Để thực hiện các mục đích nói trên, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau: - Phân tích quyền tự do lập hội được ghi nhận trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế và tại một số khu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG NGÂN HÀ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ Tù DO LËP HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG NGÂN HÀ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ Tù DO LËP HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Ngân Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO LẬP HỘI 7
1.1 Khái niệm, vai trò, nội dung của tự do lập hội 7
1.2 Mối quan hệ của tự do lập hội với các quyền con người khác 15
1.3 Những yếu tố tác động và những điều kiện bảo đảm thực thi tự do lập hội 20
1.4 Tự do lập hội trong pháp luật nhân quyền quốc tế, khu vực và tại một số quốc gia trên thế giới 24
Kết luận Chương 1 42
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY 43
2.1 Pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam trước Đổi mới (1986) 43
2.2 Pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam từ Đổi mới (1986) đến nay 47
2.3 Những bất cập, hạn chế và những yêu cầu đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam và nguyên nhân 60
2.4 Phân tích, đánh giá nội dung Dự thảo Luật về Hội của Việt Nam 75
Kết luận Chương 2 86
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO LẬP HỘI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 87
3.1 Các quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội 87
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội 90
Kết luận Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CEDAW: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ CERD: Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức
phân biệt đối xử về chủng tộc CHLB: Cộng hòa Liên bang
CMW: Công ước về bảo vệ các quyền của tất cả người lao
động di trú và các thành viên trong gia đình họ CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CRC: Công ước về quyền trẻ em CRPD: Công ước về quyền của người khuyết tật HĐND: Hội đồng nhân dân
ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa ILO: Tổ chức Lao động quốc tế LHQ: Liên hợp quốc
LGBTI: Người đồng tính luyến ái nữ, người đồng tính
luyến ái nam, người song tính luyến ái, người chuyển giới và người liên giới tính
UBND: Ủy ban nhân dân UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội, bên cạnh Nhà nước và thị trường, khu vực còn lại là xã hội dân sự mà đơn vị cấu thành là các tổ chức xã hội dân sự, hay còn gọi là các hội Thực tế ở Việt Nam cho thấy, xã hội dân sự đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo và phát triển xã hội, là nơi tập hợp sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân, và cũng là lá chắn bảo vệ con người trước những nguy cơ bị xâm phạm bởi các tổ chức hay cá nhân khác
Để phát huy vai trò của khu vực này cần đảm bảo mọi người đều được thực hành quyền tự do lập hội của mình Quyền tự do lập hội là quyền cơ bản của con người trong việc tổ chức, thành lập ra các hội có chung mục đích, sở thích hay vì lợi ích chung Quyền tự do lập hội trao cơ hội cho mọi công dân,
dù họ làm việc cho nhà nước, doanh nghiệp hay các tổ chức phi lợi nhuận, được tham gia vào đời sống chính trị - xã hội - văn hóa, được tập hợp để thể hiện tiếng nói và nguyện vọng chung, cùng nhau xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển cho cộng đồng Đối với người lao động, quyền tự do lập hội là cơ sở để họ tự do gia nhập công đoàn nhằm bảo vệ quyền lợi của họ khỏi sự xâm phạm từ giới chủ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, quyền tự do lập hội còn giúp các cá nhân trên toàn thế giới liên kết với nhau, tạo thành các tổ chức và mạng lưới quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong việc
xử lý các vấn đề chung của toàn nhân loại như nghèo đói, môi trường, giáo dục, hỗ trợ khẩn cấp khi có thiên tai, chiến tranh,…
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, quyền tự do lập hội là một yêu cầu cấp thiết và có những tiến triển mạnh mẽ Các hội phát triển rất đa dạng và phong phú về cả quy mô, phạm vi và tính chất hoạt động Trong báo cáo của
Bộ Nội vụ trình Quốc hội ngày 4/11/2015 đã nêu, tính đến tháng 12/2014, cả
Trang 7nước có 52.565 hội, trong đó 483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động ở phạm vi địa phương; số liệu này không bao gồm Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội nghề nghiệp khác [4] Các hội
này tồn tại ở các hình thức đa dạng như tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ, câu lạc bộ, các tổ chức cộng đồng,… Lĩnh vực hoạt động của các hội cũng rất phong phú, có thể kể đến như phát triển nông nghiệp bền vững, xóa đói giảm nghèo, y tế - sức khỏe, môi trường, bảo vệ quyền của một
số nhóm yếu thế như trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số,… Thực tế cho thấy, hoạt động của những hội, tổ chức này phần lớn là có hiệu quả, đem lại những lợi ích rõ ràng và bền vững cho người dân cả về đời sống vật chất và tinh thần, giúp nâng cao nhận thức người dân, tham gia vận động và phản biện các chính sách của Nhà nước, giám sát giúp làm tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức kinh tế và khối cơ quan nhà nước, huy động hiểu quả các nguồn lực từ xã hội nhằm phát triển toàn xã hội nói chung
Mặc dù vậy, các hội tại Việt Nam hiện vẫn gặp những khó khăn trong hoạt động, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó đặc biệt bao gồm những bất cập, hạn chế về khuôn khổ pháp luật Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền tự do lập hội ở nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, cũng như để thực thi quy định về quyền này trong Điều 25 Hiến pháp năm 2013
Trong bối cảnh đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật
học chuyên ngành luật nhân quyền, với mong muốn đóng góp vào việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung và xây dựng Luật
về Hội ở nước ta, qua đó đảm bảo tốt hơn quyền tự do lập hội của người dân trong những năm tới
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền tự do lập hội đã được luật hóa từ rất sớm và được thực hiện sôi nổi trong đời sống xã hội ở mọi nơi trên thế giới Trên bình diện quốc tế và tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Maina Kian (2012), Report on on the rights to freedom of peaceful
assembly and of association
- OSCE/ODIHR (2015), Guidelines on Freedom of Association
- Irene Norlund (2011), Đánh giá ban đầu về xã hội dân sự Việt Nam
- Ngân hàng Phát triển châu Á (2011), Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự
Việt Nam
- Lã Khánh Tùng - Nghiêm Hoa - Vũ Công Giao (2016), Hội và Tự do
hiệp hội
- Vũ Công Giao (2016), Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013: Lý luận và thực tiễn (Tài liệu dùng cho hội thảo)
- Phạm Thị Hồng (2013), Hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam hiện
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã
hội Việt Nam
- Nhóm làm việc vì sự tham gia của người dân (2016), Đời sống hiệp
hội từ góc nhìn người dân
Những nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng thông tin lớn về cả lý luận và thực tiễn việc thực hành quyền tự do lập hội trên thế giới cũng như tại Việt Nam, là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả thực hiện luận văn này
Đặc biệt, cuốn “Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013: Lý luận
và thực tiễn” do PGS TS Vũ Công Giao làm chủ biên, xuất bản năm 2016,
đã tập hợp những bài tham luận, công trình nghiên cứu về quyền tự do lập hội của các chuyên gia luật học đầu ngành và các đại diện đến từ khu vực
Trang 9xã hội dân sự của Việt Nam và trở thành tài liệu tham khảo có giá trị lớn cho luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những quy định pháp luật liên quan đến quyền tự do lập hội trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực tiễn thực hành quyền tự do lập hội tại Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hội, nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền tự do lập hội của người dân tại Việt Nam hiện nay
Để thực hiện các mục đích nói trên, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phân tích quyền tự do lập hội được ghi nhận trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế và tại một số khu vực, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc bảo vệ quyền lập hội của người dân
- Rà soát, đánh giá các quy định pháp luật trước và sau Đổi mới (1986) quy định về tự do lập hội tại Việt Nam;
- Phân tích hiện trạng thực hành quyền lập hội của người dân tại Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tự
do lập hội tại Việt Nam hiện nay, đặc biệt liên quan đến việc xây dựng Luật về Hội, để đảm bảo mọi người dân đều được tự do thực hành quyền lập hội theo Hiến pháp và pháp luật
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật về tự do lập hội trong pháp luật quốc tế và tại Việt Nam, bao gồm: quy định pháp luật
về thành lập hội, quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của hội và cơ chế bảo vệ quyền tự do lập hội của người dân
Trang 10Để hoàn thành đề tài này, luận văn sẽ nghiên cứu hệ thống văn kiện của luật nhân quyền quốc tế, các công ước về quyền con người của một số khu vực châu Âu, châu Phi và châu Mĩ – La-tinh có ghi nhận quyền tự do lập hội, pháp luật của một số quốc gia như Pháp, Đức về quyền tự do lập hội; khảo cứu các báo cáo của các tổ chức quốc tế và trong nước về hiện trạng thực hành quyền tự do lập hội tại Việt Nam; rà soát hệ thống văn bản pháp luật quy định về quyền tự do lập hội và nghiên cứu các tài liệu, chuyên đề của các học giả, chuyên gia, tổ chức và các cơ quan nhà nước liên quan đến quyền tự do lập hội đã được xây dựng và đóng góp trong quá trình soạn thảo luật về hội tại Việt Nam trong thời gian qua
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm của Liên hợp quốc và Nhà nước Việt Nam về quyền con người
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: khảo cứu tài liệu, phân tích - tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu
6 Tính mới và những đóng góp về lý luận, thực tiễn của đề tài
Luận văn là một trong số ít công trình nghiên cứu về pháp luật và thực trạng bảo đảm quyền tự do lập hội ở nước ta từ trước tới nay Vì vậy, luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất mới có giá trị tham khảo với các cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do lập ở nước ta trong thời gian tới
Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu các chuyên ngành luật có liên quan như luật hiến pháp, hành chính, luật hình sự, luật nhân quyền ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác của nước ta
Trang 117 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tự do lập hội
Chương 2: Pháp luật về tự do lập hội tại Việt Nam từ trước đến nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tự do lập hội
tại Việt Nam hiện nay
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO LẬP HỘI
1.1 Khái niệm, vai trò, nội dung của tự do lập hội
1.1.1 Khái niệm về “hội” và tự do lập hội
Trong mọi xã hội, bên cạnh không gian của bộ máy nhà nước với tư cách
là các tổ chức quyền lực công, thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng chính sách và pháp luật, là không gian của xã hội dân sự, được cấu thành bởi các nhóm, tổ chức xã hội, phản ánh ý chí và sự quan tâm của người dân [18, tr.77]
Xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng là cầu nối các cá nhân với nhà nước; tham gia và hoạch định các chính sách cùng Nhà nước; tổ chức phản biện xã hội và giám sát các hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước, cũng như hoạt động của doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của con người nói chung; góp phần huy động và sử dụng các nguồn lực hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội [8, tr.32]
Cốt lõi của xã hội dân sự là hệ thống các tổ chức rộng lớn do người dân
tự nguyện lập nên với một số đặc điểm như sau:
- Là tổ chức do dân tự nguyện lập ra, không thuộc chính phủ;
- Hoạt động nhằm mục đích phi lợi nhuận, các khoản lợi nhuận (nếu có) không được phân với mục đích tư lợi, không phải là doanh nghiệp;
- Tiến hành các hoạt động hợp tác không vì mục đích thương mại hoặc nhân đạo;
- Tự chủ, độc lập về tài chính, nguồn thu cho chi phí hoạt động đến từ
sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc nhận tài trợ từ các tổ chức khác hoặc chính phủ
Trong đó các yếu tố tự nguyện, tự quản và tự trang trải kinh phí là những điểm nổi bật của các tổ chức xã hội dân sự
Trang 13Các nhóm, tổ chức này tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng như câu lạc bộ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức tôn giáo, các quỹ, công đoàn, tổ chức cộng đồng, hội nghề nghiệp, hội sở thích,… hay gọi bằng danh từ chung là các hội
Theo từ điển tiếng Việt, “hội” được định nghĩa là “tổ chức của những
người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động” [21, tr.225]
Trong các tài liệu nghiên cứu của khoa học xã hội, “hội” được định nghĩa là
sự thỏa thuận, tập hợp, liên kết nhiều người tạo thành nhóm nhằm hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung [18, tr.76]
Đoạn 51 trong Báo cáo A/HRC/20/27 của Báo cáo viên LHQ về tự do hội
họp và hiệp hội, Maina Kiai năm 2013, nêu định nghĩa hội là bất cứ các nhóm
của các cá nhân hoặc các pháp nhân được tập hợp nhằm thực hiện các hành động tập thể, biểu đạt, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ những lợi ích chung
Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các đạo luật riêng về hội Theo đó, “hội” trong luật pháp một số quốc gia được định nghĩa như sau:
Điều 2 Luật về Hội của Cộng hòa Liên bang Đức ban hành ngày 5/8/1964 quy định:
Hiệp hội được định nghĩa bởi đạo luật này, không liên quan đến hình thức pháp lý, là bất kỳ hiệp hội nào mà đa số những người tự nhiên hoặc pháp nhân đã tự nguyên gia nhập trong một thời gian dài với mục đích chung và có sự tổ chức Hiệp hội theo định nghĩa này không bao gồm các đảng chính trị quy định tại Điều 21 Đạo luật cơ bản
Điều 1 Luật về Hội của Cộng hòa Pháp ban hành ngày 1/7/1901 quy định:
Hội là một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người cùng góp kiến thức hoặc hành động một cách thường xuyên vì mục đích phi lợi nhuận Dựa vào năng lực pháp luật của hội, hội được điều chỉnh
Trang 14Theo Điều 78 Bộ luật dân sự và thương mại của Vương quốc Thái Lan quy định:
Việc thành lập hội nhằm tiến hành những hoạt động nào đó
có tính chất chung và liên tục, không nhằm mục đích sinh lời hoặc thu nhập để chia nhau, có điều lệ và đăng ký theo quy định của bộ luật này
Tại Việt Nam, theo Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định về
tổ chức, hoạt động và quản lý hội, hội được hiểu là:
Tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này
và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Nói cách khác, hội được thành lập dựa trên sự thỏa thuận của các cá nhân, mang tính chất tự nguyện, các cá nhân được tự do quyết định bằng ý chí của mình tham gia hoặc không tham gia hội Hội cũng là nơi các cá nhân được liên kết nhằm chia sẻ những mối quan tâm chung trên các lĩnh vực tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… hoặc đơn giản là nơi tập hợp các cá nhân có chung sở thích Tùy thuộc vào pháp luật từng quốc gia mà hội bắt buộc phải đăng ký tư cách pháp nhân hoặc không
Lập hội là việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành nhóm hướng đến những lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung [37] Việc lập hội của các cá nhân giúp hình thành nên các hội, nhóm – là cốt lõi của xã hội dân
sự, vì vậy, tự do lập hội, hiệp hội có vai trò thiết yếu để xã hội dân sự tồn tại
và phát triển
Trang 15Tự do lập hội (còn gọi là “quyền tự do lập hội”), là nhu cầu tự nhiên và
cơ bản của con người Con người bẩm sinh sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, được kết nối và trở thành một phần của cộng đồng, được tự do gắn kết và sẻ chia với những cá nhân khác có cùng mối quan tâm, mà không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào Vì lẽ đó, quyền tự do lập hội là quyền tự nhiên và quyền cơ bản của con người mà không một chủ thể nào, bao gồm cả Nhà nước, có quyền ban phát hoặc tước đoạt quyền đó khỏi các cá nhân [11, tr.42]
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận tại
Điều 20 rằng “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách
hòa bình”
Tại Việt Nam, quyền tự do lập hội luôn được ghi nhận trong Hiến pháp
với tư cách là quyền của công dân Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định “Công
dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hôi, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Mặc dù
so với luật nhân quyền quốc tế và luật pháp của một số quốc gia, quy định của Hiến pháp Việt Nam còn hẹp khi giới hạn chủ thể quyền tự do lập hội chỉ thuộc về công dân Việt Nam, nhưng cũng cần ghi nhận rằng Việt Nam đang tiếp tục thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người đến gần hơn với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế
1.1.2 Vai trò của tự do lập hội
Tự do lập hội là cần thiết cho sự phát triển của xã hội dân sự Về vấn đề này, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, Tocqueville đã viết trong tác phẩm
“Nền dân trị Mỹ”:
Khi các công dân chỉ có thể được kết hội trong một số trường hợp, họ sẽ nhìn hiệp hội như một vật hiếm và đặc biệt, và họ không
Trang 16Khi ta để cho công dân được kết hội tự do thành đủ mọi thứ hội, họ sẽ nhìn thấy trong hiệp hội cái phương tiện phổ biến, có thể nói là phương tiện duy nhất con người có thể đem dùng để đạt tới những mục tiêu khác nhau do họ định ra Mỗi nhu cầu mới lại đánh thức một tư tưởng Nghệ thuật kết hội khi đó trở thành khoa học mẹ,…; mọi người đều nghiên cứu và áp dụng nó
Theo nhận định của Tocqueville, chính các hiệp hội đã giúp xã hội Mỹ vận hành trơn tru vào thế kỉ 19, bởi quyền tự do lập hội giúp người dân và các cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế mà không cần đến sự can thiệp của nhà nước [38] Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, tự do lập hội đã trao quyền cho dân chúng được làm chủ cuộc sống của mình, được tự do lựa chọn người đại diện cho mình tham gia vào chính phủ qua bầu cử công bằng, và được tham gia tích cực vào đời sống chính trị và dân sự Vì vậy, quyền tự do lập hội là thành phần thiết yếu của nền dân chủ hiệu quả
Quyền tự do lập hội có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy một loạt các quyền con người con người khác Trong báo cáo năm 2013 của Báo cáo viên đặc biệt Maina Kiai khẳng định, quyền tự do lập hội trao quyền cho tất
cả mọi người được thể hiện quan điểm chính trị, tham gia vào các hoạt động văn hóa, kinh tế và xã hội, tham gia vào các nghi lễ tôn giáo hoặc các niềm tin khác, và bầu lãnh đạo để đại diện cho lợi ích của họ và tăng trách nhiệm giải trình Sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau giữa các quyền làm cho quyền tự do lập hội trở thành một trong những khía cạnh quan trọng để đánh giá sự tôn trọng của Nhà nước với những quyền con người khác [26]
Đối với nhóm quyền dân sự và chính trị, nhờ có quyền tự do lập hội, các cá nhân được liên kết với nhau để thể hiện những mối quan tâm chung, đưa ra những ý kiến mang tính chất tập thể của một bộ phận hoặc đông đảo quần chúng nhân dân về các chính sách của Nhà nước hoặc lên tiếng trước
Trang 17các vấn đề của xã hội Có thể nói, quyền tự do lập hội giúp cho quyền tự do ngôn luận được thực hiện hiệu quả khi các ý kiến đưa ra gây được sự chú ý đối với cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp hay bộ phận lớn của xã hội Bên cạnh đó, lịch sử còn chứng minh, nhờ có tự do lập hội mà các đoàn, đảng, hội của các sĩ gia yêu nước được hình thành và hoạt động, qua đó đã đem lại nền độc lập và quyền tự quyết cho nhiều dân tộc trên khắp thế giới Ở khía cạnh này, quyền tự do lập hội đã bảo vệ quyền sống, quyền an toàn thân thể, quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch Bình luận chung số 25 của Uỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc (đoạn 12) cũng ghi nhận vai trò của quyền này đối với
quyền bầu cử, ứng cử, “quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội là những
điều kiện quan trọng cho việc thực hiện hiệu quả quyền bầu cử và phải được bảo vệ đầy đủ”
Đối với nhóm quyền kinh tế - văn hóa – xã hội, việc bảo đảm quyền tự
do lập hội đã giúp cải thiện tình trạng hưởng thụ của các quyền này một cách đáng kể Quyền tự do lập hội được thực hiện dưới hình thức các hội nhóm, tổ chức mà hoạt động của các tổ chức này phần lớn nhằm phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức của dân chúng và cải thiện mức sống cho người dân tại những vùng khó khăn nói riêng và toàn xã hội nói chung Trong lĩnh vực lao động, quyền tự do lập hội giúp người lao động tự do thành lập công đoàn và tiến hành thương lượng tập thể về tiền lương, thời gian và các điều kiện lao động [19, tr.13] Lịch sử hình thành Tổ chức lao động quốc tế ILO đã chứng minh quyền tự do lập hội đã có đóng góp sâu sắc nhất cho việc
mở rộng tự do và bình đẳng trên toàn thế giới
Quyền tự do lập hội có vai trò to lớn trong việc bảo vệ quyền và đem lại cuộc sống thỏa đáng cho những người thuộc các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội như phụ nữ, trẻ em, LGBTI, dân tộc thiểu số, người khuyết tật
Tự do lập hội giúp những nhóm người này hình thành các cộng đồng để sẻ
Trang 18chia và tương trợ lẫn nhau, chống lại sự kì thị, phân biệt đối xử và bạo lực, giúp họ đòi hỏi thành công các quyền lợi chính đáng của mình như quyền có việc làm thỏa đáng, quyền kết hôn, quyền về sức khỏe, quyền được tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng,…[19, tr.14]
Nói tóm lại, dù ở thời đại nào, quyền tự do lập hội cũng luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển, phồn vinh của toàn xã hội Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do lập hội là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi nhà nước
1.1.3 Nội dung của tự do lập hội
Tự do lập hội (hay quyền tự do lập hội) là một quyền cơ bản của con người, vì vậy Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia đều ghi nhận và đảm bảo thực thi quyền này Quyền tự do lập hội cũng được quy định trong nhiều văn bản của luật nhân quyền quốc tế và khu vực
Theo nhận thức chung, quyền tự do lập hội bao gồm các nội dung cơ bản:
(1) Quyền thành lập và gia nhập hội Đây là nội dung chủ yếu của
quyền tự do lập hội Mọi người đều có quyền thành lập hội mới, việc thành lập có thể thực hiện theo thủ tục thông báo hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước, hoặc không Bên cạnh quyền thành lập hội mới, các cá nhân cũng có quyền gia nhập các hội có sẵn hoặc rút lui khỏi các hội Không ai bị ép phải tham gia một hội bất kì Tương tự, các hội cũng có quyền ngừng hoạt động hoặc tự giải tán [19, tr.19] Quyền này cũng bao hàm quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động
(2) Quyền tự do hoạt động, điều hành các hội Quyền này có nghĩa là
các thành viên của hội được tự quyết định quy chế, điều lệ, bầu ban lãnh đạo của hội, yêu cầu hội thực hiện trách nhiệm giải trình trước hội viên; tự do hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động hội, mà không chịu sự can thiệp bất hợp pháp từ các cơ
Trang 19quan nhà nước hay bên thứ ba Quyền này đặt ra nghĩa vụ cho Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ và đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo thực thi quyền tự do lập hội Nhà nước cũng cần tạo dựng một môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động của các hội và có cơ chế bảo vệ quyền tự do lập hội khỏi sự vi phạm từ các cơ quan công quyền và từ các cá nhân, tổ chức khác [25]
1.1.4 Giới hạn chính đáng đối với tự do lập hội
Quyền tự do lập hội không phải là một quyền tuyệt đối, nghĩa là trong những trường hợp nhất định, Nhà nước có thể ngăn cản quyền tự do lập hội của các cá nhân Theo quy định tại Điều 4 ICCPR, quyền tự do lập hội, cũng như một số quyền dân sự - chính trị khác, có thể bị hạn chế trong bối cảnh Nhà nước ban bố tình trạng khẩn cấp đe dọa đến sự sống còn của quốc gia Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 22 ICCPR, quyền tự do lập hội chỉ có thể bị hạn chế trong các trường hợp nhằm: (1) Bảo vệ an ninh quốc gia; (2) Bảo vệ
an toàn, trật tự cộng cộng và sức khỏe cộng đồng; và (3) Bảo vệ quyền và tự
do của người khác Cần lưu ý rằng, những hạn chế này phải được quy định chi tiết trong pháp luật quốc gia và chỉ được áp dụng khi các biện pháp đó là
“cần thiết trong một xã hội dân chủ” Để tránh sự lạm dụng việc áp dụng
các biện pháp hạn chế quyền này, LHQ đã đưa ra một số văn bản có tính chất giải thích và hướng dẫn cho các quốc gia, như Các Nguyên tắc Siracusa
về các điều khoản giới hạn và hạn chế trong ICCPR năm 1985 và Các nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995 [19, tr.24]
Quyền tự do lập hội cũng có thể bị giới hạn đối với một số đối tượng trong xã hội Cụ thể, quyền tự do lập hội có thể bị hạn chế đối với các cá nhân
là các viên chức chính phủ hoặc làm việc trong lực lượng cảnh sát, quân đội Việc hạn chế này là cần thiết và hợp lý để đảm bảo các chủ thể trên thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ công của mình [27, tr.18]
Trang 201.2 Mối quan hệ của tự do lập hội với các quyền con người khác
Các quyền con người đều có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Tính chất này thể hiện ở việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Một quyền được thúc đẩy hay bị vi phạm sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quyền khác
Tuy nhiên, quyền tự do lập hội có quan hệ gần gũi hơn cả với một số quyền con người, bao gồm: quyền hội họp, quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin; và quyền tham gia quản lý đất nước
1.2.1 Quyền tự do lập hội với quyền tự do hội họp
Quyền tự do lập hội và tự do hội họp có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Hai quyền này đều được bảo vệ bởi luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của nhiều quốc gia Tự do hội họp là tiền đề cho tự do lập hội, vì khi thực hiện tự do hội họp, khung chương trình, điều lệ… được thảo luận và
là tiền đề để một hội ra đời [19, tr.27]
Hội họp là việc nhiều người tập hợp lại, tại nơi công cộng hoặc cơ sở tư nhân, trong nhà hoặc ngoài trời, nhằm thực hiện một mục đích chung nhất định Hội họp có thể vì mục đích riêng tư (đám cưới, đám giỗ, sinh nhật,…) hoặc vì mục đích công (hội thảo, tập huấn, tọa đàm, cầu nguyện,…) [18, tr.63] Biểu tình cũng là một hình thức đặc biệt của tự do hội họp Biểu tình là việc tập hợp một bộ phận công chúng nhằm bày tỏ quan điểm, ý kiến (ủng hộ hoặc phản đối) của họ về một vấn đề nào đó [18, tr.64]
Cùng với quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp được ghi nhận bởi Điều 20 UDHR “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và hiệp hội có tính cách hòa bình” Điều 21 ICCPR tái khẳng định tự do hội họp là quyền cơ bản của con người Việc thực hiện quyền này chịu một số hạn chế, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định cụ thể trong pháp luật quốc gia và chỉ
Trang 21nhằm: (1) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng; (2) Bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức cộng đồng; (3) Tôn trọng các quyền hoặc danh dự của người khác Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà nước thường lấy các lý do như gây cản trở giao thông, nguy cơ bạo lực, xung đột từ các cuộc biểu tình, diễu hành gây mất an ninh và trật tự công cộng, để cản trở quyền tự do hội họp của người dân [18, tr.66] Những hành động của nhà nước nhằm bảo vệ, thực thi quyền tự do hội họp rất dễ trở thành các hành động mang tính chất cản trở, thậm chí vi phạm quyền này
Việc tự do hội họp được tôn trọng và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với
sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội, đóng vai trò thúc đẩy nhiều quyền con người khác Mỗi cá nhân đều có nhu cầu được hội họp, được phát biểu quan điểm, được chia sẻ ý tưởng của mình với những người khác; trong khi đó tự do hội họp giúp xã hội dân sự phát huy vai trò của mình khi những ý kiến, kiến nghị của đông đảo quần chúng nhân dân được tập hợp, tạo ra tác động đáng kể đến quần chúng và cơ quan công quyền Ở khía cạnh này, quyền tự do hội họp chính là sự mở rộng của quyền tự do biểu đạt Đối với tự
do lập hội, tự do hội họp là bước đầu tiên trong quá trình hình thành nên một hội Trong quá trình hoạt động của hội, tự do hội họp chính là một phần của hoạt động hội, được thể hiện qua các hội thảo, tọa đàm, chiến dịch truyền thông, vận động, họp thường niên do các hội tổ chức Ở chiều ngược lại, việc tự do hội họp bị cản trở, vi phạm sẽ kéo theo một loạt quyền con người khác bị vi phạm, hạn chế, không gian xã hội dân sự bị chia rẽ, thu hẹp, tính dân chủ trong xã hội suy giảm
Tại Việt Nam, tự do hội họp cũng được ghi nhận là một quyền cơ bản của công dân Việt Nam tại Điều 25 Hiến pháp 2013, bên cạnh tự do biểu đạt, lập hội, biểu tình Dưới Hiến pháp còn có một số luật và văn bản luật quy định về quyền này như Luật Biểu tình 2015, Nghị định 38/2005/NĐ-CP quy
Trang 22định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng và Thông tư hướng dẫn số 09/2005/TT-BCA, Quyết định số 76/2010/QĐ-TTg về việc tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam, Nhìn chung tự do hội họp ở Việt Nam vẫn chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ phía Nhà nước, đặc biệt với các cuộc biểu tình nói chung và các hội nghị, hội thảo, các hoạt động tập hợp đông người liên quan đến các vấn đề được coi là “nhạy cảm” như chính trị, nhân quyền, tôn giáo, chủ quyền biển đảo,…[18, tr.71]
1.2.2 Quyền tự do lập hội với quyền tự do biểu đạt và tự do thông tin
Tự do biểu đạt là quyền tự do thể hiện ý chí, trình bày, trao đổi các quan điểm, nhận định, thái độ bằng nhiều hình thức khác nhau thông qua lời nói, chữ viết, hành động hoặc không hành động, các hình thức nghệ thuật, [19, tr.28] Tự do biểu đạt bao gồm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự
do xuất bản, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật,…
Tự do biểu đạt và tự do thông tin được ghi nhận tại điều 19 UDHR, tái khẳng định trong Điều 19 ICCPR và được giải thích trong Bình luận chung số
34 Theo đó:
Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị
ai can thiệp vào Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại, tin tức,
ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ
Tự do biểu đạt và tự do thông tin không phải là một quyền tuyệt đối Các giới hạn quyền phải được quy định bằng pháp luật, việc áp dụng các giới hạn chỉ khi cần thiết để: (1) Tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; (2) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng (theo Điều 19 ICCPR)
Trang 23Nhờ có tự do biểu đạt, các cá nhân, các nhóm có thể trình bày các vấn
đề của mình, góp ý vào các vấn đề chung của xã hội, cùng nhau thảo luận, tìm kiếm các giải pháp xử lý cho các vấn đề đó Tuy nhiên, nếu các vấn đề, quan điểm, ý kiến được đưa ra bởi các cá nhân đơn lẻ thì mức độ tác động thường
sẽ hẹp bởi đó được xem là ý kiến một chiều, mang nặng tính chủ quan Việc thu hút đông đảo mọi người cùng tham gia góp ý, tranh luận sẽ giúp mở rộng các ý tưởng, nhìn vấn đề đa chiều, tìm ra được các giải pháp toàn diện, đồng thời tạo ra các tác động sâu rộng trong xã hội, đặc biệt gây ra được ảnh hưởng đến các quyết định của cơ quan nhà nước Vì vậy, tự do lập hội, hội họp được coi là sự mở rộng của tự do biểu đạt, là yếu tố quan trọng để quyền tự do biểu đạt được thực hiện hiệu quả [19, tr.29]
Tự do thông tin bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp cận, chia sẻ, trao đổi và phổ biến thông tin Tự do thông tin đồng nghĩa với quyền tự do thông tin, bao gồm quyền tiếp cận thông tin mà được nắm giữ bởi các cơ quan nhà nước [18, tr.53] Thông tin được ví như oxy của nền dân chủ, vì vậy tự do thông tin chính là “hơi thở” của xã hội và của mỗi cá nhân Tự do thông tin giúp các hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, chịu sự giám sát của người dân, vì vậy hoạt động hiệu quả hơn Tự do thông tin cũng giúp dân chúng tiếp cận và có đầy đủ thông tin về các chính sách và hoạt động của nhà nước, vì vậy người dân có thể tham gia tích cực vào công tác quản lý xã hội cùng nhà nước, góp ý, phản biện, giám sát các chính sách và hoạt động đó, người dân cũng là người chủ của đất nước [19, tr.29] Bên cạnh đó, tự do thông tin còn đóng vai trò thúc đẩy các quyền con người khác, giúp lan tỏa những hành động hay các giá trị nhân văn, đồng thời gây sự chú ý và lên án những hành động sai trái, đàn áp, giúp xã hội văn minh hơn, tốt đẹp hơn
Đối với tự do lập hội, thông tin minh bạch giúp các hội thực hiện hiệu quả chức năng phản biện chính sách và giám sát hoạt động của các cơ quan,
Trang 24cán bộ nhà nước, đồng thời là nguồn dữ liệu đầu vào để các hội xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phù hợp với nhu cầu của xã hội Ở chiều ngược lại, tự do lập hội giúp việc phân tích, chia sẻ và phổ biến thông tin hiểu quả hơn, đồng thời giám sát và yêu cầu nhà nước phải minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình trước dân chúng
1.2.3 Quyền tự do lập hội với quyền tham gia vào chính trị của người dân
Quyền tham gia vào chính trị của người dân bao gồm các quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia điều hành các công việc xã hội – những quyền chính trị cơ bản của công dân Quyền này được ghi nhận lần đầu tiên trong Điều 21 UDHR, theo đó “mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ được tự do lựa chọn Mọi người đều có quyền được tiếp cận dịch vụ công ở nước mình một cách bình đẳng” Điều này đã được tái khẳng định trong Điều 25 ICCPR và được giải thích bằng Bình luận chung số 25 của Ủy ban Nhân quyền, theo đó các quyền bầu cử, ứng cử có chủ thể là công dân của một nước, thay vì “mọi người” như một số quyền con người khác Quyền này có thể bị hạn chế bởi các điều kiện liên quan đến độ tuổi và năng lực hành vi dân sự của cá nhân, nhưng không thể bị hạn chế bởi các điều kiện liên quan đến khuyết tật thể chất, trình độ, ngôn ngữ, tài sản, vị thế,…[11, tr.191]
Trong mối quan hệ với quyền tự do lập hội, Bình luận chung số 25 đã khẳng định “quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện có hiệu quả quyền bầu cử, do đó, cần được các quốc gia bảo đảm đầy đủ” Tự do biểu đạt, tự do thông tin, tự do lập hội và hội họp giúp thông tin về các cuộc bầu cử được minh bạch, người dân có đầy đủ thông tin về cuộc bầu cử cũng như có khả năng để vận động những người khác ủng
hộ quan điểm của mình [19, tr.32] Đối với quyền tham gia điều hành các công tác xã hội, tự do lập hội tạo ra môi trường để mọi người tham gia một
Trang 25cách hòa bình vào quản lý và thực hiện các công việc của đất nước Các hội bên cạnh thực hiện các hoạt động của hội cũng thực hiện một số các hoạt động do nhà nước giao phó hoặc được tài trợ bởi nhà nước
1.3 Những yếu tố tác động và những điều kiện bảo đảm thực thi tự
- Yếu tố chính trị
Quyền tự do lập hội được ghi nhận trong pháp luật quốc tế cũng như Hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia Tuy nhiên, cách hiểu và việc thực thi quyền này của các quốc gia có sự khác nhau phụ thuộc vào quan điểm chính trị của bộ máy chính quyền ở mỗi quốc gia
Quyền tự do lập hội bao gồm cả quyền tự do thành lập các tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, cũng như tất cả các hội, nhóm - nơi quần chúng nhân dân được tập hợp để tạo thành sức mạnh tập thể Trong một nhà nước dân chủ, việc tôn trọng các quyền tự
do cá nhân, trong đó có quyền tự do lập hội là nguyên tắc cơ bản cần được tuân thủ Tại các quốc gia dân chủ, quyền tự do lập hội được thực hiện rất sôi
Trang 26nổi bởi tất cả mọi người trong xã hội, các hiệp hội được hình thành trong các khu dân cư, trường học, cơ quan, cho đến các tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc gia và quốc tế Tại quốc gia này, các hình thức hiệp hội không bị giới hạn mà bao gồm cả các đảng chính trị, các tổ chức tôn giáo, tổ chức của người lao động, các tổ chức đăng ký pháp nhân cũng như các hội nhóm không
cá nhân, hoặc lớn hơn 30 nếu thành viên là các tổ chức Có thể thấy, việc thành lập hội đoàn tại Trung Quốc mang nặng tính xin – cho, khi mà các hội thành lập cần nhận được sự bảo trợ/bảo đảm từ cơ quan nhà nước hoặc từ các
tổ chức có mối quan hệ mật thiết với nhà nước Việc Nhà nước đặt ra yêu cầu
số lượng thành viên quá lớn (trong khi theo pháp luật điều chỉnh quyền tự do lập hội của Cộng hòa Liên bang Đức chỉ yêu cầu số hội viên tối thiểu của hội
Trang 27có đăng ký là 7, những hội dưới 7 thành viên vẫn hoạt động bình thường nhưng không cần đăng ký [8, tr.255]) cũng là một hạn chế lớn đối với việc thành lập hội Tại Trung Quốc vẫn còn tồn tại sự không công bằng giữa các hội đoàn khi mà 8 hội được gọi là “đoàn thể nhân dân”, thuộc Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc Trung Quốc, trực thuộc Quốc Vụ viện là pháp nhân
và được miễn đăng ký; những đoàn thể xã hội có tư cách pháp nhân và các đoàn thể không có tư cách pháp nhân; những tổ chức khác không được giám sát và đăng ký, không có địa vị và không được pháp luật bảo hộ [22, tr.5]
- Yếu tố văn hóa – xã hội
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Xã hội là môi trường sống mà ở đó con người hoạt động, tương tác với nhau Trong mỗi xã hội đều có những đặc trưng văn hóa, truyền thống giúp hình thành hoặc ảnh hưởng đến tính cách và hoạt động của cá nhân trong
xã hội đó, bao gồm cả các hoạt động giao tiếp, hội họp và hiệp hội, biểu đạt
Tại các quốc gia có nền văn hóa dân chủ phát triển, các chủ thể trong
xã hội được tự do phát biểu quan điểm, tự do liên kết với chủ thể khác, miễn
là không vi phạm các giới hạn chính đáng do pháp luật đặt ra về các quyền này Đó là điều kiện quan trọng để quyền tự do lập hội bắt rễ và phát triển Sự liên kết vào các hội không làm triệt tiêu tính cá nhân này mà giúp cho các quan điểm được khuếch rộng, đa dạng, tư duy phản biện được khuyến khích phát triển, các vấn đề của đời sống xã hội nói chung được tiếp cận từ nhiều hướng vì vậy được giải quyết bằng nhiều cách thức khác nhau
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng để tự do lập hội được thực hiện hiệu quả và tạo giá trị cho cuộc sống là văn hóa tự nguyện Tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” cùng với văn hóa tự nguyện đưa đến những hành động trợ giúp, hỗ trợ giữa những người có điều kiện vật chất đến những người có hoàn cảnh khó khăn Văn hóa tự nguyện cũng khuyến khích
Trang 28những trí thức chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, khuyến khích doanh nghiệp
sử dụng một phần lợi nhuận tái đầu tư vào xã hội, tạo ra nguồn kinh phí cho hoạt động của hội [31]
Tại Việt Nam, văn hóa làng xã dù khuyến khích cư dân liên kết lại nhưng là liên kết theo khu vực địa lý (thay vì liên kết bởi những người cùng chung mục đích, lợi ích), vì vậy tập hợp làng xã là tập hợp của sự đa dạng, không tránh khỏi những mâu thuẫn giữa các chủ thể trong đó Thêm vào đó, văn hóa làng xã coi trọng ý thức cộng đồng, ý kiến số đông, cá nhân, vì vậy ít được thể hiện và coi trọng, tính đa dạng và phản biện bị triệt tiêu Môi trường
đó không thể là môi trường cho sự tự do của con người, bao gồm cả tự do lập hội và hội họp, được thực hành và phát triển
- Yếu tố kinh tế
Điều kiện kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến quyền tự do lập hội, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động hội và sự phát triển của khu vực xã hội dân sự
Dễ dàng nhận thấy, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, điều kiện vật chất của người dân đầy đủ đến dư thừa, là điều kiện để các hoạt động thiện nguyện phát triển Thực tế cho thấy, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện hầu hết ra đời tại các nước có điều kiện kinh tế phát triển, hoạt động gây quỹ của họ cũng chọn các nước này làm thị trường, và dùng nguồn tiền đó để viện trợ nhân đạo với các nước kém phát triển Bên cạnh đó, các chủ thể khác trong xã hội là nhà nước và các doanh nghiệp tại các nước có nền kinh tế phát triển cũng thành lập ra các quỹ và sử dụng nguồn tài chính đó vào mục đích phát triển cộng đồng, thực hiện trách nhiệm đối với xã hội và nghĩa vụ viện trợ phát triển của mình
- Yếu tố pháp luật
Pháp luật là yếu tổ quan trọng thứ hai, sau yếu tố chính trị, tác động đến
Trang 29quyền con người nói chung, quyền tự do lập hội nói riêng Pháp luật thiết lập nên các cơ chế bảo đảm thực thi quyền, bao gồm cơ chế để nhà nước thực hiện các nghĩa vụ và người dân thực hiện quyền của mình Pháp luật tốt, thể hiện tinh thần tôn trọng quyền con người, quyền công dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quyền con người được bảo đảm và hạn chế, triệt tiêu các vi phạm
từ phía nhà nước và bên thứ ba đối với quyền con người Ngược lại, pháp luật cũng có thể trở thành công cụ để nhà nước ngăn cản, thậm chí vi phạm quyền con người, quyền công dân Đối với quyền tự do lập hội, pháp luật rất dễ trở thành công cụ hạn chế quyền bằng cách quy định các thủ tục hành chính rườm
ra, phức tạp liên quan đến việc thành lập và hoạt động của hội Vì vậy, để đảm bảo quyền tự do lập hội được hiện thực hóa trong đời sống người dân, cần xây dựng pháp luật về hội thống nhất, có tính khả thi, trên tinh thần tôn trọng quyền con người và là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền
1.4 Tự do lập hội trong pháp luật nhân quyền quốc tế, khu vực và tại một số quốc gia trên thế giới
1.4.1 Quyền tự do lập hội trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế
Quyền tự do lập hội được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc
tế khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Đây là những cơ sở pháp lý ràng buộc các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm thực thi bảo đảm các quyền con người đã được ghi nhận, bao gồm quyền tự do lập hội
Quyền tự do lập hội là một trong những quyền tự do cơ bản của con người, được ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người năm 1948 Điều 20 Tuyên ngôn ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự
do hội họp và lập hội một các hòa bình Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn” Điều 22 ICCPR tái khẳng định:
Trang 301 Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác,
kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình;
2 Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp
do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một
xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe của công chúng hoặc nhân cách, hoặc các quyền và tự do của những người khác Điều này không ngăn cản việc hạn chế hợp pháp đối với những người trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát;
3 Không một quy định nào của các điều này cho phép các nước tham gia Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền được tổ chức hội năm 1948 của Tổ chức lao động quốc tế được tiến hành những biện pháp lập pháp hoặc áp dụng luật làm phương hại đến những đảm bảo nêu trong Công ước đó
Bên cạnh đó, quyền tự do lập hội cũng được ghi nhận khái quát trong các văn kiện khác như Điều 7 của CEDAW về quyền tham gia vào các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội của phụ nữ; Điều 15 của CRC về quyền tự do lập hội và hội họp của trẻ em; Điều 5 của CERD về nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền con người; Điều 26 của CMW về quyền tự do lập hội và hội họp của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ; Điều 29 của CRPD về tham gia đời sống chính trị công cộng của người khuyết tật bao gồm việc tham gia vào các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ có liên quan đến đời sống chính trị xã hội Riêng với lĩnh vực lao động, quyền của người lao động được tự do thành lập công đoàn được quy định trong Điều 8 ICESPR, trong các văn kiện của ILO như Công ước số 87 về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948, Công ước số 98
về quyền tổ chức và đàm phán tập thể năm 1949, Tuyên ngôn về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lĩnh vực lao động năm 1998,…
Trang 31Trong các văn bản của hệ thống luật nhân quyền quốc tế không có khái niệm cụ thể về hội, tuy nhiên khái niệm này đã được làm rõ trong một số báo cáo của Liên hợp quốc Theo đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về những người bảo vệ nhân quyền, “hội” là bất kỳ nhóm cá nhân hặc bất kỳ thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung [25, tr.13]
Theo quy định của Điều 22 ICCPR, nội hàm của quyền tự do lập hội bao gồm: (1) Quyền thành lập hội; (2) Quyền gia nhập hội; (3) Quyền tự do hoạt động, điều hành các hội
- Về quyền thành lập và gia nhập hội
Khoản 1, Điều 22 ICCPR quy định: “Mọi người có quyền tự do lập hội
với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”
Quyền thành lập và gia nhập hội là một phần không thể tách rời của quyền tự do lập hội, bao gồm quyền lập và gia nhập các công đoàn của người lao động để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ như đã được ghi nhận trong ICCPR và ICESCR
Theo quy định này, chủ thể của quyền tự do lập hội là tất cả mọi người Điều này có nghĩa là không chỉ công dân mà cả người nước ngoài và người không quốc tịch đang sinh sống hợp pháp tại một quốc gia cũng là chủ thể của quyền tự do lập hội, bao gồm cả quyền thành lập và gia nhập hội Cũng theo Điều 2 ICCPR về nguyên tắc không phân biệt đối xử khi thực hiện các quyền dân sự và chính trị và được tái khẳng định trong các Nghị quyết 21/16 và 24/5 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng
và bảo vệ quyền của mọi cá nhân được hội họp hòa bình và tự do lập hội, trên
cả mạng internet lẫn ngoài đời thực, bao gồm cả bối cảnh trong thời gian bầu
cử, và bao gồm cả những người có quan điểm hoặc niềm tin thuộc nhóm thiểu
Trang 32số, người bảo vệ nhân quyền, công đoàn và những người khác, bao gồm cả người di trú, đang tìm kiếm cơ hội thực hiện và thúc đẩy những quyền này; nhà nước đồng thời phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo mọi giới hạn đối với việc thực hiện những quyền này là phù hợp với nghĩa vụ của nhà nước theo luật nhân quyền quốc tế Nghị quyết 20/27 một lần nữa khẳng định rằng các quy phạm pháp luật về quyền tự do lập hội không thiết lập bất
cứ giới hạn nào đối với các chủ thể bao gồm cả trẻ em và người nước ngoài là tương thích với luật nhân quyền quốc tế Theo luật quốc tế, việc thực hiện quyền tự do lập hội có thể bị hạn chế đối với một số quan chức chính phủ, bao gồm những thành viên của lực lượng vũ trang và cảnh sát Những hạn chế như vậy có thể hợp lý trong trường hợp việc hình thành hoặc gia nhập một hiệp hội sẽ mâu thuẫn với nghĩa vụ công cộng hoặc gây nguy hiểm cho tính trung lập về chính trị của các viên chức chính phủ liên quan, ảnh hưởng đến hành động của các viên chức khi thực hiện các nhiệm vụ công [8, tr.139]
Về thủ tục thành lập hội, Báo cáo viên đặc biệt LHQ về quyền tự do hội họp và hiệp hội nhấn mạnh rằng quyền tự do lập hội bảo vệ tất cả các hội, bao gồm cả các hội không đăng kí Các thành viên của các hội không đăng kí được tự do tiến hành các hoạt động, bao gồm quyền tổ chức và tham gia hội họp một cách hòa bình, và không nên bị xử phạt hình sự Thủ tục thành lập hội rườm rà, phức tạp và phụ thuộc vào quyết định của cơ quan hành chính là một trong những nguyên nhân khiến cho việc hình sự hóa có thể được sử dụng như một công cụ để ngăn cản, bắt bớ những người có niềm tin và quan điểm bất đồng với quan điểm của Nhà nước
Báo cáo viên cũng nhấn mạnh rằng thủ tục thành lập hội nên được các
cơ quan nhà nước hành động với thiện chí, một cách kịp thời và không có sự chọn lọc, phân biệt giữa các loại hội Tốt nhất các thủ tục này nên đơn giản, miễn phí và nhanh chóng Vì lẽ đó, thủ tục thành lập hội nên là thủ tục thông
Trang 33báo, tức là các hội được cấp tư cách pháp nhân ngay sau khi thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc hội đã được thành lập; thay vì thủ tục đăng kí và phải nhận được sự chấp thuận từ cơ quan nhà nước để hội có tư cách pháp nhân Trường hợp pháp luật áp dụng thủ tục đăng ký, các thủ tục này cũng cần được quy định rõ ràng trong luật, bao gồm cả thời gian cơ quan nhà nước xử lý yêu cầu, ra quyết định công nhận, trường hợp từ chối công nhận việc thành lập hội cần chỉ ra lý do từ chối như luật định Nếu quốc gia ban hành luật về hội mới thì các hội đã tồn tại trước ngày luật mới ban hành
sẽ không bị mất đi tư cách cũ và không cần đăng ki lại Cũng theo Điều 2 ICCPR về nguyên tắc cấm phân biệt đối xử, pháp luật quốc gia chỉ áp dụng một thủ tục thành lập chung cho tất cả các hội cho dù hội được thành lập bởi công dân, người nước ngoài, người lao động hay các chủ thể khác Nói tóm lại, để đảm bảo quyền tự do lập hội theo các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia phải xây dựng và áp dụng thủ tục thành lập hội nhanh chóng, đơn giản và tiết kiệm chi phí; thời gian, quy trình và hồ sơ thành lập hội phải được quy định rõ ràng bằng các văn bản pháp luật [25, tr.14-15]
Bên cạnh việc thành lập hội, các cá nhân cũng có quyền gia nhập hoặc rút lui khỏi các hội có sẵn Các hội cũng có quyền ngưng hoạt động và tự giải tán Tuy nhiên, hành động ngưng hoạt động và giải tán các hội nếu thực hiện bởi cơ quan nhà nước phải được tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của pháp luật
- Về quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý
Quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý là nội dung cơ bản tiếp theo của quyền tự do lập hội Quyền này đặt ra các nghĩa vụ đối với Nhà nước nhằm bảo vệ hội khỏi sự can thiệp vô lý, tạo môi trường cho các hội được tự do hoạt động, bao gồm hoạt động tiếp cận, huy động các nguồn tài chính nhằm phục vụ hoạt động hội
Trang 34Theo quy định của luật nhân quyền quốc tế, nhà nước có vai trò trước hết trong việc thực hiện các nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, trong đó nghĩa vị tôn trọng được xem là nghĩa vụ thụ động, nghĩa
vụ bảo vệ và thúc đẩy là nghĩa vụ chủ động
Quyền tự do lập hội yêu cầu Nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp tích cực, bao gồm cả xây dựng luật pháp, xây dựng chính sách và các chương trình hành động, nhằm thiết lập và duy trì một môi trường thuận lợi cho các hội hoạt động Mọi chủ thể phải được tự do thực hiện quyền lập hội mà không thể là đối tượng của bất kỳ mối đe dọa nào, bao gồm các hành động hăm dọa, bạo lực, bắt bớ tùy tiện, cưỡng ép mất tích, tra tấn hoặc bị đối
xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục, bị bêu xấu trên truyền thông, cấm xuất cảnh hoặc sa thải tùy tiện bởi các chủ thể là cơ quan nhà nước và các bên thứ
ba, bao gồm chủ lao động và các cá nhân, tổ chức khác [25, tr.16]
Nghĩa vụ chủ động của Nhà nước đối với quyền tự do lập hội cũng yêu cầu Nhà nước phải xây dựng, bồi dưỡng năng lực và giám sát hoạt động của các cán bộ hành chính thực hiện các chức năng liên quan đến công việc của các hội Các cán bộ hành chính này cần được kiểm tra và giám sát thường xuyên để đảm bảo các thủ tục thành lập hội được thực hiện hợp pháp, đúng quy trình và đúng tiến độ Bên cạnh đó, các cán bộ này cũng phải thường xuyên được tập huấn, trợ giúp chuyên môn, cập nhật và giải đáp các quy định luật mới để họ có
đủ năng lực và kiến thức thực hiện công việc của mình [25, tr.16]
Bên cạnh nghĩa vụ chủ động, quyền tự do lập hội cũng yêu cầu Nhà nước thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, không làm cản trở việc thực hiện quyền này của người dân Theo đó, hội viên của các hội được tự do xác định các quy chế, cơ cấu và hoạt động của mình và không bị Nhà nước can thiệp trong quá trình đưa ra các quyết định đó, hoặc không cần sự phê duyệt của Nhà nước đối với các công việc nội bộ của hội Để thực hiện hiệu quả quyền tự do lập
Trang 35hội, các hội cũng cần được tự do thực hiện quyền phát ngôn, tiếp cận thông tin, tiếp xúc với công chúng và vận động chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế để đạt được các lợi ích chung của hội như bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, yêu cầu sửa đổi luật, tham gia sửa đổi Hiến pháp,… Đặc biệt đối với các vấn đề được các Nhà nước xếp vào dạng “nhạy cảm”, Nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ tôn trọng và kiềm chế để các hội vẫn được tự do phát biểu các quan điểm của mình một cách hòa bình mà không trở thành đối tượng của các hình phạt [25, tr.16]
Trong hoạt động của hội, tài chính hội đóng vai trò quan trọng và xương sống để hội có thể thực hiện và mở rộng các hoạt động của mình, vì vậy các hội phải có quyền tự do tiếp cận các nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của mình Theo đó, bất kì hội nào, bao gồm cả hội đăng ký (có tư cách pháp nhân) và hội không đăng ký, đều có quyền tìm kiếm và tiếp cận các nguồn tài trợ trong và ngoài nước từ các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức trong nước và quốc tế, và từ cả nguồn ngân sách của Chính phủ Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt LHQ về quyền tự do lập hội và hộp họp nhấn mạnh rằng các hội phải được tự do tiếp cận nguồn tài trợ từ nước ngoài, đặc biệt trong bối cảnh các nguồn lực tài chính trong nước hạn hẹp, việc tiếp cận này phải được Nhà nước đưa vào như một phần của hoạt động hợp tác quốc tế của Chính phủ Pháp luật các quốc gia cũng không nên có những quy định cho phép các hội chỉ được nhận tài trợ từ các chủ thể khác khi có sự phê duyệt từ Nhà nước, quy định này được xem như yếu tố gây cản trở việc thực hiện quyền tự do hoạt động của các hội Tuy nhiên, để đảm bảo các hội không phải đơn vị “rửa tiền” cho các tổ chức khủng bố hoặc phục vụ các hoạt động bất hợp pháp, Nhà nước có thể thông qua các cơ chế thay thế như luật ngân hàng hoặc luật hình sự để kiểm soát và xử lý những hành vi này mà không lấy đó làm lý do để ngăn cản hoặc làm chậm hoạt động nhận tài trợ của các hội Bên
Trang 36cạnh đó, các cơ chế độc lập giám sát các hoạt động của các hội hình thành nhằm tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các hội, từ đó làm tăng lòng tin của các nhà tài trợ và cộng đồng đối với hoạt động của các hội, giúp cho các hội tiếp cận nguồn tài chính dễ dàng và hiệu quả [25, tr.17]
- Giới hạn chính đáng đối với quyền tự do lập hội
Quyền tự do lập hội không phải là quyền tuyệt đối Theo khoản 2 Điều
22 ICCPR quy định:
Việc thực hiện quyền này (quyền tự do lập hội) không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát
Thứ nhất, các giới hạn đối với quyền tự do lập hội phải do pháp luật
quy định tức là quyền này chỉ bị hạn chế khi pháp luật quốc gia có quy định
về các hạn chế đó mà nội dung phải phù hợp với Công ước ICCPR và phải có
hiệu lực tại thời điểm giới hạn được áp dụng Các quy phạm pháp luật về hạn
chế quyền phải rõ ràng, dễ tiếp cận với người dân để người dân biết và nhận thức được các giới hạn khi thực hiện quyền tự do lập hội Thêm vào đó, bên cạnh việc quy định các giới hạn đối với quyền, các quốc gia cũng cần phải có các biện pháp xử lý và cơ chế bảo vệ người dân khỏi việc áp dụng giới hạn bất hợp pháp hoặc lạm dụng các giới hạn này để vi phạm quyền lập hội của người dân Các biện pháp và cơ chế bảo vệ này, cũng giống như các giới hạn quyền, cần phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong luật pháp quốc gia
Thứ hai, việc đặt ra các hạn chế này phải là cần thiết trong một xã hội
dân chủ, trong đó một xã hội dân chủ được hiểu là một xã hội mà tại đó các
Trang 37quyền con người được quy định trong Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền được công nhận và tôn trọng [18, tr.136]
Thứ ba, việc đặt ra các hạn chế này chỉ nhằm các mục đích:
1) Vì lợi ích an ninh quốc gia và an toàn, trật tự công cộng
2) Bảo vệ sức khỏe hay đạo đức của cộng đồng;
3) Bảo vệ các quyền và tự do hợp pháp của người khác
Các nguyên tắc Siracusa và Các nguyên tắc Johannesburg đã giải thích rất cụ thể các định nghĩa và yêu cầu khi áp dụng các giới hạn nhằm ba mục đích nêu trên
Cũng theo khoản 2 Điều 22 ICCPR, về mặt chủ thể, theo quy định trên, ICCPR cho phép giới hạn quyền tự do lập hội đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát Như đã trình bày ở trên, sự hạn chế này nhằm duy trì sự trung lập cần có về chính trị và tránh bị lôi cuốn vào các xung đột mang tính phe nhóm, đảm bảo các chủ thể này thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình
Bên cạnh các giới hạn quyền được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, quyền tự do lập hội cũng có thể bị hạn chế khi quốc gia ban bố tình trạng khẩn cấp đe dọa sự sống còn của một quốc gia theo quy định tại Điều 4 ICCPR “Tình trạng khẩn cấp đe dọa sự sống còn của quốc gia” được hiểu là khi có các mối nguy hiểm ảnh hưởng đến toàn bộ dân cư và toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ quốc gia, hoặc đe dọa đến sự độc lập chính trị của quốc gia đó
Để áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ theo Điều 4 ICCPR, các quốc gia phải đảm bảo tình huống khẩn cấp là có thật, phải công bố tình trạng khẩn cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng để đảm bảo dân chúng và cộng đồng khu vực, quốc tế biết được và thông báo nguyên nhân và thời gian của tình trạng khẩn cấp, và thời gian áp dụng và dự định chấm dứt các biện pháp tạm đình chỉ đối với một số quyền; đảm bảo rằng các biện pháp này là phương pháp
Trang 38đối với lợi ích của quốc gia Tình trạng khẩn cấp có thể được ban hành khi xảy ra dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, bạo động, biến động chính trị,… Việc hạn chế quyền tự do lập hội có thể bị tạm đình chỉ trong một số những bối cảnh này để tránh sự lây lan của dịch bệnh hoặc tránh những xung đột từ các phe nhóm có lợi ích đối lập [8, tr.73]
1.4.2 Quyền tự do lập hội trong công ước các khu vực
Bên cạnh hệ thống luật nhân quyền quốc tế của Liên hợp quốc có hiệu lực với hầu hết các nước trên thế giới, một số tổ chức khu vực cũng ban hành các văn kiện và thành lập các cơ chế nhằm bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong phạm vi khu vực đó Quyền tự do lập hội đều được ghi nhận trong các văn kiện về quyền con người ở khắp các khu vực châu Phi, châu Âu
và châu Mỹ - Latin
Quyền con người có lịch sử tương đối sớm ở châu Mỹ Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước Mỹ La-tinh chính là những quốc gia đầu tiên vận động cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc Tháng 4 năm 1948, khi UDHR đang được thảo luận, các nước Mỹ La-tinh đã thông qua Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người, và là nguồn tham khảo cho việc xây dựng UDHR [8, tr.362]
Điều 22 Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người
tuyên bố: “Mọi người đều có quyền liên kết với những người khác để thúc đẩy,
thực hành và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tôn giáo, xã hội, văn hóa, học thuật, công đoàn và các lĩnh vực khác”
Đến năm 1969, các nguyên tắc nền tảng trong Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và trách nhiệm của con người được tái khẳng định trong Công ước châu Mỹ về quyền con người, bao gồm cả quyền tự do lập hội Điều 16 Công ước nhân quyền châu Mỹ năm 1969 quy định:
Trang 391 Mọi người đều có quyền tự do liên kết vì mục đích lý tưởng, tôn giáo, chính trị, kinh tế, lao động, xã hội, văn hóa, thể thao hoặc các mục đích khác
2 Việc thực hiện quyền này chỉ bị hạn chế theo các quy định của luật pháp, là cần thiết cho một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, hoặc để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, quyền và lợi ích của người khác
3 Các quy định của điều này không ngăn cấm việc áp đặt những hạn chế pháp lý, bao gồm các hành động ngăn cản việc thực hiện quyền tự do lập hội của các thành viên thuộc lực lượng vũ trang và cảnh sát
Tại châu Âu, các tư tưởng và pháp luật về quyền con người đã được phát triển từ rất sớm Văn kiện nòng cốt ghi nhận và bảo đảm quyền con người ở châu Âu là Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản được Hội đồng châu Âu thông qua từ năm 1950 Mọi quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu đều phải tham gia công ước này [8, tr.360] Quyền tự
do lập hội được quy định tại Điều 11 Công ước, theo đó:
1 Mọi người đều có quyền tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội, bao gồm cả quyền thành lập và gia nhập công đoàn để bảo
vệ lợi ích của người lao động;
2 Các quy định hạn chế việc thực hiện quyền này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc phòng, để bảo vệ sức khỏe và đạo đức cộng đồng, hoặc để bảo vệ quyền và tự do của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp về việc thực hiện quyền của những thành viên làm việc trong lực lượng vũ trang,
an ninh hoặc cơ quan của Chính phủ
Trang 40Xét về thời gian, Công ước nhân quyền châu Âu (năm 1950) ra đời trước Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966), nội dung của các quy định rất tiến bộ, ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền con người Các quy định trong ICCPR, đặc biệt là quy định về giới hạn hợp pháp, được cho là tham khảo từ các quy định về tự do lập hội trong Công ước nhân quyền châu Âu này
Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc (African Charter on Human and Peoples’ Rights), được thông qua vào ngày
27 tháng 6 năm 1981 là nền tảng của hệ thống văn kiện khu vực về quyền con người ở châu Phi [8, tr.364] Điều 10 Hiến chương ghi nhận về quyền tự do
lập hội như sau: “Mọi cá nhân đều có quyền tự do lập hội tuân theo các quy
định của pháp luật; Tuân thủ nghĩa vụ đoàn kết quy định tại Điều 29, không
ai bị ép buộc tham gia một hội nào”
Nhìn chung, các văn kiện có giá trị pháp lý về quyền con người ở các khu vực đều ghi nhận quyền tự do lập hội Các văn kiện này đều ghi nhận chủ thể của quyền tự do lập hội là tất cả mọi người, bao gồm quyền thành lập và gia nhập hội, mục đích hiệp hội vì lợi ích chung của các hội viên, hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống; đồng thời quy định các giới hạn hợp pháp cho việc thực hiện quyền tự do lập hội Các quy định này đều rất tiến bộ, vừa là nguồn tham khảo tốt cho luật nhân quyền quốc tế, vừa đặt ra yêu cầu “nội luật hóa” các quy định của các văn kiện này vào pháp luật các quốc gia thành viên
1.4.3 Quyền tự do lập hội trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Quyền tự do lập hội là quyền cơ bản quan trọng của con người được ghi nhận trong Hiến pháp của hầu hết các quốc gia Tại các nước theo hệ thống luật án lệ, pháp luật bảo vệ quyền tự do nói chung, quyền tự do lập hội nói riêng, dù rất đa dạng và phức tạp song nhìn chung rất cởi mở, tôn trọng tự
do và sự khác biệt Tại Anh, Công ước Nhân quyền châu Âu là cấu thành của