1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dạy học đọc hiểu truyện ngắn “hai đứa trẻ” của thạch lam (ngữ văn 11) theo quan điểm tích hợp

65 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thật vậy, từ xưa đến nay, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường luôn được quan tâm đặt lên hàng đầu với các phương pháp giảng dạy phù hợp nhất cho môn học và đáp ứng sự phát triển của xã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUỲNH

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN

“HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM

(NGỮ VĂN 11) THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

Th.S VŨ NGỌC DOANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướng

dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư

phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ

văn và ThS Vũ Ngọc Doanh là người hướng dẫn trực tiếp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến các

thầy cô!

Hà Nội, tháng 04 năm 2017

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Phương Quỳnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khóa luận là kết quả

quá trình nghiên cứu của bản thân tôi Những nội dung này không trùng khớp với kết quả nghiên cứu của người khác

Hà nội, tháng 04 năm 2017

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Phương Quỳnh

Trang 4

DANH SÁCH MỤC VIẾT TẮT

Phương pháp dạy học: PPDH Trung học phổ thông: THPT Phó giáo sư – tiến sĩ: PGS.TS

Giáo sư – tiến sĩ: GS.TS Sách giáo khoa: SGK Biện pháp tư từ: BPTT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Bố cục khóa luận 6

NỘI DUNG 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 8

1.1 Một số vấn đề lí luận về dạy học tích hợp 8

1.1.1 Khái niệm tích hợp 8

1.1.2 Khái niệm dạy học tích hợp 8

1.2 Một số đặc trưng dạy học tích hợp 9

1.2.1 Mục tiêu của dạy học tích hợp 9

1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp 10

1.2.3 Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp 10

1.2.4 Một số biện pháp vận dụng dạy học tích hợp 11

1.3 Xác định cơ sở cho hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Thach Lam 15

1.3.1 Đặc điểm thể loại truyện ngắn 15

1.3.2 Đặc trưng truyện ngắn lãng mạn 16

1.3.3.Vấn đề dạy học truyện ngắn lãng mạn ở trường phổ thông 17

1.4 Đặc sắc truyện ngắn của Thạch Lam 19

1.4.1 Con người và quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam 19

1.4.2 Một ngòi bút quan tâm sâu sắc đến số phận người bình dân 22

Trang 6

1.4.3 “Mỗi truyện ngắn là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” 26

1.4.4 Truyện không có cốt truyện 28

Chương 2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM Ở TRƯỜNG THPTTHEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 31

2.1 Dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung 31

2.2 Dạy học đọc hiểu tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo quan điểm tích hợp 32

2.2.1 Tích hợp với kiến thức liên môn 32

2.2.2 Tích hợp trong nội bộ môn học 35

2.2.3 Tích hợp với đời sống thực tiễn 36

Chương 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38

KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Trong đời sống xã hội, văn học là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt nhạy cảm và tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân – thiện – mĩ của con người, nó có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách đạo đức cho các thế hệ công dân Mỗi tác phẩm văn học đều được kết tinh từ những tư tưởng tình cảm, từ những suy nghĩ, trăn trở cũng như tài năng sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn

Gorxki đã từng khẳng định “văn học là nhân học”bởi văn học giống như

cái nôi nuôi dưỡng tình cảm con người, qua văn học con người nhìn thấy một phần bản thân mình trong đó, nhận thức được cái xấu, cái đẹp, cái bi, cái hài

để từ đó đi tới hoàn thiện chính mình “Văn học có ý nghĩa rất lớn, nó là gia

sư của xã hội” (Vissarion Belinsky)

Văn học có tầm quan trọng đối với cuộc sống con người như vậy thì việc giảng dạy văn học trong nhà trường càng được quan tâm sâu sắc Thật vậy, từ xưa đến nay, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường luôn được quan tâm đặt lên hàng đầu với các phương pháp giảng dạy phù hợp nhất cho môn học và đáp ứng sự phát triển của xã hội

Dạy học theo hướng tích hợp là một trong những nội dung trọng tâm Bộ GD-ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học cơ

sở năm học 2012-2013 Đây là quan điểm dạy học đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Với mục tiêu lấy hoạt động học tập của học sinh làm trung tâm,giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn để học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức Người giáo viên cần vận dụng kĩ năng, phương pháp giảng dạy cùng kinh nghiệm của mình để dẫn dắt học sinh tham gia tích cực vào hoạt động học có hiệu quả, đạt mục tiêu kiến thức môn học

Trang 8

Hơn nữa, hiện nay sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT đã có nhiều thay đổi, theo định hướng phát triển môn học Các phân môn Văn học – Tiếng Việt – Làm văn được hợp nhất thành môn học Ngữ văn trong một quyển sách Ngữ văn duy nhất mà trước đó là ba quyển riêng Đây là bước đánh dấu sự chuyển đổi tích hợp kiến thức thành một thể thống nhất

Mặt khác, chương trình SGK mới, cách dạy hoc theo hướng tích cực đòi hỏi giáo viên và học sinh ở mức độ cao hơn hẳn so với chương trình cũ.Thực trạng cho thấy, một số không ít giáo viên chưa hiểu đúng về dạy học tích hợp dẫn đến việc dạy học tích hợp ở phổ thông hiện nay còn lúng túng cả về nhận thức và thực hành Giáo viên mặc dù đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy văn nhưng vệc thực hiện mới chỉ mang tính hình thức, chưa đem lại hiệu quả mong muốn Bên cạnh đó, một số giáo viên khi dạy đọc văn lại chưa biết khai thác hết kiến thức liên môn và kiến thức thực tế đời sống vào bài dạy làm cho hiệu quả dạy học chưa cao, chưa đáp ứng đúng mục tiêu mà quan điểm dạy học tích hợp đề ra

Chương trình Ngữ văn 11 – tập 1 – ban cơ bản là chương trình với nhiều nội dung khó đối với cả giáo viên và học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Đặc biệt là bộ phận văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945 với hai xu hướng lãng mạn và hiện thực có dung lượng dài đáng kể

Để làm rõ hơn quan điểm dạy học theo hướng tích hợp và giúp nhận thức đầy đủ, chính xác về dạy học tích hợp, đi sâu phân tích được các tác phẩm văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945 thấy được những đặc sắc cũng như phát huy

tối đa năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, tôi chọn đề tài : “Đọc

hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Ngữ văn 11) theo quan điểm tích hợp” với hi vọng đóng góp những điểm mới trong việc ứng dụng

quan điểm dạy học mới mẻ này

Trang 9

2.Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử phát triển của khoa học nhân loại,các lĩnh vực khoa học ngày càng phân hóa thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ Bước sang thế kỉ XX,

đã xuất hiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành Các khoa học đã chuyển từ

“phân tích – cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp – hệ thống” Sự thống nhất của

tư duy phân tích và tổng hợp là cần thiết cho sự phát triển nhận thức, đem lại cách nhận thức biện chứng trong mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường vì thế cũng phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, vượt ra khỏi tình trạng giảng dạy khoa học mang tính riêng rẽ Bởi thế, tích hợp đã trở thành một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam

Trên thế giới, dạy học tích hợp đã phát trển thành một trào lưu sư phạm theo mục tiêu, giải quyết các vấn đề, phân hóa, tương tác… Trào lưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm quá trình học tập, trong đó toàn thể các quá trình góp phần hình thành năng lực ở HS Nó bao gồm toàn bộ những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống diễn ra các hoạt động Hay nói cách khác, chính là hình thành ở HS kỹ năng thực hành và giải quyết vấn đề đòi hỏi có sự tích hợp

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và Hội đồng nghiên cứu trên thế giới quan tâm tới lý thuyết về tích hợp như: Tháng 9 – 1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO tổ chức tại Varna (Bumgari), hội nghị “tích hợp việc giảng dạy các khoa học”, Hội nghị đưa ra

hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “Dạy học tích

hợp các khoa học là gì?” Liên tiếp từ 1972 đến 1973 các định nghĩa và khái

niệm về dạy học tích hợp đã được đưa ra và khẳng định giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển năng lực ở HS Quan

Trang 10

điểm tích hợp còn được thể hiện khá rõ trong nhiều công trình nghiên cứu cũng như SGK của một số nước như: Trung Quốc, Pháp, Malaixia, Đức… Tuy nhiên, ở mỗi nước lại có cách nhìn nhận và áp dụng riêng tùy thuộc vào đặc điểm từng quốc gia, từng môn học mà vẫn đảm bảo không đi lệch khỏi cốt lõi của nó

Ở Việt Nam, việc giảng dạy tích hợp trong các môn học đã được thử nghiệm, áp dụng nhưng chưa thực sự phổ biến Các thông tin về đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có trên các diễn đàn phương pháp dạy học tác phẩm văn chương và các tạp chí chuyên ngành, một phần giúp cho quan điểm dạy học tích hợp gần gũi với mọi người hơn

Tác giả Đỗ Hữu Châu với bài: “Vai trò của giáo viên trong các phương

pháp dạy học được lựa chọn” (Tạp chí Giáo dục số 99), đã đề cập đến các

phương pháp dạy học, đặc biệt đề cao vai trò của người giáo viên

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài: “Tích hợp trong dạy học ngữ

văn” (Tạp chí Giáo dục số 6-2006) đã chỉ ra tích hợp chính là một phương

hướng phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học đạt hiệu quả Ngoài

ra, tác giả còn nêu rõ tích hợp trong môn ngữ văn là sự liên kết giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm Văn

TS Hoàng Thị Tuyết trong bài: “Đào tạo – dạy học theo quan điểm tích

hợp: chúng ta đang ơ đâu?”, bài viết đã đưa ra những quan niệm về tích hợp,

nêu lên được các cách tiếp cận khác nhau trong phương pháp dạy học tích hợp

đó là: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn với các mức

độ tích hợp phù hợp

Nguyễn Trọng Hoàn với bài “Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối

trong dạy học Ngữ văn” trong tạp chí Giáo dục số 22 – 2002 đã đề cập đến

tích hợp trong môn Ngữ văn trong quan điểm của mình Tuy trong bài viết, tác giả chưa đi sâu về sự tích hợp kiến thức theo chiều dọc Nhưng tác giả đã

Trang 11

tập trung vào việc trình bày quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn trên

cơ sở một số văn bản có vai trò là kiến thức nguồn phục vụ cho các phân môn

Trong SGK Ngữ văn 10 tập 1, các tác giả viết sách đưa ra những gợi ý

về mặt phương pháp giảng dạy cho GV Ở phần tiếng Việt, ngoài định hướng

giảng dạy Tiếng Việt gắn với giao tiếp “bằng thực hành, thông qua thực hành

và hướng tới thực hành”, nhóm biên soạn cũng đã đề ra yêu cầu tích hợp là

GV cần chú ý thực hiện việc dạy học tích hợp trong bài dạy luyện tập: “Có

thể yêu cầu HS nhắc lại khái niệm hoặc phát biểu các định nghĩa về hiện tượng ngôn ngữ có liên quan, rồi áp dụng vào phân tích, lĩnh hội và thực hành sử dụng, hoặc ngược lại” Tuy nhiên, định hướng nói trên vẫn chỉ ở

mức khái quát

Trên đây là một số các bài viết, nghiên cứu về quan điểm tích hợp trong dạy học Có thể nói, tích hợp là quan điểm dạy học cần thiết được áp dụng và phát huy trong các môn học đặc biệt là môn Ngữ văn Qua dạy học theo quan điểm tích hợp sẽ tận dụng tối đa các kiến thức trong và ngoài môn học, rèn luyện cho học sinh kĩ năng tiếp nhận kiến thức một cách thuần thục, sâu rộng qua việc liên kết giữa phân môn trong môn học và các bộ môn có liên quan Đây là quan điểm dạy học hiện đại mang tính thiết thực cao, đáp ứng phù hợp mục tiêu dạy học phát triển năng lực cho HS

Để cụ thể hóa cho những định hướng mang tính khái quát trên, việc

nghiên cứu đề tài “Dạy học” nhằm vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy

học theo quan điểm tích hợp vào dạy văn bản văn xuôi lãng mạn, giúp cho bài dạy thêm phong phú, giúp HS lĩnh hội kiến thức bài học đạt hiệu quả cao nhất Từ đó, thấy được vai trò và tầm quan trọng của PPDH theo quan điểm tích hợp trong bộ môn Ngữ văn nói riêng và trong chương trình Giáo dục nói chung

Trang 12

3.Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về quan điểm dạy học tích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu day học đổi mới, phù hợp với thực tiễn Nâng cao chất lượng dạy học phát triển năng lực HS

Đề xuất phương pháp vận dụng một cách hiệu quả quan điểm tích hợp

văn bản Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu những cơ sở lí luận của việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn

học theo quan điểm tích hợp từ đó xây dựng quy trình đọc hiểu tác phẩm Hai

đứa trẻ của Thạch Lam (SGK Ngữ Văn 11 tập 1, NXB GD)

5.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy học đọc hiểu tác phẩm Hai đứa

trẻ của Thạch Lam trong chương trình Ngữ văn lớp 11 theo quan điểm tích

hợp

- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ

của Thạch Lam

6.Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp hồi cứ tài liệu (chép, trích dẫn)

7.Bố cục khóa luận

Khóa luận được triển khai thành 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của khóa luận được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1 Những vấn đê lý luận chung

Chương 2 Xây dựng quy trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn Thạch Lam ở

Trang 13

trường THPT theo quan điểm tích hợp

Chương 3 Giáo án thực nghiệm

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1.Một số vấn đề lí luận về dạy học tích hợp

1.1.1.Khái niệm tích hợp

Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận

dạy học Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng

La tinh: Integration với nghĩalà xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất

trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ

Theo Từ điển Tiếng Việt, tích hợp có nghĩa là “sự hợp nhất, sự hòa

nhập, sự kết hợp” Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì “tích hợp hệ thống là phố hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong hệ thống – một chương trình nhằm giải quyết nhiệm vụ chung nào đó”

Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực khoa học GD, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng

để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có

1.1.2.Khái niệm dạy học tích hợp

Theo Xavier Rogier: “Sư phạm tích hợp là một quan điểm về quá trình

học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ co quá trình học trong tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”

Dưới góc độ lí luận dạy học, dạy học tích hợp nhằm tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học nhằm phát triển các năng lực của HS Khi xây dựng các tình huống đòi hỏi vận dụng các kiến thức của phân môn học

Trang 15

hoặc của nhiều môn học, HS sẽ phát huy được năng lực, phát triển tư duy sáng tạo Dạy học tích hợp sẽ làm giảm trùng lặp nội dung dạy học các môn học, đồng thời hiệu quả dạy học được nâng lên

Các định nghĩa đã nêu rõ được mục đích của việc dạy học tích hợp là phát triển năng lưc của người học Đồng thời cũng nêu rõ các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học

Như thế có thể định nghĩa dạy học tích hợp là “quá trình dạy học mà ở

đó các thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống

cụ thể trong đời sống để hình thành năng lực của người học”

1.2.Một số đặc trƣng dạy học tích hợp

1.2.1.Mục tiêu của dạy học tích hợp

Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình DH.Vì vậy, dạy học theo quan điểm tích hợp dựa trên những mục tiêu sau:

- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hằng ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lý các tình huống cụ thể, những tình huống có ý nghĩa, hòa nhập thế giới học đường với cuộc sống

- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Trong dạy học cần có

sự sàng lọc, lựa chọn các tri thức, kĩ năng được xem là quan trọng đối với quá trình học tập, có ích trong cuộc sống hoặc là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo Từ đó cần nhấn mạnh chúng và đầu tư thời gian cũng như có giải pháp hợp lí

- Dạy học tích hợp quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống, tạo ra các tình huống học tập cho HS vận dụng một cách sáng tạo, tự

Trang 16

lực để hình thành người lao động có năng lực, tự lập

- Dạy học tích hợp còn giúp HS thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học, giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học, của những môn học khác nhau, đảm bảo cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết có hiệu quả các tình huống xuất hiện trong quá trình học tập và trong thực tiễn cuộc sống Khả năng đó của HS gọi là năng lực hay mục tiêu tích hợp

Ngoài ra, dạy học theo quan điểm tích hợp còn giúp giải quyết những mâu thuẩn đề ra trong quá trình dạy học, giúp cho việc học trở nên dễ dàng hơn

1.2.2.Các đặc trưng cơ bản của dạyhọc tích hợp

Tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa Dạy học tích hợp đặt toàn bộ các quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với HS

Tìm cách làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt, thông qua các năng lực hình thành cho HS một mục tiêu tích hợp cho mỗi năm học (trong một môn học hay một nhóm các môn học)

Thường tìm sự soi sáng của nhiều môn học: sự đóng góp của mỗi môn học là thực sự xác đáng, cần lưu ý đến việc lựa chọn thông tin cần cung cấp cho HS tùy thuộc vào loại tình huống trong đó HS cần huy động kiến thức, tránh làm cho hs bị chìm trong khối lớn thông tin này ít nhiều có quan hệ với tình huống phải giải quyết

Sự cố gắng vượt lên trên các nội dung môn học, các nội dung chỉ đáng chú ý khi chúng được huy động trong các tình huống

1.2.3.Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp

Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn

đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với

Trang 17

việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các, tình huống

có ý nghĩa, các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định

Ở nước ta, vận dụng dạy học tích hợp vào thực tế dạy học còn khá mới

mẻ, nhất là chương trình và SGK đã được phân hóa sâu sắc, GV chưa được bồi dưỡng về dạy học tích hợp và thói quen dạy chỉ dựa vào SGK đã in sâu trong mỗi GV Do đó, để vận dụng có hiệu quả dạy học tích hợp cần phải chú

ý tới một số quan điểm sau:

Vận dụng dạy học tích hợp một cách có ý nghĩa: đòi hỏi phải lựa chọn nội dung, tình huống có ý nghĩa với việc học tập của HS, phù hợp với logic khoa học, không gượng ép GV phải nghiên cứu nội dung dạy học, xác định mục tiêu chung và mục tiêu của bài học

Không làm cho HS học tập quá tải: nghiên cứu, lựa chọn và định rõ thời gian và mức độ cho hoạt động học tập, tránh vì hứng thú mà liên kết tri thức quá sâu, rộng sẽ dẫn đến quá tải học tập của HS, làm giảm hiệu quả dạy học

Vận dụng hợp lí các PPDH tích cực, các phương tiện dạy học để tạo ra hiệu quả tích hợp cao Vì bản thân các PPDH tích cực, các phương tiện dạy học hướng đến nâng cao chất lượng dạy học, mang thuộc tính tích hợp các kiến thức, kỹ năng, cảm xúc nhận thức ở HS

Tăng cường khai thác mối quan hệ liên môn và kiên kết các kiến thức trong nội bộ môn học Định hướng này đã quan tâm tới tích hợp và phù hợp với dạy học tích hợp

1.2.4.Một số biện pháp vận dụng dạy học tích hợp

Trong quá trình lên lớp GV có thể dạy học trên quan điểm tích hợp theo

Trang 18

nhiều cách khác nhau Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung

cụ thể của từng phân môn và từng bài học Dưới đây là một số cách dạy học được đưa ra để tham khảo phù hợp với định hướng đổi mới theo quan điểm

tích hợp trong dạy học:

*Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ:

Kiểm tra bài cũ là bước đầu tiên trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy học một bài cụ thể Mục đích của hoạt động này là để kiểm tra việc học ở nhà cũng như mức độ hiểu bài của học sinh Trên cơ sở kiểm tra mức độ hiểu bài của HS, GV sẽ kết hợp dẫn dắt và liên hệ kiến thức cũ vào bài học mới Đây

là bước căn bản để giúp HS bắt nhịp nhanh vào bài học với thông qua sự kết nối giữa kiến thức đã được học Hiệu quả của việc liên hệ kiến thức như vậy

sẽ giúp GV dễ dàng cung cấp các kiến thức trong bài học mới đến với HS HS tiếp thu kiến thức mới nhanh hơn dựa trên những tri thức đã có trước đó

*Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới

Giới thiệu bài mới là thao tác được thực hiện trong thời gian ngắn trung bình từ 3 – 5 phút Thông qua việc giới thiệu bài GV sẽ thu hút sự chú ý của

HS với bài học mới Ở bước này GV có thể vận dụng tích hợp sẽ đạt hiệu quả tốt cho giờ học

*Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu bài

Trong hoạt động dạy học Ngữ văn, hình thức hỏi – đáp đóng vai trò hết sức quan trọng, thể hiện tính tích cực, chủ động của người học cũng như vai trò chủ động của GV Hình thức này được thực hiện trong hầu hết các bước, các hoạt động dạy – học

Việc tích hợp kiến thức Văn - Tiếng Việt (qua các câu hỏi phát hiện, giải nghĩa, phân tích ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ), Văn - Làm văn (qua dạng câu hỏi tóm tắt văn bản, nêu suy nghĩ của bản thân về một vấn đề đặt ra

từ tác phẩm…) Văn - Lịch sử (Vận dụng hiểu biết vì lịch sử để lý giải một

Trang 19

hiện tượng…), Văn - Địa lý, Văn - Giáo dục công dân…được thể hiện rõ qua hoạt độngnày

*Tích hợp thông qua phương tiện dạy học như bảng phụ, tranh ảnh,

thiết bị công nghệ thông tin

Trong quá trình dạy học, GV có thể tích hợp qua các kênh hình, kênh tiếng bằng việc cho HS xem tranh, ảnh, video, bảng phụ…có liên quan đến kiến thức trong bài dạy Từ đây giúp HS liên hệ và hiểu sâu kiến thức, tạo hứng thú tiếp nhận cho HS Tuy nhiên, để thực hiện được việc này đòi hỏi kĩ thuật của GV và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường

*Tích hợp thông qua nội dung từng phần hay tổng kết giờ học

Đây là hình thức tích hợp thông qua lời thuyết giảng của GV, vừa có ý nghĩa khái quát lại vấn đề, vừa có ý nghĩa mở rộng, nâng cao kiến thức GV

có thể tích hợp dưới dạng liên hệ, so sánh đối chiếu các văn bản cùng thể loại, chủ đề đ ể rút ra nhận xét hoặc yêu cầu học sinh tự rút ra nhận xét của bản thân về vấn đề đó (nét giống, khác, sự đống góp mới mẻ của nhà văn…)

*Tích hợp thông qua hệ thống bài tập (ở lớp cũng như ở nhà)

Hoạt động tích hợp này giúp HS nắm chắc kiến thức ấy để tích hợp trong việc rèn luyện kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết

*Tích hợp thông qua hình thức kiểm tra

Chương trình Ngữ văn được xây dựng theo tinh thần tích hợp, vì thế khi ôn tập và tiến hành kiểm tra, GV cần giúp HS nắm chắc các vấn đề Các kiến thức về Văn, tiếng Việt, Tập làm văn đều cùng dựa vào một văn bản chung (hoặc nhiều văn bản cùng thể loại) để khai thác và hình thành

Vì thế, khi hướng dẫn học sinh ôn tập GV cần lưu ý HS không nên học

tủ, học lệch mà phải học toàn diện, đầy đủ GV cần lưu ý xây dựng đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ theo yêu cầu tích hợp Hệ thống câu hỏi, đề kiểm tra phải hướng vào việc phát triển năng lực người học theo bốn cấp độ: nhận biết,

Trang 20

thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao

*Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống, rèn luyện kỹ năng sống cho HS

Đây là một hoạt động cần thiết trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản bởi môn Văn trong nhà trường vừa là một môn khoa học vừa là môn học mang tính xã hội nhân văn sâu sắc Nếu biết vận dụng một cách khéo léo, nhuần nhuyễn, tự nhiên kiến thức liên môn, giáo viên không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của học sinh Từ đó, có thể định hướng thái độ sống, rèn kỹ năng sống cho các em một cách hiệu quả, giúp các em biết ứng xử văn minh , trở thành người công dân tốt…

Nhìn chung, các kiến thức ở trường phổ thông đều được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất, vào kĩ thuật và công nghệ… phục vụ cuộc sống con người Dạy học môn học nào đó chính là dạy một khoa học đã, đang tồn tại và phát triển, một khoa học sóng động gắn với môi trường xung quanh Do vậy, kiến thức ở trường phổ thông không thể tách rời với thực tiễn cuộc sống,

mà phải luôn tạo cơ sở với những tình huống xuất phát và giải trình phù hợp, phải dựa trên đặc điểm nhận thức của HS

Dạy học gắn với thực tế là hoạt động thống nhất giữa giáo dục, giáo dưỡng với môi trường kinh tế - xã hội Trước hết, giáo viên phải có kiến thức thực tế, am hiểu và có khả năng phân tích, khái quát chỉ ra các mối liên hệ cần thiết giữa kiến thức ở trường phổ thông với các ứng dụng trong kĩ thuật, công nghệ sản xuất và đời sống…cho HS hiểu được mặt thực tế của kiến thức, thấy được khả năng nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên vì cuộc sống của con người

Các kiến thức đảm bảo sự hứng thú và việc định hướng nghề nghiệp cho

HS

Trang 21

Ví dụ khi dạy phần Tiếng Việt, cần thiết phải gắn liền với kiến thức thực

tế ngoài đời sống Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, là phương tiện ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, HS cần nắm được những hiểu biết phong phú về tiếng Việt, từ đó vận dụng vào học tập và phát triển ngôn ngữ dân tộc ngày càng giàu đẹp Việc tích hợp như vậy sẽ giúp việc học bớt khô khan, tạo được hứng thú cho HS

1.3.Xác định cơ sở cho hoạt động đọc hiểu truyện ngắn Thạch Lam

1.3.1.Đặc điểm thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở con số đó

Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn

Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được định nghĩa là “tác

phẩm tự sự cỡ nhỏ” Nội dung thể loại của Truyện ngắn bao trùm hầu hết các

phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó

là ngắn gọn Bởi Truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn) Truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử

Trang 22

văn học Truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì

đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết

1.3.2.Đặc trưng truyện ngắn lãng mạn

Dấu hiệu đầu tiên để phân biệt truyện ngắn lãng mạn với các loại truyện ngắn khác là tính chất phi cốt truyện ở loại truyện này, người sáng tác không nhằm tập trung xây dựng nhân vật có đời sống nội tâm phức tạp, nhiều mâu thuẫn, biến cố mà chủ yếu tạo một ấn tượng, một suy nghĩ, cảm xúc hướng người đọc tới những dòng tâm lý, tâm trạng, những thăng trầm trong tình cảm của nhân vật.Chi tiết, tình tiết trong truyện ngắn lãng mạn không làm thành bước ngoặt để thoát nút, mở nút mà chủ yếu là làm cơ sở để tạo bối cảnh cho cảm xúc phát triển những điểm ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có khác

nhau.Nhưng truyện ngắn lãng mạn thì lại giàu chất thơ chất suy tưởng

Hai đứa trẻ là điển hình cho truyện ngắn lãng mạn trữ tình Trong Hai

Trang 23

Đứa Trẻ chúng ta thấy bức tranh phố huyện hiện lên đầy chất thơ, nhiều màu

sắc, đường nét, âm thanh hài hòa Đằng sau bức tranh ấy là cả một không gian tăm tối trong một ngày tàn, phiên chợ tàn với những kiếp người tàn nhưng sâu thẳm trong tâm hồn họ vẫn ánh lên niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng

Trong Hai Đứa Trẻ ta thấy lòng yêu tha thiết những con người nhỏ bé, những

con người mang trong mình bao nỗi bất hạnh của tác giả Từ đây làm nên một thiên truyện thấm đẫm chất trữ tình.Nhân vật trong truyện ngắn lãng mạn đều

có đời sống nội tâm không qúa phức tạp, không rõ ngoại hình, ít hành động, tính cách mờ nhạt, chủ yếu xuất hiện qua tâm trạng Qua nhân vật tác giả không nhằm mục đích khái quát tính cách, bản chất xã hội mà nhằm bộc lộ một tư tưởng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.Đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật trên điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn về cơ bản theo xu hướng nhân

vật

1.3.3.Vấn đề dạy học truyện ngắn lãng mạn ở trường phổ thông

1.3.3.1.Đặc điểm kết cấu khi tổ chức đọc hiểu văn bản

Khi giảng dạy truyện ngắn lãng mạn câu hỏi phát vấn học sinh thường tập trung vào các loại câu hỏi cảm xúc, hình dung, tưởng tượng, tái hiện, phân tích, lý giải Câu hỏi phải có tính chất nêu vấn đề Tất cả các loại câu hỏi ấy phải gắn bó với kết cấu thể loại của tác phẩm

Ví dụ: Đọc xong tác phẩm Hai đứa trẻ

- Cảm nhận chung của Anh (Chị) về tác phẩm

- Tác giả kể chuyện gì?

- Câu chuyện diễn ra ở đâu? Vào những thời điểm nào?

- Hệ thống nhân vật? (Nhân vật chính, phụ)

- Nhân vật nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất? Vì sao?

- Bức tranh thiên nhiên chiều quê chuyển dần từ chiều tối đến đêm khuya nhằm diễn tả cuộc sống thiên nhiên và con người ở đây như thế nào?

Trang 24

- Nhịp sống của những con người trong bức tranh phố huyện diễn ra như thế nào?

- Vì sao chị em Liên lại cố thức để đợi tàu đêm đi qua?

- Chuyến tàu đêm mang lại ý nghĩa như thế nào cho những con người nơi phố huyện nghèo?

Hai đứa trẻ là tác phẩm có kết cấu dựa trên trục chính là tâm trạng, cảm

xúc nhân vật Nhà văn thông diễn biến tâm trạng của nhân vật mà dựng nên kết cấu cho tác phẩm

Dạy học truyện ngắn lãng mạn của Thạch Lam, nếu chúng ta cố đi tìm một cốt truyện hấp dẫn, đầy kịch tính thì khó Hầu như truyện ngắn của ông

đều có lối kết cấu theo kiểu “truyện không có chuyện” Ở điểm này Thạch

Lam giống Nguyễn Công Hoan nhưng nếu nếu Nguyễn Công Hoan dồn hết bút lực của mình vào xây dựng những tình huống đắt, những mâu thuẫn giàu kịch tính và bằng cách nhìn sự việc một cách hài hước thì Thạch Lam lại say

mê nắm bắt những chuyển động nhiều sắc thái trong tâm hồn nhân vật rồi truyện lại đem cho người đọc bằng một ngòi bút miêu tả hết sức tỉ mỉ, tinh tế

và gợi cảm Truyện của Thạch Lam nhẹ nhàng, tinh tế như hương hoàng lan vương vấn quanh tâm hồn

1.3.3.2.Đặc điểm ngôn ngữ của truyện ngắn lãng mạn khi tổ chức đọchiểu

văn bản

Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của Văn

học.Ngôn ngữ của tác phẩm phải gãy gọn, chính xác, từ ngữ phải được chọn

lọc kĩ càng Chính các tác giả cổ điển đã viết bằng 1 ngôn ngữ như vậy, đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này sang thế kỉ khác Ngôn ngữ nhân là “tiếng nói nguyên liệu “ còn ngôn ngữ văn học là “ tiếng nói đã được bàn tay thợ nhào luyện” (Gorki)

Trang 25

Ngôn ngữ của Hai Đứa Trẻ là kiểu ngôn ngữ đặc trưng cho truyện

ngắn lãng mạn Đây là ngôn ngữ giàu chất thơ, hình ảnh, thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật.Chất thơ ấy được bay lên từ một cuộc sống còn lầm than cơ cực của những kiếp người bé nhỏ vô danh trong xã hội cũ (họ sống lầm lũi giống như những cái bóng vật vờ trong không gian phủ đầy bóng tối nơi phố huyện) Đặc biệt chất thơ ấy còn được toát lên từ chính những câu văn, giọng

hay bị cuốn vào những dòng phân tích đời sống tâm trạng của nhân vật đầy chất trữ tình.Truyện "Hai đứa trẻ" có một giọng điệu rất riêng, giọng điệu tâm

tình thủ thỉ Đó là tiếng nói của một con người, như Nguyễn Tuân nhận xét

là "tính tình nhẹ nhàng tinh tế", "vừa sống vừa lắng nghe chung quanh " với

ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người trần thuật

1.4.Đặc sắc truyện ngắn của Thạch Lam

1.4.1.Con người và quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam

1.4.1.1.Con người

Nhà văn Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, sinh năm 1909 Quê nội làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam Quê ngoại Cẩm Giàng, Hải Dương.Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918), làm thông phán tòa sứ nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu, giỏi cả tiếng Hán và tiếng Pháp Mẹ là bà Lê Thị Sâm, con gái lớn ông Lê Quang Thuật, người gốc Huế, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng với ông nội của Thạch Lam Thủa nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau

đó theo cha chuyển sang Thái Bình tiếp tục bậc tiểu học Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội, học trường Canh nông, rồi trường Trung học Albert saraut

Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1932, trở thành thành viên

Trang 26

của Tự lực văn đoàn Khác với Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo, Thạch Lam ít ham muốn về chính trị và là nguời luôn giữ được nhân cách Thạch Lam lớn lên khi cảnh nhà đã sa sút Sau khi bố ông sang Lào và mất (năm 1917), mẹ ông phải dắt các con nhỏ rời Hà Nội về phố huyện Cẩm Giàng sống Cũng chính quãng đời nơi phố huyện nghèo này đã giúp Thạch Lam gần gũi và phần nào thấu hiểu được cuộc sống nghèo khổ của những người lao động Quãng đời này cũng được nhà văn tái hiện lại trong một số truyện

mang màu sắc tự truyện như Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ Thạch Lam là

một con người có lối sống giản dị, trầm tĩnh, có bản lĩnh Ông là người nghèo nhất trong số các anh em.Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, người chị gái

sát trên Thạch Lam, trong nhà gọi là chị Năm, thì “trong gia đình chỉ mình

chú Sáu (Thạch Lam) là nghèo nhất Nhà tranh vách đất, thậm chí đến cái mền cũng không có tiền mua Một hôm sang sớm kêu chú có việc, thấy nằm đắp cái chăn dạ mỏng, vì lạnh quá nên đắp thêm cả chăn trải bàn và áo mưa nữa Nhà ở ven Hồ Tây, mùa đông lạnh giá làm sao chịu nổi Tôi hỏi thím Sáu cái mền bông đặt tiền cùng với chị đâu không mang ra đắp Thím nói cái mền có ba đồng, đặt trước một đồng rồi, còn lại hai đồng thôi mà em vay không được nên đành bỏ mất, có lấy được đâu” (Hồi ký này đăng báo Sống-

Sài Gòn, 1974) Văn của Thạch Lam sáng tác vì đam mê, vì cảm xúc chân thật chứ không phải vì tiền mà viết Bởi thế, Thạch Lam thường viết rất chậm,và có ít tác phẩm nhất trong nhóm Tự lực văn đoàn.Ông tham giabiên

tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay Tác phẩm đầu tay Gió đầu mùa tuy

được độc giả hoan nghênh, nhưng sách của Thạch Lam tương đối bán chậm nhất trong nhóm.Thạch Lam sớm mắc bệnh lao phổi, một căn bệnh lan y thời

bấy giờ Ông mất tại “nhà cây liễu” vào ngày 27/06/1942, lúc mới 32 tuổi,

khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn Dù mất sớm và tác phẩm không nhiều nhưng Thạch Lam đã để lại những tình cảm tốt đẹp nhất trong

Trang 27

lòng độc giả với hình tượng một nhà văn đích thực

1.4.1.2.Quan điểm nghệ thuật

Quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam được ông trình bày trong tập tiểu

luận Theo dòng(1941).Và trong "Lời nhà xuất bản Văn học" (khi in lại tác

phẩm "Gió đầu mùa" năm 1982) cũng có đoạn viết như sau:Giới thiệu tập

truyện ngắn "Gió đầu mùa" xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: "Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho

người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn".Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn học" của

Thạch Lam Và quả thật, tư tưởng này xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Thạch Lam trong hầu hết các trang viết đều thắm đượm tinh thần đó

Thạch Lam đề cao bản lĩnh nhà văn, vai trò của chủ thể sáng tạo Ông chủ trương nhà văn chỉ nên viết về những gì mình biết, mình hiểu, mình rung

động: “Cái cần đối với các nhà văn, phải biết suy xét tâm hồn mình Qua tâm

hồn ta, chúng ta có thể đoán biết được tâm hồn mọi người Là chỉ khi chúng

ta hiểu biết được các trạng thái tâm lý của mình một cách sâu sắc, chúng ta mới biết được trạng thái tâm lý người khác”.Và “Muốn viết được một tác phẩm bất hủ, một tác phẩm mà giá trị không theo thời, ta phải để hết nỗi rung động trong tác phẩm đó” Trong sáng tác ông luôn quan niệm: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng, ngõ hẹp, tiềm tang ở mọi vật bình thường Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp ở chính chỗ mà người ta không ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức.” Bởi thế, trong suốt sự nghiệp sáng tác

của mình, dù viết về cái gì ông cũng luôn đề cao tính thẩm mĩ trong câu chuyện Dù viết về cái nghèo, cái đói, cái khổ cùng quẫn văn chương Thạch

Trang 28

Lam vẫn đẹp Cáiđẹp xuất phát từ chính tâmhồn nhà văn

Văn Thạch Lam, như con người ông vậy, sống lặng lẽ và chi chút

thương cảm Thế Lữ viết: “Thạch Lam là con người trầm lặng, bao nhiêu băn

khoăn về nghệ thuật, bao nhiêu tư tưởng, cũng như bao nhiêu tình cảm rung động lúc nào cũng chất chứa dồi dào trong tâm trí” Và Thế Lữ còn viết:

“Không có sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó Gió bụi xa xa, hương ruộng lúa, mùi rạ phơi, tiếng lá tre rẽo rét, thứ bóng tối uất ức nhẫn nại của đời thôn quê dưới mái lá nát…” (Báo Thanh

Nghị ngày 16-6-1943)

Với quan niệm nghệ thuật của mình, Thạch Lam luôn thể hiện trong các sáng tác những tâm hồn, những cảm xúc tinh tế nhất Ông trải lòng trên

từng trang viết và cũng bởi thế ông phê phán thói văn chương chỉ “ồ ạt theo

thời” Và phê phán thói văn chương viết vì lợi "Những nhà văn nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra được những tác phẩm số phận mỏng manh Bởi họ chỉ nghe theo tiếng gọi của sự háo hức, lòng hám danh, sự chiều chuộng công chúng"

Ông quả quyết: "Chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắn, trong

đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi[9;tr282]

1.4.2.Một ngòi bút quan tâm sâu sắc đến số phận người bình dân

Thạch Lam là thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng có một gương mặt rất riêng so với các nhà văn khác trong Tự lực văn đoàn Nếu các tác giả của

Tự lực văn đoàn thường hướng ngòi bút của mình về những con người thuộc tầng lớp trung lưu (nôm na là cành vàng lá ngọc) thì Thạch Lam lại dành sự quan tâm đối với những con người nhỏ bé, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Văn của Tự lực văn đoàn thường hướng về cái buồn lãng mạn, còn văn của

Thạch Lam lại chất chứa nỗi đau hiện thực Có thể gọi văn Thạch Lam “như

Trang 29

một thứ hương hoàng lan được chưng cất từ những nỗi đau đời.” Đặt ông

cạnh Tự lực văn đoàn, chất hiện thực nổi lên rõ nét từ những trang viết Đặt ông cạnh Văn học phê phán lại thấy xúc động trước những mảnh đời nghèo khổ được nhà văn khắc họa với những ấn tượng, cảm giác rất sâu khiến truyện ngắn Thạch Lam chứa một nỗi buồn man mác Còn với bút pháp và cảm xúc lãng mạn, thì cảnh thiên nhiên phố huyện mang một vẻ đẹp trữ tình thơ mộng

Giọng văn của Thạch Lam cũng giàu cảm xúc “Chiều, chiều rồi Một chiều

êm ả như ru” báo hiệu một đêm mùa hạ êm như nhung Đom đóm trên

những cánh đồng bay lập lòe và trên trời, hàng ngàn ngôi sao đang tranh nhau lấp lánh Lũ trẻ nhỏ lam lũ nhặt nhạnh những thứ còn sót lại sau một buổi chợ… Tất cả đều được nhìn qua con mắt tinh tế của Thạch Lam Với cảm xúc

và bút pháp hiện thực thì cuộc sống nơi phố huyện lại nghèo khổ, xơ xác, tiêu điều, tăm tối bởi ngày tàn, chợ tàn, đến cả đổ vật được nói đến cũng nát tàn và những điều đó tái hiện lên cho người đọc về những kiếp người tàn Một cái quán ọp ẹp, một cái chõng sắp gãy, một manh chiếu rách, một cái đàn run lên bần bật… Tất cả làm đậm lên một cuộc sống cứ lụi đi, tàn đi Giọng văn của Thạch Lam cũng buồn thấm thía Chất lãng mạn kết hợp với chất hiện thực khiến truyện của Thạch Lam đẹp như một bài thơ trữ tình đượm buồn

Trong khi các anh của mình cùng đứng trong Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo có lối viết văn phản ánh cuộc sống quý tộc phong kiến được thi vị hóa thì Thạch Lam lại đi ngược với tôn chỉ của cả nhóm Ngòi bút của ông hướng về những người lao động bần cùng trong xã hội lúc bấy giờ Truyện ngắn của ông thường mô tả những hình ảnh về những làng quê nghèo khó, những phố huyện tồi tàn, những cảnh vật tối tăm, vắng lặng trong tiết trời âm u lạnh lẽo Vậy nên, trong Tự lực văn đoàn, duy nhất có ông trở thành

“nhà văn có những truyện khá chân thực, cảm động về cuộc sống cùng khổ của người lao động: Một cơn giận- tình cảm của gia đình một người phu xe;

Trang 30

Nhà mẹ Lê là câu chuyện thương tâm về một gia đình nông dân nghèo đông con, sống đói rét, cơ cực”

Người con củaTự lựcvăn đoàn ấy đã tìm cho mình một lối đi riêng, ông không đưa ta đến những chân trời phiêu du, mộng tưởng của những tình yêu, khát vọng thường thấy trong trào lưu lãng mạn mà dắt ta đi vào giữa cõi đời ta đang sống Con người dịu dàng nhân ái ấy đã nguyện gắn ngòi bút của mình với những kiếp người đau khổ, vẫn luôn trân trọng sự sống nơi trần gian Nói

như Nguyễn Tuân: "Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và

nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghè Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người xung quanh Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư

vị mà nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm thất văn học" (Theo

tuyển tập Nguyễn Tuân, tập III, NXB văn học Hà Nội, 1996, trang 375).Lời văn Thạch Lam có thanh điệu sâu lắng, nhẹ nhàng, bình dị mà thanh thản len lỏi vào từng góc nhỏ của tâm hồn con người, khơi dậy những tình cảm tưởng như nhỏ bé, tầm thường, giản đơn nhưng thực lại vô cùng đáng trân trọng.Về

nông dân, Thạch Lam có nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa Truyện ngắn viết về

hoàn cảnh sống éo le của những kiếp người nhỏ bé, tội nghiệp Tác phẩm còn

ca ngợi phẩm chất cao quý của người nông dân lao động, biết đùm bọc lẫn

nhau trong cảnh đói nghèo (Gió lạnh đầu mùa )

Thạch Lam còn dành sự quan tâm đến với những người thợ, người phu

xe, gái điếm – những kẻ dưới đáy cùng của xã hội (Một cơn giận, Trong bóng

tối buổi chiều, Tối ba mươi ) Ông cảm thông với cuộc sống bấp bênh, cảm

thông với nỗi đau tinh thần của người tiểu tư sản Anh Bào trong Người bạn

trẻ phải tìm đến cái chết khi đầu hàng với cái đói, cái nghèo đeo bám suốt từ

khi mới lọt lòng Mai trong Đói phải buộc lòng vứt bỏ danh dự biến mình

thành gái làng chơi chỉ để thoát khỏi cái đói, chỉ để có được một bữa thịt cơm

Trang 31

ngon cho chồng Cái đói làm con người ta đánh mất cả danh phận và danh dự

Dù Thạch Lam viết rất nhiều đề tài nhưng chủ yếu ông vẫn dành nhiều

sự ưu ái cho phụ nữ và trẻ em Trẻ em trong văn chương của ông có nhiều giương mặt, nhiều hoàn cảnh, nhiều cách cư xử nhưng lúc nào cũng thật đáng yêu, đáng mến với những xúc cảm quá đỗi trong trẻo, non tơ, ngọt ngào Còn người phụ nữ trong sáng tác của Thạch Lam nhiều tới nỗi khó có thể định hình ra nổi Mỗi gương mặt, mỗi suy tư lại để trong lòng độc giả biết bao yêu

thương Những chuyện ngắn hay nhất về đề tài này (Cô hàng xén, Một đời

người, Hai lần chết, Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa).Điều đáng ghi nhận ở

Thạch Lam là ông không chỉ khám phá, thể hiện một cách chân thực cuộc đời nhục nhã, cơ cực của những người phụ nữ suốt đời tần tảo vì gia đình, chồng con với bao khổ đau mà còn phát hiện ra ở những số phận bất hạnh ấy những

vẻ đẹp tâm hồn thật thánh thiện, cao quý Những người phụ nữ trong truyện ngắn Thạch Lam phần nhiều là những người con gái, người vợ, người mẹ bất hạnh Họ bị thờ ơ, hắt hủi, hành hạ như những nô lệ trong gia đình Liên trong

Một đời người, tuy bị chồng và mẹ chồng hành hạ, nhưng vẫn không bỏ

chồng theo người yêu, một phần vì nàng thiếu tự tin không dứt khoát, Liên không chỉ là nạn nhân của hôn nhân bất công mà còn là nạn nhân của xã hội

Dung trong hai lần chết đã bắt nguồn từ khi chào đời, bị cha mẹ gét vì “yếu

đuối, ghẻ lở, bẩn thủi, khó nuôi.”Lớn lên, cha mẹ gả cô cho gia đình giàu có

Cuộc sống tưởng từ đây hạnh phúc, nào ngờ gặp phải người chồng nhu nhược

“vừa lẩn thẩn, vừa ngu đần”, bà mẹ chồng thì ác nghiệt và luôn tìm cách đay

nghiến con dâu, còn hai cô em chồng “ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng

bị mắng thêm” khiến Dung khổ sở vô cùng Trong khi đó, người mẹ mang

nặng đẻ đau ra cô thì rũ bỏ trách nhiệm với con bằng thái độ thật vô cảm, tàn

nhẫn “chỉ biết không phải là con tôi nữa thôi” Cuộc sống như địa ngục ấy khiến Dung “ước ao chết như một cách thoát nợ” mà không được Khổ đau

Trang 32

chồng chất khổ đau, bất hạnh càng thêm bất hạnh Dung “không bấu víu vào

đâu được” nữa: và cũng “không ai cứu vớt nàng nữa”

Không phê phán xã hội, phê phán con người, dù tốt hay xấu đều chấp nhận họ, Thạch Lam lặng lẽ vượt lên bi kịch, bằng thái độ gần như lãnh đạm

với tất cả hình thức đấu tranh, ông đem cái “nhân phong” vào văn chương,

thể hiện con người trong những hoàn cảnh sống vừa thử thách con người để

họ bộc lộ con người mình Tuy nhiên, vượt lên bao nỗi khổ đau, bất hạnh, những người phụ nữ trong sáng tác của nhà văn vẫn luôn cố gắng gìn giữ

những phẩm chất cao quý của tâm hồn

1.4.3.“Mỗi truyện ngắn là một bài thơ trữ tình đầy xót thương”

Thạch Lam không làm văn cũng không tả cảnh, ông chỉ đơn thuần ghi

lại hành trình cảm giác.Đọc truyện ngắn của Thạch Lam thật khó có thể tìm

được một cốt truyện li kì và những tình tiết mang tính éo le Ông hấp dẫn người đọc bằng chất liệu bên trong của đời sống, bằng lý tưởng xã hội tiến bộ của nhà văn, bằng phân tích tâm lý tinh tế và bằng tinh thần lãng mạn của ông Mỗi truyện ngắn có cấu tứ và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợi sự thương xót trước số phận của những con người nhỏ bé bất hạnh Một giọng văn bình dị mà tinh tế Âm điệu man mác buồn bao trùm hầu hết các thiên truyện từ mở đầu cho đến kết thúc Văn cứ mềm mại, uyển chuyến, giàu hình

ảnh, nhạc điệu Đó chính là chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, "có cái

dìu dịu ở nơi đây" khiến ta vương phải.“Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay len vào cành cây”, “Qua khe lá của cành bàng hàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một” Thạch

Lam bằng con đường nghệ thuật riêng với thế giới nghệ thuât riêng, một thời gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, ngôn ngữ riêng đã tạo nên khí vị

Ngày đăng: 26/12/2017, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.ĐinhTríDũng (2013), VănhọcViệt Nam từđầuthếkỉ XX đến 1945, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: VănhọcViệt Nam từđầuthếkỉ XX đến 1945
Tác giả: ĐinhTríDũng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2013
2.TrầnThanhĐạm (1979),Vấnđềgiảngdạytácphẩmtheoloạithể, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấnđềgiảngdạytácphẩmtheoloạithể
Tác giả: TrầnThanhĐạm
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1979
3. Phan CựĐệ, Tựlựcvănđoàn, con ngườivàvănchương , NXB Vănhọc, HN, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tựlựcvănđoàn, con ngườivàvănchương
Nhà XB: NXB Vănhọc
4.Phan CựĐệ, TrầnĐìnhHượu, NguyễnTrác,…(2009), VănhọcViệt Nam, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: VănhọcViệt Nam
Tác giả: Phan CựĐệ, TrầnĐìnhHượu, NguyễnTrác,…
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
5. Nhiềutácgiả (2007), TruyệnngắnThạchLam – tácgiảvàlờibình, NXB Vănhọc Sách, tạp chí
Tiêu đề: TruyệnngắnThạchLam – tácgiảvàlờibình
Tác giả: Nhiềutácgiả
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2007
6. Nhiềutácgiả, ThạchLam – Tácgiảvàtácphẩm, NXB Giáodục, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThạchLam – Tácgiảvàtácphẩm
Nhà XB: NXB Giáodục
9. ThạchLam (1937), TậptruyệnngắnGióđầumùa, NXB Đờinay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gióđầumùa
Tác giả: ThạchLam
Nhà XB: NXB Đờinay
Năm: 1937
10.Thạch Lam (1941), Theo giòng, bình luận văn học, NXB Đời nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo giòng
Tác giả: Thạch Lam
Nhà XB: NXB Đời nay
Năm: 1941
11. Phan TrọngLuận (2007), Ngữvăn 11 sáchgiáoviên, tập 1, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữvăn 11 sáchgiáoviên
Tác giả: Phan TrọngLuận
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
15. Nguyễn Anh Vũ (2012), ThạchLam – Tácphẩmvàlờibình, NXB Vănhọc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lam – Tácphẩmvàlờibình
Tác giả: Nguyễn Anh Vũ
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2012
7. NguyễnThanhHùng (2006), TíchhợptrongdạyhọcNgữvăn, TạpchínghiêncứukhoahọcGiáodục, số 6 Khác
12. Phan QuốcLữ (2003), Tínhchất phi cốttruyệntrongvănxuôiThạchLam, XuânDiệu, HồDzếnh, Tạpchívănhọcsố 6 Khác
13. HoàngPhê (2007), TừđiểnTiếngViệt, NXB ĐàNẵng Khác
14. NguyễnTuân (1988), TuyểntậpThạchLam, NXB Vănhọc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w