng 6 lần số tiền trợ cấp hưu trí hàng tháng của người đóng đã chết mà không quá mức 2.500 usd
* Trợ cấp cho vợ hoặc chồng góa: người đóng bảo hiểm cũng phải thỏa mãn các điều kiện như trợ câp mai táng phí Ngoài ra còn có các điều kiện về người được nhận trợ cấp, như: ít nhất đủ 45 tuổi hoặc đủ 35 tuổi vào thời điểm người đóng góp chết, đang còn sống với con chung phải nuôi dưỡng vào thời điểm người đóng góp chết hoặc vợ hoặc chồng góa bị tàn phế; nếu người đóng góp đóng góp cho cả 2 chế độ liên bang và tỉnh bang Quebec và người
vợ hoặc chồng sống ở tỉnh bang Quebec thì người đó có thể được hưởng trợ cấp cho người còn sống mà không cần đủ 35 tuổi Mức trợ cấp cho vợ hoặc chồng góa được tính phụ thuộc theo độ tuổi của người đó:
- Vợ hoặc chồng còn sống ở tuổi 65 trở lên được hưởng tương đương với 60% trợ cấp hưu trí đã được trả cho người đóng góp chết ở tuổi 65 hoặc mức hưu trí tương đương tuổi 65 (đối với người chết chưa đủ 65 tuổi)
- Vợ hoặc chồng còn sống ít hơn 60 tuổi được hưởng trợ cấp gồm 2 phần: 1 phần với tỉ lệ giống nhau và 1 phần dựa trên lợi tức tương ứng 37,5% trợ cấp hưu trí được tính dựa trên đóng góp của người chết
- Vợ hoặc chồng từ tuổi 35-45 mà không có con phải nuôi, không thương tật thì trợ cấp giảm 1/120 cho mỗi tháng còn lại trước khi người vợ hoặc chồng này đến 45 tuổi (tính từ tháng người đóng góp chết) và nếu dưới
35 tuổi thì vợ hoặc chồng không được chi trả trợ câp cho đến khi người đó đủ
65 tuổi trừ khi người đó bị tàn tật hoặc có con phải nuôi dưỡng
Trang 34- Khi người được hưởng trợ cấp tái giá, khoản trợ cấp đang hưởng trước đó vẫn tiếp tục được hưởng và trong trường hợp vợ hoặc chồng góa hơn
1 lần thì họ được hưởng 1 khoản trợ cấp cho vợ hoặc chồng góa duy nhất với mức hưởng cao nhất trong số các mức có thể được hưởng
- Một người nhận trợ cấp của vợ hoặc chồng góa có thể đang được hưởng trợ cấp hưu trí hoặc thương tật, trong trường hợp như vậy thì người đó
sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp kết hợp theo những quy định cụ thể
* Trợ cấp cho con của người đóng bảo hiểm chết: điều kiện để con họ được nhận trợ cấp thì người chết cũng phải đóng tối thiểu 1/3 thời gian có thể đóng bảo hiểm và phải có đề nghị bằng văn bản về việc xin hưởng trợ cấp cho con của họ; đứa trẻ phải dưới 18 tuổi hoặc từ 18 đến 25 tuổi và đang học thường xuyên, toàn phần ở một cơ sở giáo dục được công nhận Trợ cấp bị ngưng lại nếu đứa trẻ không thường xuyên ở trường toàn bộ thời gian nữa và
có thể được tái lập nếu nó lại bắt đầu đi học thường xuyên ở trường Trợ cấp hàng tháng cho mọi đứa trẻ được thiết lập giống nhau và không phụ thuộc vào lợi tức trước đó của bố mẹ
*Chế độ tử tuất theo pháp luật Đài Loan (6)
Đài Loan là một trong các thị trường tiếp nhận lớn lao động nước ngoài tại khu vực Đông bắc Á mà chủ yếu từ bốn nước: Philippine, Thái lan, Indonesia và Việt Nam Cơ cấu lao động làm việc tại Đài loan có quy mô lớn nhất tập trung lao động làm trong công xưởng chiếm 87%, xây dựng:1,2%; chăm sóc người già 10%; số còn lại thuộc lĩnh vực giúp việc gia đình và thuyền viên Theo quy định của Đài Loan, mọi lao động trong và nước ngoài đều phải tham gia BHXH bắt buộc Riêng lao động giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh tại nhà không bắt buộc tham gia bảo hiểm lao động nhưng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế
Người lao động chết không do TNLD-BNN và không bao gồm chết do
tự tử thì mức trợ cấp cho thân nhân được quy định như sau:
Trang 35- Người nộp bảo hiểm dưới 01 năm, căn cứ theo mức tiền lương bình quân tham gia đóng bảo hiểm thì mức được trợ cấp là 10 tháng tiền lương
- Người nộp bảo hiểm từ 01 năm đến dưới 02 năm, căn cứ theo mức tiền lương bình quân tham gia đóng bảo hiểm thì mức được trợ cấp là 20 tháng tiền lương
- Người nộp bảo hiểm từ 02 năm trở lên, căn cứ theo mức tiền lương bình quân tham gia đóng bảo hiểm thì mức được cấp là 30 tháng tiền lương
- Người lao động chết do TNLĐ hoặc BNN, họ sẽ được nhận trợ cấp mai tang phí tương đương với 5 tháng tiền lương bình quân và khoản tiền trợ cấp tuất một lần cho thân nhân tương đương với 40 tháng lương bình quân Thân nhân của người người lao động chết được nhận tiền tuất một lần theo quy định sau: vợ chồng, con cái; Cha, mẹ; Ông, bà; Cháu, chắt; và Anh, chị, em
- Khi thân nhân người lao động chết thì việc hỗ trợ mai táng như sau: Người lao động nước ngoài tham gia bảo hiểm, khi thân nhân không nằm trong diện được bảo hiểm bị chết, căn cứ theo quy định của Mục 5 Điều 43 Luật dịch vụ việc làm trước khi sửa đổi sẽ không được nhận tiền hỗ trợ mai táng cho thân nhân Nhưng trong Luật dịch vụ việc làm sửa đổi công bố ngày
21 tháng 1 năm 2002, quy định này đã bị bãi bỏ Sau khi Điều luật mới có hiệu lực (ngày 23 tháng 1 năm 2002) Nếu Bố mẹ, vợ (hoặc chồng), con cái người lao động nước ngoài bị chết, sẽ căn cứ theo quy định của điều 62 Luật Bảo hiểm lao động để xin trợ cấp mai táng cho thân nhân Cụ thể:
- Khi cha mẹ, chồng(vợ) của người lao động chết, căn cứ theo bình quân tiền lương nộp bảo hiểm, mức bảo hiểm được cấp là 03 tháng lương
- Khi con từ đủ 12 tuổi trở lên của người lao động bị chết, căn cứ theo bình quân tiền lương nộp bảo hiểm, mức bảo hiểm được cấp là 02 tháng 15 ngày lương
- Khi con dưới 12 tuổi của người lao động bị chết, căn cứ theo bình quân tiền lương nộp bảo hiểm, mức bảo hiểm được cấp là 01 tháng rưỡi tiền lương
Trang 36Trong khi Đài Loan áp dụng chính sách về bảo hiểm xã hội chung cho người lao động sống và làm việc tại các nước này thì ở Trung Quốc, các chế
độ BHXH chỉ được áp dụng ở các khu vực thành thị và trong các doanh nghiệp Tại các địa phương, nhất là vùng nông thôn Trung Quốc có thể vận dụng các chế độ BHXH áp dụng ở khu vực thành thị để cụ thể hóa thực hiện các chế độ BHXH khác nhau nhưng chủ yêu là chế độ hưu trí và thất nghiệp Trung Quốc thực hiện mô hình đa tầng (thành thị, doanh nghiệp và nông thôn); cách quản lý có tính tự quản cao nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của nhà nước
* Chế độ tử tuất theo pháp luật Trung Quốc (5)
Người lao động phải đống 8% tổng thu nhập vào tài khoản cá nhân bắt buộc cho chế độ hưu trí, tử tuất Thu nhập tối thiểu để tính mức đóng góp bằng 60% mức lương trung bình địa phương của năm trước Thu nhập tối đa
để tính mức đóng góp bằng 300% mức lương trung bình địa phương của năm trước Theo pháp luật về bảo hiểm của Trung Quốc, cũng quy định chế độ tử tuất bao gồm trợ cấp một lần, trợ cấp thương xuyên và mai táng phí Mức trợ cấp một lần bằng 6 đến 12 tháng tiền lương tháng cuối cùng của người chết, dựa trên số lượng thân nhân phụ thuộc Đối với người được bảo hiểm chết, trợ cấp một lần bằng 2 tháng tiền lương trung bình địa phương trong năm trước
đó và được chi trả cho vợ/chồng, con cái, bố mẹ hoặc ông bà Đối với thành viên gia đình phụ thuộc vào người được bảo hiểm chết, chi trả từ 33% đến 50% tiền lương doanh nghiệp hoặc trung bình hàng tháng của địa phương trong năm trước đó, phụ thuộc vào độ tuổi của người chết Bên cạnh đó, người lao động khi chết còn được chi trả trợ cấp một lần từ tài khoản cá nhân bắt buộc Ngoài ra, thân nhân người lao động còn được chi trả một số tiền bằng số dư trong tài khoản cá nhân bắt buộc của người chết cộng với lãi suất, được trả cho người thừa kế hợp pháp của người chết
Như vậy, có thể thấy chế độ tử tuất của Trung Quốc có nhiêu điểm
Trang 37tương đồng với chế độ tử tuất của Việt Nam Tuy nhiên, do đặc thù Trung Quốc là đất nước có diện tích rộng, trải dài qua nhiều vùng miền với nhiều đặc điểm kinh tế chính trị khác nhau, khoảng cách giữa các vùng về mức thu nhập và điều kiện kinh tế đôi khi là rất lớn nên mức thu - chi bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ tử tuất nói riêng có những phân biệt giữa các vùng phụ
thuộc vào tiền lương trung bình địa phương trong năm đó
Như vậy từ các mô hình chế độ tử tuất ở các quốc gia mà tác giả đã tìm hiểu trong khuôn khổ nghiên cứu tài liệu thực hiện luận văn, chúng ta nhận thấy mô hình chế độ tử tuất ở nước ta có nhiều điểm tương đồng với các nước trên về mặt nội dung chế độ Tuy nhiên, chúng ta có thể cũng cần xem xét tham khảo về một số vấn đề như: Canada xem xét khoản trợ cấp mai táng phí như một dạng tài sản được thừa kế, và theo đó, trước hết chính phủ tôn trọng
ý nguyện của người đóng bảo hiểm về việc ai được thừa hưởng số tiền này, nếu không có di chúc thì mới tính đến việc chi trả theo quy định pháp luật dựa vào mối quan hệ gia đình và hàng thừa kế Đây cũng là một điểm hay có thể đáng được học hỏi bởi xét cho cùng, bản chất của các khoản trợ cấp BHXH cũng là lợi tức từ quá trình đóng góp của người tham gia khi còn trong độ tuổi lao động và họ có quyền được định đoạt số tiền lợi tức đó trong trường hợp họ chết đi và không được hưởng các trợ cấp tuổi già khác Một điểm nên được xem xét học hỏi nữa là về việc chi trả trợ cấp cho vợ hoặc chồng góa trong độ tuổi lao động mà người này có trách nhiệm nuôi dưỡng con đang trong độ tuổi phụ thuộc bố mẹ Không những thế, đối với trường hợp vợ hoặc chồng góa chưa đủ 35 tuổi để đáp ứng điều kiện hưởng trợ cấp thì việc chi trả được ngưng cho đến khi họ đủ 65 tuổi Đây có thể xem là những khía cạnh thể hiện
sự nhân văn của chính sách BHXH của Canada khi xây dựng chế độ tử tuất nhằm bù đắp thu nhập cho những gia đình bị mất trụ cột kinh tế, giảm tỉ lệ
“nghèo hóa” và ổn định cuộc sống Hoặc quy định của pháp luật Trung Quốc
Trang 38về mức hưởng và các tính mức hưởng đối với thân nhân người chết được căn
cứ trên mức lương khi làm việc của người lao động (thay vì mức lương tối thiểu chung của cả nước như Việt Nam hiện nay) cũng là một công thức tính nên được đưa ra xem xét và nghiên cứu, phân tích, cân đối dựa trên nền tảng kinh tế đất nước và độ ổn định của nguồn quỹ để có định hướng xây dựng mức hưởng về lâu dài cho tương lai, nhằm đảm bảo cân đối thu chi và sự ổn định của nguồn dự trữ chi trả
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chế độ tử tuất là một trong hệ thống các chế độ BHXH, gồm khoản trợ cấp bằng tiền nhằm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập từ lao động cho thân nhân của người lao động khi người lao động chết dựa trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung từ sự tham gia đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động được sự bảo trợ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho người lao động và thân nhân trong gia đình họ
Trong Chương 1, luận văn đã tập trung vào phân tích những vấn đề cơ
sở lý luận về chế độ tử tuất trong pháp luật BHXH như khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của chế độ tử tuất, đối tượng bảo vệ, mức đóng góp tài chính vào quỹ BHXH Cũng trong Chương này, luận văn đã sơ lược nội dung liên quan đến chế độ tử tuất được quy định trong văn kiện quốc tế là Công ước số 102 (1952), Công ước số 128 (1967) của ILO, và chế độ tử tuất trong pháp luật của ba quốc gia là Canada, Đài Loan, Trung Quốc, đây là hai quốc gia mà tác giả có cơ hội tìm hiểu trong phạm vi thời gian nghiên cứu luận văn Từ đó có thể khẳng định rằng, chế độ tử tuất là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chế độ BHXH đã và đang phát huy được vai trò tích cực của nó trong
hỗ trợ một phần khó khăn cho gia đình người lao động khi người lao động chết, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, thực hiện mục tiêu về an sinh
xã hội của mỗi quốc gia
Tuy không phải là nội dung mới nhưng việc tìm hiểu, nghiên cứu lý luận về chế độ tử tuất để có cái nhìn đa chiều về chế độ này, đặt trong điều kiện thực tế hiện nay nhằm thực hiện chế độ sao cho đạt hiệu quả cao, đúng quy định của pháp luật BHXH là nhiệm vụ cần thiết trong xây dựng chiến lược pháp luật theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ
HỘI NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN
2.1 Thực trạng các quy định về chế độ tử tuất trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
2.1.1 Thực trạng quy định chế độ tử tuất trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ tử tuất
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đối tượng hưởng chế độ tử tuất bao gồm người lao động trực tiếp tham gia BHXH, thân nhân của người lao động tham gia BHXH sau khi người lao động chết (1)
Đối tượng là người lao động trực tiếp tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng,
kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;