1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

228 175 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 5,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của ri

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ HOA HỒNG

KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VÙNG BIỂN VEN BỜ TỪ THỊ XÃ CỬA LÒ ĐẾN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ HOA HỒNG

KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN VÙNG BIỂN VEN BỜ TỪ THỊ XÃ CỬA LÒ ĐẾN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Ngành đào tạo : KỸ THUẬT KHAI THÁC THỦY SẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy

sản vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” là công

trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 20 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hoa Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện luận án, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo, tạo điều kiện của tất cả thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Trước tiên tôi xin được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể lãnh đạo Vụ

Kế hoạch – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lãnh đạo Vụ đã tạo điều kiện thuận lợi trong công việc và thời gian để tôi có thể hoàn thành luận án

Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy hướng dẫn: TS Trần Đức Phú và TS Nguyễn Văn Lục – 2 thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành luận án Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các anh chị ở Viện Khoa học và Công nghệ khai thác, Trường Đại học Nha Trang đã góp ý cho luận án, những lời góp ý chân thành của các thầy, các anh, các chị giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận án

Bên cạnh sự hỗ trợ tạo điều kiện về thời gian của Lãnh đạo Vụ, hướng dẫn, góp

ý về chuyên môn của các thầy, tôi cũng không thể hoàn thành Luận án nếu không có

sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan ở địa phương nơi thực hiện đề tài Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An, lãnh đạo và cán bộ Chi cục Thủy sản Nghệ An, Ban quản lý dự án FSPS II Nghệ An, Ban quản lý

dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững Nghệ An, các cán bộ phòng Kinh

tế, đồn biên phòng… thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, huyện Diễn Châu, Nghệ An đã

hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi tiếp cận thực tế tại các địa phương trong tỉnh để nghiên cứu và thu thập số liệu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thành viên trong gia đình, đặc biệt là bố mẹ hai bên và chồng, con, tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn./

Khánh Hòa, ngày 20 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hoa Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC HÌNH xiii

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN xv

KEY FINDINGS xvi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Phạm vi khảo sát và nghiên cứu 3

5.1 Phạm vi không gian khảo sát và nghiên cứu của đề tài luận án 4

5.2 Phạm vi thời gian khảo sát, thu thập dữ liệu và nghiên cứu của đề tài luận án 4

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 4

6.1 Ý nghĩa khoa học 4

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Chương 1: TỔNG QUAN 5

1.1 Tổng quan về tỉnh Nghệ An 5

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 5

1.1.1.1 Diện tích và vị trí địa lý 5

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 5

1.1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội 5

1.1.2 Tổng quan nghề cá tỉnh nghệ An 6

1.1.2.1 Biến động tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Nghệ An theo công suất 6

1.1.2.2 Tình hình biến động cường lực, lao động và sản lượng khai thác hải sản 7

1.1.2.3 Cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá tỉnh Nghệ An 7

1.1.3 Tổng quan vùng biển tỉnh Nghệ An 8

1.1.3.1 Đặc điểm chung 8

Trang 6

1.1.3.2 Đặc điểm khí tượng, thủy văn 8

1.1.3.3 Đặc điểm địa hình đường bờ và đáy biển 10

1.1.3.4 Đặc điểm về đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản 10

1.1.4 Giới thiệu phạm vi vùng biển nghiên cứu 12

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 12

1.2.1 Công trình nghiên cứu ngoài nước 12

1.2.1.1 Công trình về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 12

1.2.1.2 Giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 14

1.2.2 Công trình nghiên cứu trong nước 18

1.2.2.1 Nghiên cứu về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 18

1.2.2.2 Nghiên cứu về giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 22

1.2.3 Các công trình nghiên cứu nguồn lợi và nghề khai thác thủy sản tại vùng biển Nghệ An 24

1.2.4 Phân tích, đánh gía chung tổng quan nghiên cứu khoa học liên quan 26

1.2.4.1 Về nội dung nghiên cứu 26

1.2.4.2 Về phương pháp nghiên cứu 26

1.2.4.3 Những nội dung được kế thừa và tiếp tục nghiên cứu trong luận án 27

Chương II: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Cơ sở lý luận và giả thiết khoa học được sử dụng trong luận án 28

2.1.1 Khái quát chung về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 28

2.1.2 Nội dung chính về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 29

2.1.2.1 Khai thác hợp lý về sản lượng nguồn lợi thủy sản 29

2.1.2.2 Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản về mặt cường lực 31

2.1.2.3 Phương pháp xác định sản lượng và cường lực khai thác hợp lý NLTS 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 35

2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 35

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá thực trạng khai thác hợp lý 42

2.2.2.1 Xử lý số liệu 42

2.2.2.2 Phương pháp ước tính tổng sản lượng khai thác 43

2.2.2.3 Xác định sản lượng và cường lực khai thác hợp lý 44

2.2.2.4 Phương pháp đánh giá thực trạng khai thác bất hợp lý 46

Trang 7

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51

3.1 Thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng biển nghiên cứu 51

3.1.1 Năng lực tàu thuyền của địa phương nghiên cứu 51

3.1.2 Thực trạng tàu thuyền hoạt động khai thác thủy sản trong VBNC 55

3.1.2.1 Biến động số lượng tàu cá thực tế hoạt động khai thác thuỷ sản trong VBNC 55

3.1.2.2 Đặc điểm vỏ tàu thuyền khai thác thuỷ sản trong VBNC 57

3.1.3 Đặc điểm máy động lực của tàu cá KTTS trong VBNC 58

3.1.4 Đặc điểm ngư cụ khai thác thuỷ sản trong VBNC 59

3.1.5 Thực trạng thuyền viên trên tàu khai thác thuỷ sản trong VBNC 62

3.1.6 Thời gian hoạt động KTTS của đội tàu trong VBNC 63

3.1.7 Sản lượng và sản phẩm khai thác thuỷ sản trong VBNC 64

3.1.8 Hiệu quả sản xuất của tàu hoạt động KTTS trong VBNC 65

3.1.9 Kết quả điều tra tàu cá hoạt động khai thác vi phạm khu vực cấm 67

3.1.10 Kết quả điều tra tàu cá sử dụng ngư cụ và loại hình đánh bắt bị cấm 67

3.2 Xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa của VBNC 69

3.2.1 Chuẩn hoá cường lực khai thác 69

3.2.2 Xác định sản lượng và cường lực BVTĐ theo đội tàu chuẩn 70

3.2.2.1 Xác định sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu chuẩn nghề lưới rê 70

3.2.2.2 Xác định sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu chuẩn nghề lưới kéo 72

3.2.2.3 Xác định sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu chuẩn nghề câu 73

3.2.2.4 Xác định sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu chuẩn nghề khác 74

3.2.3 Chuyển đổi sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu thực theo đội tàu chuẩn 76

3.3 Đánh giá thực trạng bất hợp lý trong hoạt động khai thác thuỷ sản tại VBNC 77

3.3.1 Đánh giá thực trạng bất hợp lý về sản lượng và cường lực khai thác 77

3.3.2 Đánh giá những tồn tại và bất hợp lý trong khai thác thủy sản tại VBNC 78

3.3.2.1 Đánh giá mức độ khai thác bất hợp lý về kích thước thuỷ sản 78

3.3.2.2 Đánh giá mức độ khai thác bất hợp lý trong vùng cấm và mùa cấm 79

3.3.2.3 Đánh giá mức độ khai thác bất hợp lý về mật độ tàu cá trong VBNC 79

3.3.2.4 Đánh giá mức độ khai thác bất hợp lý về sử dụng chủng loại ngư cụ 81

3.3.3 Đánh giá chung mức độ bất hợp lý của hoạt động khai thác tại VBNC 81

3.4 Xác định số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề khai thác hợp lý tại VBNC 82

3.4.1 Những căn cứ khoa học 83

Trang 8

3.4.1.1 Căn cứ đặc điểm nguồn lợi của VBNC 83

3.4.1.2 Căn cứ đặc điểm thực trạng và tập quán ngư dân địa phương 83

3.4.1.3 Căn cứ pháp lý 84

3.4.2 Xác định số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề hợp lý 84

3.4.2.1 Xác định tổng sản lượng và số lượng tàu nghề lưới rê 84

3.4.2.2 Xác định tổng sản lượng và số lượng tàu nghề câu 85

3.4.2.3 Xác định tổng sản lượng và số lượng tàu nghề lưới kéo tôm 86

3.4.2.4 Xác định tổng sản lượng và số lượng tàu nghề khác 86

3.4.2.5 Xác định tổng sản lượng và cường KTHL chung cho VBNC 87

3.5 Đề xuất giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thuỷ sản trong vùng biển nghiên cứu 89

3.5.1 Giải pháp cắt giảm số lượng tàu thuyền 89

3.5.2 Giải pháp tạo sinh kế cho ngư dân chuyển đổi nghề bền vững 90

3.5.2.1 Đặt vấn đề 90

3.5.2.2 Những căn cứ của giải pháp 91

3.5.2.3 Nội dung của giải pháp 92

3.5.2.4 Biện pháp thực hiện 94

3.5.3 Giải pháp phất triển, bổ sung nơi cư trú, sinh sản của các laoif thuỷ sản 94

3.5.3.1 Đặt vấn đề 94

3.5.3.2 Những căn cứ của giải pháp 94

3.5.3.3 Nội dung của giải pháp 95

3.5.3.4 Kết quả bước đầu 96

3.5.4 Giải pháp đồng quản lý nguồn lợi thuỷ sản 96

3.5.4.1 Đặt vấn đề 96

3.5.4.2 Những căn cứ của giải pháp 97

3.5.4.3 Nội dung của giải pháp 98

3.5.4.4 Kết quả hoạt động 99

3.5.5 Giải pháp hành chính 100

3.5.5.1 Đặt vấn đề 100

3.5.5.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 101

3.5.5.3 Nội dung giải pháp 102

Trang 9

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

I Kết luận 103

II Khuyến nghị 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 Phụ lục 1: Tổng hợp số lượng tàu hiện có của ĐPNC theo nghề từ 2008-2016

Phụ lục 2: Tổng hợp số liệu điều tra số lượng tàu thuyền TTHĐ trong VBNC từ năm 2008-2016

Phụ lục 3: Mẫu phiếu điều tra các nghề TTHĐ khai thác thuỷ sản tại VBNC

Phụ lục 4: Thông tin về tổ đồng quản lý VBVB Xã Diễn Hải

Phụ lục 5: Thông tin về thả rạn nhân tạo tại xã Diễn Hải

Phụ lục 6: Danh sách tàu thuyền được khảo sát

Phụ lục 7: Tổng hợp số liệu điều tra sản phẩm khai thác có kích thước không đạt tiêu chuẩn Phụ lục 8: Số liệu điều tra năng suất khai thác của các nghề từ 2011-2016

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

3 CPUE Catch Per Unit Effort

Sản lượng trên một đơn vị cường lực khai thác

4 CRSD Coastal Resources for Sustainable Development

Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững

6 DVTS Dịch vụ thuỷ sản

9 f MSY Effort of Maximum Sustainable Yeild

Cường lực tại mức khai thác sản lượng tối đa

10 HĐKT Hoạt động khai thác

12 KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

13 KTTS Khai thác thủy sản

14 KTHL Khai thác hợp lý

15 MSY Maximum Sustainable Yeild

Sản lượng bền vững tối đa

Sản lượng kinh tế tối đa

17 NLTS Nguồn lợi thủy sản

18 PTBV Phát triển bền vững

19 TURFs Territorial Use Rights for Fishing

Quyền sử dụng lãnh thổ trong khai thác thủy sản

20 TAC Total Allowable Catch

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp tàu thuyền theo nhóm công suất từ 2006-2016 6

Bảng 1.2: Tổng hợp tàu thuyền theo nghề từ 2011-2016 6

Bảng 1.3: Tổng hợp số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng và lao động KTTS tỉnh Nghệ An từ 2006-2016 7

Bảng 1.4: Phân chia diện tích vùng nước ven bờ cho các xã ven biển Nghệ An 12

Bảng 1.5: Kết quả tính toán MSY theo các mô hình khác nhau 14

Bảng 1.6: Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa vào sản lượng và cường lực khai thác trên đầm Thị Nại 18

Bảng 1.7: Cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa ở vùng biển xa bờ ĐNB theo các đội tàu thực 20

Bảng 2.1: Phân bố mẫu điều tra theo nghề và địa phương từ 2011 - 2016 .40

Bảng 2.2: Chỉ số đánh giá sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa 46

Bảng 2.3: Chỉ số đánh giá cơ cấu sản lượng theo đối tượng khai thác 47

Bảng 2.4: Chỉ số đánh giá mức độ bất hợp lý về kích thước các loài thuỷ sản 47

Bảng 2.5: Đánh giá vi phạm về thời gian hoạt động trong khu vực bị cấm 48

Bảng 2.6: Chỉ số đánh giá mức độ bất hợp lý về mật độ tàu thuyền HĐKT 49

Bảng 2.7: Đánh giá vi phạm pháp luật về hoạt động khai thác trong VBNC 49

Bảng 2.8: Chỉ số đánh giá vi phạm pháp luật về cấu trúc ngư cụ 50

Bảng 3.1: Biến động số lượng tàu cá tại ĐPNC theo đơn vị hành chính (huyện) 51

Bảng 3.2: Biến động số lượng tàu cá tại ĐPNC theo dải công suất máy 52

Bảng 3.3: Biến động số lượng tàu thuyền hiện có của ĐPNC theo nghề 54

Bảng 3.4: Biến động số lượng tàu cá thực tế KTTS tại VBNC theo ĐP 55

Bảng 3.5: Biến động số lượng tàu cá KTTS tại VBNC theo nghề và công suất 56

Bảng 3.6: Thông số cơ bản của vỏ tàu thực tế hoạt động trong VBNC 57

Bảng 3.7: Thời gian sử dụng vỏ tàu cá thực tế hoạt động trong VBNC 58

Bảng 3.8: Các thông tin chính về trang bị máy động lực trên tàu 58

Bảng 3.9: Các thông số cơ bản của một cheo lưới rê 59

Bảng 3.10: Các thông số cơ bản của ngư cụ nghề lưới kéo 60

Bảng 3.11: Các thông số cơ bản của nghề câu tay 60

Bảng 3.12: Các thông số cơ bản của nghề câu vàng 60

Bảng 3.13: Thông số cơ bản của lồng bẫy kiểu Trung Quốc 61

Trang 12

Bảng 3.14: Các thông số cơ bản của bẫy ốc hương 61

Bảng 3.15: Số ngày hoạt động tiềm năng của đội tàu khai thác trong VBNC theo nghề và nhóm công suất 63

Bảng 3.16: Hệ số hoạt động của đội tàu khai thác trong VBNC theo nghề và nhóm công suất 63

Bảng 3.17: Biến động sản lượng khai thác của tàu cá theo nghề, nhóm công suất 64

Bảng 3.18: Thành phần sản phẩm của các nghề HĐKT thuỷ sản trong VBNC 64

Bảng 3.19: Tỷ lệ tàu có sản phẩm kích thước không đạt chuẩn khai thác 65

Bảng 3.20: Biến động năng suất khai thác của tàu theo năm 65

Bảng 3.21: Các chỉ số kinh tế của đội tàu hoạt động KTTS trong VBNC 66

Bảng 3.22: Đặc trưng hiệu quả kinh tế của đội tàu KTTS trong VBNC 66

Bảng 3.23: Thống kê số tàu cá vi phạm khu vực cấm hoạt động khai thác 67

Bảng 3.24: Kết quả điều tra số tàu hoạt động KT bất hợp lý trong VBNC 67

Bảng 3.25: Giá trị R2 để lựa chọn đội tàu chuẩn theo loại nghề 69

Bảng 3.26: Cường lực khai thác của đội tàu sau khi quy về đội tàu chuẩn 70

Bảng 3.27: Số liệu năng suất và cường lực đội tàu lưới rê quy chuẩn 70

Bảng 3.28: Số liệu năng suất và cường lực đội tàu lưới kéo quy chuẩn 72

Bảng 3.29: Số liệu năng suất và cường lực đội tàu nghề câu quy chuẩn 73

Bảng 3.30: Số liệu năng suất và cường lực đội tàu nghề khác quy chuẩn 75

Bảng 3.31: Tổng sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa của từng nghề hoạt động tại VBNC theo đội tàu chuẩn 76

Bảng 3.32: Sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa của đội tàu thực tại VBNC 76

Bảng 3.33: So sánh giữa sản lượng và cường lực khai thác thực tế năm 2016 với mức bền vững tối đa của đội tàu tại VBNC 77

Bảng 3.34: Số liệu tổng hợp đánh giá mức độ bất hợp lý về sản phẩm khai thác 78

Bảng 3.35: Số tàu cá vi phạm khu vực cấm hoạt động khai thác 79

Bảng 3.36: Thống kê mật độ tàu hoạt động trong VBNC 80

Bảng 3.37: Sản lượng và cường lực khai thác hợp lý cho từng nghề và cả VBNC 87

Bảng 3.38: Tổng hợp số lượng tàu cần cắt giảm theo nghề 89

Bảng 3.39: Kết quả thực hiện chuyển đổi nghề từ năm 2009-2012 90

Bảng 3.40: Thông tin các khu công nghiệp tuyển dụng lao động phổ thông 93

Bảng 3.41: Số cuộc báo cáo tàu vi phạm qua đường dây nóng 18001746 100

Bảng 3.42: Tình hình tàu vi phạm đã chuyển đổi nghề 100

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ vùng khảo sát, nghiên cứu của luận án 3

Hình 2.1: Thước đo chiều dài sản phẩm khai thác 41

Hình 3.1: Lưới kéo có lắp răng bừa để cào ngao, sò, ốc 68

Hình 3.2: Dụng cụ vớt sứa của ngư dân địa phương 92

Hình 3.3: Kiểu dáng rạn nhân tạo được thả tại VBVB xã Diễn Hải, Diễn Châu 96

Hình 3.4: Sơ đồ vị trí vùng biển thực hiện ĐQL xã Diễn Hải, huyện Diễn Châu 99

Trang 14

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Biến động tàu thuyền hiện có theo địa phương và công suất 52

Biểu đồ 3.2: Biến động tàu thuyền hiện có theo dải công suất từ 2008-2016 53

Biểu đồ 3.3: Biến động số lượng tàu theo nhóm ngư cụ (nghề) khai thác 54

Biểu đồ 3.4: Biến động số lượng tàu cá KTTS tại VBNC theo huyện và công suất 55

Biểu đồ 3.5: Biến động số lượng tàu cá KTTS tại VBNC theo nhóm nghề (ngư cụ) 56

Biểu đồ 3.6: Mối tương quan giữa cường lực và năng suất khai thác của nghề lưới rê 71

Biểu đồ 3.7: Mối tương quan giữa sản lượng và cường lực khai thác của nghề lưới rê 71

Biều đồ 3.8: Mối tương quan giữa cường lực và năng suất khai thác của nghề lưới kéo 72

Biểu đồ 3.9: Mối tương quan giữa sản lượng và cường lực khai thác của nghề lưới kéo 73

Biểu đồ 3.10: Mối tương quan giữa năng suất và cường lực khai thác của nghề câu 74

Biểu đồ 3.11: Mối tương quan giữa sản lượng và cường lực khai thác của nghề câu 74

Biểu đồ 3.12: Mối tương quan giữa năng suất và cường lực khai thác của nghề khác 75

Biểu đồ 3.13: Mối tương quan giữa sản lượng và cường lực khai thác của nghề khác 75

Trang 15

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa

Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Ngành: Kỹ thuật khai thác thủy sản; Mã số: 62620304

Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Hoa Hồng

Người hướng dẫn: 1 TS Trần Đức Phú, 2 TS Nguyễn Văn Lục

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nha Trang

Nội dung:

- Luận án phân tích và đánh giá tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan mật thiết đến đề tài từ đó xác định được những ưu, nhược điểm của các nhà khoa học đi trước đã làm; tìm ra được cơ sở lý luận và nội dung KTHL nguồn lợi thủy sản

- Luận án tổng hợp số liệu điều tra thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản tại VBVB

từ thị xã Cửa Lò đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong các năm 2008 đến 2016 của bốn nhóm nghề chính là nghề lưới rê, lưới kéo, nghề câu và nghề khác

- Luận án phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động khai thác theo các nội dung khai thác hợp lý Cụ thể là:

+ Luận án sử dụng mô hình Schaefer xác định được giá trị sản lượng và cường lực khai thác BVTĐ cho từng nghề khai thác (MSY, fMSY) Trên cơ sở giá trị sản lượng và cường lực khai thác BVTĐ được xác định bằng mô hình Schaefer và kết quả điều tra thực trạng số liệu cường lực và sản lượng khai thác từng năm, từ 2008-2016, luận án

đã phân tích và lựa chọn cường lực và sản lượng KTHL cho VBNC

+ Luận án đánh giá thực trạng khai thác bất hợp lý về độ tuổi, kích thước các loài thuỷ sản; về thời gian hoạt động khai thác; về mật độ tàu thuyền HĐKT; về sử dụng chủng loại ngư cụ HĐKT; về cấu trúc ngư cụ hoạt động khai thác tại vùng biển ven bờ từ thị

xã Cửa Lò đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Luận án đã đề xuất các giải pháp có ý nghĩa khoa học về lý luận và thực tiễn để khai thác hợp lý NLTS vùng biển nghiên cứu, làm cơ sở nhân rộng ra các vùng biển ven bờ khác của nghề cá Việt Nam

Trang 16

KEY FINDINGS

Thesis title: “Appropriate exploitation of coastal fishery resources from Cua Lo town

to Dien Chau district, Nghe An province”

Major: Fishing Technology

Major code: 62620304

PhD Student: Nguyen Thi Hoa Hong

Supervisor: 1 Dr Tran Duc Phu

2 Dr Nguyen Van Luc

Institution: Institution of fishing technology and science in Nha Trang University Key Findings:

- The thesis analyzes and evaluates the overview of domestic and foreign studies that are closely related to the topic, thereby identify the advantages and disadvantages of the other scholars’ methods conducted before; find out the reason and content of fisheries management

- This thesis also synthesizes survey data of the four main fishing groups’s current exploitation activities, including gill net, trawler, and others in coastal area from Cua

Lo to Dien Chau during the period between 2008 to 2016

- This thesis analyzes and evaluates the fisheries exploitation status according to the appropriate exploitation contents as below:

+ The Schaefer model is utilized to determine maximum sustainable yeild and effort of maximum sustainable yeild for each of fishing groups (MSY, fMSY) Based on the MSY and fMSY which are determined by the scheafer model well as actual annual yields and effort data from 2008 to 2016, thesis analyzes and selects the sustainable efforts and yields for coastal area

+ The thesis discusses the current inappropriate exploitation method in term of age and size of aquatic species, exploitation time and schedule, the density of fishing vessels, types of fishing gears, the structure of fishing gears in the coastal areas from Cua Lo to Dien Chau district (Nghe An province)

- The author proposes scientific and theoretical solutions for sustainable exploitation

in the study area and is considered to be the model to expand and apply to other coastal areas in Viet Nam

Ph.D Student

Nguyen Thị Hoa Hong

Trang 17

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Nghệ An là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ, với bờ biển dài 82 km, có

27 xã, phường và 5 huyện, thị gắn với biển, có vùng biển ven bờ (VBVB) với diện tích 164.800 ha (theo NĐ 33/2010/NĐ-CP) Vùng biển ven bờ Nghệ An có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng và tương đối phong phú, thuận lợi cho nghề cá và đang có những đột phá trong các lĩnh vực phát triển công nghiệp cảng, thương mại và dịch vụ, … Vùng duyên hải của tỉnh đang hình thành, phát triển các khu du lịch, nghỉ mát, chế biến và xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và nhiều cơ sở

hạ tầng quan trọng Trong đó, việc điều chỉnh sự hoạt động khai thác thủy sản trong VBVB một cách hợp lý có vai trò quan trọng trong định hướng quy hoạch phát triển của tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 [72]

Vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu (gọi chung là vùng biển nghiên cứu - VBNC), tỉnh Nghệ An, đặc biệt vịnh Diễn Châu, là nơi có nhiều hệ sinh thái đặc trưng của biển nhiệt đới (như hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái thảm cỏ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cửa sông, …) [61] Đây không chỉ là nơi cư trú, sinh sản, ương dưỡng ấu trùng thủy sinh, mà còn được xem như “vùng đệm” hứng chịu các nguồn vật chất (trong đó, có các nguồn chất thải) từ đất liền và từ biển khơi; đồng thời chúng có chức năng bảo vệ bờ biển, giảm thiểu tác động của thiên tai từ biển (bão, nước biển dâng, sóng thần, …)

Vùng biển nghiên cứu cũng như nhiều vùng biển ven bờ của nước ta, đang và

sẽ phải đối diện với nhiều thách thức trong quá trình phát triển bền vững (PTBV):

- Năng suất khai thác thủy sản giảm tỷ lệ nghịch với cường lực khai thác, suy giảm đa dạng sinh học, danh sách loài thủy sản đưa vào sách đỏ ngày càng tăng;

- Xung đột/mẫu thuẫn và chồng lấn trong sử dụng không gian VBNC ngày càng tăng; ô nhiễm môi trường nước ven bờ, cộng thêm ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, … đang là thách thức lớn cho hoạt động khai thác thủy sản tại VBNC

Theo thống kê năm 2016, các địa phương ven bờ VBNC có 2038 tàu khai thác thuỷ sản, trong đó, số lượng tàu có công suất nhỏ hơn 20cv chiếm đến 53% Nhiều tàu

cá có công suất trên 20cv ở trong và ngoài địa phương nghiên cứu (ĐPNC) vẫn hoạt động sai tuyến (đánh bắt trong vùng bờ, thay vì chỉ được đánh bắt ở vùng lộng và vùng khơi); các nghề khai thác mang tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản (lưới kéo, chất nổ,

Trang 18

mìn, xung điện,…) cũng đang ngang nhiên hoạt động Nhiều công trình khoa học [2,

22, 29, 58] đã xác định rằng, nguồn lợi trong VBVB tỉnh Nghệ An nói chung trong đó

có vịnh Diễn Châu (thuộc VBNC) nói riêng đang có dấu hiệu cạn kiệt, nhiều loài thuỷ sản đang có nguy cơ biến mất

Lãnh đạo UBND tỉnh Nghệ An đã có nhiều chủ trương [66, 67, 68, 69, 72, 74] nhằm quy hoạch và quản lý hoạt động khai thác, đồng thời đề xuất các biện pháp [73, 75] hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề, nhằm giảm áp lực khai thác trong VBVB nói chung và VBNC nói riêng nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn Có thể nói rằng, cho đến nay, trong vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về khai thác hợp lý nguồn lợi thuỷ sản, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng mô hình tính toán để đưa ra các giá trị tham chiếu, phục vụ cho đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản, đề xuất giải pháp khai thác hợp lý nguồn lợi thuỷ sản trong vùng biển nghiên cứu

Trước mắt, cần có những thông tin, dữ liệu cập nhật, nhằm phân tích, đánh giá những tồn tại, bất cập của nghề cá tại VBVB của cả nước nói chung và ven bờ từ thị

xã Cửa Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nói riêng Với những lý do như đã trình bày

ở trên nghiên cứu sinh thấy rằng việc lựa chọn đề tài luận án "Khai thác hợp lý nguồn

lợi thuỷ sản vùng biển ven bờ từ thị xã Cửa Lò đến Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" là

- Tính toán xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa cho từng nghề và cả VBNC từ đó xác định sản lượng và cường lực khai thác hợp lý

- Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thuỷ sản trong VBNC

Trang 19

3 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động khai thác thủy sản tại VBVB từ thị xã Cửa Lò đến huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

4 Nội dung nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài của luận án tập trung giải quyết các vấn đề chính như sau:

- Điều tra thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản trong VBVB tỉnh Nghệ An, tập trung vào VBVB từ thị xã Cửa Lò đến huyện Diễn Châu (VBNC) – Đây là nơi có các ngư trường truyền thống, trọng điểm và tồn tại nhiều xung đột, chồng lấn (XĐCL) trong hoạt động khai thác thủy sản

- Xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa của VBNC (Chuẩn hoá cường lực khai thác; xác định sản lượng và cường lực BVTĐ theo đội tàu chuẩn;

Chuyển đổi sản lượng và cường lực BVTĐ của đội tàu thực theo đội tàu chuẩn)

- Phân tích, đánh giá thực trạng bất hợp lý trong hoạt động khai thác thuỷ sản tại VBNC về sản lượng và cường lực khai thác; về kích thước các loài thuỷ sản; về vùng cấm và mùa cấm; về mật độ tàu thuyền; về sử dụng chủng loại ngư cụ

- Xác định số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề khai thác hợp lý tại VBNC

(nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới kéo tôm, nghề khác, tổng sản lượng và cường KTHL

chung cho VBNC)

- Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thuỷ sản trong VBNC

5 Phạm vi khảo sát và nghiên cứu

Hình 1.1: Sơ đồ vùng khảo sát, nghiên cứu của luận án

Trang 20

5.1 Phạm vi không gian khảo sát và nghiên cứu của đề tài luận án

Tập trung nghiên cứu tại 15 xã/phường thuộc 3 huyện thị ven biển (huyện Diễn Châu, huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò), với 3 cửa biển lớn (Lạch Vạn, Cửa Lò và Cửa Hội - nơi neo đậu, tránh trú bão của tàu cá)

Diện tích vùng biển nghiên cứu là 104.160 ha (thuộc VBVB của tỉnh Nghệ An – theo NĐ 33/2010/NĐ-CP, ngày 31/3/2010 - xem Hình 1.1)

5.2 Phạm vi thời gian khảo sát, thu thập dữ liệu và nghiên cứu của đề tài luận án

- Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

- Tổ chức hoạt động khai thác theo nội dung khai thác hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trong VBNC

Trang 21

Vị trí địa lý này tạo cho Nghệ An có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển

kinh tế - xã hội; đặc biệt là kinh tế biển và kinh tế đối ngoại

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Địa hình: Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn có địa hình đa dạng và

phức tạp vì bị chia cắt bởi các hệ thống sông suối và đồi núi Nghệ An là tỉnh có nhiều đồi núi với diện tích vùng đồi núi, trung du chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh Vùng cao nhất là huyện Kỳ Sơn (có đỉnh Pulaileng cao 2711m) và thấp nhất là vùng đồng bằng thuộc các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành (có nơi chỉ cao đến 0,2m so với mặt nước biển) Đặc điểm này tạo cho địa hình tỉnh Nghệ An có độ nghiêng theo hướng từ Tây - Bắc đến Đông - Nam

- Sông ngòi: Với diện tích rộng lớn và địa hình chủ yếu đồi núi nên Nghệ An

có hệ thống sông suối với tổng chiều dài là 9.828 km Các sông lớn thuộc Nghệ An là sông Cả (sông Lam), sông Hiếu, sông Chu, sông Nậm Khuê, sông Mỏ Đá, sông Thị Long … Trong đó sông Lam là con sông lớn nhất bắt nguồn từ cao nguyên Xiêng khủang (Lào), chảy qua Nghệ An rồi đổ ra biển tại cửa Hội [78]

1.1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội

Nghệ An có 21 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có thành phố Vinh (thành phố loại I), ba thị xã (thị xã Cửa Lò; thị xã Hoàng Mai; thị xã Thái Hòa) và 17 huyện Có 3 huyện (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc) và 2 thị xã (Cửa Lò, Hoàng Mai) là những địa phương tiếp giáp với biển [14, 19]

Dân số toàn tỉnh năm 2011 là 2.942.900 người, mật độ dân số trung bình là 178 người/km2 và chiếm 3,4% dân số của cả nước

Năm 2015 đã tạo việc làm mới cho 38.000 người; tuyển sinh đào tạo nghề cho 79.000 lượt người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%, lao động qua đào tạo nghề đạt

Trang 22

48%, hoàn thành kế hoạch đề ra Triển khai tốt các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo; có nhiều mô hình sản xuất phát huy tốt góp phần giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 ước còn khoảng 7,5% [71]

1.1.2 Tổng quan nghề cá tỉnh nghệ An

1.1.2.1 Biến động tàu thuyền khai thác hải sản tỉnh Nghệ An theo công suất

Bảng 1.1: Tổng hợp tàu thuyền theo nhóm công suất từ 2006-2016

Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất (cv)

Nguồn: Cục KT-BVNL, Chi cục KT-BVNL thủy sản Nghệ An [10, 23]

Từ bảng 1.1 cho thấy, tổng số lượng tàu cá Nghệ An trong 11 năm qua 2016) xoay quanh con số xấp xỉ 4.000 tàu Đặc biệt, trong năm 2008-2009 do tác động của Quyết định số 289/QĐ-TTg [54] về hỗ trợ dầu cho ngư dân đã làm cho số lượng tàu tăng đột biến lên 4.544 chiếc (2008) và 4.462 chiếc (2009)

(2006-Các nghề khai thác hải sản chủ yếu của Nghệ An vẫn là nghề lưới rê, lưới kéo, câu, vây trong đó nghề lưới kéo đang có xu hướng giảm còn nghề lưới vây theo chiều hướng tăng nhẹ (bảng 1.2)

Bảng 1.2: Tổng hợp tàu thuyền theo nghề từ 2011-2016

Trang 23

1.1.2.2 Tình hình biến động cường lực, lao động và sản lượng khai thác hải sản

Bảng 1.3: Tổng hợp số lượng tàu thuyền, công suất, sản lượng

và lao động KTTS tỉnh Nghệ An từ 2006-2016

(chiếc)

Tổng công suất (cv)

Lao động (người)

Tổng sản lượng (tấn)

Nguồn: Cục KT-BVNL, Chi cục KT-BVNL thủy sản Nghệ An [12, 23, 24]

Tổng công suất năm 2016 tăng hơn 340% so với năm 2006, trong khi đó số lượng tàu thay đổi không đáng kể Điều này được hiểu là nghề cá Nghệ An đang chủ trương giảm tàu thuyền công suất nhỏ, tăng số lượng tàu công suất lớn nhờ Nghị định

67 [17] Mặt khác, tổng số lao động năm 2016 tăng 1,6 lần so với năm 2006 là do cỡ tàu thuyền ngày càng lớn đòi hỏi số thuyền viên trên mỗi tàu tăng Nhờ có chủ trương đóng tàu lớn khai thác xa bờ nên sản lượng khai thác hải sản toàn tỉnh, năm 2016 tăng 3,08 lần so với năm 2006 (Bảng 1.3)

1.1.2.3 Cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá tỉnh Nghệ An

- Cảng cá: Nghệ An có một hệ thống các cảng cá, bến cá như là cảng cá Quỳnh

Phương (Cửa Cờn - thị xã Hoàng mai), cảng cá Lạch Quèn (xã Tiến Thuỷ, xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu), cảng cá Lạch Vạn (xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu), bến

cá Nghi Thuỷ (Cửa Lò), cảng cá Cửa Hội (Nghi Hải, thị xã Cửa Lò)….Trong đó, cảng

cá Cửa Hội và cảng cá lạch Quèn được quy hoạch loại I; cảng cá lạch Vạn và cảng cá Quỳnh Phương được quy hoạch loại II [8, 53]

Trang 24

- Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá: Tính đến năm 2014, tỉnh Nghệ An

có 5 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá là khu neo đậu Cửa Hội (Hưng Nguyên), khu neo đậu Lạch Cờn (phường Quỳnh Phương và Quỳnh Dị, thị xã Hoàng Mai), khu neo đậu Lạch Quèn (xã Tiến Thủy và Quỳnh Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu), khu neo đậu Lạch

Lò (Nghi Quang, Nghi Lộc), khu neo đậu Lạch Vạn (Diễn Bích, Diễn Châu) Tổng sức chứa là 1.900 tàu cỡ tàu có công suất từ 150-600 CV [8, 53]

- Cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu thuyền nghề cá: Tính đến ngày 21/01/2015

toàn tỉnh có 20 cơ sở (HTX, Doanh nghiệp) sửa chữa, đóng mới tàu cá đủ điều kiện theo Thông tư số 26/2014/TT/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong đó có 09 cơ sở đủ điều kiện đóng mới, nâng cấp, cải hoán tàu có công suất

từ 400CV trở lên; 11 cơ sở đủ điều kiện đóng mới, nâng cấp, cải hoán tàu có công suất

VBVB tỉnh Nghệ An là vùng biển được quy định tại Quyết định số UBND ngày 30 tháng 12 năm 2011 về việc Công bố ranh giới vùng quản lý khai thác thủy sản ven bờ tỉnh Nghệ An Phạm vi VBVB tỉnh Nghệ An được quy định bởi các Nghị định của Chính phủ [16, 18] và các Quyết định của UBND tỉnh Nghệ An [67, 68, 69]

5893/QĐ-Theo Quyết định số 5893/QĐ-UBND, VBVB tỉnh Nghệ An được phân định ranh giới quản lý cho 27 xã, phường thuộc 5 huyện thị ven biển (xem Hình 1.1)

1.1.3.2 Đặc điểm khí tượng, thủy văn

Khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu chuyển tiếp, vừa

mang đặc tính khí hậu lạnh của miền Bắc và vừa mang đặc tính nóng của miền Nam, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa

Nhiệt độ: Mùa nóng từ tháng 5 - 9, nhiệt độ trung bình từ 23 – 240C, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,70 C; Mùa lạnh từ tháng 10 - 4 năm sau, nhiệt độ bình quân 19,90C, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,50 C Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ, năng lượng bức xạ mặt trời đạt 12,5 tỷ kcal/ha năm [60]

Trang 25

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình dao động từ 1.200 - 2.000 mm/ năm, phân

bố cao dần từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông và chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 - 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2 với lượng mưa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng; mùa mưa từ tháng 5 -

10, lượng mưatập trung chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 với lượng mưa từ 220 - 540 mm/tháng, số ngày mưa từ 15 - 19 ngày/tháng

và thường kèm theo gió bão [60]

Chế độ gió: Nghệ An chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu: Gió mùa Đông

Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 - 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm nhiệt độ giảm xuống 5 - 100C so với ngày thường Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trưng cho mùa Hạ của vùng Bắc Trung Bộ, xuất hiện vào tháng 7, 8 bình quân mỗi năm có 20 - 30 ngày, nơi ít nhất là Quỳnh Lưu (10 - 15 ngày) Gió Tây Nam gây ra khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân [60]

Các hiện tượng thời tiết khác: Nghệ An là một tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, trung bình mỗi năm 2 - 3 cơn bão, sức gió mạnh nhất có lúc giật trên cấp 12, tập trung từ tháng 8 - 10 Bão về kèm theo mưa lớn, gây lũ lụt nhiều nơi gây nhiều thiệt hại về người và tài sản Đặc biệt vùng hạ lưu các sông của Nghệ

An, chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, áp thấp nhiệt đới, bão trong mùa mưa lũ [60]

Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi phát triển Khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt bão và gió Tây Nam gây trở ngại không nhỏ cho sản xuất, nhất là cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS) và khai thác thủy sản (KTTS)

Nghệ An có khoảng 14.655ha mặt nước sông, hồ (chiếm khoảng 0,9% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh), có 07 con sông trực tiếp đổ ra biển Đông với chiều dài trung bình 60 - 70 km Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh khoảng 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Từ Bắc vào Nam gồm có các sông: Hoàng Mai - cửa Cờn (TX.Hoàng Mai); Mai Giang (sông Hầu) - cửa Quèn, Thái - cửa Thơi (huyện Quỳnh Lưu); Lạch Vạn, Bùng - cửa Vạn (huyện Diễn Châu); Cấm (sông Cửa Lò) - cửa Lò (huyện Nghi Lộc); Lam (sông Cả) - cửa Hội (TX.Cửa Lò) Sông lớn nhất là sông Lam (sông Cả) có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 17.730 km2), tổng lượng nước hàng năm

Trang 26

khoảng 28.109 m3 Nhìn chung, nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất

và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân [16, 18, 19, 20]

Khu vực hạ lưu các sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều và bão Trong mùa

lũ, mực nước biến đổi phụ thuộc chủ yếu vào chế độ lũ ở thượng lưu, trung lưu các sông và thường dâng cao gây lũ lụt

1.1.3.3 Đặc điểm địa hình đường bờ và đáy biển

Bờ biển Nghệ An trải dài hơn 82 km từ xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu cho đến Cửa Hội Bờ biển này chạy qua 27 xã phường thuộc huyện Quỳnh Lưu (12 xã); Diễn Châu (6 xã); Nghi Lộc (3 xã); Cửa Lò (6 phường)

Đường bờ biển bị chia cắt bởi 7 cửa lạch: lạch Cờn (TX Hoàng Mai), lạch Quèn, lạch Thơi (huyện Quỳnh Lưu); lạch Vạn (huyện Diễn Châu); Cửa Hiền (h Nghi Lộc), Cửa Lò, Cửa Hội (TX Cửa Lò – h Nghi Lộc)

Địa hình bờ biển Nghệ An được chia làm 2 phần rõ rệt: Phần ven biển huyện Quỳnh Lưu và huyện Diễn Châu thấp, bằng phẳng, bị chia cắt bởi những lạch nhỏ Một phần thấp thường bị ngập mặn khi có bão kết hợp với triều cường Phần ven biển huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò có địa hình cao hơn, gồm những cồn cát chạy song song theo bờ biển

Địa hình đáy biển Nghệ An chia làm 2 phần rõ rệt: Từ độ sâu 40m trở vào địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng; từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Đảo Mắt, đảo Ngư ở vùng ven biển Nghệ An có hệ sinh thái đặc trưng và vị trí chiến lược

về an ninh quốc phòng của tỉnh

1.1.3.4 Đặc điểm về đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản

(i) Nguồn lợi thuỷ sinh có giá trị sinh thái thực vật phù du (TVPD)

Xác định được 206 loài, trong đó có 54 loài nước ngọt – lợ (chiếm 30%) và 152

lợ - mặn (70%) Thành phần loài tại các vị trí khảo sát: Dao động 24 - 86%; TB: 64% tổng số loài Mật độ (1.000x tb/l): Dao động 500 – 9.800 tế bào/ lít; TB: 4.700 tế bào/ lít Vùng có tính đa dạng cao (>80% tổng số loài) và mật độ lớn (> 8.000 tb/l) là vùng nước ven bờ vịnh Diễn Châu, ven bờ cửa Hội [61]

Động vật phù du (ĐVPD) và trứng cá (TC)

Xác định được 84 loài, gồm có Chân khớp 83%, Protozoa 7%, Phoronidae 5%, Chaetognatha 2%, Thân mềm 2% Thành phần loài tại các vị trí khảo sát: Dao động 19

- 73%; TB: 52% tổng số loài Sinh khối (mg/ m3): Dao động 11 - 48; TB: 26 Vùng

có tính đa dạng cao (>60% tổng số loài) và sinh khối lớn (> 28 mg/ m3) là vùng nước ven bờ - ven bờ vịnh Diễn Châu, ven bờ cửa Hội, [61]

Trang 27

Mật độ trứng cá dao động 31 – 266 TC/100m3 , TB: 134 TC/100m3 Giá trị này cao hơn vùng biển ven bờ miền Trung (TB: 92 TC/100m3) [ 61]

Trong thành phần loài trứng cá thu được ở vùng khảo sát, thành phần ưu thế là

cá Cơm (Stolephorus), Mối (Synodontidae), Khế (Carangidae), Chình (Anguillidae), Bơn Cát (Cynoglossidae), Trích (Clupeidae), Chuồn (Exocoetidae), Đèn Lồng (Myctophidae), Hố (Trichiuridae), Bống Trắng (Gobiidae), Sơn Biển (Ambassidae), Căng (Terapontidae), Lượng (Nemipteridae), Trong số này, phần lớn là trứng cá của

các loại cá có giá trị kinh tế thực phẩm ở địa phương [61]

Nói chung, vùng nước ven bờ – cửa sông có độ sâu 15m nước trở vào bờ, đặc biệt là vùng vịnh Diễn Châu và cửa Hội, được xem là các bãi tập trung nguồn ấu trùng giống có giá trị kinh tế

Động vật đáy (ĐVĐ)

Xác định 152 loài động vật đáy (benthos), gồm Thân mềm 57%, Giun nhiều tơ 25%, Thành phần loài tại các vị trí khảo sát: Dao động 15 - 87%; TB: 55% tổng số loài Sinh khối (g/m2 ): Dao động 5 - 38; TB: 18 Vùng có tính đa dạng cao (>65% tổng số loài) và sinh khối lớn (> 32 g/ m2 ) là vùng nước ven bờ - ven bờ vịnh Diễn Châu, ven bờ cửa Hội, [61]

(ii) Nguồn lợi thủy sản

Nguồn lợi cá: có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị

kinh tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau: Nhóm gần bờ có 121 loài, chiếm 45,3% (trong đó cá nổi có 20 loài bằng 7,5%, cá đáy và gần đáy 101 loài, tương ứng 37,8%) Nhóm xa bờ 146 loài, chiếm 54,7% (trong đó cá nổi 39 loài đạt 14,6%, cá đáy và gần đáy 107 loài chiếm 40,1%) Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấn, chiếm gần 62,0%, cho phép khai thác từ 30.000-35.000 tấn, có nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao như: cá chim; cá thu; cá hồng, nục, [2, 59, 61]

Nguồn lợi tôm: Có 20 loài tôm thuộc 8 giống và 6 họ trong đó có tôm he, tôm

rảo, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú và tôm hùm Trữ lượng 610 - 680 tấn, phân bố tại các bãi tôm chính như: Bãi tôm từ cửa Lạch Bạng đến Lạch Quèn (huyện Quỳnh Lưu) đạt 250 - 300 tấn Bãi tôm Diễn Châu: 360-380 tấn, trong đó tôm he từ 100-150 tấn Tôm hùm là loại tôm có giá trị xuất khẩu cao, có trữ lượng từ 20-25 tấn, tập trung tại các vùng rạn đá ven đảo và vùng có đá ngầm trong vùng biển [2, 59, 61]

Trang 28

Nguồn lợi moi/ ruốc biển (Acetes): Mùa vụ khai thác tập trung vào tháng 5,

tháng 6 Vào mùa này, moi áp lộng vào gần bờ (độ sâu 4-6m), khả năng khai thác từ 1.500 –2.000 tấn/năm

Nguồn lợi mực: Mực phân bố khắp vùng biển và khá đa dạng về thành phần

loài, nhưng qua thực tế khai thác chỉ có một số nhóm loài đạt sản lượng cao (mực cơm, mực ống và mực nang) Khả năng khai thác mực ở vùng biển Nghệ An khoảng 1.200-1.500 tấn/năm [2, 61]

Ngoài ra biển Nghệ An còn có các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao như Ốc Hương, Ngao, Điệp, Sò lông…

Đánh giá chung: Nghệ An nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ, nơi có nghề cá

phát triển lâu đời với nhiều ngư trường trọng điểm như Bạch Long Vỹ, Cô Tô, Hòn

Mê, Hòn Mắt, Tổng trữ lượng hải sản khu vực Vịnh Bắc Bộ (phần biển Việt Nam)

khoảng 543.269 tấn, khả năng khai thác khoảng 256.308 tấn [2, 61]

1.1.4 Giới thiệu phạm vi vùng biển nghiên cứu

Vùng biển nghiên cứu (VBNC) là một phần của vùng biển ven bờ (VBVB) tỉnh Nghệ An VBNC là VBVB thuộc các xã có tên và diện tích như trong Bảng 1.4 được phân chia theo Quyết định của UBND tỉnh Nghệ An 02/2015/QĐ-UBND [70] và Nghị định số 33/2010/NĐ-CP [69] Theo đó, phạm vi VBNC được giới hạn bởi đường bờ biển và tuyến bờ; ranh giới biển Nghệ An-Hà Tĩnh và ranh giới trên biển xã Quỳnh Thọ và Diễn Châu Tổng diện tích của VBNC là 104.160 ha (1041,6 km2)

Bảng 1.4: Phân chia diện tích vùng nước ven bờ cho các xã ven biển Nghệ An Tên xã D.tích (km 2 ) Tên xã D.tích (km 2 ) Tên xã D.tích (km 2 )

Nguồn: Quyết định của UBND tỉnh Nghệ An [69, 70]

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Công trình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Công trình về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

(i) Trong công trình nghiên cứu“Ước tính sản lượng bền vững tối đa (MSY) đối với tôm Lân (Sergia lucens) ở vùng nước xa bờ Tây Nam Đài Loan“ [81] được Chin -

Trang 29

Cheng Wu và các cộng sự công bố năm 2010 Các tác giả đã ứng dụng mô hình “Sản xuất thặng dư - Surplus Production Models” (một biến thể có cải tiến từ mô hình Schaefer (1954)), để xác định một số thông số cơ bản cho nghề khai thác tôm Lân -

FMSY 11.292 ngày tàu; MSY 1.008 tấn, tổng sản lượng cho phép đánh bắt (TAC) 907 tấn (được ước lượng là 90% của MSY) Kết quả tính toán của các tác giả không sai khác nhiều với các tính toán của các tác giả khác theo các mô hình Penlla-Tomlinson, Fox, Leslie, [81]

Nhận xét: Các tác giả sử dụng chuỗi số liệu trong thời gian khá dài (từ 1997 -

2008), đơn vị cường lực là ngày tàu phù hợp với điều kiện cơ bản của mô hình Schaefer (1954) Tổng sản lượng cho phép khai thác (TAC) được ước lượng là 90% của sản lượng bền vững tối đa (MSY) là một phương pháp cần quan tâm Điều này có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng là mặc dù đã xác định được MSY nhưng để đảm bảo an toàn cho nguồn lợi thì không được phép khai thác tổng sản lượng đúng bằng giá trị sản lượng bền vững tối đa như đã tính toán Với phương pháp như trên, kết quả nghiên cứu của công trình là đáng tin cây

(ii) Công trình nghiên cứu “Sử dụng mô hình sản xuất thặng dư đa loài để ước lượng sản lượng bền vững tối đa mức độ hệ sinh thái“ [89], được Franz J & Bernard

(2006) thực hiện cho nghề cá đáy thương mại ở biển phía Đông Bering và Vịnh Alaska Trong công trình này tác giả đã sử dụng hai mô hình sản xuất thặng dư - mô

hình “Graham-Schaefer“ và mô hình “Pella-Tomlinson“ để quan sát mối quan hệ, ước

lượng sản lượng bền vững tối đa cho nghề cá đáy đa loài Dữ liệu đầu vào là chuỗi sinh khối và sản lượng đánh bắt hàng năm của 17 loài/ nhóm loài cá đáy trong giai đoạn 1977-2004 Kết quả nghiên cứu đã đưa ra giá trị MSY nghề cá đáy đa loài xấp xỉ 2,5 triệu tấn ở biển Bering và 330 ngàn tấn ở vịnh Alaska

Nhận xét: Các tác giả đã sử dụng mô hình tính toán dựa trên các tham số sinh

học (cả sinh học – cấu trúc nhóm tuổi, sinh khối, sản lượng đánh bắt và môi trường – biến đổi nhiệt độ nước và độ mặn, .) để tính toán ra giá trị cường lực và sản lượng khai thác hợp lý Số liệu tính toán được sử dụng trong chuỗi thời gian khá dài, nên độ tin cậy cao

(iii) Memon và cộng sự (2015) đã tiến hành “Ước tính sản lượng bền vững tối

đa của nghề cá Chẽm (Lates calcarifer) từ vùng biển phía bắc Ả rập“ [94] Trong công trình, nhóm tác giả đã sử dụng hai gói phần mềm “phân tích dự liệu cường lực –

Trang 30

sản lượng“ (CEDA) và mô hình “sản xuất thặng dư kết hợp đồng biến“ (ASPIC)

Nhóm tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu của 14 năm (từ 1995-2009) và ba mô hình Fox, Schaefer và Pell – Tomlinson với ba giả định lỗi khác nhau Kết quả cho thấy giá trị MSY như ở Bảng 1.5

Bảng 1.5: Kết quả tính toán MSY theo các mô hình khác nhau

1.2.1.2 Giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

Để đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản trước hết là phải có giải pháp cắt giảm và quản lý cường lực

Năm 2008 hai nhà khoa học Huiguo Yu và Yunjun Yu đã công bố công trình

nghiên cứu“Quản lý cường lực khai thác ở Trung Quốc: Xét về khía cạnh lý thuyết và thực tế” [91] Bằng các phương pháp tính toán dựa trên số liệu cường lực, sản lượng

và khả năng cho phép khai thác của các vùng biển trên toàn quốc, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: cường lực khai thác hợp lý vào năm 2010 là 192.390 tàu thuyền và tương ứng với tổng công suất là 11.426.968 kW Để đạt được cường lực khai thác hợp lý như trên thì giải pháp đặt ra là phải cắt giảm 30.000 tàu so với năm 2002 và tương ứng với công suất bị cắt giảm là 1.269.663 kW Lộ trình thực hiện cắt giảm cường lực từ năm 2002 đến 2010 là 3.750 tàu mỗi năm và tương ứng với tổng công suất là 158.708 kW/năm

Công trình nghiên cứu đã dựa trên phương pháp tính toán khoa học để xác định được cường lực khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản cho toàn vùng biển của Trung Quốc năm 2010 là 192.390 tàu thuyền và lộ trình thực hiện việc cắt giảm số lượng tàu

đó Tuy nhiên, việc tính toán và kế hoạch cắt giảm số lượng tàu chỉ dừng lại trên văn bản bởi nhiều lý do khác nhau Một mặt do có nhiều tàu nhỏ tập trung khai thác ven

bờ, trình độ dân trí của ngư dân thấp, kết hợp với tình trạng đói nghèo làm họ không

Trang 31

thoát khỏi tập quán cũ Mặt khác việc thực thi pháp luật của cơ quan lý không nghiêm

đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt hơn

Một trong những giải pháp nhằm bù đắp lại phần nguồn lợi đã bị khai thác là phục hồi nơi cư trú, sinh sản của các loài thủy sản Với mục đích là tạo điều kiện tốt cho các loài hải sản sinh sản và phát triển Cần phải kể đến là công trình nghiên cứu

“Những ảnh hưởng rạn san hô tự nhiên và rạn nhân tạo đến môi trường sống quần thể các loài thủy sản” của tác giả Hunter và cộng sự [92] Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:

- Các rạn san hô, bãi cỏ biển là nơi cư trú, sinh sản của các loài hải sản đã và đang bị các ngư cụ hoạt động khai thác phá hủy, làm thu hẹp về cả diện tích và chất lượng Cần thiết phải có sự bù đắp nơi cư trú để các loài thủy sản hoàn thành được nhiệm vụ phục hồi, tái tạo nguồn lợi cho vùng biển

- Chà - rạn nhân tạo (ở Nhật Bản) được sử dụng nhằm phát triển nguồn lợi các loài thủy sản nhỏ hoặc chưa trưởng thành thông qua việc cải thiện môi trường sống của các loài thủy sản

- Mặt khác chà rạn nhân tạo cũng là chướng ngại vật làm hạn chế các nghề đánh bắt mang tính hủy diệt cao (nghề lưới kéo, nghề te, ) tại vùng biển ven bờ

Vì vậy, ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, Chính phủ Nhật Bản đã chi nhiều tiền cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chà - rạn nhân tạo phục vụ phát triển nghề cá của đất nước mình Đặc biệt, trong các năm từ 1976 – 2000, Nhật Bản đầu tư gần 12.000 tỷ Yên cho chương trình này Nhờ vậy, chương trình chà rạn của Nhật Bản trong giai đoạn này đã xây dựng được 6.443 đơn vị rạn nhân tạo với tổng thể tích lên tới

53 triệu m3 bao phủ 12,3% tổng diện tích đáy biển vùng nước ven bờ của nước Nhật

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chà rạn nhân tạo không những là nơi sinh sản, sinh trưởng cho các loài hải sản tại vùng biển ven bờ mà còn có tác dụng thu hút các loài cá từ ngoài khơi vào bờ Cụ thể là sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng lên đáng kể: khi chưa thả rạn, sản lượng khai thác tôm thẻ chân trắng khoảng 150kg/ha; sau khi thả rạn, thì sản lượng khai thác là 200 kg/ha

Năm 2007, Francisco Leitao và cộng sự [95] đã công bố công trình nghiên cứu

“Sự đóng góp của hệ thống rạn san hô tới chế độ dinh dưỡng của cá Tráp trắng” (white sea bream- Diplodus sargus)

Về phương pháp, nhóm tác giả đã tiến hành lặn, khảo sát hệ thống rạn Faro ở phía nam Bồ Đào Nha với độ sâu từ 16 đến 37 m.Vùng biển thả rạn có diện tích khoảng 12,2 km2 trong đó thả 174 bộ rạn nhân tạo

Trang 32

Về kết quả nghiên cứu nhóm tác giả chỉ ra rằng:

- Rạn nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thức ăn cho các loài thủy sản ở vùng biển Algarve (Bồ Đào Nha), đặc biệt là loài cá Tráp Trắng

- Quần thể sinh vật đáy biển ở khu vực rạn nhân tạo có vai trò quan trọng làm gia tăng sinh khối của quần thể cá rạn san hô này

- Kết quả này cũng khẳng định lại một lần nữa kết quả nghiên cứu do Pears RJ, W.D.M công bố trước đó [98]

Để thấy rõ vai trò quan trọng của rạn nhân tạo trong tái tạo và bổ sung nguồn lợi đảm bảo khai thác hợp lý, năm 2011, nhóm tác giả Abmad Ali và cộng sự đã công

bố công trình nghiên cứu “Nâng cao quản lý nguồn lợi thủy sản thông qua nỗ lực tăng cường trong khôi phục và bảo tồn môi trường sống các loài thủy sản – bằng phương pháp thả rạn nhân tạo” [79] Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng rạn nhân tạo có tầm

quan trọng trong sự bù đắp, khôi phục nơi trú ẩn cho các loài thủy sản tạo điều kiện sinh sản và phát triển bổ sung nguồn lợi, đặc biệt là nguồn lợi ven bờ Thấy rõ tầm quan trọng này nhiều quốc gia Đông Nam Á đã áp dụng kết quả nghiên cứu này

Kết quả nghiên cứu cho thấy: ban đầu, các nước này cũng tận dụng nguyên vật liệu có sẵn, rẻ tiền hay xác ô tô, tàu thủy, toa tàu lửa để thả xuống biển làm nơi trú

ẩn cho các loài thủy sản và giá thể cho san hô Song qua nhiều năm tiến hành và đánh giá hiệu quả, các loại rạn được làm kiểu tận dụng như thế không mang lại hiệu quả cao Từ năm 1995, các quốc gia trong khu vực đã sử dụng rạn bêtông, theo kinh nghiệm xây dựng và thả rạn nhân tạo của Nhật Bản, thiết kế dạng hình chuông có đục

lỗ tạo thuận tiện cho nhiều loài động thực vật thủy sinh làm nơi cư trú, sinh sản

Năm 1978, Thái Lan đã triển khai chương trình quốc gia về rạn nhân tạo trong vùng biển ven bờ Các rạn này được thả ở vùng vịnh Thái Lan, nơi có độ sâu từ 4 -18 mét nước Trong thời gian đầu người Thái sử dụng nhiều loại vật liệu rẻ tiền như bàn

tủ gỗ, thùng dầu lớn, toa tàu hỏa, xe cũ Từ 1979 đến 1985, người Thái tập trung nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm trong việc tìm kiếm vật liệu và kết cấu phù hợp cho rạn Mục đích của chương trình xây dựng rạn nhân tạo là:

- Bổ sung, tái tạo nơi trú ẩn, sinh sản và phát triển cho nhiều loài thủy hải sản

- Nhằm hạn chế, ngăn cản các hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, đặc biệt là trước sự phát triển nhanh của tàu thuyền nghề lưới kéo ven bờ và các loại hình ngư cụ mang tính xâm hại nguồn lợi

Trang 33

Kết quả ban đầu cho thấy, sau khi thả rạn nhân tạo một thời gian đã thu hút được

50 loài hải sản mới tới sinh sống trong các khu vực rạn Chính phủ Thái Lan bắt đầu tập trung đầu tư cho chương trình thả rạn nhân tạo với quy mô lớn từ năm 1985 Trong giai đoạn 1985 - 2010 Chính phủ Thái Lan đã đầu tư 673 triệu Bạt để xây dựng 334 khu rạn nhỏ với diện tích bao phủ 478 km2 và 568 triệu Bạt để thiết lập khu rạn với diện tích lên tới 1,435 km2 [79]

Ở Malaysia, khu rạn nhân tạo đầu tiên được xây dựng ở Sabah vào năm 1963 nhằm tăng năng suất sinh học, tập trung nguồn lợi thủy sản để phục vụ câu cá giải trí Việc khai thác thủy sản bằng lưới kéo và lưới vây bị hạn chế hoạt động ở khu vực này Sau đó, nhiều khu bảo tồn và khu hệ rạn nhân tạo được thiết lập với tổng diện tích rạn

mà quốc gia này xây dựng đến nay ước tính khoảng 30 km2 được chia thành 8 vùng rạn, độ sâu lắp đặt từ 5-30 mét Với chương trình xây dựng rạn nhân tạo này đã giúp cho khoảng 300 hộ ngư dân xung quanh khai thác có hiệu quả cao và bên cạnh đó lĩnh vực dịch vụ du lịch giải trí cũng đạt được nhiều kết quả Chính vì thế, họ đang tiếp tục thực hiện nhiều dự án tương tự để phục vụ phát triển kinh tế thủy sản và du lịch, giảm chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và vùng sâu, vùng xa

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, chẳng hạn như: chương trình mua lại tàu, quy định kiểm soát đơn, kiểm soát kép, chính sách tăng trưởng không, tăng trưởng âm, quy định về thời gian khai thác, phân vùng khai thác, mô hình rạn nhân tạo, hay quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng…đã góp phần quan trọng vào việc giảm cường lực khai thác hướng đến cường lực khai thác sản lượng bền vững tối đa, đồng thời giúp bù đắp nguồn lợi vốn đang cạn kiệt

Một hướng nghiên cứu khác về giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý là làm thế nào để quản lý được cường lực khai thác phù hợp với cơ sở tiềm năng nguồn lợi của

vùng biển GS Svien Jentoft công bố công trình nghiên cứu “Đồng quản lý nghề cá như là sự trao quyền” [93] Khái niệm “trao quyền” được ứng dụng nhiều trong các

lĩnh vực giáo dục, hoạt động xã hội, sức khỏe công cộng, tâm lý nhưng ít được nhắc đến và ứng dụng trong đồng quản lý nghề cá

Kết quả nghiên cứu, chỉ ra rằng, thông thường mô hình đồng quản lý hiện nay chỉ quan tâm đến thành phần tổ chức và mang màu sắc chính trị hơn là thành phần tâm

lý, vì thế đã đánh giá thấp một điều kiện quan trọng cho đồng quản lý để trở lên bền

Trang 34

vững Để thực hiện trao quyền cho quản lý hiệu quả, chúng ta cần xác định những vấn

đề hạn chế của thể chế chính sách và tổ chức

Kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, trong những trở ngại dẫn đến thành công của đồng quản lý thì quyền sở hữu tài nguyên trong nghề cá là quan trọng nhất Không có quyền sở hữu sẽ rất khó làm thay đổi thực sự thái độ của người sử dụng và hành vi đối với hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản

1.2.2 Công trình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Nghiên cứu về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

(i) Trong các năm 2008 đến 2013, tác giả Trần Văn Vinh đã thực hiện đề tài

“Xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” Công trình nghiên cứu [75] đã đề cập đến những nội dung cơ bản sau đây:

- Điều tra về điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thủy sản ở khu vực đầm Thị Nại

- Nghiên cứu thực trạng về cơ cấu nghề khai thác và các loại ngư cụ khai thác hoạt động trong đầm Thị Nại

- Đánh giá hiện trạng hoạt động khai thác thủy sản, xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tại đầm Thị Nại

Đây là đề tài về xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, nhưng trước hết phải xác định được sản lượng khai thác và quy mô ngư cụ bao nhiêu

là hợp lý? Để xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững tại đầm Thị Nại, tác giả đã sử dụng số liệu điều tra trong thời gian 6 năm từ 2005 đến 2011 (bảng 1.6) Phương pháp tính toán là MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer

Bảng 1.6: Bảng tính MSY và fMSY theo mô hình Fox và Schaefer dựa vào sản

lượng và cường lực khai thác trên đầm Thị Nại Năm Sản lượng khai

thác (tấn)

Yi

Cường lực khai thác f i (x)

SCHAEFER Y(i) / f(i) (y)

FOX

ln (Y(i) / f(i)) (y)

Trang 35

Kết quả nghiên cứu đã xác định được sản lượng khai thác hợp lý là 6.722 tấn tương ứng với cường lực khai thác FMSY là 1.300 tàu Từ trên có nhận xét như sau:

- Khi sử dụng mô hình Fox và Schaefer, tác giả đã bỏ qua những tác động của tàu cá từ bên ngoài vùng nghiên cứu, vì đầm thị Nại tương đối nhỏ (khoảng 5.000ha) được thông với vịnh Quy Nhơn qua cửa rộng khoảng > 1,2km Trong trường hợp này

có thể kiểm soát được cường lực khai thác thủy sản trong đầm

- Số liệu đầu vào được tác giả sử dụng là sản lượng tính bằng tấn và cường lực

là tàu không lắp máy hoặc có lắp máy công suất < 20cv Việc tính toán trên sẽ gặp phải sai số do hoạt động đa nghề trên một tàu cá và đối tượng khai thác cũng đa loài, kích thước đánh bắt biến đổi lớn trong mỗi mẻ lưới Điều đó dẫn đến những hạn chế nhất định trong tính toán mô hình Fox và Schaefer

(ii) Công trình “Nghiên cứu biến động và phân bố cường lực khai thác hải sản

ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ” do Bùi Văn Tùng và cộng tác viên thực hiện năm

2014 [64, 65] với các nội dung nghiên cứu chính như sau:

1) Nghiên cứu sự biến động cường lực và sản lượng khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ

2) Nghiên cứu sự phân bố cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ 3) Xác định sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY), cường lực khai thác tối

ưu (fMSY) phù hợp với trữ lượng nguồn lợi ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ và đánh giá hiệu quả kinh tế của các đội tàu

4) Đề xuất các giải pháp quản lý cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ theo hướng bền vững

Mặc dù công trình có mục tiêu nghiên cứu biến động và phân bố cường lực khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ, nhưng trong đó phải căn cứ vào giá trị sản lượng và cường lực khai thác hợp lý Vì vậy, trong nội dung xác định sản lượng khai thác hợp lý (MSY), cường lực khai thác hợp lý (fMSY), tác giả đã sử dụng mô hình Schaefer (1954) và Fox (1970) Số liệu đầu vào là sản lượng và cường lực khai thác của đội tàu hoạt động tại vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ có công suất máy chính từ 90cv trở lên Đội tàu đưa vào tính toán được tác giả phân nhóm công suất 90-149cv, 150-248cv, từ 250cv trở lên cho nhóm nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, câu và nghề khác Do năng lực khai thác của các đội tàu có sự khác nhau, nên tác giả đã chuẩn hóa cường lực khai thác về đội tàu chuẩn trước khi ước tính sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa bằng công thức Robson

Trang 36

i i

ci

CPUE

CPUE F

(1.2)

là tổng cường lực khai thác của đội tàu (i); CPUE i là năng suất khai thác của đội tàu (i); CPUE clà năng suất khai thác của đội tàu chuẩn

Tác giả đã lựa chọn đội tàu chuẩn là đội tàu lưới vây công suất ≥ 250CV dùng chung cho tất cả các nhóm công suất và nghề Giá trị cường lực và sản lượng khai thác BVTĐ ở vùng biển xa bờ ĐNB theo các đội tàu thực được trình bày ở Bảng 1.7

Bảng 1.7: Cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa ở vùng biển xa bờ

ĐNB theo các đội tàu thực

Trang 37

Kết quả nghiên cứu đã xác định được:

Cường lực khai thác bền vững tối đa ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ nằm trong khoảng từ 950.091 - 951.659 ngày tàu và sản lượng khai thác bền vững tối đa tương ứng từ 480.779 - 501.651 tấn

Số lượng tàu khai thác phù hợp với trữ lượng nguồn lợi ở vùng biển xa bờ ĐNB

là 6.500 tàu công suất từ 90CV trở lên, trong đó nghề lưới kéo là 3.162 tàu, nghề lưới

rê 944 tàu, nghề lưới vây 863 tàu, nghề câu 837 tàu (câu tay cá rạn ở vùng biển Trường Sa và câu mực) và nhóm nghề khác là 693 tàu

Nhận xét:

- Tác giả cho rằng số liệu sử dụng trong mô hình là số liệu phụ thuộc nghề cá (sản lượng và cường lực khai thác) được thu thập thông qua điều tra mẫu nghề cá thương phẩm trong chuỗi thời gian từ năm 2008 đến 2012, trong khoảng thời gian này trình độ khoa học kỹ thuật trong khai thác hải sản ở Việt Nam không có nhiều sự thay đổi và đây là một điều kiện quan trọng để có thể áp dụng mô hình Vì vậy tác giả đã bỏ qua các điều kiện khác khi áp dụng mô hình

- Một khía cạnh khác của công trình nghiên cần thảo luận là chuỗi thời gian thu thập số liệu chỉ từ năm 2008 - 2012 (5 năm) là chưa nhiều, nhưng cũng đủ độ tin cậy cần thiết trong nghề khai thác cá biển

- Số liệu đầu vào được tác giả sử dụng là tổng sản lượng khai thác tính bằng tấn

và cường lực là ngày tàu Các nhóm tàu được phân theo lớp công suất 90 - 149cv, 150

- 249cv và ≥ 250cv cho các nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, câu và các nghề khác Để khắc phục sai số do năng lực khai thác của các đội tàu có sự khác nhau, tác giả đã chuẩn hóa cường lực khai thác về đội tàu chuẩn trước khi ước tính sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa, đội tàu chuẩn được lựa chọn là đội tàu lưới vây công suất ≥ 250cv Đây là việc làm cần thiết nhưng chưa đủ sức thuyết phục vì đội tàu chuẩn được lựa chọn là đội tàu lưới vây công suất ≥ 250cv chưa thể đại diện cho năng lực khai thác của các đội tàu nghề lưới kéo, lưới rê, câu…

Trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam” của Thái Ngọc Chiến, năm 2010 [13] Phương pháp điều tra ngẫu nhiên theo mẫu, phương pháp ước tính sản lượng và cường lực khai thác bền vững tối đa theo mô hình Schaefer, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Trang 38

- Hầu hết các đội tàu khai thác tại các địa phương nghiên cứu đều nằm trong tình trạng vượt ngưỡng cho phép

- Tổng số tàu khai thác hải sản ven bờ cần duy trì trên cả nước là 58.322 chiếc,

số lượng tàu vượt mức cho phép (hay số lượng tàu cần cắt giảm) là 51.102 chiếc

- Đề tài đã đề xuất hệ thống chính sách và các giải pháp nhằm quản lý bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam Các giải pháp tập trung vào các nhóm chủ yếu sau: Giải pháp quy hoạch và quản lý quy hoạch; Hợp lý hoá nghề cá ven bờ; Tạo

ra các sinh kế thay thế; Giáo dục và đào tạo; Công tác khoa học công nghệ và khuyến ngư; Xây dựng các mô hình quản lý thuỷ sản cộng đồng hoặc đồng quản lý; Nguồn vốn thực hiện chuyển đổi; Các hỗ trợ nghiên cứu khoa học; Hệ thống chính sách liên quan cắt giảm tàu thuyền và sản lượng khai thác hải sản ven bờ

- Hạn chế của công trình là số liệu điều tra chỉ thực hiện tại 14/28 tỉnh ven biển, nên chưa thể đại diện cho toàn quốc Khi điều chỉnh cơ cấu đội tàu, cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản chưa tuân theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP [17]

- Về phương pháp, tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu phù hợp với

đề tài nghiên cứu Xử lý số liệu dựa vào mô hình Schaefer là khá hiện đại và có tính mới, góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu xác định sản lượng và cường lực khai thác bền vững đối với nghề cá Việt Nam Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp trên là chưa chuẩn hóa cường lực đội tàu, trong khi số lượng tàu đưa vào tính toán theo mô hình Schaefer khác xa nhau về công suất

1.2.2.2 Nghiên cứu về giải pháp đảm bảo khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

Trong công trình nghiên cứu “Giải pháp cấp giấy phép cho tàu cá Việt Nam khai thác tại vùng đánh cá chung Vịnh Bắc bộ” của tác giả Nguyễn Văn Trung, năm

2011 [62] đã đề xuất giải pháp cấp giấy phép cho tàu nhằm đảm bảo khai thác hợp lý NLTS vùng đánh cá chung

Kết quả nghiên cứu đã đánh giá thực trạng việc cấp giấy phép và quản lý hoạt động khai thác đội tàu tham gia khai thác ở vùng đánh cá chung chưa hợp lý:

- Chưa căn cứ vào khoảng cách địa lý giữa các tỉnh và khả năng di chuyển đến ngư trường của đội tàu; có sự chênh lệch lớn trong cấp phép dẫn đến không cân đối giữa lực lượng khai thác của các địa phương

- Các nghề chủ động, năng suất cao còn ít được quan tâm cấp phép

Căn cứ vào trữ lượng nguồn lợi thủy sản của vùng đánh cá chung (Việt Nam, Trung Quốc) là 88.181 tấn, để làm cơ sở cho việc cấp cho các tàu khai thác trong vùng

Trang 39

biển này Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm cấp phép hợp lý cho vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ, cụ thể:

- Điều chuyển giấy phép từ các tỉnh có các tàu ít hoạt động trong vùng đánh chung sang các tỉnh có tàu tích cực hoạt động, nhằm giảm cường lực khai thác ven bờ

- Điều chuyển giấy phép từ các tàu nhỏ công suất thấp sang tàu có công suất lớn

- Điều chuyển giấy phép theo sản lượng khai thác trung bình của tàu cá các tỉnh

Để cắt giảm cường lực khai thác, tác giả Nguyễn Văn Kháng đã thực hiện công

trình nghiên cứu ”Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” [37] Trên cơ sở số liệu điều tra tàu thuyền các

nghề Câu, Kéo, Vây, Rê và nghề khác của 28 tỉnh ven biển từ năm 2000 đến 2007, với theo dải công suất <20CV, 20 - 49CV, 50 - 89CV, >90CV, tác giả sử dụng các phương pháp đánh giá và lựa chọn mô hình sản xuất, phương pháp xác định cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác để đề xuất giải pháp khai thác bền vững NLTS Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cần điều chỉnh cơ cấu tàu thuyền theo các bước, dựa vào các chỉ số (1) quản lý; (2) hiệu quả kinh tế; (3) mức độ xâm hại NLTS

Một hướng nghiên cứu khác nhằm đảm bảo khai thác hợp lý NLTS là quản lý hoạt động khai thác, quản lý NLTS của vùng biển dựa vào cộng đồng [20, 40, 41, 50,

51] Công trình nghiên cứu “Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng và những bất hợp lý ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế: Trường hợp nghiên cứu xã Phú An, huyện Phú Vang” được tác giả Nguyễn Hữu Ngữ công bố năm 2012 [41]

Bằng phương pháp điều tra trực tiếp số liệu thực trạng tại xã Phú An và tiến hành phỏng vấn cán bộ lãnh đạo xã, thôn cùng với những người cao tuổi để tìm hiểu những bất cập trong chính sách liên quan đến quản lý nghề cá ở đầm phá từ trước tới nay Tác giả cũng đã trực tiếp phỏng vấn 79 hộ gia đình tham gia vào các hoạt động khai thác và nuôi trồng tại vùng đầm phá để thấy được sự thay đổi nguồn lợi

Kết quả nghiên cứu [40] chỉ ra rằng, hoạt động khai thác thủy sản ở đầm phá thiếu sự quản lý khoa học đã làm cho nguồn lợi ngày càng cạn kiệt, môi trường sống trong vùng bị ô nhiễm Chi hội nghề cá hình thành và phát triển theo mô hình đồng quản lý ở đầm phá Tam Giang đã bộc lộ sự hoạt động không hiệu quả

Một số tác giả khác lại cho rằng cần phải quy hoạch vùng biển ven bờ, xây dựng các khu bảo tồn biển, rạn nhân tạo… để phục hồi, tái tạo, bảo vệ nơi sinh sản sinh

Trang 40

trưởng của các loài hải sản [3, 19, 38, 73] Trong đó, đáng chú ý là công trình nghiên

cứu “Phục hồi hệ sinh thái rạn san hô tại ven biển tỉnh Bình Định” của Viện Hải dương

học thực hiện năm 2003 [73] Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phương pháp thử nghiệm

di trồng san hô sống trên giá thể cứng tại Hòn Ngang - Bình Định

Kết quả nghiên cứu cho thấy, san hô được di trồng trên các giá thể rạn nhân tạo

đã phát triển tốt, tỷ lệ sống của san hô khá cao (82,5%) và mức độ phát triển của thân san hô khoảng 5 -6cm/năm

1.2.3 Các công trình nghiên cứu nguồn lợi và nghề khai thác thủy sản tại vùng biển Nghệ An

Công trình “Nguồn lợi thủy sản Việt Nam” do tác giả Nguyễn Tấn Trịnh và ctv công bố năm 1996, trong đó có phần về nguồn lợi thủy sản vùng biển Nghệ An [62] Bằng phương pháp phân tích và tổng kết tài liệu, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biển Nghệ An có nguồn lợi hải sản phong phú trong đó trữ lượng cá biển khoảng 74.000 tấn, khả năng cho phép khai thác từ 29.000 - 30.000 tấn/năm; trữ lượng mực khoảng 3.000 tấn, khả năng cho phép khai thác 1.500 tấn/năm; trữ lượng tôm 700 tấn, khả năng cho phép khai thác 350 tấn/ năm; khả năng khai thác moi từ 1.500 - 2.000 tấn/năm

Công trình nghiên cứu “Đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi biển ven bờ tỉnh Nghệ An; đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển” do Trung tâm Thực hành –

Thí nghiệm Trường Đại học Vinh thực hiện năm 2014 [61]

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn ngư dân địa phương tại 30 xã thuộc 5 huyện, thị ven biển (Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, thị xã Cửa Lò và thị xã Hoàng Mai) Kết quả nghiên cứu đã cho thấy vùng biển ven bờ Nghệ An có nhiều loài hải sản quý hiếm và có giá trị kinh tế cao như cá Bống bớp, cá Mòi cờ hoa, cá Nục sồ, cá mú chấm, cá Mú đỏ, cá Song chấm nâu,…nhưng sản lượng bị giảm mạnh

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được các vùng đa dạng sinh học cao là vùng

cửa sông Lam và vùng vịnh Diễn Châu đồng thời cũng cảnh báo hai vùng này cần

được bảo vệ do có số loài có nguy cơ bị đe dọa cao

Năm 2013 tác giả Lê Minh Hải, Hoàng Xuân Trường công bố Công trình

“Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học ở đảo Ngư, đảo Mắt và biển ven bờ ở Nghệ An“ [29] Kết quả như sau cho thấy vùng biển Nghệ

An khá đa dạng sinh học với 54 loài thực vật nổi và 20 loài cây thực vật ngập mặn ở

Ngày đăng: 26/12/2017, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Trâm Anh (2005).“Chiến lược gia tăng nguồn lợi nhằm bảo tồn và quản lý nghề cá bền vững ở các nước trong khu vực Đông Nam Á”. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược gia tăng nguồn lợi nhằm bảo tồn và quản lý nghề cá bền vững ở các nước trong khu vực Đông Nam Á”
Tác giả: Nguyễn Thị Trâm Anh
Năm: 2005
2. Ban quản lý Dự án FSPS II Nghệ An (2011). Đánh giá thực trạng nghề khai thác ven bờ tại tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp quản lý.Mã số: FSPS- NGHEAN/SCAFI/2011/3.7.3.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng nghề khai thác ven bờ tại tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp quản lý
Tác giả: Ban quản lý Dự án FSPS II Nghệ An
Năm: 2011
3. Hoàng Xuân Bền (2005). Nghiên cứu phân vùng chức năng khu bảo tồn biển Rạn Trào, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Báo cáo tổng kết đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng chức năng khu bảo tồn biển Rạn Trào, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Hoàng Xuân Bền
Năm: 2005
13. Thái Ngọc Chiến (2009). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam
Tác giả: Thái Ngọc Chiến
Năm: 2009
20. Nguyễn Duy Chỉnh (2002). Quy hoạch khai thác hải sản gần bờ các tỉnh miền Trung đến năm 2010. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch khai thác hải sản gần bờ các tỉnh miền Trung đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Duy Chỉnh
Năm: 2002
21. Bùi Đình Chung (2005). Một số kết quả ban đầu trong quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng. Kỷ yếu hội thảo toàn quốc bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả ban đầu trong quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng
Tác giả: Bùi Đình Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
22. Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản (FSPS-II) (2007). Tổng quan nghề cá tỉnh Nghệ An. Báo cáo dự án, Nghệ An: 55 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghề cá tỉnh Nghệ An
Tác giả: Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản (FSPS-II)
Năm: 2007
25. Phan Thị Dung (2009). Chỉ số đánh giá phát triển bền vững trong khai thác thuỷ sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số đánh giá phát triển bền vững trong khai thác thuỷ sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Tác giả: Phan Thị Dung
Năm: 2009
27. Nguyễn Quý Dương (2009). Điều tra thực trạng và giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp khai thác hải sản của Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài.Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng và giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp khai thác hải sản của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quý Dương
Năm: 2009
28. Nguyễn Văn Động (1997). Cơ sở khoa học chọn lọc của ngư cụ. Bài giảng cao học, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học chọn lọc của ngư cụ
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 1997
29. Lê Minh Hải, Hoàng Xuân Trường (2013). Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học ở đảo Ngư, đảo Mắt và biển ven bờ ở Nghệ An. Báo cáo khoa học tổng kết đề tài. Sở Khoa học và công nghệ Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học ở đảo Ngư, đảo Mắt và biển ven bờ ở Nghệ An
Tác giả: Lê Minh Hải, Hoàng Xuân Trường
Năm: 2013
30. Trần Văn Hào (2009). Đề xuất hệ thống chính sách và các giải pháp quản lý nhằm phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất hệ thống chính sách và các giải pháp quản lý nhằm phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ
Tác giả: Trần Văn Hào
Năm: 2009
33. Nguyễn Chu Hồi (2006). Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam. Dự thảo Chương trình Nghị sự 21 của ngành thuỷ sản, báo cáo tại Hội thảo quốc gia Phát triển bền vững nghề cá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi
Năm: 2006
34. Hoàng Hoa Hồng (2012), Cơ sở lý thuyết khai thác cá, Trường Đại học Nha Trang, 35. Phan Trọng Huyến, Vũ Kế Nghiệp, Nguyễn Thị Hoa Hồng (2016). "Kết quả nghiên cứu xây dựng nội dung khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản". Tạp chí Khoa học - Công nghệ thuỷ sản, Trường Đại học Nha trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu xây dựng nội dung khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản
Tác giả: Hoàng Hoa Hồng (2012), Cơ sở lý thuyết khai thác cá, Trường Đại học Nha Trang, 35. Phan Trọng Huyến, Vũ Kế Nghiệp, Nguyễn Thị Hoa Hồng
Năm: 2016
36. Phan Trọng Huyến (2015). Tổng quan nghiên cứu khoa học trong khai thác thủy sản. Bài giảng chuyên đề tiến sĩ, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghiên cứu khoa học trong khai thác thủy sản
Tác giả: Phan Trọng Huyến
Năm: 2015
37. Nguyễn Văn Kháng (2011).”Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản
Tác giả: Nguyễn Văn Kháng
Năm: 2011
38. Đỗ Văn Khương (2005). Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, quản lý các khu bảo tồn biển Cát Bà và Cô Tô. Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, quản lý các khu bảo tồn biển Cát Bà và Cô Tô
Tác giả: Đỗ Văn Khương
Năm: 2005
40. Nguyễn Hữu Ngữ (2012). Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng và những bất hợp lý ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế: Trường hợp nghiên cứu xã Phú An, huyện Phú Vang. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, tập 71, số 2, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng và những bất hợp lý ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế: Trường hợp nghiên cứu xã Phú An, huyện Phú Vang
Tác giả: Nguyễn Hữu Ngữ
Năm: 2012
41. Lê Văn Ninh (2006). Xây dựng bộ chỉ số phát triển bền vững ngành khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Báo cáo tham luận tại Hội thảo quốc gia phát triển bền vững nghề cá Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng bộ chỉ số phát triển bền vững ngành khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Tác giả: Lê Văn Ninh
Năm: 2006
48. Hà Xuân Thông. Nghiên cứu đồng quản lý nghề cá trong bối cảnh Việt Nam. Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đồng quản lý nghề cá trong bối cảnh Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w