SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9SKKN Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học có
vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS góp phầnhình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị chocác em bước vào cuộc sống mới hoặc tiếp tục học lên bậc trung học phổ thông
Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng giađình, bè bạn Có lòng yêu nước, quý trọng truyền thống dân tộc, biết hướng tớinhững tư tưởng, tình cảm cao đẹp, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, có lòng cămthù cái ác, cái xấu
Phương pháp làm văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, đoạnthơ, bài thơ, còn nhiều hạn chế: Đây là một tiết học mang tính khái quát, trừutượng mà thời lượng rất ít, học sinh chưa định hình được các bước tạo lập vănbản nghị luận văn học Trong thực tế, thời lượng đòi hỏi phương pháp tạo lậpvăn bản nghị luận không nhỏ Ngay ở lớp 6 đã có một số tác phẩm văn chươnghiện đại Lên lớp 7 các em còn được học một số tác phẩm văn chương hay vàkhó cả ở Văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, nhất là một số bài thơĐường Đối với học sinh lớp 6, lớp 7, việc nhận thức về kiến thức tạo lập vănbản rất mờ nhạt, các em chưa hiểu được khái niệm kiểu bài, thể loại Và chưađịnh hình việc tạo lập văn bản nghị luận văn chương là gì ? Đặc biệt nhiều emchưa có khả năng tạo lập đoạn văn nên việc tạo lập văn bản lại càng khó hơn.Chính vì lẽ đó đến lớp 8, 9, kiến thức tạo lập văn bản nghị luận về văn học lạitrở thành vấn đề xa lạ
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, môn Ngữ văn lớp 9nói riêng, tuy giáo viên đã giúp học sinh nắm các yêu cầu về đoạn văn, cách làmbài nghị luận ở từng kiểu bài, nhưng kĩ năng viết đoạn, viết bài nghị luận củahọc sinh chưa thật thành thạo Các em còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc,chặt chẽ, nhất là đối với đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống Trong quátrình làm bài kiểm tra ở lớp cũng như ở kiểm tra học kì 1, học kì 2, thi tuyển vàolớp 10 ở môn Ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận về tácphẩm văn học còn rất nhiều hạn chế Bài làm của học sinh thường sơ sài, chungchung, lan man, các em chưa biết viết các đoạn văn triển khai bằng các luậnđiểm, các ý lộn xộn, lời văn vụng về, thậm chí có khi xa đề, lạc đề Có bài chỉviết được 7 đến 8 dòng là hết… Kết quả thi vào lớp 10 môn Ngữ văn của trường
Trang 2THCS chúng tôi nhiều năm qua đều đứng tốp cuối trong huyện: Thi học sinhgiỏi văn lớp 9 học sinh đạt giải cao rất ít, không có học sinh tham gia vào độituyển của huyện Thực trạng ấy làm cho BGH nhà trường phải trăn trở, suynghĩ Là giáo viên dạy Ngữ văn tôi càng buồn, lo lắng về thực trạng này.
Trong năm học vừa qua, tôi được giao trách nhiệm giảng dạy môn Ngữ vănlớp 9 và trực tiếp dạy đội tuyển học sinh giỏi, ôn thi cho các em vào lớp 10, tôiluôn mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học văn nói chung, phương pháp
tạo lập văn bản nói riêng cho các em Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài “Một số phương pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận văn học ở lớp 9”
II Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được tôi thực hiện tại trường THCS nơi tôi đang công tác trongnăm học: 2014 - 2015 với đối tượng học sinh lớp 9
- Phạm vi thực hiện: Ứng dụng vào các tiết chương trình chính khóa,chương trình tự chọn, các buổi học bồi dưỡng, phụ đạo buổi chiều và ôn thituyển sinh vào 10
III Mục đích nghiên cứu:
Bản thân tôi nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần củng cố phương pháptạo lập văn bản, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người học và nhằm nâng cao chấtlượng bộ môn Ngữ văn lớp 9, đặc biệt kết quả thi vào 10 và thi học sinh giỏimôn Ngữ văn của trường THCS Nguyễn Thiếp - Thạch Hà - Hà Tĩnh
IV Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đoạn văn, cách lập luận, trìnhbày nội dung đoạn văn
- Điều tra, khảo sát, nắm bắt tình hình thực tế
- Tiến hành thực nghiệm trong các tiết dạy ở lớp 9A, 9B
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết, yêu cầu của chương trình Ngữ văn THCS là học sinhphải tập tạo lập văn bản hoàn chỉnh Văn bản là gì? Văn bản là sản phẩm củahoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính chất trọnvẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức.Muốn tạo lập được một văn bản hoànchỉnh trước hết đòi hỏi mỗi học sinh phải tạo lập được đoạn văn
Trang 3Vậy đoạn văn là gì? Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu
từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thườngbiểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt Câu chủ đề mang nội dungkhái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặccuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ
chủ đề của đoạn văn (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36).
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độnhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễdàng Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặtchẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản Mỗi đoạn trong văn bản
có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trình tự nhất định: + Đoạn mở đầu văn bản
+ Các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của vănbản thành các khía cạch khác nhau)
+ Đoạn kết thúc văn bản
Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nộidung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhấtđịnh
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh Sự hoàn chỉnh đó thểhiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấuchấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phépliên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa
và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn
Để trình bày một đoạn văn cần phải sử dụng các phương pháp lập luận.Lập luận là cách trình bày luận cứ dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặtchẽ hợp lí thì đoạn văn, bài văn mới có sức thuyết phục
Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có kếtcấu (cách lập luận) phổ biến: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp bên cạnh
đó là cách lập luận suy luận nhân quả, suy luận tương đồng, suy luận tươngphản, đòn bẩy, nêu giả thiết…
Trang 4- Đoạn diễn dịch là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ đềmang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nộidung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiệnbằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèmnhững nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
- Đoạn quy nạp là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chitiết, cụ thể đến ý khái quát Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Các câu trên đượctrình bày bằng thao tác minh họa, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánhgiá chung
- Đoạn tổng - phân - hợp là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu mởđoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khaitriển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổnghợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề Khi viết đoạn văn tổng - phân - hợp,cần biết cách khái quát, nâng cao để tránh sự trùng lặp của hai câu chốt trongđoạn
- Đoạn lập luận tương đồng là cách trình bày đoạn văn có sự so sánh tương
tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạnvăn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến
- Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau vềnội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộcsống,…tương phản nhau
- Đoạn lập luận theo suy luận nhân quả: Có 2 cách: Trình bày nguyên nhântrước, chỉ ra kết quả sau Hoặc ngược lại chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyênnhân sau
- Đoạn lập luận đòn bẩy là cách trình bày đoạn văn mở đầu nêu một nhậnđịnh, dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặctrái với ý tưởng (chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tíchsâu sắc ý tưởng đề ra
Các câu trong đoạn văn cũng như các đoạn trong bài phải có sự liên kếtchặt chẽ với nhau về nội dung cũng như hình thức:
- Về nội dung:
Trang 5+ Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục
vụ chủ đề chung của đoạn văn.( Liên kết chủ đề)
+ Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí( Liên kếtlôgic)
- Về hình thức: Các câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằngmột số biện pháp chính như:
+ Phép lặp: Lặp lại ở đầu câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước
+ Phép thế: Sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã
trước ( SGK Ngữ văn 9 tập 2 trang 43).
Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sángkiến kinh nghiệm này Bên cạnh đó tôi cũng khảo sát thực trạng kĩ năng viếtđoạn văn của học sinh lớp 9 ở trường THCS Nguyễn Thiếp để có giải pháp thựchiện hợp lí, đạt hiệu quả cao
II Cơ sở thực tiễn:
Vào đầu các năm học, nhà trường bao giờ cũng khảo sát chất luợng học tậpcác môn Toán, Ngữ văn để phân loại học sinh, có kế hoạch bồi dưõng học sinhkhá giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém Kết hợp với kết quả khảo sát chất luợng,trong các giờ học đầu năm học, tôi thường kiểm tra kĩ năng viết đoạn của họcsinh qua các bài tập nhỏ sau các tiết văn học bằng cách cho học sinh viết đoạnvăn nêu cảm nhận về tác phẩm, nhân vật, chi tiết trong tác phẩm
Một số bài tập tôi dùng để kiểm tra:
+ Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi học văn bản?
+ Em hãy viết đoạn văn tổng - phân - hợp trình bày cảm nhận của em về
vẻ đẹp người anh hùng Nguyễn Huệ trong tác phẩm “ Hoàng Lê nhất thống chí”của Ngô gia văn phái?
+ Chi tiết chiếc bóng trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguyễn Dữ là chi tiết rất đặc sắc Hãy viết đoạn văn khoảng 10 - 12 câu
Trang 6theo lối diễn dịch cảm nhận ý nghĩa của chi tiết đó?
* Kết quả khảo sát đề tài trước khi thực hiên ở lớp 9 năm học 2014 - 2015:
Khối
lớp
Tổng
số học sinh
III GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1 Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh:
1.1 Khái niệm:
- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùiđầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tươngđối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành
- Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt Câu chủ đề mang nội dungkhái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặccuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏchủ đề của đoạn
(SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36).
1.2 Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn.
- Cách diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể Câu chủ
đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nộidung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó Các câu triển khai được thực hiện
Trang 7bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèmnhững nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết
Sơ đồ: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm)
(2) (3) (4) … (câu nêu các ý chi tiết, cụ thể )
- Cách qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch đi từ các ý chi
tiết, cụ thể đến ý khái quát Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn Các câu trên đượctrình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánhgiá chung
Sơ đồ: (1) (2) (3) (câu nêu các ý chi tiết, cụ thể )
( Câu cuối - câu chủ đề nêu luận điểm)
- Cách tổng phân hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khaitriển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổnghợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề
Sơ đồ: (1) (câu chủ đề nêu luận điểm khái quát)
(2) (3) (4) … (câu nêu các ý chi tiết, cụ thể )
( Câu cuối - câu nêu ý khái quát nâng cao, mởrộng)
Trang 8Đó là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ lớp 8 Tôi đã củng cốngay cho học sinh sau khi vào đầu năm học lớp 9 qua các buổi học buổi chiều,học tự chọn Ngoài ra, tôi cũng mở rộng hơn một số cách trình bày đoạn kháccho học sinh khá giỏi qua các giờ bồi dưỡng học sinh giỏi như cách suy luậnnhân quả, tương đồng, tương phản, đòn bẩy
2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn:
Để viết đoạn văn thành công, cần chú ý tuân thủ các bước:
Bước 1: Xác định yêu cầu của đề:
Căn cứ vào yêu cầu của đề bài, xác định rõ nội dung cần trình bày trong
đoạn là gì? ( Nội dung đó sẽ được “gói” trong câu chủ đề Và cũng là địnhhướng để viết các câu còn lại) Nội dung đó được trình bày theo cách nào, cóyêu cầu nào khác về hình thức, ngữ pháp
- Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn cảm nhận của em về khổ thơ:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
* Yêu cầu của đề:
- Nội dung: Đoạn thơ thể hiện khát vọng chân thành, tha thiết của tác giảmuốn làm một mùa xuân nho nhỏ đẻ dâng hiến cho cuộc đời hoà cùng mùa xuâncủa dân tộc Lí tưởng ấy là ước nguyện của nhiều người, ở mọi lứa tuổi
- Hình thức: Viết đoạn văn ngắn
- Yêu cầu ngữ pháp: Phép nối, phép lặp
Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn:
Câu chủ đề là câu nêu ý của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt quantrọng Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xácđịnh câu chủ đề
Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵn câu chủ đề, cónhững đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câuchủ đề, có đề lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề
Trang 9Ví dụ 1: Nêu ở bước 1 trên là đề không cho câu chủ đề Để viết được câuchủ đề, ta phải nắm vững nội dung của đoạn ở đề ra, từ đó xác định câu chủ đề.
Ví dụ 2: Đề cho sẵn câu chủ đề:
Cho câu chủ đề: “ Người đồng mình sống vất vả, cực nhọc, đói nghèo mà
vẫn bền bỉ, khoáng đạt, giàu chí khí, niềm tin, bất chấp vượt qua những thửthách, gian nan bằng tình yêu và lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của quêhương” Hãy viết một đoạn văn diễn dịch teình bày luận điểm đó
Bước 3: Tìm ý cho đoạn ( Triển khai ý):
Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức
đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết Nếu bỏqua thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý
Ví dụ: Với đề bài: Viết đoạn văn diễn dịch từ 8 đến 10 câu, phân tích 6 câuthơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
Cần xác định các ý: Sáu câu thơ cuối miêu tả cảnh chị em Thuý Kiều
du xuân trởvề
- Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu:ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang Mọi cử động đều rấtnhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nướcuốn quanh Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết
- Cảnh đã có sự thay đổi về thời gian và không gian Không còn bát ngát,trong sáng, không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đangnhạt dần, lặng dần
- Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,
“nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng conngười Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Haichữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối tiếc,lặng buồn “Dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không thểnói hết Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở vẻđẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâulắng
Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn:
Trang 10Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn Căn cứ vào yêu cầu về kiểudiễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn Ngoài racòn đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có).
Ví dụ:
Với đề trên ( bước 3) cần đặt câu chủ đề ở đầu đoạn văn, sắp xếp các ý viết
thành đoạn văn đủ số câu, đánh thứ tự các câu trong đoạn, trình bày thành đoạnvăn đảm bảo sự liên kết cả nội dung lẫn hình thức
Sáu câu thơ cuối đoạn trích “Cảnh ngày xuân”đã miêu tả cảnh chị em ThuýKiều du xuân trở về.(1) Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùaxuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang (2)Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân ngườithơ thẩn, dòng nước uốn quanh.(3) Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.(4)Cảnh
đã có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng,không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần,lặng dần.(5)Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.(6)Những từ láy “tà tà”, “thanhthanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạngcon người.(7)Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.(8)Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thầnnuối tiếc, lặng buồn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồnkhông thể nói hết.(9) Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân
đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống,nhạy cảm và sâu lắng.(10)
Trong đoạn trên Câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn Cáccâu còn lại( từ câu 2 đến câu 10), nêu các ý cụ thể, phân tích nội dung, nghệthuật của sáu câu thơ
Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoànchỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề Tuy nhiên không phảihọc sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài Điều này giáoviên phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh Đặc biệt
để hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rènluyện qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp
3 Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh bằng các dạng bài tập
Trang 113.1.Dạng bài tập nhận biết:
- Mục đích của bài tập là cung cấp cho học sinh các dạng đoạn văn cụ thể,trên cơ sơ đó các em nhận biết được mô hình cấu trúc đoạn, từ ngữ chủ đề, câuchủ đề Và cao hơn là cách trình bày các luận cứ để dẫn đến luận điểm Tuỳtừng đối tượng học sinh mà ra bài tập với những yêu cầu nhận biết các đoạn văntrình bày theo cách phổ biến thông dụng hay cách mở rộng, nâng cao
Ví dụ các bài tập 1, 2, 3 dưới đây tôi dùng để triển khai cho học sinh đạitrà, các bài tập 4,5,6, 7 dùng cho học sinh khá giỏi
Bài tập 1 :
Đoạn văn sau là đoạn phân tích tâm trạng của Kiều khi ở Lầu Ngưng Bích.Hãy xác định câu chủ đề, các từ ngữ chủ đề của đoạn văn? Nội dung đoạn vănđược triển khai như thế nào?
Sáu câu thơ đầu gợi tả hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều khi bị giam ở
lầu Ngưng Bích.(1) Hai chữ "khóa xuân" cho thấy đây thực chất là bị giamlỏng (2) Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng (3) Câu thơsáu chữ, chữ nào cũng gợi lên sự rợn ngợp của không gian: "Bốn bề bát ngát xatrông".(4) Cảnh "non xa", "trăng gần" như gợi lên hình ảnh lầu Ngưng Bíchchơi vơi giữa mênh mang trời nước (5) Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chỉ thấynhững dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt (6) Cái lầu chơi vơi ấygiam một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữangười với người (7) Hình ảnh "non xa", "trăng gần", "cát vàng", "bụi hồng" cóthể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênhmông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều (8)Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn, khép kín (9) Thời giancũng như không gian giam hãm con người (10) Sớm và khuya, ngày và đêm,Kiều "thui thủi quê người một thân" Nàng chỉ biết làm bạn với "mây sớm, đènkhuya" (11) Nàng đó rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi làcâu chủ đề, 10 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề Đây
là đoạn văn phân tích có kết cấu diễn dịch Từ ngữ chủ đề: Kiều, nàng, NgưngBích, hoàn cảnh, tâm trạng, cảnh, hình ảnh
2 Bài tập 2: