SKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinhSKKN: Phân dạng và định hướng giải các bài tập cơ bản trong chương I Hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinh
Trang 2A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I Bối cảnh của đề tài:
Trong giai đoạn toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinhtrong hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ cho học sinh, thì phương phápdạy học được xem là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổchức các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạyhọc
Với mục tiêu chung và chương trình cụ thể hiện nay, để việc dạy học đạthiệu quả với các phương pháp dạy học mới đang được các nhà quản lý giáo dục
và giáo viên vận dụng linh hoạt vào trong chương trình giáo dục hiện hành Ởbậc THCS môn Hóa học là môn học mà các em được tiếp cận muộn nhất so vớicác môn học khác, nhưng môn Hóa học lại có vai trò rất quan trọng trong họctập cũng như thực tiễn cuộc sống Chính vì lẽ đó người giáo viên dạy hóa họclớp 8 phải làm sao để học sinh bước vào môn học một cách yêu thích, hứng thúqua mỗi bài học đây là điều trăn trở và thôi thúc người giáo viên luôn tìm tòi đổimới và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả nhất đối với họcsinh
II Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tựnhiên và xã hội khác Cách tiếp cận với môn học đòi hỏi phải có tư duy (baogồm cả tư duy thực tế và tư duy trừu tượng) Cho nên sau khi học xong chươngtrình lớp 7 các em mới có đủ điều kiện để lĩnh hội kiến thức của môn học này Mặc dù là môn học mới, có nhiều kiến thức hay gắn liền với những hiệntượng trong đời sống, có những tiết thực hành thí nghiệm lí thú nhưng đối vớihóa học lớp 8 nhiều bài lí thuyết Nên học sinh say mê học môn hóa học ngay từlớp 8 chưa nhiều, có một bộ phận học sinh chán học môn hóa do không nắmđược kiến thức cơ bản không biết vận dụng lí thuyết vào giải bài tập, kĩ nănggiải bài tập của học sinh còn hạn chế, phần lớn học sinh khi giải bài tập thườngcảm thấy khó khăn lúng túng, bế tắc và lâu dần trở nên chán nản khi phải làmbài tập hóa học
Nguyên nhân chính là trong 1 tiết học chúng ta thường quan tâm nhiều đếnviệc truyền đạt hết nội dung kiến thức lí thuyết, thời gian dành cho việc hướngdẫn làm bài tập rất ít Bài tập đưa ra khi có một số học sinh giải được là giáoviên yêu cầu một em lên giải và nhận xét đúng sai, ít khi phân dạng và rút ra các
Trang 3bước giải bài tập đó nên những đối tượng học còn yếu, trung bình tiếp thu ghichép bài giải một cách thu động, ít có khi được tiến trình giải hết một bài và lâudần thành thói quen ỉ lại, lười suy nghĩ khi phải làm bài tập, thường chờ bạn khágiỏi hoặc thầy cô chữa bài xong thì chép vào Đa số giáo viên chưa chú trọng ởphần cũng cố, hướng dẫn bài tập mà chỉ dặn dò học sinh về nhà làm bài tập theoSGK Trong khi đó kiến thức vừa học trên lớp chủ yếu là lí thuyết nên nhiều họcsinh không biết áp dụng, vận dụng lí thuyết vào giải bài tập mà các em chỉ trả lờiđược một số câu hỏi ở phần bài tập mang tính lí thuyết như định nghĩa, kháiniệm.
Một nguyên nhân nữa là nhiều giáo viên chưa đặt mình vào vị trí của mộthọc sinh để đánh giá đúng trình độ nhận thức, tiếp thu bài của các em, nên nhớrằng tư duy, trình độ năng lực của học sinh trong cùng một lớp cũng có nhiềuloại khác nhau, về vấn đề này đa số chung ta đều biết, nhưng chúng ta thườngphân loại đối tượng học sinh vào cuối mỗi học kì dựa trên điểm số Vậy tại saochúng ta không phân loại học sinh ngay trong tiết học để thấy được vai trò, tráchnhiệm của người thầy sau mỗi tiết học là phải làm cho học trò nắm được trọngtâm bài học và xác định được hướng giải bài tập sau mỗi bài học
Vậy làm thế nào để học sinh yêu thích môn hóa học, thích làm bài tập hóahọc và rèn luyện kĩ năng giải bài tập hóa học nhằm nâng cao chất lượng nắmvững kiến thức hóa học cho học sinh Để giải quyết được vấn đề này thì ngay từnhững tiết học đầu tiên của chương I hóa học lớp 8 cần tạo cho học sinh có niềmsay mê, yêu thích môn học và giải bài tập hóa học
Với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm tòi phươngpháp dạy học thích hợp với những điều kiện hiện có của học sinh, nhằm pháttriển tư duy của học sinh trung học cơ sở nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 8nói riêng, làm cho học sinh yêu thích môn học và nắm được phương pháp, kĩnăng giải những bài tập cơ bản trong SGK, giúp các em tự lực hoạt động tíchcực để tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tưduy của các em ở các cấp học cao hơn cũng như trong cuộc sống sau này Do đó
tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài:“Phân dạng và định hướng giải các dạng bài tập
cơ bản trong chương I hóa học lớp 8 nhằm nâng cao kiến thức cho học sinh”.
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối lớp 8 ở trường trung học cơ sở nơi tôi đang giảng dạy
2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài dạy trong chương I Hóa học 8
IV Mục đích nghiên cứu
Trang 41 Nêu lên được cơ sở lí luận của việc phân dạng bài tập và định hướng giảicác dạng bài tập cơ bản chương I hóa học lớp 8 ở trường trung học cơ sở trongquá trình dạy và học.
2 Tiến hành điều tra học sinh về tình hình nắm vững kiến thức cơ bản củatừng bài trong chương I hoá học lớp 8 ở trường trung học cơ sở
3 Hệ thống các dạng bài tập hoá học cơ bản trong chương I hóa lớp 8
4 Bước đầu dùng sơ đồ định hướng giải các dạng bài tập cơ bản chương I
hóa học lớp 8 nhằm giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức một cách vững chắc,rèn luyện tính độc lập hành động và trí thông minh của học sinh Đồng thời tạocho các em sở thích giải bài tập hóa học
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Hiện nay các trường THCS được chủ động biên soạn phân phối chươngtrình môn học dựa trên bộ khung chương trình của bộ giáo dục, đây là điều kiệnthuận lợi để các giáo viên trực tiếp giảng dạy có thể lập kế hoạch chương trìnhdạy học phù hợp với đặc điểm tình hình nhà trường và đối tượng học sinh
Việc phân dạng và sử dụng định hướng giải các bài tập cơ bản trongchương I Hoá học lớp 8 ở trường trung học cơ sở sẽ đạt hiệu quả cao, sẽ là tiền
đề cho việc phát triển năng lực trí tuệ của học sinh ở những chương học tiếptheo trong hóa học lớp 8 và cấp học cao hơn Khi giáo viên sử dụng linh hoạt vàhợp lí hệ thống các dạng bài tập hoá học theo các mức độ phù hợp với trình độcủa từng đối tượng học sinh sẽ làm cho học sinh yêu thích môn học và nắmđược phương pháp, kĩ năng giải những bài tập cơ bản trong SGK, giúp các em
tự lực hoạt động tích cực để tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức
B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận
Giải bài tập hóa học là một quá trình phức tạp Sơ đồ đinh hướng giải bàitập hóa học là một bản chỉ dẫn các thao tác cần thiết để giải bài tập hóa học nóichung Tuy nhiên việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hóa học theo các sơ đồđịnh hướng chỉ là bước đầu tiên hình thành kĩ năng giải bài tập hóa học nóichung để dần chuyển sang giải các bài tập phân hóa đa dạng hơn
Tác dụng của sơ đồ định hướng:
Trang 5Đó là những chỉ dẫn chỉ ra phương hướng chung để tìm kiếm lời giải bàitập, do vậy tạo điều kiện cho học sinh có thói quen xác định phương hướng vàcách thức hành động trước khi bắt tay vào hành động cụ thể Mặt khác mỗi chỉdẫn nêu ra cần phải làm gì, còn phải thực hiện những thao tác nào và theo trình
tự nào trong mỗi hành động ấy thì học sinh phải suy nghĩ và tự quyết định
Việc giải bài tập theo sơ đồ định hướng làm giảm bớt khó khăn cho họcsinh trong quá trình nắm vững kĩ năng giải bài tập và cho phép dạy mọi đốitượng học sinh đặc biệt đối tượng học sinh yếu và trung bình, sơ đồ định hướnggiúp các em một phương hướng để tìm kiếm lời giải dễ dàng hơn Còn đối vớihọc sinh khá giỏi có thể rút ra phương pháp giải mỗi loại bài tập và có thể vậndụng để giải các bài tập tương tự và bài tập có biến đổi
Giải bài tập theo sơ đồ định hướng tạo cho học sinh có thói quen làm việctheo quy trình chặt chẽ, đặt kế hoạch trước khi thực hiện cụ thể Có thói quenhành động và lập luận giải bài tập một cách sáng tạo Bởi lẽ trong quá trìnhhướng dẫn học sinh giải các bài tập mẫu, những thao tác tư duy và kĩ năng giảibài tập của học sinh được hình thành, đồng thời khi học sinh thực hiện các thaotác đó một cách thành thạo thì việc chuyển từ giải bài tập theo sơ đồ định hướngsang các bài tập tương tự và các bài tập có biến đổi sẽ dễ dàng hơn
Yêu cầu của sơ đồ định hướng:
Phải ngắn gọn cô đọng Giúp học sinh dễ nhớ và tạo điều kiện cho tư duyđộc lập và phát triển
Mỗi hành động nêu ra không quá rộng đảm bảo cho học sinh có khả năngthực hiện được
Tập hợp các sơ đồ định hướng phải tương đối đầy đủ sao cho có thể giảiđược các bài tập cùng loại, cùng kiểu
II Thực trạng của vấn đề
Bài tập Hoá học rất đa dạng, phong phú song chất lượng đối tượng học sinhchưa đồng đều, một số học sinh vận dụng kiến thức để giải bài tập Hoá học chưathành thạo, hoặc giải được một số bài khi giáo viên gợi ý, nhưng chẳng bao lâusau đã quên cách giải bài đó
Vùng học sinh tôi dạy là nông thôn nên trình độ học của học sinh đa sốtrung bình Việc nhiều học sinh không giải được hoặc giải sai bài tập, nguyênnhân chủ yếu là do học sinh không hiểu điều kiện của bài tập, không biết cần
Trang 6vận dụng kiến thức nào để giải bài tập, không biết cách thực hiện cụ thể, tínhtoán sai, kĩ năng toán học còn yếu
Vì thế trong giảng dạy, ngoài việc truyền đạt nội dung bài học theo yêu cầucủa chuẩn kiến thức kĩ năng và của sách giáo khoa thì người giáo viên phải chú
ý thiết kế hệ thống các bài tập cơ bản nhất và cách giải tổng quát cho từng loạibài tập, biết sử dụng bài tập phù hợp với từng công việc như luyện tập, kiểm tra,nghiên cứu,…nhằm đánh giá trình độ cũng như mức độ nắm vững kiến thức củahọc sinh Từ đó biết sử dụng các bài tập ở các mức độ khác nhau phù hợp vớitừng đối tượng học sinh.Vận dụng kiến thức vừa học một cách khoa học để họcsinh có hứng thú khi giải bài tập Sau khi giải một dạng bài tập thì phải khắc sâuphương pháp cơ bản để giải bài tập dạng đó cho học sinh
Trong quá trình giảng dạy tôi thấy hướng dẫn cụ thể cho học sinh giải bàitập dựa trên sơ đồ định hướng và chọn bài tập mẫu là rất quan trọng
III Các biện pháp
Như chúng ta đã biết bài tập hóa học nếu chia cụ thể chi tiết thì có nhiềudạng Trong đề tài này tôi đề cập đến những dạng bài tập cơ bản nhằm nâng caokiến thức cho học sinh trong chương I SGK hóa học lớp 8
1 Dạng bài tập về nguyên tử: Tính số proton, notron, electron trong
Bài tập 1 Nguyên tử X có tổng số proton, nơtron, electron là 116 trong đó
số hạt mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 24 Xác định các loại hạt
có trong nguyên tử X.
Vì là bài tập mẫu nên tôi hướng dẫn HS giải từng bước một, các bước địnhhướng này tôi lần lượt viết lên trên bảng
Trang 7Sơ đồ định hướng:
- Viết công thức tính tổng 3 loại hạt.(1)
- Viết công thức mối quan hệ giữa: tổng hạt mang điện với hạt không mang điện (2).
Bài tập 2 Nguyên tử Nhôm có điện tích hạt nhân là 13+ Trong nguyên tử
nhôm, số hạt mang điện nhiều hơn số hạt không mang điện là 12 hạt Hãy xácđịnh các hạt p, n, e trong nguyên tử
Vậy trong nguyên tử có: p = e =13, n = 14
Bài tập 3 Nguyên tử Na có tổng số hạt là 34 trong đố số hạt không mang
điện ít hơn số hạt mang điện là 10, tính số hạt p, n, e trong nguyên tử
Đáp án:
p + n + e = 34 (1)
p + e – n = 10 (2)
Trang 8Bài tập 4 Nguyên tử B có tổng số hạt là 21 Số hạt không mang điện
chiếm 33,33 % Xác định các hạt trong nguyên tử B
* Điểm mới trong bài này là tỉ lệ %, vì thế Gv cần hướng dẫn học sinh
cụ thể hơn, thêm công thức
Trang 9Bài nguyên tố hóa học là bài học có nhiều kiến thức rất quan trọng bướcđầu giúp học sinh biết được tên nguyên tố, kí hiệu hóa học và nguyên tử khối(giá trị một đvC so với 1 gam) của một số nguyên tố hóa học ở bảng 1 trang 42(SGK) Phần bài tập gồm có 8 bài tập, trong đó có một số bài liên quan đến kĩnăng phân tích, tính toán
Dạng 1: So sánh sự nặng nhẹ giữa các nguyên tử A và B
Sơ đồ định hướng:
Bước 1: Tìm NTK của A và B (Tra bảng 1 trang 42- SGK)
Bước 2: Lập tỉ lệ về NTK của A và B: NTKB NTKA = x (lần)
Bước 3: So sánh kết quả x với 1:
+ x < 1 Nguyên tử A nhẹ hơn, bằng x lần nguyên tử B
+ x > 1 Nguyên tử A nặng hơn, bằng x lần nguyên tử B
Bài tập Hãy so sánh xem nguyên tử lưu huỳnh nặng hay nhẹ bao nhiêu lần
so với nguyên tử oxi, so với nguyên tử đồng
Bước 1: Tìm nguyên tử khối của nguyên tố B.
Bước 2: Lập tỉ lệ về nguyên tử khối của A so với B theo đề ra.
NTK A = x.NTK B
Ví dụ: Xác định tên nguyên tố và KHHH của X và Y biết:
a) Một nguyên tử X nặng hơn nguyên tử cacbon 2 lần
Trang 10b) Một nguyên tử Y nhẹ hơn nguyên tử đồng, bằng 0,25 lần nguyên tửđồng
c) Hai nguyên tử Z nặng bằng 4 nguyên tử oxi
Đáp án:
a) NTKX = 2 NTKC = 2.12 = 24 X là nguyên tố Magie: Mg
b) NTK Y = 0,25 NTKCu = 0,25 64 = 16 Y là nguyên tố Oxi: O
c) 2NTKZ =4. NTKO = 4.16 = 64 NTKZ = 64 : 2 = 32 Z là nguyên tố lưuhuỳnh: S
Bài tập áp dụng: bài 6 (SGK- trang 20 ), bài 5.6(SBT).
Dạng 3 Tính khối lượng bằng gam của nguyên tử
Sơ đồ định hướng:
- Bước 1: Tra bảng 1 trang 42 để tìm NTK A =a đvC
- Bước 2: Áp dụng 1 đvC = 0,16605.10 -23 (g).( lưu ý: khi tính giữ nguyên
Bài tập áp dụng: bài 7 (SGK- trang 20).
3 Bài tập về tính phân tử khối.
Đây là dạng bài tập rèn cho HS kĩ năng sử dụng bảng trang 42, phần tínhtoán khá đơn giản đối với học sinh khá giỏi, nhưng với học sinh trung bình, yếuthì cần phải hướng dẫn chu đáo Tính PTK rất quan trọng trong chương trìnhhọc hóa sau này, tính toán thành thạo PTK thì sẽ tạo điều kiện tốt cho việc ápdụng tính khối lượng mol và dùng trong các bài toán hóa học sau này Tôi sửdụng 3 dạng bài tập và đưa vào trong các tiết dạy cụ thể như sau:
Trang 11Bài đơn chất và hợp chất- phân tử: Được phân làm 2 tiết dạy Tiết 1 tôi
dạy phần I- Đơn chất và phần II- Hợp chất Tiết 2 tôi dạy phần III- phân tử ,trong tiết 2 này mục IV- trạng thái của chất giảm tải không dạy nên có được mộtlượng thời gian dành cho luyện tập nên tôi đã đưa vào phần này dạng bài tập cơbản sau:
Dạng 1 Tính phân tử khối
Sơ đồ định hướng
Phân tử hợp chất gồm x nguyên tử A và y nguyên tử B, vậy phân tử khối của hợp chất là:
PTK hợp chat = NTK A.x + NTK B.y
Bài tập mẫu: Tính phân tử khối của các chất sau:
a Khí cacbonic, biết phân tử gồm 1C và 2O
PTK của metan =12.1 + 2.16 = 44 đvC
b Đường saccarozơ, biết phân tử gồm 12C, 22H và 11OPTK đường = 12.12 + 22.1 + 11.16 =342 đvC
Bài tập áp dụng: bài 7 (SGK- trang 26), bài 6.6 b (SBT).
* Bài luyện tập 1 Sau khi hệ thống kiến thức cần nhớ Phần bài tập tôi
đưa ra dạng bài tập cơ bản sau:
Dạng 2. Xác định tên nguyên tố và KHHH của nguyên tố có trong hợp
chất
Bài tập : Một hợp chất có phân tử gồm 1 nguyên tử nguyên tố X liên kết
với 2 nguyên tử O và nặng hơn phân tử oxi 2 lần
- Bước 2: Lập biểu thức liên hệ giữa PTK oxi so với PTK của hợp chất.
- Bước 3: Rút ra NTK của nguyên tố X Tên nguyên tố và KHHH.
Trang 12 X là nguyên tố lưu huỳnh, KHHH: S
Bài tập áp dụng: bài 3 (SGK- trang 31), bài 8.5, 8.6 (SBT).
* Bài công thức hóa học: Sau khi học sinh đã nắm được cách viết CTHH
và ý nghĩa của CTHH, cần cho HS luyện tập về cách tính PTK dựa vào CTHHmột cách thành thạo Tôi đã sử dụng 2 dạng bài tập sau: Dạng 1 các em đã đượcbiết ở bài đơn chất hợp chất và phân tử, ở bài này các em đã được học về CTHHnên tôi cho các em luyện thêm về dạng bài tập này
Dạng 1 Tính phân tử khối của hợp chất.
Tổng quát: PTK A x B y = NTK A.x + NTK B.y
Hoặc: PTK A x (B y C z ) t = NTK A.x + ( NTK B.y + NTK C.z).t
(A, B, C là KHHH của các nguyên tố x, y,z và t là các chỉ số).
Bài tập: Tính phân tử khối của các chất có CTHH sau: