1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài luận xung quanh các vấn đề về phong cách chức năng, ngữ vực và diễn ngôn

26 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 90,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận xung quanh các vấn đề về phong cách chức năng, ngữ vực và diễn ngôn là tài liệu liên quan đến những kiến thức về phong cách chức năng, ngữ vực và diễn ngôn. Đây là những kiến thức khá khô khan và khó hiểu. Vì vậy cần nghiên cứu sâu.

Trang 1

PHẦN NỘI DUNG

I Phong cách chức năng

1 Lịch sử khái niệm phong cách học ở Việt Nam

- Trong các quyển Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Ðôn cho biết các nhà trí

thức Việt Nam như: Hoàng Ðức Lương (thế kỉ XV), Phùng Khắc Khoan (thế kỉ XVI),

Lê Hữu Kiều (thế kỉ XVIII) đã có những ý kiến bàn luận về cách luyện văn, luyện

câu, luyện chữ nghĩa trong văn chương

- Từ cuối thế kỉ XIX đến khoảng trước 1964, nhiều học giả đã nghiên cứu, khảo sát và

khái quát những vấn đề về ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng của tiếng Việt như: Trương

Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Lê Văn Lý, Nguyễn Hiến Lê,

- Năm 1964, quyển Giáo trình Việt ngữ ( tập III- phần Tu từ học ) của Ðinh Trọng Lạc

ra đời Có thể xem giáo trình này đánh dấu sự xuất hiện thực sự của khoa học vềphong cách học ở Việt Nam Từ đó đến nay, rất nhiều quyển giáo trình mới về phong

cách học được xuất bản Tiêu biểu như : Phong cách học tiếng Việt (1982) của tập thể tác giả Cù Ðình Tú (chủ biên), Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ; Phong cách học và

đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) của Cù Ðình Tú; Phong cách học tiếng Việt (1993)

của Ðinh Trọng Lạc,

Hiện nay, ngành Phong cách học Việt Nam đang chuyển qua giai đoạn thứ hai với cácmục tiêu sau:

(a) Về phong cách ngôn ngữ, tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:

+ Phong cách học thể loại: tin, quảng cáo, phóng sự, tiểu luận, tiểu thuyết, tuỳbút,

+ Phong cách học tâm lý –xã hội: phong cách giới tính, phong cách lứa tuổi,phongcách vùng miền, phong cách nghề nghiệp, phong cách thời đại,

0

Trang 2

+ Phong cách học lời nói (phong cách ngôn ngữ cá nhân): phong cách ngôn ngữcủa nhà văn, nhà thơ, danh nhân văn hoá, nhà hoạt động chính trị –xã hội,

(b) Về tu từ, tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:

 Hệ thống hoá một cách đầy đủ bảng phân loại các phép tu từ tiếng Việt

 Phân tích, khảo sát một cách chuyên sâu các phép tu từ theo hướng liên ngành(Ngữ văn học), hoặc theo hướng nhìn nhận lại từ quan điểm của Ngữ dụng học(Pragmatics), Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics)

 So sánh –đối chiếu các phép tu từ của tiếng Việt với phép tu từ của các ngônngữ khác

2 Cơ sở phân chia các phong cách chức năng

2.1 Dựa trên chức năng giao tiếp

Một số tác giả như viện sĩ Vinôgradov và một vài nhà nghiên cứu phong cáchhọc việt nam đã dựa vào chức năng giao tiếp của ngôn ngữ để phân chia các phongcách chức năng Nếu chức năng giao tiếp nhằm thông báo những nội dung thôngthường thuộc phạm vi sinh hoạt hằng ngày, ta có phong cách khẩu ngữ tự do Nếuchức năng giao tiếp nhằm thông báo về sự vật, hiện tượng dưới dạng hình tượng nghệthuật, ta có phong cách nghệ thuật

2.2 Dựa trên hình thức thể hiện

Khi giao tiếp người ta có thể sử dụng các hình thức khác nhau để biểu đạt nộidung tư tưởng tình cảm Đó là hình thức nói hoặc viết Dựa vào hình thức thể hiệnkhác nhau này, một số nhà nghiên cứu tiến hành phân chia các phong cách chức năngkhác nhau: phong cách khẩu ngữ và phong cách gọt giũa Có một số tác giả còn tách rathành hai phong cách lớn: phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ văn học Sau

đó, tiếp tục phân chia trong phong cách lớn thứ hai thành:

 Phong cách hành chính công cụ

 Phong cách khoa học

 Phong cách chính luận- phong cách báo chí

 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1

Trang 3

Sự phân chia như vậy có những chỗ lẫn lộn với khái niệm ngôn ngữ văn hóa và cónhững sự chồng chéo nhất định.

2.3 Dựa vào phạm vi giao tiếp

Cũng có tác giả khi tiến hành phân chia các phong cách chức năng đã dựa vàophạm vi khác nhau của hoạt động giao tiếp khuynh hướng này tách ra hai mức độ nhưsau:

- Phạm vi giao tiếp có tính chất gia đình

- Phạm vi mang tính chất xã hội

Ở một số ngôn ngữ, như tiếng Đức chẳng hạn, đặc điểm giao tiếp ở phạm vi giađình và phạm vi xã hội là rất khác nhau Dựa trên cơ sở này tất nhiên cũng có nhữnghạt nhân hợp lí nhất định Nhưng đối với các ngôn ngữ khác, như tiếng việt, thì sự đốilập này không thật rõ Do đó dựa vào sự đối lập giữa chúng để phân chia phong cáchchức năng sẽ không tránh khỏi những khó khăn Ví dụ, trong tiếng việt có rất nhiều từ

hô gọi vốn được dùng trong phạm vi gia đình lại được dùng khá phổ biến trong phạm

vi giao tiếp xã hội như: ông, bà, chú, bác, cô, anh, chị, cậu,

Như vậy, có một đặc điểm chung trong cách phân chia các phong cách chức năng

theo truyền thống là phân chia theo bậc Thông thường, ở bậc thứ nhất phong cáchđược tách ra thành hai phong cách lớn Sau đó đến bậc thứ hai, mỗi phong cách lạiđược chia thành các phong cách chức năng nhỏ hơn

3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN CHIA PHONG CÁCH CHỨC NĂNG

3.1.Quan điểm về hoạt động giao tiếp

Trên thực tế mỗi lời nói ra đều có một phong cách chức năng nhất định Một lờinói nàm ngoài phong cách chức năng là lời nói hoàn toàn không có giá trị giao tiếp Vì

đó là lời nói không có mục đích và không có định hướng giao tiếp cụ thể

Như vậy, muốn phân tích ngôn ngữ của một lời nói ta xem nó thuộc phong cáchchức năng nào, đặt nó trong những mối quan hệ và hoàn cảnh giao tiếp nhất định Mộtlời nói có hiểu quả là một lời nói được đặt trong một quy trình giao tiếp khép kín:

2

Hướng phản hồi Hướng giao tiếp

Người nói

Viết

Người nghe

Đọc

Trang 4

Hoạt động giao tiếp như trên chỉ trở thành một quy trình khép kín khi hội đủcác điều kiện sau:

1 A và B phải cùng nói một ngôn ngữ

2 A và B phải có sự tương xứng về hiểu biết trong lĩnh vực đặt ra giao tiếp

3 A và B phải có (hay hiểu biết) về tập quán ngôn ngữ, thói quên sử dụng cácquy tắc ngôn ngữ đang được làm công cụ giao tiếp

4 A và B phải có sự gần nhau về tâm lí hay mức độ quan tâm về vấn đề đặt ra

Ba điều kiện đầu có tính bắt buộc, điều kiện cuối có tính bổ sung Khi tiếnhành giao tiếp, nếu không có đủ các điều kiện trên thì sẽ xảy ra hiện tượng “ôngchẳng, bà chuộc” hay là sự lệch pha giữa A và B Khi đó, “lời nói ra” sẽ không có kếtquả

Nhưng muốn biết “lời nói ra” kết quả ở mức độ nào, tức hiệu lực giao tiếp của

nó, ta lại phải đặt nó trong những hoàn cảnh khác nhau có liên quan đến mối quan hệgiữa người nói và người nghe Cụ thể như sau:

5 A và B có mối quan hệ ngang bằng Nghĩa là người nói và người nghe bìnhdẳng với nhau, không bị ràng buộc bởi địa vị xã hội Trong trường hợp này, loại phongcách chức năng thường xuất hiện là phong cách khoa học, phong cách báo chí, phongcách văn học – nghệ thuật và phong cách khẩu ngữ

6 A và B có mối quan hệ không ngang bằng Nghĩa là người nói và người nghekhông bình dẳng với nhau và bị ràng buộc bởi địa vị xã hội Trong trường hợp nàythường xuất hiện là phong cách hành chính – công vụ Trong đó, A chi phối B hoặc Aphụ thuộc vào B

6.1 A chi phối B: A có địa vị cao hơn B A là đại diện cho một cơ quan, đoànthể, tổ chức chính quyền, nhà nước, pháp luật…B là cá nhân hoặc đại diện cho cơ

3

Lời nói ra

Trang 5

quan cấp dưới Trong trương hợp này, hình thức cụ thể của phong cách hành chính –công vụ là các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định, Mệnh lệnh, Nghị lệnh, Nhật lệnh…

6.2 A phụ thuộc vào B: B có địa vị cao hơn Trường hợp này ngược lại với 6.1.Trong trương hợp này, hình thức cụ thể của phong cách hành chính – công vụ là cácĐơn xin, Đơ đề nghị, Đơn khiếu nại…

7 A và B nằm trong mối quan hệ truyền tin và tác động Trong đó A là ngườicung cấp thông tin, là người tác động và thuyết phục B là người chịu sự tác động,thuyết phục Đay là cơ sở hình thành phong cách chức năng báo chí – chính luận

8 A và B nằm trong mối quan hệ sáng tạo và tiếp nhận Nghĩa là, A chính làngười sang tạo ra hệ thông các thông tin, hình tượng và B chính là người tiếp nhận hệthống thông tin hình tượng đó Trương hợp này ta có phong cách văn học – nghệ thuật

Khi tiến hành phân chia phong cách chức năng người ta dựa trên tiêu chí 5, 6, 7,

8 chứ không phải dựa trên tiêu chí 1, 2, 3, 4 Bởi vì các tiêu chí 1, 2, 3, 4 chỉ là cácđiều kiện hình thành nên hoạt động giao tiếp Các tiêu chí 5, 6, 7, 8 mới là các tiêu chíquy định trực tiếp đến việc sử dụng ngôn ngữ, đến va trò và hiệu lực của lời

Việc quan tâm đến mối quan hệ giữa A và B thực chất là đặt vào bối cảnh giaotiếp mà A và B lâm thời sắm vai Ví dụ, một ông bộ trưởng chỉ có thể tạo ra lọa ngônngữ hành chính – công vụ khi ông được đặt vào mối quan hệ với nhân viên của mình

Ra ngoài đường phố, ông và các nhân viên lại tồn tại trong mối quan hệ bình đẳnggiữa các công dân Phong cách ngôn ngữ không còn là phong cách hành chính – công

vụ mà chuyển sang phong cách khẩu ngữ Nếu ông tham gia một buổi hội thảo khoahọc thì ông sắm vai một nhà khoa học thực thụ Ông không còn các quyền ra lệnh, chỉthị người khác theo phong cách hành chính – công vụ Lúc này, ông có được ngườikhác nghe theo và chấp nhận hay không tùy thuộc vào mức độ khách quan và kiến giảithực sự thuộc vào phong cách khoa học mà ông tuân thủ

Tuy nhiên, chỉ chú ý đến những người tham gia giao tiếp thì chưa đủ Cùng làmột kiểu quan hệ nhưng khi đặt vào hoàn cảnh giao tiếp khác nhau thì ngôn ngữ sửdụng sẽ có những điểm khác nhau

4

Trang 6

Hoàn cảnh giao tiếp: trực tiếp Thường là ngôn ngữ nói (chỉ trừ những trườnghợp đặc biệt trong hoạt động tình báo, người ta phải dùng chữ viết để tránh nghetrộm).

Hoàn cảnh giao tiếp: gián tiếp Người ta dùng ngôn ngữ viết

3.2 Phương pháp phân chia các phong cách chức năng

Mối quan hệ giữa A và B trong lược đồ giao tiếp phản ánh bản chất của các hoạtđộng giao tiếp Phan chia các phong cách chức năng trong ngôn ngữ không thể khôngnhắc đến các mối quan hệ này Đó là mối quan hệ bên trong quy định những dặc trưng

cơ bản nhất của việc sử dụng ngôn ngữ

Nhưng, giống như nhiều hiện tượng ngôn ngữ khác, mọi yếu tố và quan hệ bêntrong đều chịu sự chi phối, tác động của hoàn cảnh khách quan bên ngoài Bởi vậy sẽ

là không đầy đủ nếu phân chia các phong cách chức năng mà không tính đến hoàncảnh giao tiếp

Phân chia các phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài ta có:

PC

Tiếng việt

Trang 7

PCVH-NT: phong cách văn học – nghệ thuật

Theo cách nhìn từ ngoài vào trong ta có:

Bảng 2

PCHC-CV

Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia nêu trên Ở bảng 1, nói và

viết chỉ được coi là 2 dạng biểu hiện của phong cách chức năng Ở bảng 2, nói và viếtđược quan niệm chính là phong cách chức năng Tuy khác nhau nhưng mỗi quan

niệm đều có hạt nhân hợp lý của mình Vấn đề quan trọng ở đây là cần phải phân biệtgiữa một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là hình thức thể hiện của ngôn ngữ với mộtbên là ngôn ngữ nói với tư cách là một phong cách chức năng Ngôn ngữ nói còn gọi

là ngôn ngữ âm thanh – ngôn ngữ thành tiếng là một dạng tồn tại của ngôn ngữ, khôngphụ thuộc vào hoàn cảnh Ví dụ: ngôn ngữ âm thanh được truyền qua micro, đài phátthanh Còn có ngôn ngữ với tư cách là một phong cách chức năng thì luôn phụ thuộcvào hoàn cảnh giao tiếp và có những đặc điểm đối lập với ngôn ngữ viết Chính vìchưa hiểu rõ sự khác biệt này mà nhiều công trình nghiên cứu về phong cách học tiếngviệt đã có vài chỗ lẫn lộn trong khi đưa ra những kết quả phân loại

Khi xem xét ngôn ngữ nói với tư cách là một phong cách chức năng ta cần chú

ý đặc điểm riêng biệt của nó so với ngôn ngữ viết:

6

Tiếng việt

(PPCGG)

Trang 8

 Giàu sắc thái tình thái tính.

 Có nhiều nét dư, nét rườm rà về

 Có ít nét dư, nét rườm rà về sửdụng ngôn ngữ

 Thông tin tác động gián tiếp

7

Trang 9

3.3 Kết quả phân chia phong cách chức năng

Trên nguyên tắc, ta có sự đối lập tương đối rõ giữa hai phong cách chức năng:phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết Sự đối lập này chỉ ở phươngdiện đặc điểm sử dụng Trong thực tế người ta có thể sử dụng cách thể hiện này đểbiểu hiện phong cách chức năng kia Và ngược lại

Ví dụ: có thể dùng hình thức thể hiện ngôn ngữ viết để biểu hiện phong cáchchức năng ngôn ngữ nói như: ghi chép, lược ghi hội thảo khoa học, tóm tắt báo cáo,phát biểu Cũng có thể dùng hình thức ngôn ngữ nói để thể hiện phong cách ngônngữ viết như: diễn kịch, đọc thơ, ngâm thơ, đọc bảng tin có thể coi những trườnghợp này là sự tái tạo lại phong cách chức năng

Với cánh nhìn như trên chúng ta có thể đi đến việc phân loại các phong cáchchức năng trong tiếng Việt như sau:

- Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy tiếng việt có hai phong cách chức năng lớn:

phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết Trong đó mỗi phong cách

chức năng lại bao gồm trong nó các phong cách chức năng nhỏ hơn Giữa các phongcách chức năng đều có mối quan hệ nhất định, thạm chí cómoột số phong cách chứcnăng có thể chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn một đối thoại khẩu ngữ tự nhiên, qua bàntay của người nghệ sĩ thể hiện trong tác phẩm văn học có thể trở thành một đối thoạivăn học Ngược lại, một đối thoại văn học ít được sự gọt giũa hay ít đươc sự gia côngcủa nhà văn sẽ trở thành một đối thoại của khẩu ngữ tự nhiên Đây chính là lý do làmcho người ta nói rằng: “viết như nói” Nó là biểu hiện của việc chưa am hiểu phòncách ở một số người cầm bút

Phong cách ngôn ngữ viết

PC HC-CV KHPC PCCL PCBC (sáng tác văn học, PC VH-NT

kịch bản văn học)

Phong cách ngôn ngữ nói

PC khẩu ngữ tự nhiên PC hội thảo PC diễn xuất, sân khấu điện ảnh

Trang 10

- Việc chuyển hóa các phong cách chức năng hoàn toàn khác với việc chuyểnhóa hình thức thể hiện Đây là sự phân biệt rất tinh tế và rất cần thiết trong khi nghiencứu các phong cách chức năng

Ví dụ, khi đọc lại một Bản tin trên báo, một Quyết định của Hội đồng Chínhphủ ta thấy có sự chuyển hóa hình thức từ dạng viết sang dạng nói Nhưng khi mộtdiễn giả trình bày Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trước hội nghị cán bộ, một cặpdiễn viên diễn xuất lại một đoạn đối thoại trong kịch bản thì ta thấy xuất hiện sựchuyển đổi về phong cách chức năng Diễn giả khi truyền đạt lại nội dung của Nghịquyết đã sử dụng nhiều phương tiện hỗ trợ của phong cách ngôn ngữ nói như: cử chỉ,điệu bộ, nét mặt để làm tăng thêm tính thuyết phục và sức hấp dẫn Chính vì thế mà

có sự khác nhau giữa “đọc Nghị quyết” và “giảng Nghị quyết”, giữa “đọc bài giảng”

và “giảng bài” Nói đến “giảng” là nói đến ngôn ngữ nói với tư cách là một phongcách chức năng Nói đến “đọc” là nói đến ngôn ngữ nói với tư cách là một dạng biểuhiện cụ thể của ngôn ngữ

II NGỮ VỰC

1 Khái niệm

- Ngữ vực (register) cũng được gọi là phong cách (style),theo cách hiểu chung nhất làmột kiểu biến thể ngôn ngữ gắn liền với một tình huống giao tiếp nhất định đề cập đếnmột nội dung, hay một lĩnh vực nhất định như ngữ vực tôn giáo, quảng cáo, văn hóa,

- Các lý thuyết về ngữ vực mà xét theo số lượng các yếu tố cấu thành, trong đó gồm 4yếu tố:

 Field (trường)

 Mode (thức)

 Personal tenor (quan hệ cá nhân)

 Functional tenor (quan hệ chức năng)

- Tuy nhiên, trong sử dụng văn bản luôn gắn với ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tìnhhuống được đặc trưng cụ thể bằng 3 hay 4 yếu tố tùy thuộc vào các quan niệm

Trang 11

- Theo lý thuyết ngữ vực của M.A.K Halliday và một số quan điểm khoa học cùngtrường phái làm nên bộ khung lý thuyết thì Ngữ vực là một cấu hình nghĩa có tính chấttiềm năng của văn bản

- Nói một cách đơn giản là các nghĩa ẩn dụ bên trong các từ và cấu trúc diễn đạt theotừng tình huống cụ thể, gắn liền với đặc điểm tình huống và được đặc trưng bởi 3 yếutố: trường(field); thức(mode); và quan hệ (có người dịch là không khí tenor)

• Quan hệ ( hay bầu không khí ):

Chỉ ra các mối quan hệ ( cha con, anh em ), vị thế xã hội ( nghề nghiệp,giàu nghèo ), trạng thái tâm-sinh lí (nóng giận, vui vẻ), tính bền vững hay nhấtthời của những người tham gia giao tiếp để lựa chọn ngôn ngữ phù hợp (ngônngữ trang trọng, lịch sự hay suồng sã,…)

Đây là nhân tố chi phối nhiều nhất đến cách lựa chọn ngôn ngữ

 Các ngữ vực càng được hình dung cụ thể bao nhiêu thì các đặc điểm ngôn ngữtrong tình huống giao tiếp dễ nhận diện và dễ hiểu bấy nhiêu

 Ngữ vực được quyết định bởi những gì đang xảy ra (field), ai tham gia vào quátrình ấy (tenor), hình thức ngôn ngữ như thế nào (mode)

 VD: Ta có ngữ vực là giáo dục thì bao gồm:

 Trường: giáo duc tiếng mẹ đẻ cho học sinh, cụ thể là dạy tiếng Việt

Trang 12

 Bầu không khí : trung tính, mối quan hệ giữa người soạn sách giáo khoa vàngười học, mối quan hệ của giáo viên và học sinh

 Thức: thể hiện chủ yếu qua chữ viết, hình ảnh, cách nói năng được chuẩn bị kĩcàng khi giảng bài của giáo viên, có động tác phi ngôn ngữ đi kèm

• Thức thay đổi:

VD: Ngữ vực thể thao

+Trường diễn ngôn là bóng đá Bầu không khí thân mật giữa vai tường thuật và khán thính giả Nhưng rõ ràng việc tường thuật trực tiếp với việc xem báo chữ viết thuần túy

-sẽ khác hơn rất nhiều vì hình thức thể hiện khác nhau

• Quan hệ thay đổi:

VD: Ngữ vực thẩm mỹ

+Trường là việc ăn mặc Thức là nói trực tiếp Nhưng sự góp ý của người hâm mộ với

ca sĩ,sự góp ý của giáo viên với học sinh và của phụ huynh với con cái sẽ khác nhaurất nhiều vì mối quan hệ khác nhau

- Xuất phát từ những ngữ vực khác nhau,dựa vào trường ,thức,và quan hệ chúng takhông những có thể chỉ ra đặc điểm của tình huống giao tiếp mà còn có thể cung cấpmột số thủ pháp để tạo lập cũng như hiểu các loại ngôn ngữ một cách dễ dàng

Trang 13

- Nói về ngữ vực của.M.A.K.Halliday được đánh giá rất cao ở phương Tây Nhấnmạnh đến những đặc điểm của ngữ cảnh,tình huống được thể hiện qua một số phươngdiện Như "trường" thể hiện qua kinh nghiệm, hệ thống tình thái, " quan hệ" qua đại từnhân xưng, còn "thức" qua nghĩa văn bản với hệ thống đề tài,lý thuyết,cấu trúc thôngtin và sự liên kết

- Bên cạnh nhìn nhận và đào sâu nghiên cứu một cách toàn diện về ngữ cảnh bao gồmngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa, ngữ vực như một cấu hình nghĩa tiềmnăng,một kiểu khung hay lược đồ phân tích bằng nội dung,chủ thể và cách thức

- Sự khác biệt về mặt ngôn ngữ suy cho cùng đều bắt nguồn từ những yếu tố gắn liềnvới tình huống giao tiếp, ngữ cảnh Với cách nhận thức như thế,có thể xác lập các nhân

tố chi phối cho bất cứ loại hình ngôn ngữ nào

- Qua một vài phân tích bên trên thì ngữ vực có các yếu tố trường ,thức và quan hệđóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc nhận diện đặc điểm của ngôn ngữ

III KIỂU LOẠI DIỄN NGÔN

1 Khái niệm “văn bản”

Thuật ngữ “diễn ngôn” và thuật ngữ “văn bản” có liên quan với nhau, màtrong các định nghĩa có trường hợp không đặt ra sự phân biệt giữa chúng, cũng

có trường hợp tính đến sự phân biệt đó Vì vậy, trước khi tìm hiểu “diễn ngôn”

là gì cùng tìm hiểu khái quát về khái niệm “văn bản”

Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lờiviết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài, như một truyện kể, một bài thơ,một đơn thuốc, một biển chỉ đường

Các yếu tố quan trọng của văn bản:

 Có thể là ở dạng nói miệng (lời âm) hoặc ở dạng viết (lời chữ)

 Có thể dài hoặc cũng có thể ngắn

 Cấu trúc bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa

Ngày đăng: 26/12/2017, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w