Xuất phát từ những thực tiễn đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa tại khu du lịch Cổ Loa Đông Anh, Hà Nội” với mong muốn góp phần nhỏ b
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI – 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
ThS Trần Hạnh Phương
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện khóa luận, em đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn và đặc biệt là ThS Tr ần Hạnh Phương - người đã trực tiếp hướng dẫn trong suốt quá trình làm khóa luận
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Em xin gửi lời cảm ơn sâu s ắc đến cô giáo ThS Tr ần Hạnh Phương đã nhiệt tình, chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực
tế cũng như sự hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đăng Thị Hương Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Trần Hạnh Phương Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đăng Thị Hương Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 1
3.Phạm vi và đối tượng nghiên c ứu 2
4.Mục đích nghiên cứu 2
5.Phương pháp nghiên cứu 2
6.Đóng góp c ủa khóa luận 3
7.Bố cục của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4
1.1 Khái niệm du lịch 4
1.2 Khái niệm văn hóa 5
1.3 Khái niệm về du lịch văn hóa 8
1.4 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn 9
1.5 Khái niệm về lễ hội 10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN DU LỊCH Ở CỔ LOA 12
2.1.Khái quát về Cổ Loa 12
2.1.1.Vị trí địa lý, tên gọi 12
2.1.2.Lịch sử hình thành và phát triển 13
2.1.3.Dân cư 18
2.2.Tiềm năng phát triển tài nguyên du lịch văn hóa Cổ Loa 19
2.2.1.Lễ hội Cổ Loa 19
2.2.2.Kho tàng di sản văn hóa Cổ Loa 22
2.2.3.Cơ sở hạ tầng du lịch tại Cổ Loa 39
2.3.Thực trạng khai thác phát triển du lịch ở Cổ Loa 40
2.3.1.Thực trạng về công tác tổ chức, quản lý của các ban, ngành với hoạt động du lịch ở Cổ Loa 40
2.3.2.Tổ chức khai thác du lịch ở làng Cổ Loa 41
Trang 62.3.3.Số lượng du khách tham quan du lịch tại làng Cổ Loa 43
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA KHU DI TÍCH CỔ LOA 44
3.1.Dự báo xu thế phát triển của khu di tích Cổ Loa 44
3.2.Những định hướng, giải pháp cơ bản để bảo tồn và khai thác các giá trị lịch sử văn hóa khu di tích Cổ Loa phục vụ phát triển du lịch 44
3.2.1.Định hướng quy hoạch du lịch khu di tích Cổ Loa 44
3.2.2.Giải pháp tôn tạo và bảo tồ n các di tích trong phát triển du lịch khu di tích Cổ Loa 46 3.2.3.Giải pháp tuyên truyền, quảng cáo trong phát triển du lịch làng Cổ Loa 47
3.2.4.Giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 48
3.2.5.Giải pháp huy động vốn để phát triển du lịch 49
3.3.Hình thành, xây dựng một số tuyến du lịch tại khu di tích Cổ Loa 50
3.3.1.Tuyến du lịch trong làng 50
3.3.2.Các tuyến du lịch từ Cổ Loa đi các nơi .50
KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tếthế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng ngày càng phát triểnvới nhịp độ nhanh và mạnh, cường độ lao động ngày càng cao dẫn tới trình trạng căng thẳng nên con người có nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi sức khỏe và đó là động lực thúc đẩy du lịch phát triển
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch trên thế giới, du lịch Việt Nam cũng đang trên đà phát triển và hội nhập nhưng vẫn còn nghèo nàn, nhỏ lẻ và manh mún Khu di tích lịch sử Cổ Loa là một khu du lịch đầy tiềm năng, mang giá trị lịch sử, kiến trúc quân sự và cả giá trị tinh thần qua lễ hội truyền thống Tuy nhiên, việc bảo tồn, tôn tạo di tích cũng như phát triển du lịch nơi đây vẫn chưa đồng bộ và chưa khai thác được hết giá trị của nó
Bên cạnh đó, thời gian vừa qua tôi đã được thực tập, trải nghiệm thực tế tại Công ty Cổ phần du lịch quốc tế Hùng Vương, được đồng hành cùng tất cả mọi người trong công ty có những chuyến tham quan thực tế, hướng dẫn khách du lịch tại Cổ Loa, Chính những kinh nghiệm thực tế đó đã giúp tôi làm tốt khóa luận tốt nghiệp này
Hơn thế nữa, Cổ Loa -quê hương của tôi đứng trước thực trạng chính những người dân nơi đây cũng đang dần quên lịch sử hào hùng của mảnh đất này Xuất
phát từ những thực tiễn đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa tại khu du lịch Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)”
với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới, phát triển, bảo tồn giá trị văn hóa của quê hương nói riêng và đ ất nước nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Cổ Loa đã có từ lâu, vào những năm 60 của thế kỷ XX và liên tục cho đến những năm đầu c ủa thế kỉ XXI Cổ Loa thân thuộc với giảng viên và sinh viên khoa lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Một trong những người nặng lòng với Cổ Loa và có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đ ất này là GS Tr ần Quốc Vượng
Trang 8Trước Cách mạng tháng Tám (1945) các công trình địa chí ghi chép bằng chữ Hán về Cổ Loa có giá trị như “Cổ Loa xã chí”, “Cổ Loa thành sự tích điền thổ sắc phong hợp biên” Tiếp nối những truyền thống nghiên cứu về Cổ Loa và biên soạn sách “Địa chí làng xã Hà Nội”.Năm 2007, văn phòng Ban chỉ đ ạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội cùng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã công
bố với bạn đọc cuốn sách “Địa chí Cổ Loa” dày 670 trang do PGS.TS.Vũ Văn Quân đồng chủ biên
Bên cạnh những cuốn sách nghiên cứu toàn diện về Cổ Loa còn có một số cuốn sách nghiên cứu một phần nhỏ về Cổ Loa như “Non nước Việt Nam” của Vũ Thế Bình, “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng…
Kế thừa và tiếp thu kết quả của những tác giả đi trước, kết hợp với nguồn tư liệu có được, tôi mong muốn thực hiện việc tìm hiểu, nghiên cứu về khu di tích Cổ Loa góp phần lưu giữ, tổ ng hợp những tư liệu nghiên cứu về khu di tích này
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: du lịch văn hóa
Phạm vi nghiên cứu: khu di tích Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch ở Cổ Loa
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Cổ Loa
- Đề xuất các giải pháp khai thác, bảo vệ và phát triển khu di tích Cổ Loa
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm những hiểu biết về khu di tích lịch sử văn hóa Cổ Loa; những giá trị, ý nghĩa mà khu di tích này mang lại, đồng thời là những định hướng mục tiêu giải pháp cho phát triển du lịch nơi đây
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, học tập
Trang 9sau này
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 CHƯƠNG:
Trang 10CHƯƠNG1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có cách hiểu về du lịch khác nhau
Định nghĩa du lịch theo quan điểm của Pirogionic: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa ho ặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội,
Theo quan điểm của PGS TS Trần Đức Thanh có thể tách nội dung thuật ngữ
du lịch làm 02 phần để định nghĩa, c ụ thể:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh, có hay không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơicư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Định nghĩa du lịch trong Pháp lệnh Du lịch do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 8-02-1999, tại CHƯƠNG I, Điều 19, có định nghĩa “Du lịch là họat động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên cùa mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [25] Như vậy du lịch là một khái niệm rộng, một phạm trù độc lập chứ không mang nghĩa hẹp Du lịch theo tiếng Hán là đi chơi có lịch trình Trong đó “du” là rong chơi, còn “lịch” là lịch trình, sự sắp xếp về thời gian Chính vì vậy mới có thể phân biệt du lịch với các hình thức cư trú thường xuyên khác như đi du học, đi học xa,
Trang 11làm xa,… Người ta quy ước rằng chỉ có hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên
và không vì mục đích kiếm tiền nhưng dưới 24 giờ thì gọi là tham quan Trên thực
tế khái niệm du lịch rộng hơn tham quan, nó bao trùm cả tham quan cùng với đi lại,
ăn uống, nghỉ ngơi gọi là du lịch
Ngày nay các loại hình du lịch càng được đa dạng hóa, chuyên môn hóa để đáp ứng một cách tốt nhất, đầy đủ nhất cho nhu cầu du lịch của du khách Với sự phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, du lịch trở thành một nhu cầu quan trọng của người dân nhiều nước trên thế giới Muốn du lịch thực sự phát triển, khách du lịch đông hơn thì đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều mặt của nhiều bên Trước tiên
là sự phát triển kinh tế của người dân vì kinh tế là một phần thiết yếu cấu tạo nên hành trình du lịch Sau đó là sự quản lý của Nhà nước về du lịch, sự tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường quảng cáo, tuyên truyền, thu hút khách của Nhà nước, của các hãnglữ hành
Đối với nước ta là một quốc gia đang phát triển, do vậy có thể nói một cách khách quan là điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở đón tiếp khách và dịch vụ bổ sung, các loại hình du lịch còn nhiều hạn chế Bên c ạnh đó nước ta có những điều kiện thuận lợi là tài nguyên du lịch thiên nhiên rất phong phú, có bề dày lịch sử văn hóa với nhiều công trình kiến trúc tuy không to lớn, đồ sộ nhưng rất tinh tế và độc đáo với nhiều phong tục tập quán có giá trị nhân văn sâu sắc Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để phát triển thế mạnh du lịch nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa
1.2 Khái niệm văn hóa
Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hoá: từ lời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị… cho đến tiếng gọi đò bên sông, tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông khi chiều xuống… - tất cả, tất cả những
sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó, những hình ảnh đó đều thuộc
về văn hóa Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… là văn hoá; cái vật chất như ăn,
ở, mặc… cũng là văn hoá Chính văn hoá đã nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hoá trang phục, văn hoá ứng xử, văn hoá tiêu dùng, văn hoá kinh doanh, văn hóa chính trị, văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình,
Trang 12văn hoá rìu vai… Từ "văn hoá" có biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái
niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính:
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu
là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng
để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xtôi là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Trong cuốn “Nhật kí trong tù”, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr 431] Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm
1970 tại Venise” [43, tr.5]
Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá đã trở thành đối tượng của văn hóa học (culturology, culture studies, science of culture) - khoa học nghiên cứu về văn hóa
Trang 13Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hoá Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hoá đã tăng lên đến trên 200 Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được: có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyết rằng chúng lên đến con số nghìn…
Sẽ không phải là xa sự thật, nếu nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hoá Song, lại cũng có một sự thật khác là dù số lượng định nghĩa văn hoá có nhiều bao nhiêu đi nữa thì, chung qui lại, chúng vẫn chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản
Xét theo cách thức thì ta thấy có hai loại - định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng
Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa, ví dụ như theo E.B.Tylor (1871), văn hóa “là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được” [44, tr 32]
Trong loại định nghĩa nêu đặc trưng thì có thể gặp ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là những kết quả (sản phẩm) nhất định
Đó có thể là những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực,
những tư tưởng, những thiết chế xã hội, những biểu trưng, ký hiệu, những thông
tin… mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa, và tích luỹ
Khuynh hướng thứ hai xtôi văn hoá như những quá trình Đó có thể là những hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những qui trình, những phương thức
tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng với môi trường,
phươngthức ứng xử của con người…
Trang 14Khuynh hướng thứ ba xtôi văn hoá như những quan hệ, những cấu trúc… giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài
Tất cả các khuynh hướng định nghĩa khác nhau ấy đều có hạt nhân hợp lý của mình, sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là do các tác giả đã quá nhấn mạnh vào khía cạnh này hay khía cạnh khác của khái niệm mà thôi Dù theo khuynh hướng nào, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét nghĩa chung là “con người”, đề u thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con người
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nói chung ta có thểđịnh nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình họat động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội cùa mình
1.3 Khái niệm về du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà khách muốn tìm hiểu và thẩm nhận về văn hóa, lịch sử dân tộc của nước sở tại thông qua di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán, cách tổ chức cộng đồng, lối sống của một dân tộc v.v Du lịch văn hóa sử dụng nguồn Tài nguyên du lịch văn hóa để làm nền tảng xây dựng sản phẩm của nó Về tài nguyên du lịch văn hóa, theo Khoản 1/ Điều 13/ Luật Du lịch 2005 nêu rõ: “Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích
du lịch” [16] Trong loại hình Du lịch Văn hóa có thể được chia nhỏ thành nhiều loại du lịch khách như: du lịch di tích lịch sử, du lịch phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch
di sản văn hóa nổi tiếng v.v Ngoài ra, chúng ta còn có Du lịch Văn hóa đại trà cho nhiều đối tượng và Du lịch Văn hóa chuyên sâu cho một vài loại khách đặc biệt tìm hiểu sâu về văn hóa Cũng theo Khoản 20/ Điều 4/ Luật Du lịch 2005: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống” [16]
Như vậy chúng ta thấy rằng Du lịch văn hóa trước hết là một loại hình du lịch cũng như nhiều loại hình du lịch khác Du lịch văn hóa lấy chỗ dựa là tài nguyên du
Trang 15lịch văn hóa đó là bản sắc văn hóa dân tộc (theo Luật Du lịch 2005), nhưng nói rộng
ra là dựa vào văn hóa mà văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình sống của mình [16]
Du lịch văn hóa tận dụng tất cả các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có sức hấp dẫn du khách và trở thành một bộ phận của tài nguyên du lịch Du lịch văn hóa còn là phương thức để đánh thức giá trị văn hóa tiềm năng của một dân tộc Thông qua du lịch, các giá trị văn hóa phát lộ và đtôi lại lợi ích thiết thực cho quốc gia, dân tộc Nhờ có du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng mà nhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới đã tiến hành trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa vật chất, phục nguyên các giá trị văn hóa tinh thần vốn lâu nay bị lãng quên hay chìm đắm vì nhiều sự kiện khác của quốc gia-dân tộc xảy ra Nhờ có du lịch văn hóa mà các di sản văn hoá được bảo vệ, trùng tu, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng mới các công trình văn hoá đương đạilàm phong phú thêm giá trị của văn hoá đương đại của quốc gia-dân tộc
1.4 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch
Theo Khoản 2/ Điều 13/ CHƯƠNG II/ Luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định:
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [16]
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như: các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỉ niệm, bảo vật quốc gia Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán,
Trang 16ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất
1.5 Khái niệm về lễ hội
Mỗi vùng miền, mỗi quốc gia lại có hình thức tổ chức lễ hội khác nhau Chính
vì thế mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt văn hóa này
Ở Việt Nam, khái niệm lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu Trước hết chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một số loại hình phong tục, chẳng hạn như: Lễ Thành Hoàng, Lễ Gia tiên,… Cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim, Hội chọi trâu,… Thêm chữ “Lễ” cho chữ “hội”, thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú chơi vui ở chốn đông đúc, vui vẻ
Trong “Từ điển tiếng Việt” lại có định nghĩa về “lễ hội” như sau: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với tâm linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh” [24, tr 190]
Trong cuốn “Hội hè đình đám”, tác giả cho rằng: “Hội và lễ là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cùng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỉ [2, tr 12]
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” - Phan Đăng Nhật lại cho rằng: “Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc… Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kì lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [38, tr 25]
Trang 17Như vậy ta thấy “lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng
Trang 18CHƯƠNG2 THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN
DU LỊCH Ở CỔ LOA 2.1 Khái quát về Cổ Loa
2.1.1 Vị trí địa lý, tên gọi
“Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường Trải bao năm tháng dấu thành còn đây”
Câu ca dao xưa như nêu được toàn cảnh ngôi thành cổ này Thành Cổ Loa cùng các công trình tưởng niệm về thời An Dương Vương Thục Phán hiện thuộc
xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội Vị trí của thành cách trung tâm thủ đô kho ảng 12km về phía Bắc, tính theo đường chim bay Xã Cổ Loa thuộc xã miền Đông, Đông Anh; Phía Bắc giáp xã Uy Nỗ, xã Việt Hùng; Phía Đông giáp xã Dục Tú; phía Nam giáp xã Xuân Canh, xã Mai Lâm, xã Đông Hội; Phía Tây giáp xã Xuân Nộn, xã Vĩnh Ngọc Từtrung tâm huyện Đông Anh xuố ng tới Cổ Loa không
xa, tính đường thẳng chỉ hơn 2km Thành Cổ Loa chủ yếu nằm trên địa bàn xã Cổ Loa, có một chút thành ngoại nằm trên địa bàn xã Việt Hùng và Dục Tú
Trải qua thời gian, Cổ Loa có nhiều lần thay đổi tên gọi và địa bàn hành chính:
cổ xưa, Cổ Loa là đ ất Chạ Chủ, kinh đô của các quốc gia Âu Lạc, là trụ sở Tây Vu thời thuộc Triệu, trụ sở Phong Khê thời thuộc Hán
Đến thời kế sau, Cổ Loa được gọi là trang Kim Lũ thuộc huyện Đông Ngàn, đạo, xứ, lộ trấn kinh bắc đến năm 1822 đổi thành tỉnh Bắc Ninh Đầu thế kỷ 20, thành lập tỉnh Phù Lỗ, năm 1905 sáp nhập và đổi tên thành Phúc Yên với hai Phủ
Đa Phúc, Yên Lãng và hai huyện Đông Anh và Kim Anh Cổ Loa là một trong 6 tổng của huyện Đông Anh thuộc tỉnh Phúc Yên thời đó Đến trước cách mạng tháng
8 - 1945 Cổ Loa là xã thuộc Tổng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, sau cách mạng tháng 8 - 1945 đổi tên xã gọi là Thục Vương, sau đó sáp nhập cùng Vĩnh Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc năm 1950 Đến năm 1960 - 1961 Đông Anh sáp nhập về
Hà Nội, tên xã lúc đó gọi là Quyết Tâm Đến năm 1966 tên xã đổi lại thành Cổ Loa
Trang 19Năm 1974 cắt thôn Đài Bi về xã Uy Nỗ, xã Cổ Loa sau đó được giữ nguyên tên và địa bàn hành chính gồm thôn Cổ Loa với nhiều xóm cùng các thôn như: Thư Cưu, Mạch Tràng, Cầu Cả, Sần Giã,…
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Căn cứ trên cứ liệu các di chỉ khảo cổ học của lòng đất Cổ Loa, khẳng định nơi đây sớm được người Việt cổ cư trú, sinh sống Lòng đất Cổ Loa và các vùng xung quanh đã phát hiện dấu vết lao động của con người từ thời kỳ cách ngày nay hàng vạn năm Có nhiều di tích khảo cổ học như: Đồng Vông, Bãi Mèn, Xuân Kiều, Tiên Hội, Đình Chàng, Đường Mây,…đã được phát hiện và nghiên cứu Các di chỉ khảo cổ học tập trung có niên đại thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và nhất là giai đoạn văn hóa Đông Sơn Các di chỉ khảo cổ học được phát hiện này lưu giữ nhiều hiện vật đồ đá, đồ đồng, đồ gốm,…trên cơ sở nghiên cứu các di chỉ khảo cổ này, các nhà khoa học đã kết luận: Cổ Loa là một trung tâm nền văn minh Sông Hồng Vào thời kỳ lịch sử cách ngày nay 3 -4 ngàn năm, Cổ Loa là một trung tâm cư trú đông đúc của người Việt Cổ Niên đ ại các di chỉ khảo
cổ học Cổ Loa không đồng nhất: cách ngày nay từ 4000 đến 2200 năm, tập trung chính vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn
Thời kỳ Văn Lang, Cổ Loa là một trung tâm cư trú của người Việt Cổ để sau
đó sớm trở thành thủ đô, trung tâm của nước Âu Lạc Sau thắng lợi chống quân xâm lược nhà Tần (từ năm 218 đến năm 208 trước Công nguyên), Thục Phán đã lên ngôi Vua, thay thế các Vua Hùng Thục Phán xưng hiệu là An Dương Vương đổi tên nước thành Âu Lạc và chuyển kinh đô từ Bạch Hạc - Việt Trì xuống Cổ Loa Đại Việt Quốc Sử diễn ca có ghi:
“Thục từ đất nước Văn Lang Đổi tên Âu Lạc dời sang Loa Thành”
Nói về thân thế của Vua Thục An Dương Vương Nhiều tư liệu khác nhau cho biết về nguồn gốc cũng như việc An Dương Vương dựng nước Âu Lạc Có một vài nguồn dữ liệu sau đây:
“…Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 TCN) (Chu Noãn Vương năm thứ 58) Vua lấy binh diệt nước Văn Lang Lúc đầu Vua thường đánh Hùng Vương nhưng Hùng Vương
Trang 20quân khỏe, tướng mạnh, nhiều lần Vua bị thua to Hùng Vương bảo: Ta có sức mạnh của thần, nước Thục không sợ ư! Rồi bỏ việc quân, không chuẩn bị, ngày ngày chỉ ăn chơi mải chiếm lấy nước Văn Lang Âu Lạc, quân Thục kéo đến nơi vẫn còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết Quân còn lại quay giáo xin hàng Thục Vương mới thôn tính nước ấy, đổi quốc hiệu là Âu Lạc,…” [22, tr 45]
“Tập truyền cho rằng Thục Phán là con cháu Vua Thục người nước Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc) Cuối đời Hùng Vương, Vua Hùng có con gái xinh đẹp Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hậu can rằng: “Họ muốn nhòm ngó nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ đấy thôi” Hùng Vương liền thoái thác sau đó đtôi con gái gả cho thu lĩnh miền núi Tản Sông Đà (Tản Viên Sơn Thánh), Thục Vương căm giận, dặn lại con cháu phải chiếm lấy nước Văn Lang, Thục Phán có dũng lược, đã thực hiện đúng lời di chúc ấy của Vua cha…” [39, tr 94]
“Lại nói đến nước Việt Nam thủa ấy có người bố chủ đất Ai Lao, họ Thục, tên Phán, …hiệu là An Dương Vương…khi trưởng thành thì văn tài, võ giỏi không ai sánh kịp,…khi nghe tin Duệ Vương cao tuổi lại nhường ngôi cho con rể là Tản Viên Sơn Thánh thì liền động binh, cầu viện các nước láng giềng,…Thục Chúa là tông phái của Hoàng Đế trước, Làm Chúa Tể một phương…cơ đồ nhà Hùng đã hết, ý trời cáo chung Nhân việc cầu hóa, Triệu An Dương Vương đến nhường ngôi của mình cho ông ta…”
(Thần tích lưu giữ tại đình Đài Bi xã Uy Nỗ, Đông Anh)
“…Người Lạc Việt và người Tây Âu vốn từ lâu đã có mối quan hệ kinh tế - văn hóa gần gũi Thủ lĩnh người Tây Âu ngày càng lớn mạnh,… Trước cuộc xâm lăng của quân Tần, Vua Hùng và Thục Phán chấm dứt xung đột, cùng chiến đầu chống ngoại xâm, kháng chiến thắng lợi, Thục Phán vớt tư cách là người chỉ huy chung đã được thay thế Hùng Vương lên làm vua, đặt tên nước là Âu Lạc…” [21, tr 48]
Mặc dù thân thế của Vua An Dương Vương đến nay vẫn chưa rõ ràng và thống nhất nhưng chúng ta có t hể khẳng định rằng triều đại An Dương Vương là có thật trong lịch sử Nước Âu Lạc của Vua An Dương Vương trở thành một nước có
Trang 21nhiều dân tộc, có miền núi, có miền xuôi, rừng vàng, biển bạc, tạo thành một khối đoàn kết vững chắc, có khả năng xây dựng một quốc gia tự chủ
Sau khi lên ngôi, việc trước tiên c ủa An Dương Vương là chọn một nơi thích hợp để định đô mới Theo truyền thuyết, Vua cùng các thần, tướng sỹ và quân lính rời vùng Bạch Hạc, Việt Trì theo sống để về xuôi Vua đã dừng chân ở vùng đất Tổ (xã Uy Nỗ ngày nay) dựng trại đóng binh Người dân Tó vẫn tự hào là vùng đ ất mà vua đã chọn đầu tiên cho việc xây dựng kinh đô cổ Họ còn lưu truyền mãi câu chuyện Vua An Dương Vương
“Khi An Dương Vương đóng binh ở Tó, ngày ngày vua cùng cận thần dắt chó
đi săn Bầy chó của Vua không hiểu sao cứ chạy sang đất đai của Chạ Chủ (Cổ Loa ngày nay) Rồi một hôm, chó quý của Vua biến mất Vua sai người đi tìm khắp nơi Sau một thời gian tìm kiếm, quân sỹ về tâu với vua rằng chó quý đã sang ChạChủ
và đẻ đàn con trên đỉnh một gò đất bên đó Vua sang thăm chó quý và thấy trước mắt một phong cảnh nhộn nhịp thuyền bè tấp nập, trên bến dưới thuyền, người đông như hội, mạch đất cao thoải dần từ Bắc xuống Nam,… Sau khi đã xtôi xét kỹ lưỡng vùng đất mới, An Dương Vương bàn với các tướng sỹ quyết định chọn ChạChủ (Cổ Loa) để xây dựng kinh đô Vùng đất mà An Dương Vương đã chọn cho thấy ông quả là người dũng lược tài ba, đ ất Cổ Loa khi ấy quả thật là trung tâm đất nước, là nơi cao ráo, thoáng đãng, gần nguồn nước giao thông thuận tiện…” [22, tr 64]
“Theo ý đồ của An Dương Vương, thành mới phải là pháp đài của lục quânvà
là căn cứ vững chắc của thủy quân, ngoài ra nơi Vua và Hoàng gia ở nhất thiết phải được bảo vệ cẩn mật sau đó là nơi ở của các quan đại thần, dân chung ở ngoài thành nhất thiết là như vậy…” [22, tr 71]
Để lấy đất dựng thành, Vua An Dương Vương chủ động di dời dân Chạ Chủ đi nơi khác Theo truyền thuyết An Dương Vương “Dồn dân chiếm đất” Vua ném một hòn đá cuội về phíaĐông Bắc, dân làng men theo triền sông đi mãi và đến lập làng ở khu đất cuối sông cho nên gọi là làng Quậy (Chữ “quậy” đọc lệch chữ “cuội” mà ra) Việc An Dương Vương xây đắp Loa Thành cũng có nhiều sử liệu cuối cùng lịch sử đã khẳng định một thực tế Thành Cổ Loa có thực đến nay vẫn tồn tại thách thức với thời gian nghiệt ngã
Trang 22Theo Đại Việt sử ký toàn thư “…Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là Thành Tư Long,…Thành này cứ đắp xong lại sụt, Vua lấy làm lo mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đ ắp lại,…Mùa xuân, tháng
ba chợt có thần nhân đến cửa thành, trở vào thành cười mà nói rằng “Đắp đến bao giờ cho xong” Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời “Cứ đợi Giang Sứ đến” rồi cáo từ đi ngay Sáng hôm sau, Vua ra c ửa thành thấy một con Rùa vàng bơi trên sông từ phía Đông đến, xưng là Giang Sứ nói được tiếng người, bàn được việc tương lai, Vua hỏi nguyên nhân thành sụp, Rùa vàng đáp: “Đó là tinh khí núi sông vùng này vị con vua trước phụ bào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu, trong núi
có con quỷ, đó là người con gái thời trước chết chôn ở đây hóa làm quỷ, cạnh đấy
có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, là
dư khí của tinh, phàm là người qua lại ngủ đêm ở đấy đều bị chết và bị quỷ làm hại, chúng có thể hợp với nhau thành đàn lũ, làm cho sụp thành Nếu giết con gà trắng
để làm trừ tinh khí ấy đi thì tự nhiên thành sẽ bền vững” Vua đtôi Rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ Nói với chủ quán “Sống chết có mệnh, ma quỷ làm
gì nổi” rồi ngủ lại quán Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũ quỷ tan, chạy hết, Rùa vàng xin Vua đuổi theo tới núi Thất Diệu thì tinh khí biến mất Vua trở về quán, sáng sớm Chủ quán tưởng Vua đã chết rồi gọi người đến để khâm liệm đtôichôn.Thấy Vua vẫn vui vẻ, cười nói, chủ quán liền suy lại nói: “Ngài làm được như thế, tất phải là thành nhân” Vua xin con gà trắng giết thịt để tế, gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo Vua liền sai người đào núi thấy có nhạc khí cổ và xương người thành tro rồi thả xuống sông, yêu khí mới mất hẳn, từ đấy đắp thành không quá nửa tháng thì xong
Rùa vàng cáo từ ra về, Vua cảm tạ hỏi rằng: “Đội ơn ngài đắp thành đã vững, nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống giữ?” Rùa vàng bèn rút chiếc móng đưa cho Nhà Vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do trời, nhưng ngươi cũng nên phòng bị, nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm bẫy nỏ, nhằm vào giặc mà
Trang 23bắn thì chẳng phải lo gì” Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm Nỏ Thần, đ ặt tên là Linh Quang Kim Trào Nỏ Thần
Theo truyền thuyếtkể lại, dân Âu Lạc đắp thành 18 năm ròng rã, cho đến nay toà thành vẫn sừng sững và bên trong đó nó còn ẩn chứa nhiều truyền tích lưu truyền trong dân gian Nào việc tiên gánh đất xây thành đã để đất lọt xảo thành những gò luỹ cùng tích các làng Tiên Hội, Đa Hội, chuyện Rùa Vàng trừ Bạch kê tinh, Nỏ thần,… Gạt bỏ bức màn huyền thoại ta thấy để làm nên Thành Cổ Loa, Vua An Dương Vương đã phải huy động sức dân không phải ở một huyện, một tỉnh
mà của cả nước Âu Lạc lúc bấy giờ Lại để phản ánhviệc xây thành vô cùng khó khăn, sự thật lịch sử hơn 2000 năm trước do khí hậu, thiên nhiên khắc nghiệt, lợi dụng địa hình, địa vật của vùng đất Cổ Loa mà Vua An Dương Vương cho nối các
gò đồi sẵn có, những chỗ đắp đất trên vùng sình lầy, không có chân móng vững chắc, thành đắp ngày càng cao, sức lún ngày càng nhiều, dễ sụt lở nhất là vào mùa mưa lũ Trải qua bao nhiêu ngày thất bại, người Âu Lạc đã nhận ra rằng: “Muốn đắp thành cho vững thì phải chắc móng, phải kê đá tảng mới chống được sụt lở, kỹ thuật đắp thành mới được phát minh” Thành Cổ Loa được đắp lại với một quyết tâm cao hơn Nhân dân được huy động tối đa, nhiều công trường khai thác đã được dựng lên, chuyển đá về Cổ Loa làm kè, phế phẩm các lò gốm của nhân dân trong vùng được chuyển đến ngày đêm, thành cứ cao dần, rộng dần và cuối cùng thành đã đắp xong vòng trong, vòng ngoài sừng sững Đến nay, thành mới có thể đương đ ầu với bão lũ phong ba
Nước Âu Lạc đã có một pháo đài phòng vệ khổng lồ, từ đó Vua chuyên tâm vào luyện quân, chống giặc, kỹ thuật đúc đồng phát triển mạnh, nền kinh tế vững chắc, nhà Vua ra sức phát huy tác dụng quân sự của Thành Cổ Loa
Thành Nội trong cùng có chu vi 1.650km, thành trung dài 6.5km, thành ngo ại dài 8km Thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự vĩ đ ại, luỹ thành được đắp phía ngoài dựng đứng, phía trong thoai thoải, lại có hào sâu bao quanh rộng vài chục mét hợp thành hệ thống giao thông thuỷ thống nhất của thủ đô Âu Lạc
Tướng quân Cao Lỗ được cử làm trấn Tướng Phía Bắc, ông là một công thần khai quốc của nhà Thục Sau bao ngày đêm suy nghĩ, ông đã phát minh ra loại nỏ
Trang 24liên thanh bắn một lần hàng chục phát Theo truyền thuyết, ông sai dựng “Gò pháo đài” dạy cho một vạn quân sỹ tập bắn nỏ Ngoài cung tên, quân sỹ còn được trang bị giáo mác, rìu chiến, dao găm,… Năm 210 TCN Triệu Đà đtôi quân sang xâm lấn, nhà Vua đtôi quân đi đánh Đà thua trận, biết Vua có nỏ Liên Thanh nên rút về núi
Vũ Minh, sai sứ giả đến xin hoà Vua mừng bèn chia tứ Bình Giang về phía Bắc thuộc về Đà, phía Nam thuộc về Vua ngự trị.Đà liền cho con là Trọng Thuỷ làm con tin, nhân đó cầu hôn, Vua gả con gái Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ Trọng Thủy đã dụ
dỗ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xtôi rồi ngấm ngầm làm hỏng lẫy mà đổi đi, rồi nói thác là vềBắc thăm cha,…
Năm 208 TCN theo sử cũ, Đà đtôi quân đánh Vua, Vua không biết lẫy nỏ thần
đã mất, ngồi đánh cờ cười mà nói rằng: Đà không sợ ta có nỏ thần sao? Quân Đà kéo sát tới nơi dàn trận, Vua giương nỏ, lẫy nỏ gãy, quân tan vỡ, Vua cùng Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía Nam,…Vua đến bờ biển hết đường vẫy gọi: Thanh Giang Sứ ở đâu? Rùa vàng hiện lên mặt nước nói: “Người ngồi phía sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi, vua rút gươm toan giết Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng:
“Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại, chết đi sẽ biến thành cát bụi, nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi biến thành Châu Ngọc để rửa sạch nỗi nhục thù” Mỵ Châu chết ở biển, máu chảy xuống nước trai sò ăn được biến thành hạt châu Vua c ầm sừng tê 7 tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển Nước mất, thủ đô cũng mất, thành Cổ Loa của Vua chủ cũng không còn đóng vai trò trung tâm c ủa đất nước nữa Nhưng cho đến sau này, Cổ Loa cũng đã mấy lần đóng vai trò lịch sử của nước Việt.Đó là vào năm 40, trên đường kéo quân từ
Mê Linh (Vĩnh Phúc) xuống Luy Lâu đến đánh quân Tô Định, Hai Bà trưng đã kéo quân qua thành chủ và nghỉ ở đó một đêm, năm 570 hậu Nam Đế Lý Phật Tử đã rời
đô đến thành cũ của Việt Vương (Thành Chủ) sai sửa sang lại thành Cổ Loa làm căn
cứ chính, năm 938 Ngô Quyền người anh hùng dân tộc sau chiến thắng Bạch Đằng lên ngôi vua đã quyết định đóng đô ở CổLoa thành
2.1.3 Dân cư
Khi An Dương Vương đến định đô và cho xây thành ở Cổ Loa đã đuổi hết dân gốc ở Cổ Loa đi nơi khác để lấy đất xây thành Theo truyền thuyết, Vua ném một
Trang 25hòn cuội về phía Đông Bắc, dân làng men theo triền sông đi mãi và đến lập làng ở một khu đất cuối sông cho nên gọi là làng Quậy (chữ Quậy đọc chệch chữ Cuội mà ra) Chỉ còn xóm Gà sót l ại hai anh tôi, anh trai buộc phải lấy tôi gái làm vợ và sinh con đẻ cháu ra thêm,…
Thế kỷ X, sau khi Nhà Ngô thất tán, Cổ Loa là đất chiến trường thời lo ạn, hẳn dân cũng phải phiêu dạt đi rất nhiều,…
Qua thời gian, mảnh đ ất Cổ Loa đã trải qua bao thăng trầm lịch sử Hiện nay, dân cư ở Cổ Loa hầu hết là do từ nơi khác di cư đến Bia nhà Họ Trương (Xóm Hương) cho biết họ là tứ xứ Hải Dương đến Cổ Loa lập nghiệp, bia nhà thờHọ Đào (Xóm Chợ) cho biết họ này từ Thanh Hoá ra Cổ Loa lập nghiệp khoảng trên dưới
400 năm nay; Họ Nguyễn (ở xóm Gà) thì vẫn nhớ giỗTết, tổ tiên mình ở Thường Tín, Xứ Sơn Nam cũ (Hà Sơn Bình);… Cuối cùng thì sau 3 - 4 đời, dân bản địa và dân cư tứ xứ hoà đồng thành dân Cổ Loa Người dân Cổ Loa rất thân thiện và mến khách Họ có tục lệ vào ngày lễ hội mùng 6 tháng Giêng hằng năm mỗi nhà đều làm nhiều cỗ để khách đi trẩy hội lỡ độ đường ghé vào ăn Đây là một truyền thống tốt đẹp của người dân Cổ Loa Đến nay người dân Cổ Loa vẫn còn tục lệ đãi dâu không đãi rể còn sót lại do kinh nghiệm xương máu của tổ tiên để lại Nhưng đến nay lớp lớp thế hệ trẻ Cổ Loa đã dần quên đi lịch sử hào hùng của mảnh đ ất quê hương mình Cuộc sống của người dân nơi đây vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và trình độ dân trí cũng chưa cao
2.2 Tiềm năng phát tri ển tài nguyên du l ịch văn hóa CổLoa
2.2.1 Lễ hội Cổ Loa
2.2.1.1 Truyền thuyết Mị Châu, Trọng Thủy
Thời vua An Dương Vương, dân chúng xây thành Cổ Loa ngăn chặn giặc phương Bắc Xây mãi không xong, nhà vua bèn l ập đàn cầu tế Trong lúc đó, một vị thần hiện ra dưới bóng con rùa vàng - tục ngữ gọi là thần Kim Quy - và dạy nhà vua cách xây thành Thành xây xong, thần Kim Quy còn t ặng nhà vua chiếc nỏ thần để bắn địch
Giặc phương Bắc lại ùn ùn kéo quân xâm chiếm nước ta, nhưng lần nào cũng rước lấy thảm bại Tướng giặc là Triệu Đà vô cùng tức giận Hắn bèn nghĩ ra một
Trang 26kế Xin giao hòa với nước ta rồi sai con trai là Trọng Thuỷ sang c ầu hôn với con gái vua An Dương Vương tên là Mỵ Châu Thâm ý của Triệu Đà là sẽ dùng con trai mình làm mật thám trong việc đánh chiếm nước ta
Ngay tình, vua An Dương Vương chấp thuận điều nghị hòa và bằng lòng nhận lời cầu hôn của Trọng Thủy với Mỵ Châu
Trong lúc hàn huyên, Trọng Thủy cố tình dò hỏi, Mỵ Châu kể lại cho chồng nghe chuyện xây thành CổLoa và chiếc nỏ thần Một hôm, nhân lúc Mỵ Châu sơ ý, Trọng Thủy lấy trộm chiếc nỏ thần và thay một chiếc giả vào đó, rồi xin phép vua
An Dương Vương về thăm cha mẹ
Lúc ra đi, Trọng Thuỷ căn dặn vợ :
- Trong lúc anh vắng nhà, nếu có chiến tranh tôi hãy mặc áo lông ngỗng vào Khi chạy giặc, tôi đừng quên rắc lông ngỗng xuống đường Anh sẽ theo vết lông ngỗng
đi tìm tôi
Về tới nhà, Trọng Thủy liền giao chiếc nỏ thần cho cha Nắm được chiếc nỏ thần trong tay, Triệu Đà lập tức kéo quân sang đánh nước ta Thấy giặc kéo đến, An Dương Vương không tỏ vẻ sợ hãi, bình tĩnh lấy nỏ thần ra bắn Nhưng lạ thay, đoàn giặc vẫn ào ào xông tới trước các mũi tên bắn ra Nỏ thần đã trở thành vô hiệu Hoảng sợ, nhà vua bèn ôm Mỵ Châu lên sau yên ngựa chạy trốn về hướng Nam Mỵ Châu ngồi sau yên ngựa, rứt lông ngỗng rải xuống đường Nhà vua chạy đến đâu, giặc theo vết lông ngỗng rượt theo đến đó
Đến núi Mộ Dạ cụt đường, nhà vua định tự tử thì thần Kim Quy hiện lên bảo:
- Tâu bệ hạ, giặc ngồi ngay sau lưng nhà vua đấy !
An Dương Vương quay lại, thấy Mỵ Châu, hiểu ra sự việc, bèn tức giận rút gươm chém chết con gái Sau đó, nhà vua phi ngựa nhảy xuống biển
Theo dấu lông ngỗng, Trọng Thủy tới được chân núi Mộ Dạ thì thấy Mỵ Châu chỉ còn là một xác không hồn
Quá hối hận về việc mình đã làm, Trọng Thủy ôm xác vợ khóc nức nở, rồi gieo mình xuống một giếng gần đó
Hiện nay gần thành Cổ Loa, giếng đó vẫn còn Khách bộ hành đi qua dừng chân nhìn xuố ng đáy giếng nước trong veo, không khỏi bùi ngùi nhớ lại câu chuyện thương tâm của cặp vợ chồng Mỵ Châu Trọng Thuỷ
Trang 272.2.1.2 Giá trị của lễ hội
Thứ nhất, lễ hội truyền thống Cổ Loa thực hiện chức năng liên kết cộng đồng,
dù dưới hình thức nào lễ hội truyền thống Cổ Loa vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân Cổ Loa được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất và đặc biệt nhân dịp kỷ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng từ thời vua An Dương Vương dựng nước cho tới ngày nay Người đi hội không cảm thấy mình là người ngoài cuộc, chính điều đó đã đtôi lại niềm an ủi, sự xúc động thật sự và là nguồn động viên sâu sắc cho những thân phận nhỏ bé ngày thường trong xã hội phong kiến xa xưa
Thứ hai, lễ hội truyền thống Cổ Loa có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền
bá các giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện ở sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua
Thứ ba, lễ hội truyền thống Cổ Loa còn thể hiện chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phương… Thông qua đó, lễ hội tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn
Thứ tư, chức năng hưởng thụ và giải trí Ngoài sự “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi người đều được hưởng những lễ vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong quá trình tổ chức hoạt động lễ hội Trong lễ hội truyền thống, người dân không chỉ hưởng thụ mà còn
là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình
Với những ý nghĩa tốt đẹp đó, lễ và hội Cổ Loa hướng con người tới “cái thiêng” và gắn bó con người lại với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ Chiều
Trang 28sâu của tinh thần lễ hội truyền thống là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc Vì thế, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội truyền thống là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần
“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Bên cạnh đó,
lễ hội Cổ Loa với những tầm ý nghĩa, giá trị tâm linh, văn hóa sâu sắc cũng đã góp phần to lớn trong việc quảng bá và phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới
2.2.2 Kho tàng di sản văn hóa Cổ Loa
2.2.2.1 Di sản văn hóa vật thể
Cổ Loa với những di chỉ khảo cổ học là đỉnh cao của văn hoá Đông Sơn và là
trung tâm nền văn minh Sông Hồng
Căn cứ trên cứ liệu các di chỉ khảo cổ học trong lòng đất Cổ Loa và các vùng xung quanh,các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra dấu vết lao động c ủa con người cách ngày nay hàng vạn năm Nhiều di tích khảo cổ học như: Đồ ng Vông, Xuân Kiều đánh dấu giai đoạn phát sinh (Giai đoạn Phùng Nguyệt) và phát hiện thấy nhiều đồ gốm như: Dọi xe chỉ bằng đất nung, nhiều lo ại nồi, bình, vò, vại, cối chân cao, bát, đĩa,…
Trong thời đại Đông Sơn, từ giai đoạn sớm (Đình Chàng lớp trên 600 năm đến
700 năm TCN) đến giai đoạn muộn (Mả Tre trên dưới 100 năm TCN) người Việt
Cổ (Âu Việt, Lạc Việt) là tổ tiên chung của người Tày, Mường Việt ngày nay đã đẩy kỹ thuật luyện kim đồng thau đến mức cực thịnh và đã chuyển qua kỹ thuật rèn chế đồ sắt
Kỹ thuật phát triển, dân số tăng và do sự dồn toa của dân từ phương Bắc, từ miền núi tiếp tục đi xuống đã lan to ả từ rừng núi trung du tới tận ven biển Truyền thuyết về họ Hồng Bàng của ta xtôi đây là cuộc “Chia con” của mẹ Âu Cơ và bố Lạc Long Quân, kẻvề miền non Tản, người xuôi mạn Lục Cầu Giang Cổ Loa thuộc một vùng, một “bộ” lớn trong 15 “bộ” của nước Văn Lang truyền thuyết, tức địa bàn sinh sống của người Việt cổ Bộ này có thể bao hàm từ phía Nam Thái Nguyên
Trang 29cũ tràn qua miền Sóc Sơn, Đông Anh, qua miền đồng trũng mà tới tận vùng đồi núi Tiên Du cũ Bộ này mang tên trong sử sách cũ là bộ “Tây Vu” trung tâm có thể là CổLoa, nơi tìm thấy chiếc trống đồng to lớn, được đúc từ 500 - 600 năm TCN Sau cuộc chinh phục của nhà Tây Hán của đế chế Trung Hoa thì mới vĩnh viễn bị chôn trong lòng đất Mả tre để mãi tới tháng 6 - 1982 mới lại được đưa ra ánh sáng
Qua đó có thể rút ra kết luận, Cổ Loa vào thời kỳ các vua Hùng dựng nước Văn Langđã có người Việt cư trú với nền văn hoá phát triển Trên cơ sở các di tích,
di chỉ và hiện vật khảo cổ học là nơi tìm hiểu, chứng minh cho lịch sử phát triển của dân tộc ta buổi đầu dựng nước, giai đoạn lịch sử chưa được ghi chép bằng chữ viết Lòng đất Cổ Loa ngoài các di chỉ khảo cổ học đã kể trên còn nhiều di chỉ khảo cổ thời phong kiến, thời Bắc thuộc Có thể thấy, Cổ Loa là một di tích khảo cổ học lớn của nước ta
Cổ Loa là một cố đô - Đô thị của nước ta và thế giới:Đã có các sách sử, những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc công phu để chứng minh Cổ Loa là đô thị cổ, kinh đô của nước Âu Lạc thời An Dương Vương - Thục Phán Kinh đô Cổ Loa là kinh đô của nước ta có niên đại sớm còn tồn tại vào bậc nhất của thế giới Từ thế kỷ thứ III TCN, Cổ Loa với vị trí ven sông, trung tâm đô hội của nước Âu Lạc Dấu tích kinh thành rõ nhất còn giữ đến tận ngày nay của Cổ Loa đó là Toà thành
đê bố trí nội ngoại rõ ràng.Qua nguồn di vật khảo cổ đã tìm được cho thấy Cổ Loa tập trung đ ầy đ ủ các văn hoá khảo cổ lúc bấy giờ Các di chỉ khảo cổ học ở Cổ Loa dày đặc kéo dài đến vài nghìn năm (4000 đến 2000 năm TCN) Việc tìm thấy sưu tập cổ vật Mả tre với trống đồng Đông Sơn lớn, một sưu tập lưỡi cày đồng, kho mũi tên đồng vài vạn chiếc ở Cầu Vực,… Và đó là những dấu tích khẳng địnhvùng đất kinh đô như Thành Cổ Loa, Đền thờ An Dương Vương, Đình ngự triều Di Quy, Am thờ Mỵ Châu,…
Thành Cổ Loa
Cổ Loa chiếm ngự một vùng đất cao của châu thổ sông Hồng, phía đông và phía Bắc được ngăn chặn bởi một miền đầm lầy vực sâu thiên nhiên, xung quanh mọc lên những dải rừng cây hoang dại, phía Nam có con sông Thiếp (Hoàng Giang)
Trang 30bao bọc Ngày ấy còn là một nhánh lớn của sông Hồng, chảy qua 5 huyện trung du
và đồng bằng rồi sau đó đổ nước vào sông Cầu ở vùng quê Thổ Hà, sông ấy còn được gọi là Ngũ Huyện Khê
Dân Chạ Chủ được rời xuống miền đ ất trũng hơn để An Dương Vương dựng
đô mới và đắp thành ở châu thổ ven sông lớn Đó là một vùng lầy, hẳn An Dương Vương và Cao Lỗ gặp rất nhiều khó khăn khi đắp thành.Theo sử cũ, thành đắp rồi lại đổ nhiều lần, sau mới thành công Cắt xẻ một số đoạn thành để nghiên cứu khảo
cổ học nhận thấy luỹ đất Cổ Loa được kè đá tảng vững chắc dưới thành, đá đó phải được khai thác và chuyên chở từ vùng núi về
Sách xưa chép: Thành cũ Việt Vương quanh có 9 lớp, chu vi 9 dặm, con số 9 hẳn là con số huyền niệm, linh thiêng Hiện nay, ngoại trừ các thành luỹ không liên tục, Cổ Loa có 3 vùng thành hào khép kín, to nhỏ lồng vào nhau Vòng thành ngoài
có chu vi dài 8km bao hàm diện tích lớn hơn 5km nằm lọt ở trong “Đường kính” thành theo chu vi vòng ngoài chỗ rộng tới gần 3km, chỗ hẹp nhất cũng hơn 2m Vòng thành giữa gọi là thành trung dài 6.4km và vòng thành trong cùng gọi là thành nội có chu vi 1.6km, tổng cộng chu vi 3 vòng thành lớn hơn 16km
Thành nội được đ ắp hình chữ nhật, vuông vắn chứng tỏ được sự chăm sóc, gia công nhiều hơn Thành nội có một cửa duy nhất là cửa Nam ở gần giữa thành vị trí nhà thiết triều
Thành nội có bố trí các gò hoả hồi nhiều là ken dây với nhau được làm kỹ có tới 18 chiếc, thành trung và ngoại là những đoạn tường đắp nối các gò, đồi đã có sẵn của thiên nhiên không có hình dáng nhất định Thành trung và ngo ại đều bố trí 4 cửa, chỉ riêng cửa Nam hai vòng thành này giao nhau cùng làm chung, còn các c ửa khác bố trí so le, lệch nhau Hai vòng thành này cũng có tới 54 hoả hồi, tổng cộng trên thành có 72 ụ hoả hồi, hơn triệu mét khối đất đào đ ắp, hàng trăm vạn nhân công, mà dân ta thời đấy chưa quá một triệu con người Đây là một công trình lao động quy mô lớn, một trình độ kỹ thuật kiến trúc khá cao
Ngoài luỹ là hào, ba vòng hào rộng thênh thang ba bốn thuyền đinh s ắp hàng ngang đi được Hào nọ được nối với hào kia và hào ngoài cùng thì thông với nước Hoàng Giang, hào quanh năm đầy nước Dân gian kể chuyện, xưa Vua Thục Phán
Trang 31đi thuyền dưới hào, có thể dạo khắp kinh kỳ Phía Đông, bao quanh giữa thành Trung và thành Ngoài là vùng đ ầm cả, đầm muông (lìm) rộng mênh mông Sông chảy qua con ngòi vào phía c ửa Đông và dồn nước vào Đầm Cả Vài trăm chiếc thuyền có thể đậu ở “Quân c ảng” này và đây chính là nét độc đáo của thành Cổ Loa Kinh thành vừa là căn c ứ phòng ngự của bộ binh - bộ binh có thể triển khai chiến đấu trên các ụ công sự xây dựng trên luỹ thành; vừa là căn cứ thuỷ quân thuyền chiến từ vùng Đầm Cả, vườn thuyền có thể triển khai ra các chiến hào, phối hợp với
bộ binh cũng có thể tiến ra sông Hoàng Giang mà ra biển
Cổ Loa là sự hoà hợp giữa Âu và Lạc Người Âu tài cung nỏ, quen trèo hái, người Lạc giỏi dùng thuyền, thạo thuỷ chiến Xây dựng thành Cổ Loa, An Dương Vương đã thâu nhập được tinh hoa của cả hai thành phần Việt tộc Đó là một toà thành không có tử giác, quân thù nấp bất cứ chỗ nào cũng bị phát hiện và bị bắn tên Luỹ thành đ ắp mé ngoài dựng đứng, mé trong thoai thoải, kẻ thù khó vượt từ ngoài vào, còn quân của Âu Lạc có thể từ bên trong nhanh chóng trèo lên mặt thành đón đánh địch
Thành Cổ Loa là một công trình lao động quy mô lớn của nhân dân Âu Lạcthể hiện tài năng sáng tạo của người Việt cổ Điều kiện tự nhiên, địa hình được xtôi xét
và vận dụng phù hợp Dùng một khúc sông làm hào, dùng nhiều gò cao, dải đ ất cao
tự nhiên, đồi sót, thềm sót đắp thêm làm luỹ Nơi gần đầm vực thì luỹ thành được
kè đá cẩn thận, hệ thống ấy cũng là đê trị thuỷ mùa lũ và bờ vùng giữ nước mùa khô hạn, đồng thời còn là kênh mương thuỷ lợi tưới tiêu nối với sông con và cũng là mạng lưới giao thông thuỷ của toàn thể vùng kinh đô và ven đô - vùng ảnh hưởng trực tiếp của Vua Thục Thành Cổ Loa cũng thể hiện nghệthuật quân sự tài giỏi của quân dân Âu Lạc Giỏi trên bộ, giỏi dưới nước, đó vừa là một căn cứ phòng ngự đồng thời cũng là một căn cứ xuất phát tiến công
Hiện nay, thân thành có chiều cao trung bình từ 4m đếm 5m, có chỗ còn cao tới 12m, chân thành rộng tới 20m đến 30m
Trang 32Đền thờ An Dương Vương
Thường được gọi là Đền Thượng, nằm ở góc Tây Nam của thành Nội Đền gồm có tổng thể nhiều kiến trúc, xen kẽ và bố trí thành lớp trên một độ dốc thoải theo hướng nam của sườn đồi Tương truyền, đền được làm trên đầu con rồng mà đuôi của nó đến tận ngàn Tam Đảo Trước cửa đền có giếng ngọc hay giếng Trọng Thuỷ - Mỵ Châu Giếng ngọc là khuôn vòng tròn lớn gần chính giữa hồ nước Tương truyền “Trọng Thuỷ đã đâm đầu xuống đây tự vẫn vì nỗi niềm ân hận của mình” Trong sử cũ còn ghi: nếu có ngọc trai Đông Hải đtôi về rửa nước giếng này thì sáng trong vô cùng.Đó là một thiên tình s ử bi thương và ai oán
Cổng đền được xây theo kiểu tam quan hai tầng Tầng trên có thượng lâu chồng diêm cuốn đao cong, tường hoa lan can bao quanh, bậc thềm lên xuống ở hai bên Ngay trước cổng có sân hẹp lát đá ở giữa, với 3 cây hương đá Hai bên thềm tam quan có đôi rồng đá nghệ thuật thế kỷ 17 cuộn chầu Tam quan có 3 cửa cuốn vòm, lát đá sân trên với tên gọi Tiên tứ đệ nhất Hai bên có mắt rồng, sừng rồng Nhà tiên từ 3 gian cuốn đao, lợp ngói ống được đ ắp vẽ nhiều, có đôi rồng vôi mật chầu hai bên thềm Hai bên tiên từ còn có cổng nhỏ làm giả chồng diêm liền với tường bao xây cao Bên sau nhà tiên từ được gọi là sân rồng, lát đá ở lối chính giữa, còn lại được lát bằng gạch Bát Tràng Nơi đây diễn ra lễ tế lớn trong ngày hội hằng năm Hai bên sân rồng là hai dãy tảo mạc, mỗi bên 7 gian bao kín được làm bít dốc Nhà tiền tế với bậc thềm lát đá, hai bên có đôi sư tử vôi mật.Tiền tế có 5 gian, hai trái, mái cuốn đao cong, hiên làm rộng phía trước, cửa bức bàn làm khắp các gian Tiền tế để thông thoáng, liền với phía sau ở giữa có nhà vuông, hai bên là giải muống câu liêm và bao kín Nhà vuông làm chồng diêm tám mái buông cột 4 góc Tiếp đến là tiền đường được gọi là nhà trung đường, làm bít dối với 3 gian 2 dĩ Qua trung đường vào ống muống rồi tiếp đến là hậu cung Hậu cung có 3 gian, chính giữa làm khám có ban thờ lát gỗ gật cấp, đặt các đồ thờ, hai bên khám hơi lùi về sau
là ban thờ của cha mẹ và Hoàng Hậu Vua
Kiến trúc của đền thượng làm kiểu trùng thiềm, điệp ốc với nhiều nếp nhà, nhiều bậc thềm, qua 5 lần cổng, cửa kiểu dáng đền mang dáng dấp của một ngôi chùa