1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các quyết định của viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)

111 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Các quyết định của Viện Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

Các quyết định của Viện Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HẠN VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 9

1.1 Khái niệm quyền hạn và các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy vụ án hình sự 9

1.1.1 Khái niệm, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố 9

1.1.2 Các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố 14

1.2 Ý nghĩa của việc quy định các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự 19

1.2.1 Ý nghĩa về chính trị- xã hội 19

1.2.2 Ý nghĩa về pháp lý 20

1.2.3 Ý nghĩa về thực tiễn 21

1.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc ra các các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố 22

1.3.1 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân 22

1.3.2 Mối quan hệ giữa Tòa án nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân 25

1.3.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan khác với Viện kiểm sát nhân dân 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Trang 5

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC

QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

CÁC QUYẾT ĐỊNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33

2.1 Qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự 33

2.1.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự 33

2.1.2 Điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về các quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố 52

2.2 Thực tiễn thi hành các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội 57

2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 57

2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆC RA CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 80

3.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 80

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 80

3.1.2 Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác 84

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc ra các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố 86

3.2.1 Quán triệt sâu sắc các quan điểm, tư tưởng, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành 86

Trang 6

3.2.2 Về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 86 3.2.3 Về nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên 89 3.2.4 Về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và các cơ quan khác

trong việc ra các quyết định trong giai đoạn truy tố 94

KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

HĐND: Hội đồng nhân dân

KSV: Kiểm sát viên

THQCT Thực hành quyền công tố UBND: Ủy ban nhân dân

UBTVQH: Ủy ban thường vụ quốc hội VAHS: Vụ án hình sự

VKS: Viện kiểm sát

VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số vụ án/bị can VKSND thành phố Hà Nội giải quyết

Bảng 2.2: Số vụ án/bị can VKSND thành phố Hà Nội trả hồ sơ để

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng thuộc khối các cơ quan tư pháp của nước ta, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tuân theo pháp luật Viện kiểm sát (VKS) có những chức năng và nhiệm vụ nhất định, được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật hình sự (BLHS), Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật tổ chức VKSND… Trong đó, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng THQCT Hoạt động THQCT chỉ diễn ra trong hai giai đoạn của tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử các vụ án hình sự (VAHS) Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố VAHS và trong suốt quá trình tốt tụng hình sự nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người không có tội

Một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình THQCT của VKS đó chính là giai đoạn truy tố Và những quyết định của VKS trong giai đoạn này cũng cực kỳ quan trọng Sở dĩ nó được coi là giai đoạn quan trọng bởi vì: Một mặt, truy tố là chức năng quan trọng của VKS nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng và cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng; nhằm mục đích loại trừ những hậu quả tiêu cực hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong hai giai đoạn tố tụng hình sự trước đó; Mặt khác, quyết định truy tố của VKS thông qua bản cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ của vụ án, tính chất lỗi của hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong việc chuẩn bị cho giai đoạn xét xử của Tòa án, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả tiêu cực tiếp theo có thể xảy ra do việc xét xử thiếu công minh, vô căn cứ và không đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan những người vô tội

Trang 10

Chính vì vậy, truy tố là một giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng nhằm tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi xét xử tại Tòa án Đồng thời, các quyết định được đưa ra trong giai đoạn này của VKS cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng tác động không hề nhỏ tới vụ án cũng như những người có liên quan

Thành phố Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội của cả nước Hà Nội là nơi tập trung đông dân cư, các quan

hệ kinh tế, thương mại, xã hội rất phát triển Bên cạnh những mặt tích cực, làm cho đời sống nhân dân ngày càng tăng cao, thì với dân số đông, quan hệ kinh tế xã hội như vậy dẫn đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội của Hà Nội rất phức tạp Hàng năm, Cơ quan điều tra công an hai cấp của thành phố

đã khởi tố, điều tra, và VKS đã truy tố hàng nghìn VAHS với hàng chục nghìn bị can các loại Trong hoạt động của mình, VKSND hai cấp của thành phố Hà Nội đã tích cực, chủ động thực hiện tốt những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền của VKSND trong quá trình THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VAHS Đặc biệt trong giai đoạn truy tố - một giai đoạn tập trung nhất thẩm quyền của VKSND trong giải quyết VAHS, thì VKS hai cấp của Hà Nội đã thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn nhằm ban hành các quyết định phục vụ công tác giải quyết VAHS Tuy nhiên, trên thực tế, có những chỗ, những lúc công tác ban hành các quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố VAHS còn chưa thực sự tốt, vẫn còn tình trạng Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung, hoạt động ban hành Cáo trạng chưa thực sự sát với hồ sơ vụ án, có những vụ không bảo vệ được cáo trạng bị trả hồ sơ bổ sung, đình chỉ vụ án…

Trước những tình hình khó khăn vướng mắc cả ở khía cạnh pháp luật

và thực tiễn thực hiện thì việc tìm hiểu các quy định liên quan đến vấn đề này

và thực tiễn áp dụng chế định này ở một địa phương cụ thể là Hà Nội sẽ giúp

Trang 11

chúng ta hiểu biết sâu hơn về chức năng công tố của VKS, cũng như đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định pháp luật vào trong thực tiễn tránh tình trạng xét xử không đúng pháp luật, bỏ sót, bỏ lọt tội phạm và xử oan người vô tội

Đó chính là sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài “Các quyết định của

Viện Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)” là luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hiện nay, ở trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, ở những khía cạnh, phương diện khác nhau xung quanh đề tài về quyền công tố cũng như những quyết định của VKS trong những giai đoạn tố tụng nhất định Có thể kể đến các công trình sau:

* Nhóm các công trình là bài viết khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, bao gồm

- Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi tố bị can (Tạp chí Tòa án –

Tòa án nhân dân Tối cao số 7/2006);

- THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra,

Nxb Tư pháp, Hà Nội (2005) của tập thể tác giả: Tiến sĩ Lê Hữu Thể (chủ biên), Tiến sỹ Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường;

- Một số giải pháp nâng cao chất lượng ban hành các quyết định tố tụng hình sự của VKS trong giai đoạn truy tố, Tạp chí kiểm sát, VKSND tối

cao, 2014, số 10, trang 26-29, tác giả: Vũ Ngọc Thạch;

- Giải pháp để hạn chế việc trả lại hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, Tạp chí kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2014, số 10,

Trang 12

* Nhóm các công trình là các đề tài khoa học, luận văn, luận án tiến

sĩ luật học có liên quan, bao gồm

- Đề tài khoa học cấp nhà nước có công trình "Cải cách hệ thống tư

pháp Việt Nam", Do TS Uông Chu Lưu chủ nhiệm, bảo vệ năm 2007

- Đề tài khoa học cấp bộ: "VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp";

do VKSND tối cao chủ trì bảo vệ năm 2001

- Luận văn thạc sĩ “Các quyết định tố tụng của VKS trong giai đoạn

truy tố” của tác giả: Võ Ngọc Thạch; người hướng dẫn: TS Võ Thị Kim

Oanh, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2012

- Luận văn thạc sĩ Chế định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong tố tụng

hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đình Long; người hướng dẫn: PGS.TS

Nguyễn Đức Thuận, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội bảo vệ năm 2008

- Luận văn thạc sĩ Quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố” của tác

giả Nguyễn Thị Minh Hồng; người hướng dẫn: TS Vũ Gia Lâm, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2014

- Luận văn thạc sĩ Chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố” của tác

giả Nguyễn Thị Thanh Huyền; người hướng dẫn: TS Vũ Gia Lâm, bảo vệ năm 2012

* Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, bao gồm

- Nguyễn Ngọc Chí (2012), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự

Việt Nam, Nxb Công an nhân dân

- VKSND tối cao chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015:

Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của VKSND qua 55 năm tổ chức và hoạt động;

- Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (Đồng chủ biên),

Trang 13

Những vấn đề lý luận cấp bách về hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2013

- Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Những nội dung mới trong BLTTHS

năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2016

Các bài viết, công trình nghiên cứu hiện nay đã có nhiều bài viết liên quan đến quyền công tố của VKS trong quá trình tố tụng, hay cụ thể hơn là trong giai đoạn truy tố VAHS Tuy nhiên, có rất ít bài viết nghiên cứu sâu về các quyết định của VKS trong giai đoạn này Chủ yếu các nghiên cứu chỉ đề cập đến các quyết định của VKS với tư cách như các hoạt động chủ yếu để làm sáng tỏ chức năng của VKS trong tố tụng hình sự mà chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này

Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trên có thể thấy, cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn, và phân tích một cách độc lập vấn đề này Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng thực tiễn cũng như những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong việc ra các quyết định trong giai đoạn truy tố của VKS nhằm đưa ra các phương hướng khắc phục

Như vậy, một lần nữa cho phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Các quyết định của VKSND trong giai đoạn truy tố” là đòi hỏi khách quan, cấp

thiết, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về các chức năng, nhiệm vụ của VKS, đồng thời tập trung phân tích các quyết định của VKS được đưa ra trong giai đoạn truy tố dưới khía cạnh lập pháp hình sự, và áp dụng chúng trong thực tiễn Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định trên, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, và phù hợp với phạm vi nghiên cứu của Luận văn, cần đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền công tố, THQCT của VKS trong Luật tố tụng hình sự hiện hành;

- Trên cơ sở tổng hợp các quy định, các bài viết và các quan điểm của các tác giả về vấn đề truy tố VAHS để đưa ra các khái niệm chung, và phân loại các quyết định của VKS được đưa ra trong giai đoạn này;

- Đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm sát việc truy tố VAHS nói chung

và việc đưa ra các quyết định truy tố nói riêng trong thời gian gần đây để tìm

ra các nguyên nhân, hạn chế, tồn tại của việc áp dụng pháp luật vào việc đưa

ra các quyết định của VKS;

- Đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định về pháp luật về vấn đề này và biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là một số vấn đề về lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về quyền công tố của VKS trong giai đoạn truy tố VAHS

Trang 15

- Đồng thời rút ra những hạn chế còn tồn đọng trong quá trình áp dụng pháp luật, đưa ra được những định hướng hoàn thiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luật chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vân đề cải cách tư pháp thể hiện trong các nghị quyết của Đại hội Đảng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp quy nạp; phương pháp diễn dịch; phương pháp thống kê; phương pháp xã hội học… để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề nghiên cứu trong luận văn

6 Những đóng góp và điểm mới của luận văn

Điểm mới của Luận văn đó là phân tích, làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề các quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố VAHS dưới góc độ là một hoạt động của VKS chứ không chỉ còn chung chung là các nhiệm vụ và quyền hạn của VKS nữa Đây là một góc độ nghiên cứu hoàn toàn mới và có ý nghĩa nhất định trong quá trình nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự

Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu các số liệu thực tế, luận văn đã chỉ ra được một số điểm còn vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự vào việc đưa ra các quyết định trong giai đoạn truy

tố của VKS Từ đó có thể đưa ra một số đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng

áp dụng pháp luật trong thực tiễn

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền hạn và các quyết định của

VKSND trong giai đoạn truy tố VAHS

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các quyết định

của VKSND trong giai đoạn truy tố VAHS và thực tiễn thi hành các quyết định trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp

nhằm nâng cao chất lượng việc ra các quyết định của VKSND trong giai đoạn truy tố VAHS

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HẠN VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN

1.1.1.1 Khái nhiệm quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Theo Hiến pháp Việt Nam từ năm 1959 đến nay đều thừa nhận VKSND

là một thiết chế cơ quan nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản là THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp Cụ thể hóa điều đó, Luật tổ chức VKSND qua các thời kỳ cũng quy định, VKSND có chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp Theo đó, VKSND khi thực hiện công tác của mình có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [23]

Ở Việt Nam, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng THQCT Hoạt động THQCT được tiến hành trong các giai đoạn tố tụng khác nhau từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Hoạt động THQCT được thực hiện từ khi có nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình tố tụng

Trang 18

hình sự nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người không có tội

Theo Hiến pháp hiện hành và Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của VKSND được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm sát

cụ thể như sau:

Thứ nhất, công tác kiểm sát điều tra các VAHS, bao gồm các hoạt

động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Thứ hai, kiểm sát xét xử các VAHS, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát

việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản

án và quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những VAHS để xem xét, quyết định việc kháng nghị

Thứ ba, kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với các vụ việc dân sự,

hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, các vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật

Thứ tư, kiểm sát thi hành án, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc

tuân theo pháp luật của Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản

án, quyết định về hình sự, dân sự đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

Thứ năm, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người

chấp hành án phạt tù, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp

Trang 19

luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

Trong quá trình kiểm sát đó, trong lĩnh vực hình sự, VKND có nhiệm

vụ quyền hạn xuyên suốt từ giai đoạn tiếp nhận giải quyết tố giác tin báo cho tới khi kiểm sát việc thi hành bản án hình sự đã có hiệu lực của Tòa án

Qua những quyền hạn đã kể trên thì ta có thể hiểu, quyền hạn của

VKSND là những việc VKS được làm để thực hiện chức năng THQCT, kiểm

sát các hoạt động tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm mục đích bảo vệ nhà nước, bảo vệ pháp luật, bảo vệ nhân dân, xử lý theo pháp luật đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội

1.1.1.2 Khái niệm giai đoạn truy tố

Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó VKS tiến hành tố tụng, thực hiện các hoạt động xem xét, quyết định việc truy tố đối với bị can; đồng thời, kiểm sát các hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng nhằm đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và bảo đảm hoạt động của những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật

Giai đoạn truy tố là giai đoạn tiếp sau giai đoạn điều tra, được bắt đầu

từ khi VKS nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến Trong giai đoạn này, VKS xem xét, quyết định việc truy tố hay đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; tiến hành các hoạt động bổ sung tài liệu, chứng cứ hay trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung Trong trường hợp cần thiết, VKS có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định truy tố hay không truy tố đối với bị can Trong trường hợp không thể tự mình bổ sung được tài liệu,

Trang 20

chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án thì VKS có thể trả lại hồ sơ cho cơ quan để yêu cầu điều tra bổ sung, bảo đảm việc truy tố hay không truy tố đúng quy định của pháp luật không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm

Trong giai đoạn truy tố ngoài các hoạt động THQCT, xem xét quyết định việc truy tố đối với bị can đã có đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Trong giai đoạn này VKS có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kiểm sát, kịp thời pháp hiện các vi phạm pháp luật và yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Như vậy, khái niệm giai đoạn truy tố có thể được hiểu là một trong các

giai đoạn của tố tụng hình sự Theo đó, trong giai đoạn này VKS dựa vào bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra để ra một trong các quyết định truy tố bị can, trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

1.1.1.3 Khái niệm quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố

Để thực hiện chức năng của mình, sau khi kết thúc điều tra, nhận bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra, VKS sẽ có quyền quyết định có truy tố một vụ việc hay không theo các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, hoặc ra một trong các quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án nếu có đủ các căn cứ theo pháp luật Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như quan điểm của một số tác giả còn chưa có sự rõ ràng trong việc phân tách giai đoạn truy tố như một giai đoạn tố tụng độc lập Theo đó,

Trang 21

pháp luật tố tụng hiện hành cũng như quan điểm của một số tác giả vẫn quy định giai đoạn truy tố gồm vào với giai đoạn điều tra Điều này dẫn đến sự lẫn lộn, chồng chéo trong xác định thẩm quyền của VKS trong giai đoạn truy tố cũng như giai đoạn điều tra Sự phân tách này trên cơ sở lý luận được hiểu là,

ở giai đoạn điều tra VKS có chức năng THQCT và kiểm sát điều tra, nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra chứng minh VAHS được đảm bảo, kết quả cuối cùng của giai đoạn này hoặc là ra quyết định đình chỉ vụ án nếu có đủ căn cứ hoặc kết luận điều ra đề nghị truy tố nếu đủ chứng cứ buộc tội… Và đây cũng chính là tiền đề để phát sinh nhiệm vụ quyền hạn của VKS trong giai đoạn truy tố

Việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn truy tố là rất quan trọng, bởi lẽ nó xác định được VKS được quyền tiến hành và ban hành các quyết định gì nhằm giải quyết VAHS Dưới giác độ này thì pháp luật tố tụng hình sự cũng như các học giả nghiên cứu đều thống nhất ở những điểm sau: Một là, giai đoạn truy tố bắt đầu từ khi VKS nhận được Bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố của VKS và kết thúc khi VKS ra quyết định truy tố bị can hoặc đình chỉ VAHS Hai là, trong giai đoạn truy

tố, VKSND cũng tiến hành các hoạt động THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Ba là, trong giai đoạn truy tố, VKND được quyền ban hành nhiều quyết định tố tụng nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của mình như: (i) các quyết định liên quan đến nội dung vụ án, chấm dứt hoặc tạm ngừng hoặc tiếp tục vụ án gồm, Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn thì VKS lập quyết định truy

tố để truy tố bị can), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; (ii) Bên cạnh đó nhằm nhanh chóng và kịp thời khắc phục những sai lầm có thể có trong những giai đoạn trước đó có thể gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, VKS có quyền áp dụng, thay đổi hoặc

Trang 22

hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; ban hành các quyết định phục vụ công tác giải quyết vụ án như trưng cầu giám định, quyết định đối chất, thực nghiệm điều tra… Tuy nhiên, các quyết định này không có ý nghĩa làm thay đổi nội dung, bản chất của vụ án, không trực tiếp ảnh hưởng đến sự chấm dứt, tiếp tục hay tạm dừng VAHS ở trong giai đoạn truy tố và các giai đoạn tiếp theo

Qua các quy định kể trên, thì khái niệm quyền hạn của VKS trong giai

đoạn truy tố có thể được hiểu là những việc, những quyết định tố tụng mà

VKS có quyền thực hiện đó là: truy tố bị can bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm định chỉ vụ án VKS thực hiện đúng các

chức năng, quyền hạn của mình sẽ góp phần giải quyết một cách đúng đắn và kịp thời VAHS tránh bỏ lọt tội phạm, góp phần xét xử đúng người, đúng tội

1.1.2 Các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố

1.1.2.1 Khái niệm các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố

Truy tố là giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó VKS căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của VAHS (bao gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và trên cơ sở đó VKS ra quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ VAHS

Theo Từ điển Tiếng Việt thì quyết định được hiểu theo nghĩa danh từ là

“tên gọi văn bản của các cấp có thẩm quyền” [29, tr 883]

Theo từ điểm Luật học thì quyết định là một hình thức văn bản pháp luật bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật do

Trang 23

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay không nêu thế nào là quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố mà chỉ nêu chung chung những việc VKS phải làm trong giai đoạn truy tố nói chung Trên thực tế, việc VKS

ra quyết định trong giai đoạn truy tố nhằm mục đích truy tố hay không truy tố

bị can ra trước Tòa án Đối với VAHS, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy đã có đủ chứng cứ và đủ điều kiện thì KSV đề xuất với lãnh đạo Viện truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng; nếu thấy đã có đầy đủ chứng cứ để truy tố, nhưng bị can đã bỏ trốn hoặc không xác định được bị can đang ở đâu thì báo cáo lãnh đạo VKS yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can

và ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Khi vụ án chưa đủ điều kiện truy tố thì tùy từng trường hợp VKS có thể ra một trong các quyết định như: trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án; nếu thấy không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự bị can thì ra quyết định đình chỉ vụ án

Hiện nay, các quyết định của VKS đặc biệt là các quyết định quan trọng có liên quan đến việc chấm dứt, tiếp tục hay tạm dừng giải quyết vụ án trong các giai đoạn khác nhau trong đó có giai đoạn truy tố đều được ban hành bởi Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS mà không được ban hành bởi Kiểm sát viên Bởi lẽ, các quyết định có ý nghĩa quan trọng đối với giải quyết

vụ án, đồng thời việc ban hành các quyết định này đảm bảo nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong ngành của Ngành kiểm sát

Như vậy có thể hiểu, Các quyết định của VKSND trong giai đoạn truy

tố có thể được hiểu là văn bản tố tụng do Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS

ban hành trong thời hạn quyết định truy tố nhằm giải quyết một cách đúng đắn vụ án theo quy định của pháp luật

1.1.2.2 Thẩm quyền ban hành, đối tượng, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

a) Thẩm quyền ban hành:

Các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ

Trang 24

án có những vị trí, vai trò và mức độ tham gia khác nhau trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người tiến hành

tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do luật định không chỉ là để kiểm tra lại kết quả của toàn bộ các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiến hành, tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động đó, mà còn đảm bảo cho quyết định của Viện kiểm sát được chính xác, khách quan, toàn diện; góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm

Tại khoản 4 Điều 166 quy định về “Thời hạn quyết định truy tố” trong

bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mới chỉ quy định: Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền Tuy nhiên, đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì điều này đã được quy định thành một điều luật riêng (Điều 239) quy định về thẩm quyền truy tố Theo đó, Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việc truy tố Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án [47]

Việc quy định một cách cụ thể này đã góp phần giải quyết rất nhiều vướng mắc hiện nay liên quan đến vấn đề ủy quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử và phù hợp hơn với nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong tổ chức bộ máy Nhà nước ta Điều luật này quy định: “Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công

Trang 25

Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét

xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngay sau khi quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này” [24, Điều 239]

b) Đối tượng:

Đối tượng chịu sự tác động của các quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố là những cá nhân, đơn vị có nhiệm vụ, quyền hạn, quyền và lợi ích liên quan đến vụ án Cụ thể đối với từng quyết định của Viện kiểm sát đó là:

- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Là việc Cơ quan điều tra kết

thúc điều tra, chuyển hồ sơ và quyết định kết thúc điều tra đề nghị truy tố cho Viện kiểm sát; nhưng sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát lại phát hiện những thiếu sót cần phải bổ sung thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định trả hồ sơ, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung [19, Điều 168]

Vậy, đối tượng của quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai đoạn này chính là Cơ quan điều tra

- Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án (bị can): Là việc Viện

kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, hoặc đình chỉ đối với vụ án hoặc bị can khi thấy có đủ các căn cứ theo quy định của pháp luật Khi Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, hoặc đình chỉ đối với toàn bộ vụ án thì đối tượng chịu sự tác động của quyết định này sẽ là Cơ quan điều tra; bị can; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; luật sư Đồng thời, khi Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, hoặc đình chỉ đối với 1 hoặc một vài bị can riêng lẻ thì đối tượng chịu sự tác động của quyết định đó sẽ là những bị can có

Trang 26

tên trong quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ mà không ảnh hưởng tới các

bị can khác của vụ án

- Quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng: là việc

Viện kiểm sát truy tố bị can về hành vi phạm tội mà có căn cứ cho rằng bị can

đó đã thực hiện ra trước Tòa án để xét xử Khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng truy tố bị can ra trước Tòa thì những cơ quan, cá nhân là đối tượng của quyết định này chính là Tòa án: Tòa án đóng vai trò là cơ quan xét xử; bị can, người

bị hại: đóng vai trò là những người có liên quan trực tiếp đến vụ án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và luật sư

c) Trình tự, thủ tục ban hành các quyết định:

Thủ tục ban hành các quyết định trong giai đoạn truy tố hay thủ tục truy

tố người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án là một trong những vấn đề căn bản của tố tụng hình sự Khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải cân nhắc rất nhiều mặt, bảo đảm truy tố chính xác, nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật và hiệu quả

Theo quy định tại Điều 166 – Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì: Trong thời hạn hai mươi ngày đối với các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu

Trang 27

cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho

bị can Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày,

kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ

sơ và bản cáo trạng đến Tòa án

Để ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải đánh giá đầy đủ các căn cứ

để xem xét bị can có thể bị kết tội tại Tòa hay không Quá trình điều tra có thể

có những thiếu sót về chứng cứ, về áp dụng pháp luật hoặc có căn cứ khác dẫn đến việc không thể truy tố tội phạm, khi đó Viện kiểm sát có thể ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung [19, Điều 168]

Để có căn cứ quyết định việc truy tố hay không truy tố, Viện kiểm sát phải nghiên cứu hồ sơ, tiến hành một số hoạt động điều tra cần thiết (như hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, đối chất để kiểm tra chứng cứ, loại trừ các mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án) Và khi có đủ các căn

cứ theo quy định tại Điều 169 – Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án

Khi có đủ căn cứ để truy tố bị can ra trước Tòa án thì Viện kiểm sát

ra bản cáo trạng trong đó xác định tội danh và mức độ phạm tội của bị cáo Nội dung của bản cáo trạng được quy định tại Điều 167 – Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.2 Ý nghĩa của việc quy định các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự

1.2.1 Ý nghĩa về chính trị- xã hội

Nhà nước ta hiện nay là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động của các cá nhân, tổ chức đều phải tuân theo pháp luật Và VKSND là cơ quan THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong xã hội

Trang 28

Việc truy tố đạt kết quả tốt và hạn chế được những khiếm khuyết nêu trên sẽ góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động của VKS nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung; góp phần vào việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, qua đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự, an toàn xã hội, tăng cường hiệu quả của công tác phòng chống tội phạm

Do đó, để pháp luật có thể thực thi một cách nghiêm minh, hiệu quả thì VKSND phải thực hiện tốt vai trò của mình đó là phát hiện, truy tố kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật Mọi hành vi phạm tội đều bị trừng phạt một cách thích đáng, đảm bảo pháp luật được thi hành công bằng, nhân đạo Qua

đó vừa tạo được tính răn đe, tránh các trường hợp tiếp tục phạm tội đồng thời cũng vừa tạo được niềm tin cho nhân dân vào Đảng và nhà nước

1.2.2 Ý nghĩa về pháp lý

Truy tố là một giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng, và các quyết định của VKS trong giai đoạn này cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi xét xử tại Tòa án

Các quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố là cơ sở pháp lý để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt trình tự các giai đoạn tố tụng và các quan

hệ tố tụng đó là: Nếu đủ căn cứ để truy tố thì lúc này sẽ phát sinh giai đoạn tố tụng mới đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm và quan hệ tố tụng mới đó là mối quan hệ giữa VKS và Tòa án; giữa bị can, người tham gia tố tụng với Tòa án Nếu không đủ điều kiện truy tố thì VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án Trong trường hợp trả hồ sở để điều tra bổ sung thì trình tự tố tụng quay trở lại giai đoạn điều tra, quan hệ tố tụng trong giai đoạn này là quan hệ giữa VKS và Cơ quan điều tra Trong trường hợp VKS tạm đình chỉ vụ án thì trình tự tố tụng tạm dừng Nếu tạm đình chỉ vụ án vì lý

do bị can trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu thì VKS phải yêu cầu Cơ

Trang 29

quan điều tra truy nã bị can Trong trường hợp đình chỉ vụ án thì trình tự tố tụng và quan hệ tố tụng cũng chấm dứt

Vì thế, vai trò của VKS không chỉ đơn giản là tiếp tục vụ việc sau khi Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra mà còn phải đánh giá tính chất nghiêm trọng của vụ việc, đánh giá chứng cứ đưa ra một quyết định đúng đắn để truy tố hay tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VAHS trong giai đoạn điều tra, truy tố

Nếu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình thì VKS sẽ đưa ra được các quyết định khách quan, kịp thời và đúng pháp luật Điều này có ý nghĩa then chốt trong việc duy trì chế độ nhà nước pháp quyền, mọi người dân đều tuân theo pháp luật Đồng thời, duy trì tính chất nghiêm minh của Hiến pháp và pháp luật Ngược lại, nếu VKS không thực hiện tốt chức năng, đưa ra các quyết định thiếu khách quan, chính xác thì việc thực thi pháp luật

sẽ còn tùy tiện, lỏng lẻo, phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của Cơ quan điều tra cũng như Tòa án

Đặc biệt là trong giai đoạn truy tố, một giai đoạn chuyển giao quan trọng giữa giai đoạn Điều tra và giai đoạn xét xử thì vai trò giám sát của VKS lại càng quan trọng Nếu muốn khởi tố vụ án, truy tố bị can đúng pháp luật đúng người, đúng tội thì Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra phải chính xác, quá trình điều tra phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tránh tình trạng ép cung, mớm cung, bức cung, sử dụng nhục hình buộc phải nhận tội Nếu thấy thiếu các chứng cứ quan trọng mà không tự bổ sung được thì VKS có thể trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra bổ sung

1.2.3 Ý nghĩa về thực tiễn

Một mặt, truy tố là chức năng quan trọng của VKS nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng Các quyết định của VKS trong giai đoạn này có ý nghĩa loại trừ những hậu

Trang 30

quả tiêu cực của các sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong hai giai đoạn

tố tụng hình sự trước đó

Mặt khác, quyết định truy tố của VKS thông qua bản cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ của vụ án (nhất là kết luận điều tra) tính chất lỗi của hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong việc chuẩn bị cho giai đoạn xét

xử của Tòa án, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả tiêu cực tiếp theo có thể xảy ra do việc xét xử thiếu công minh, vô căn cứ và không đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan những người vô tội;

Do có sự kiểm tra, xem xét các điều kiện pháp lý cần và đủ trước khi quyết định truy tố nên VKS có thể hạn chế được những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động truy tố; hạn chế được những điểm chưa thống nhất về quả điểm đối với việc giải quyết vụ án giữa CQĐT và VKS, giữa VKS và Tòa án; hạn chế được những trường hợp KSV bị động, lúng túng trước những diễn biến tại phiên tòa nhất là những phần tranh tụng

Chính vì vậy, truy tố và các quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố

có ý nghĩa rất quan trọng để tăng cường pháp chế; bảo vệ các quyền và tự do của công dân; góp phần giữ vững ổn định chính trị, an toàn xã hội

1.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc ra các các quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố

1.3.1 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân

Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi phạm tội, do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là tất yếu, khách quan BLTTHS quy định cụ thể về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó, Cơ quan điều tra, VKS, Toà án

có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tiến hành tố tụng Tuy nhiên, sự phối

Trang 31

hợp giữa Cơ quan điều tra với VKS khác với sự phối hợp giữa VKS và Toà

án Bởi lẽ, sự phối hợp giữa VKS với Toà án thường chỉ xuất hiện sau khi vụ

án đã được VKS truy tố và chuyển hồ sơ đến Toà án đưa ra vụ án để xét xử Còn công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra và VKS không chỉ được thực hiện sau khi Cơ quan điều tra kết luận điều tra vụ án chuyển hồ sơ đến VKS

mà còn được thực hiện từ khi Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra VAHS

Khi tiến hành tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra và VKS vừa tiến hành các hoạt động tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng Trong giai đoạn điều tra VAHS, Cơ quan điều tra có chức năng, nhiệm

vụ phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra VAHS, còn VKS có chức năng, nhiệm

vụ THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra VAHS, bảo đảm hoạt động điều tra VAHS đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Do vậy, Cơ quan điều tra và VKS không chỉ có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng hình sự cụ thể mà sự phối hợp xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra VAHS

Về hình thức, Cơ quan điều tra và VKS phối hợp bằng nhiều cách thức, cấp độ, tần suất khác nhau, như: Phối hợp theo quy định của pháp luật (BLTTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Thông tư liên tịch), các quy định giữa hai ngành, hai đơn vị cùng cấp (quy chế, quy định phối hợp); phối hợp thường xuyên định kỳ theo chương trình, kế hoạch hoặc đột xuất thông qua việc giải quyết VAHS cụ thể Về chủ thể, có sự phối hợp giữa Lãnh đạo VKS với Lãnh đạo Cơ quan điều tra hoặc giữa Điều tra viên với Kiểm sát viên Về hình thức phối hợp thông qua văn bản hoặc trao đổi trực tiếp

Về nội dung, Cơ quan điều tra và VKS phối hợp trong từng chế định tố tụng hình sự, như: Trong việc nắm, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; khởi tố vụ án, khởi tố bị can; việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ

Trang 32

các biện pháp ngăn chặn; việc điều tra thu thập chứng cứ và lập hồ sơ vụ án; việc đình chỉ, tạm đình chỉ, kết thúc điều tra vụ án Trong đó, Cơ quan điều tra và VKS cùng có sự phối hợp chặt chẽ, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm; chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp phụ thuộc chủ yếu vào sự tích cực phối hợp của cả hai chủ thể này

Về tính chất, sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và VKS trong tố tụng hình sự nhằm mục đích chung là phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm khác nhau, nên sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và VKS được tiến hành trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành được pháp luật quy định cụ thể

Về mức độ, phối hợp cũng cần có cơ chế để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả, khắc phục tình trạng phối hợp mang tính hình thức, không hiệu quả Trong tố tụng hình sự, mức độ của sự phối hợp tùy thuộc vào tính chất của chế độ tố tụng hình sự, đối với những hoạt động quan trọng và cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra và VKS như: Khám nghiệm hiện trường, tử thi, áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn đòi hỏi phải có sự phối hợp nghiêm ngặt về thời gian và cách thức phối hợp

Nhìn chung, VKS và cơ quan công an điều tra là công cụ chuyên chính của nhà nước, dưới sự lãnh đạo tập trung của Đảng, nên mọi hoạt động đều xuất phát từ lợi ích cách mạng Tuy chức năng mỗi ngành đều khác nhau nhưng nhiệm vụ chung đều là đấu tranh chống phản cách mạng và các tội phạm khác để giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc

Trong giai đoạn hiện nay, nếu như cơ quan cảnh sát điều tra không thực hiện tốt chức trách của mình thì công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm không thể thành công và ngược lại, nếu không có sự kiểm sát chặt chẽ của VKSND thì việc thực thi pháp luật là không thực sự hiệu quả Điều này cho

Trang 33

thấy hai cơ quan này có mối quan hệ gắn bó mật thiết, xuất phát tự nhiệm vụ chung nhất là xác định có căn cứ pháp luật đối với tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc buộc tội trước tòa án Cụ thể là sau khi nhận được tin báo tội phạm thì cơ quan điều tra phải xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố VAHS và chuyển đến cho VKSND, khi đó Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND [2, tr.214]

Mối quan hệ giữa VKSND và Cơ quan điều tra trong việc truy tố VAHS: Sau khi kết thúc điều tra, thì Cơ quan điều tra phải ra văn bản kết luận điều tra, đề xuất phương hướng xử lý và gửi bản kết luận điều tra này cùng hồ

sơ vụ án sang cho VKS VKS có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ và ra một trong các quyết định sau đây: trả hồ sơ điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

1.3.2 Mối quan hệ giữa Tòa án nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân

Với vị trí, chức năng rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước ta, VKSND và Toà án nhân dân có trách nhiệm phối hợp với nhau để giải quyết VAHS đúng đắn, khách quan theo luật định nhằm bảo vệ chế độ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ giữa VKS và Toà án trong việc phòng ngừa và chống tội phạm, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh:

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm Các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử cần thực hiện đúng thời hạn tố tụng như luật định [7] Ngoài ra, nếu KSV làm tốt vai

Trang 34

trò công tố Nhà nước thì tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử; ngược lại Tòa án thực hiện chức năng xét xử đúng đắn tạo điều kiện thuận lợi cho VKSTHQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp [16] Trong những năm qua mối quan hệ phối hợp giữa VKS và Toà án trong

tố tụng hình sự được thực hiện trên cơ sở các thông tư liên ngành và các quy chế phối hợp Điều này cho thấy việc thực hiện quan hệ phối hợp này là rất cần thiết nhằm đảm bảo giải quyết VAHS một cách kịp thời và chính xác Trên cơ sở các văn bản pháp luật liên ngành tư pháp trung ương xác định về các nội dung phối hợp giải quyết những vấn đề trong VAHS, các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương xây dựng kế hoạch liên ngành phối hợp giải quyết những vấn đề cụ thể về tư pháp hình sự; định kỳ họp liên ngành Công an, VKS, Tòa án cấp tỉnh và huyện thống nhất giải quyết những vấn đề vướng mắc trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ giữa VKS và Tòa án trong việc phòng ngừa và chống tội phạm, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh:

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm Các CQĐT, kiểm sát, xét xử cần thực hiện đúng thời hạn tố tụng như luật định [7]

Các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung đều có chung nhiệm vụ là đấu tranh, phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội và cùng

có trách nhiệm là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, tôn trọng quyền và lợi ích của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 35

Chính từ mục đích chung đó đã hình thành nên mối quan hệ phối hợp trong tố tụng hình sự giữa VKS và Toà án như là một vấn đề tất yếu Mối quan hệ phối hợp đó cơ bản là quan hệ giữa chức năng xét xử và chức năng buộc tội Bản thân hai chức năng này có quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau Không thể xét xử nếu không có sự buộc tội, hay nói cách khác, ở đâu có buộc tội, thì

ở đó phát sinh hoạt động xét xử và bào chữa Nếu VKS làm tốt chức năng buộc tội thì hỗ trợ đắc lực cho chức năng xét xử và ngược lại thì tác dụng không tốt Ngay từ khi thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ nhằm xác định tội trạng và khung hình phạt truy tố, cũng như thủ tục tố tụng được tiến hành chặt chẽ đặt nền móng cho Toà án thực hiện hiệu quả hoạt động tố tụng Tại phiên toà, nếu kiểm sát viên làm tốt vai trò công tố nhà nước thì tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử Ngược lại Toà án thực hiện chức năng xét xử đúng đắn tạo điều kiện thuận lợi cho VKS THQCT nhà nước và kiểm sát hoạt động tư pháp

VKS là cơ quan có độc quyền truy tố một người ra toà nhưng việc kết tội lại thuộc về Toà án Tại phiên toà xét xử nhân danh nhà nước THQCT, nhưng kiểm sát viên chỉ đưa ra ý kiến đề xuất quan điểm giải quyết vụ án còn quyết định về tội trạng, mức hình phạt vẫn là hội đồng xét xử Nhưng mọi hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo đúng yêu cầu là có truy tố về hành

vi về con người thì mới được xét xử Toà án không thể tuỳ tiện làm trái thủ tục tố tụng, do đó pháp luật quy định VKS ngoài chức năng công tố còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, đó là giám sát việc tuân thủ của hội đồng xét xử tại phiên toà, cũng như giám sát hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền Trong trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng tại phiên toà thì kiểm sát viên có quyền ý kiến trực tiếp, ví dụ: Hội đồng xét xử không hỏi người tham gia tố tụng có ý kiến về việc có yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng thì kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử hỏi Mặt khác sau khi xét xử VKS

Trang 36

có quyền ban hành kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử hoặc ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để giải quyết lại vụ án khi có căn cứ luật định Như vậy có thể thấy, dù Toà án có quyền độc lập trong việc phán quyết, tuy nhiên nếu trái pháp luật thì VKS có quyền kiến nghị, kháng nghị để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật của Toà án Pháp luật nước ta còn quy định, nếu kiến nghị của VKS không được Toà án tiếp thu, thì VKS có quyền kiến nghị Toà án cấp trên và báo cáo VKS cấp trên để kiến nghị được đảm bảo thực hiện Qua hoạt động giám sát của VKS còn giúp cho Toà án tránh được những sai sót, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế

Về bản chất của mối quan hệ giữa Toà án và VKS là phối hợp, chế ước nhưng không làm mất đi tính độc lập trong thực thi chức năng mỗi ngành và phối hợp nhưng không bao biện lẫn nhau Mỗi cơ quan tự chịu trách nhiệm về công việc của mình Toà án không làm thay hay can thiệp vào công việc của VKS (kiểm sát viên) và ngược lại, VKS cũng không can thiệp vào công việc xét xử của Toà án, mặc dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án”

1.3.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan khác với Viện kiểm sát nhân dân

* Mối quan hệ giữa VKSND tối cao với Quốc hội

Quốc hội quyết định thành lập VKSND tối cao, quy định về tổ chức, hoạt động, quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho cơ quan này; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với chức danh Viện trưởng VKSND tối cao Giám sát hoạt động thông qua việc xét báo cáo hoạt động và thực hiện chất vấn đối với VKSND tối cao Giao cho UBTVQH thực hiện việc giám sát hoạt động của VKSND tối cao Khi thấy các văn bản của VKSND tối cao trái văn bản của UBTVQH thì có quyền bãi bỏ, nếu trái văn bản của Quốc hội thì đình chỉ và

đề nghị quốc hội bãi bỏ VKSND tối cao chịu trách nhiệm trước quốc hội về

Trang 37

việc thực hiện nhiệm vụ được giao đồng thời cũng có quyền truy tố các đại biểu Quốc hội

Để công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp được thực hiện một cách có hiệu quả thì VKSND Tối cao có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ví dụ như Luật tổ chức VKSND trước UBTVQH để Quốc hội kịp thời sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tiễn Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của ngành Kiểm sát nói chung

Nó giúp cụ thể hóa pháp luật Hình sự, tố tụng Hình sự, hướng dẫn thi hành pháp luật đối với công tác THQCT, kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, cũng như đối với quá trình truy tố các VAHS nói riêng

Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng VKSND Tối cao đưa một số Kiểm sát viên vào Ủy ban kiểm sát VKSND Tối cao Viện trưởng VKSND Tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, đáp ứng yêu cầu của các đại biểu Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội

* Mối quan hệ giữa VKSND tối cao với Chính phủ

Kinh phí hoạt động của VKSND tối cao do VKSND tối cao lập dự toán, đề nghị chính phủ trình quốc hội quyết định VKSND chỉ thực hiện tốt quyền công tố khi có sự hỗ trợ tốt của các của các cơ quan điều tra thuộc hệ thống hành pháp

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có quyền công tố, về nguyên tắc, có quyền truy tố các thành viên của chính phủ

Theo đó, Hiến pháp quy định VKSND có chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp Thêm vào đó, khi THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND Trên thực tế, ở nhiều nước trên thế giới, cơ quan công tố thuộc về

Trang 38

nhánh hành pháp, chức danh công tố do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ tư pháp có quyền ra chỉ thị cho người đứng đầu hệ thống công tố thực hiện Từ đó, Công tố viên nhân danh nhà nước nhưng thực chất là nhân danh hành pháp để truy tố tội phạm Vì thế, việc truy tố tội phạm khó giữ được tính độc lập Ở một số quốc gia khác thì Cơ quan công tố không nằm trong hệ thống hành pháp mà trực thuộc cơ quan lập pháp Tuy nhiên, dù trực thuộc hành pháp hay lập pháp thì xu hướng chung trên thế giới hiện nay vẫn

là việc hành xử công tố quyền phải được độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,

để các công tố viên hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tự do mà không phải chịu bất cứ một sự can thiệp hoặc đe dọa nào [10]

Mặc dù vậy, VKS cũng như Chính phủ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua các Cơ quan của Chính phủ như Bộ tư pháp Bộ tư pháp phối hợp chặt chẽ với VKSND tối cao trong công tác xây dựng các văn bản pháp luật có liên quan tới công tác tư pháp và hoạt động kiểm sát để trình Quốc hội thông qua; giúp cho công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung cũng như trong giai đoạn truy tố VAHS nói riêng của VKS được thuận lợi hơn, giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc có liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật Cùng với đó, công tác kiểm sát cũng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thi hành án dân sự, đặc biệt là trong quản lý nghiệp vụ thi hành án

* Mối quan hệ giữa VKSND tối cao với các cơ quan nhà nước khác

- Mối quan hệ giữa VKSND địa phương với Hội đồng nhân dân:

HĐND là cơ quan quyền lực ở địa phương Do đó HĐND có quyền giám sát hoạt động của tất cả các cơ quan khác trên phạm vi địa phương, trong đó có VKS Để thực hiện điều này, HĐND thực hiện việc giám sát thông qua việc xét báo cáo công tác của VKSND cùng cấp, xem xét việc trả lời chất vấn của Viện trưởng VKSND cùng cấp Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch

Trang 39

VKSND là cơ quan kiểm sát ở địa phương, có nhân viên độc lập so với HĐND cùng cấp Kinh phí hoạt động của VKSND được phân bố theo ngành dọc không lệ thuộc vào địa phương VKSND có quyền truy tố các thành viên HĐND nếu có hành vi vi phạm pháp luật

- Mối quan hệ giữa VKSND với Ủy ban nhân dân

Uỷ ban nhân dân chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở trên phạm vi địa bàn; thực hiện công tác giám định tư pháp, quản lý tổ chức luật sư và tư vấn pháp luật VKSND muốn thực hiện việc xét xử phải phụ thuộc nhiều vào kết quả điều tra của các cơ quan hành chính, sự hỗ trợ về vật chất, điều kiện mới tiến hành được việc xét xử các vụ án; Tổ chức, chỉ đạo việc thi hành án ở địa phương VKSND có quyền truy tố các thành viên của UBND nếu họ có hành vi vi phạm pháp luật

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Qua những phân tích kể trên, có thể thấy rằng, những vấn đề lý luận về THQCT trong giai đoạn truy tố VAHS và đặc biệt là các quyết định của VKSND trong giai đoạn này luôn là những vấn đề có ý nghĩa đối với thực tiễn hoạt động của VKS nói riêng cũng như hoạt động của ngành tư pháp nói chung Để thực hiện tốt chức năng của mình trong giai đoạn truy tố VAHS, các cán bộ, KSV ngành KSND cần hiểu rõ những khái niệm có liên quan để vận dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả Muốn vận dụng, thi hành pháp luật một cách chính xác vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thì những người làm công tác Kiểm sát nói chung cũng như các cán bộ có nhiệm vụ, trách nhiệm đưa ra các quyết định trong giai đoạn truy tố nói chung cần phải nắm thật vững những việc thuộc thẩm quyền cũng như trách nhiệm của mình để có thể kịp thời đưa ra được những quyết định đúng đắn, chính xác nhất

Ngày đăng: 26/12/2017, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Thu Anh (2017), “Nâng cao hiệu quả THQCT của VKSND cấp huyện trong giải quyết các vụ ánh hình sự tại VKSND thành phố Hải Phòng”, Tạp chí dân chủ pháp luật, truy cập <http://tcdcpl.moj.gov.vn.đăng tin ngày 16/4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả THQCT của VKSND cấp huyện trong giải quyết các vụ ánh hình sự tại VKSND thành phố Hải Phòng”," Tạp chí dân chủ pháp luật
Tác giả: Ngô Thị Thu Anh
Năm: 2017
2. Nguyễn Ngọc Chí (2001), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
3. Nguyễn Văn Chiến (2012), Tham luận Luật luật sư sau 05 năm thực hiện: Khó khăn, vướng mắc trong quá trình hành nghề, Trang thông tin điện tử Công ty luật Việt Phú, <http://dichvuluatsu.vn, đăng tin tháng 01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận Luật luật sư sau 05 năm thực hiện: "Khó khăn, vướng mắc trong quá trình hành nghề
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2012
4. Lê Tấn Cường (2012), “Những vướng mắc và kiến nghị sửa đổi chế định VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao, (10), tr.15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc và kiến nghị sửa đổi chế định VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, "Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao
Tác giả: Lê Tấn Cường
Năm: 2012
5. Lê Tấn Cường (2014), “Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố”, Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao, (10), tr.30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố”, "Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao
Tác giả: Lê Tấn Cường
Năm: 2014
6. Phan Diễn (2005), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của đất nước
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48 –NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 –NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Đỗ Văn Đương (2006), “Cơ quan THQCT trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan THQCT trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 2006
11. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 ngày 05/11/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2004
12. Nguyễn Thị Minh Hồng (2012), Quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hồng
Năm: 2012
13. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2015
14. Nguyễn Ngọc Kiện (2013), “Mối quan hệ giữa Tòa án và VKS trong tố tụng hình sự”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, <http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Tòa án và VKS trong tố tụng hình sự”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Kiện
Năm: 2013
15. Nguyễn Ngọc Khánh (2009), “Thẩm quyền của VKS trong việc quyết định việc truy tố, đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ vụ án theo yêu cầu cải cách tƣ pháp”, Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao, (2), tr.38-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của VKS trong việc quyết định việc truy tố, đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ vụ án theo yêu cầu cải cách tƣ pháp”, "Tạp chí kiểm sát, VKSND Tối cao
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Năm: 2009
16. Hoàng Nghĩa Mai (2008), Nâng cao trách nhiệm của VKS và Kiểm sát viên trong công tác THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các VAHS, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao trách nhiệm của VKS và Kiểm sát viên trong công tác THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các VAHS, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Tác giả: Hoàng Nghĩa Mai
Năm: 2008
17. Đoàn Công Minh (2015), Thực tiễn thực hiện BLTTHS năm 2003 và những kiến nghị sửa đổi, bổ sung, Trang thông tin điện tử - VKSND tỉnh Quảng Bình, <http://vienkiemsatquangbinh.gov.vn, đăng tin ngày 12/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn thực hiện BLTTHS năm 2003 và những kiến nghị sửa đổi, bổ sung
Tác giả: Đoàn Công Minh
Năm: 2015
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w