SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7SKKN KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7
Trang 1KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7
PHẦN I : MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài
Học sinh cấp II là độ tuổi phổ thông có nhu cầu tiếp tục học để nâng cao trình độ văn hóa, nhưng học sinh trong cùng một lớp thường không đồng đều về trình độ, nhận thức, ý thức tự giác … đa số vì nhiều lí do hoàn cảnh nên tính tích cực trong tự giác học tập rất hạn chế
Vào lớp học sinh thường thụ động ngồi im, ngại phát biểu và không coi trọng môn học Việc làm thêm bài tập nhà, đào sâu kiến thức nâng cao hiểu biết thường chỉ được rất ít học sinh thực hiện Hơn thế nữa bộ môn công nghệ lại khô khan, nhàm chán HS ít hứng thú và yêu thích
Vì thế giáo viên phải làm sao để cải tiến phương pháp dạy cho phù hợp, kích thích tính ham hiểu biết của học sinh và phát huy tính tích cực của học sinh
để nâng cao kết quả giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu ứng dụng ở trường THCS
Được áp dụng ở HS khối Công nghệ lớp 7
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Công nghệ là môn khoa học thực nghiệm có nhiều thành tựu áp dụng trong khoa học kĩ thuật và đời sống Giảng dạy bộ môn công nghệ trong nhà trường không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức lí thuyết mà còn phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng cơ bản cần thiết để nắm chắc nội dung kiến thức cơ bản, có kĩ năng thực hành, vận dụng vào các trường hợp cụ thể không những trong thời gian ở nhà trường mà còn tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng tham gia vào cuộc sống lao động sản xuất và kĩ thuật hiện đại sau này
“Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải nhồi nhét cho học trò mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết Điều chủ yếu là giáo dục cho học
Trang 2trò phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề”
(Phạm Văn Đồng – Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa học kĩ thuật – NXB
Sự thật Hà Nội 1969)
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để giúp học sinh có hứng thú với môn học môn Công nghệ 7 tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
-Quản lí học sinh trong giờ lên lớp
-Giáo viên cần nắm vững mục tiêu, cấu trúc chương trình bộ môn giảng dạy
-Phải nắm vững kiến thức
-Bồi dưỡng về công tác chuyên môn
-Có khả năng chủ đạo tổ chức điều khiển lớp học
-Sử dụng phương pháp giảng dạy sinh hoạt đa dạng
-Sử dụng tranh ảnh, mô hình như một công cụ dạy học
-Sử dụng SGK một cách triệt để và hiệu quả
5 Đóng góp mới về khoa học:
Đề tài này được áp dụng cụ thể vào các bài dạy giúp các em yêu thích và có hứng thú với bài học
Các em hang say thảo luận, xây dựng bài làm cho bài dạy trở nên sinh động
Về nhà các em đã chựu khó tìm hiểu bài trước, tìm hiểu thực tế qua người lớn để các em có thêm kiến thức xây dựng cho bài mới
Các em có hứng thú với bài học là động lực giúp giáo viên hăng say đầu tư với chuyên môn của mình
PHẦN II: NỘI DUNG
1.Cơ sở khoa hoa học:
a Cơ sở lý luận:
Công nghệ là nguồn kiến thức là một phương pháp nghiên cứu khoa học Công nghệ trong nhà trường là sự phản ánh phương pháp nghiên cứu khoa học
vì vậy nó mang yếu tố cơ bản của thí nghiệm khoa học, nhờ đó học sinh được
Trang 3làm quen với phương pháp nhận thức trong khoa học công nghệ Về mặt lí luận dạy học, công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kiến thức
và kĩ năng cho học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các cấp, các ngành giáo dục Đối với bậc THCS, đặc điểm đối tượng là học sinh cấp II, trong quá trình dạy học phải cung cấp những kiến thức , kĩ năng cơ bản , tinh giản , thiết thực nhất của bài, việc tiến hành giảng dạy có sử dụng ĐDDH là một vấn đề rất cần thiết tạo hứng thú cho học sinh , đồng thời đáp ứng các trọng tâm nêu trên đối với học sinh
b Cơ sở thực tiễn :
Công nghệ lớp 7 là một môn khoa học thực nghiệm, tất cả kiến thức phải rút ra từ thực nghiệm, kiến thức trên lớp luôn gắn liền với thực tiễn cuộc sống, ứng dụng trong khoa học kĩ thuật… Vì vậy giáo viên cần phải thực hiện các biện pháp sau:
Giáo viên phải xây dựng từ đầu phương pháp dạy môn Công nghệ 7 thật tốt
để học sinh không học vẹt, học phải hiểu và vận dụng giải thích hiện tượng , ứng dụng vào cuộc sống
Giáo viên không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng mà còn phải coi trọng việc phát triển năng lực hoạt động trong thực tiễn
Để lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng kĩ thuật và vận dụng được vào thực tế cần khơi dậy và phát huy triệt để tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập
2 Đánh giá thực trạng về những vấn đề có liên quan đề tài:
a Những điểm mạnh :
Giáo viên có đầu tư, sáng tạo nên học sinh có sự chuyển biến tốt về mặt học tập môn Công nghệ
Giáo viên truyền đạt kiến thức cơ bản cho học sinh dựa trên hình ảnh, mô hình, giảm dần việc dạy chay
Nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên phát huy việc làm và sử dụng ĐDDH phục vụ cho việc dạy và học
Trang 4b Những hạn chế :
- Giáo viên dạy môn Công nghệ còn thiếu
- Chủ yếu giáo viên dạy bộ môn là dạy kèm
- Nhận thức của phụ huynh và học sinh về bộ môn chưa cao
-ĐDDH chưa đáp ứng đủ
3 Các giải pháp :
a Quản lý học sinh trong giờ lên lớp
Quản lý học sinh là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao đạo đức cho học sinh là cảnh quan sư phạm để giáo viên truyền thụ lượng kiến thức lớn đến học sinh một cách hiệu quả Quản lý học sinh giữ vai trò chủ đạo vì
nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực ở học sinh Tạo nên bầu không khí mang tính sư phạm ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách giảng dạy riêng, biểu hiện như sau:
-Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc
-Có quan hệ tốt giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng giáo viên Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào
tệ nạn xã hội
* Cách thực hiện:
Phong cách – tính cách ở mỗi giáo viên: phải thể hiện rõ khả năng làm việc của mình đối với học sinh Đầu năm học giáo viên đề ra những yêu cầu làm việc của mình để học sinh tham khảo, có ý kiến và thực hiện những yêu cầu đó: -Lớp học phải sạch sẽ, kỉ luật tốt, trong giờ chuyển tiết không được chạy ra khỏi chỗ, không la hét, đùa giỡn gây mất trật tự,…
-Trong giờ học, học sinh phải lắng nghe giảng bài để hiểu bài và ghi bài vào vở vì giáo viên không đọc bài cho học sinh ghi chép
Trang 5-Đầu giờ, cho bài kiểm tra giấy khoảng 5-10 phút (không kể thời gian chép đề), với câu hỏi và đáp án ngắn gọn…
-Khi học sinh vi phạm với những yêu cầu trên: Ban cán sự lớp phải ghi tên bạn vi phạm để giáo viên xử lí (giáo viên phải xử lí kịp thời, đúng cách), hình phạt: giáo viên kiểm tra tập, kiểm tra miệng 2 đến 3 HS trở lên và kiểm tra kiến thức ngoài thực tế Những học sinh còn lại, không vi phạm sẽ không bị trả bài và không cần làm bài kiểm tra giấy, nhưng vẫn được điểm tốt vào sổ
Qua đó, tôi nhận thấy các lớp 7 tôi phụ trách môn công nghệ trong giờ chuyển tiết không gây mất trật tự ở lớp cũng như dãy lớp học, ban cán sự lớp làm việc rất tích cực và có ý thức
b Giáo viên cần nắm vững mục tiêu, cấu trúc chương trình
Xây dựng trọng tâm bài, chuẩn bị ĐDDH, kiểm tra lại dụng cụ thí nghiệm,
hệ thống câu hỏi, chuẩn bị nội dung
VD1: “Tác dụng của phân bón trong trồng trọt?”
Bài có hai phần: I Phân bón là gì ?
II Tác dụng của phân bón Trong đó trọng tâm là phần I :
-Chuẩn bị nội dung: Ngoài SGK, giáo viên cần tham khảo thêm tài liệu vì đây là môn Công nghệ khoa học kĩ thuật thực nghiệm, về phân bón trong trồng trọt, chúng ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái , ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp, do đó giáo viên phải chuẩn bị những kiến thức ngoài thực tiễn nhiều hơn
-Chuẩn bị ĐDDH: Để bài giảng sinh động học sinh hứng thú học, học sinh
dễ nhìn, mau thuộc bài, giáo viên có thể cho học sinh xem mẫu thật Ví dụ: Phân bón đạm (N) dạng viên màu trắng, phân bón lân (P) dạng bột màu xám tro, phân bón kali (K) dạng bột màu muối ớt
-Chuẩn bị hệ thống các câu hỏi định hướng cho bài và trả lời, dự kiến các tình huống có thể xảy ra Câu hỏi đặt ra phải:
+Gây được sự hứng thú cho học sinh
Trang 6+Phù hợp với từng đối tượng, phát huy tính tích cực của từng học sinh, nâng cao sự hiểu biết của học sinh
+Đối với bài giảng: Câu hỏi phải logic hợp với sơ đồ, tính thực tiễn gắn liền với cuộc sống sản xuất và khoa học kĩ thuật:
Trong thực tế, khi sử dụng phân hữu cơ để bón cho cây, người ta thường sử dụng loại phân nào? Vì sao?
Xu thế hiện nay người ta sử dụng loại phân nào bón cho cây? Vì sao?
c Nắm vững và nâng cao kiến thức:
Trong quá trình hình thành kiến thức mới cho học sinh giáo viên không những vừa cung cấp lượng kiến thức trong SGK vừa cung cấp những kiến thức thực tiễn vào đời sống hằng ngày, ứng dụng vào khoa học kĩ thuật
Thông thường Công nghệ vận dụng kiến thức Sinh, Địa, Hoá, dinh dưỡng phục vụ rất nhiều và bất ngờ mà học sinh khó nghĩ ra thì giáo viên phải cung cấp
và nhắc lại kiến thức cơ bản đó, hướng cho học sinh vận dụng và quyết vấn đề
Ví dụ: Bài “Vai trò của thức ăn đối với vật nuôi”
Bài này có liên quan đến các môn học khác rất nhiều:
Dựa vào kiến thức đã học ở môn Công nghệ phục vụ em hãy cho biết trong thức ăn gồm những thành phần dinh dưỡng nào?
Qua bảng 5: “SỰ TIÊU HOÁ VÀ HẤP THỤ THỨC ĂN” trang 102 SGK Công nghệ 7 và dựa vào kiến thức môn Sinh lớp 8 giáo viên giải thích cho học sinh hiểu: 3 thành phần dinh dưỡng: protein, lipid, glucid, qua đường tiêu hoá vật nuôi bị biến đổi, nhưng chúng không tự biến đổi được, phải nhờ vào men tiêu hoá enzim, mỗi thành phần dinh dưỡng do một enzim đảm nhiệm:
enzim Protein Acid amin
Pepsin
enzim Lipid Glycerin + acid béo
Pepsin enzim Glucid Đường đơn
Trang 7amilaza Muối khoáng được cơ thể tiếp thu dưới dạng ion khoáng – giáo viên dựa vào kiến thức môn Hoá lớp 8 để giải thích:
NaCl Na+ / Cl
d Bồi dưỡng về công tác chuyên môn
Đặt ra những yêu cầu đối với Giáo viên và Học sinh: Giáo viên phải thay đổi cách dạy cũ, học sinh phải có kĩ luật thì mới dạy tốt & học tốt “ thầy ra thầy-trò ra thầy-trò”
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa các họat động dạy học, khuyến khích giáo viên chủ động, sáng tạo, dạy học tập trung vào học sinh tạo điều kiện cá thể hóa người học để phát triển mọi năng lực của học sinh, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập bằng cách tự phát hiện khả năng của mình tự tin và
có niềm vui trong lao động học tập chủ động sáng tạo
Với những hiểu biết của bản thân về đổi mới phương pháp giảng dạy tôi đã đặt ra những yêu cầu cho GV khi tổ chức một tiết dạy:
* Đối với GV:
Nghiên cứu kĩ bài và phân tích sư phạm bài dạy cụ thể là:
Soạn kế hoạch lên lớp, xác định trọng tâm kiến thức, kĩ năng bài học và các hình thức tổ chức hoạt động trong tiết dạy
Chuẩn bị hệ thống câu hỏi: những nội dung khó, mục đích giải quyết ở lớp,
ở nhà chú ý phát triển kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi, khá, năng khiếu bộ môn Dự kiến những sai lầm của học sinh (nếu có) và cách khắc phục
Khai thác nội dung giáo dục tư tưởng tình cảm thẩm mĩ, dân số, môi trường…
Chuẩn bị phiếu giao việc: Việc dùng phiếu trong tiết dạy hạn chế bớt bệnh nói nhiều, giảng nhiều, lấn át phần luyện tập của học sinh, phiếu giao việc là bản thiết kế hành động học tập của học sinh theo ý định sư phạm của giáo viên trong tiết dạy nhằm tạo ra sự phối hợp việc làm của thầy và trò theo cùng một nhịp điệu Giúp học sinh làm những gì có thể làm được nhờ sự giúp đỡ của giáo viên,
Trang 8đó là một cách để các em tự làm được những công việc khó hơn, tự khẳng định mình Giảm bớt thời gian chép đề Tuy nhiên nếu làm dụng phiếu giao việc thì học sinh sẽ mất dần kỉ năng trình bày sáng tạo, chữ viết,…
Căn cứ vào những hướng dẫn trong phiếu giao việc , GV tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân với SGK, với phương tiện sẵn có hoặc trao đổi nhóm hay học tập toàn lớp
Chọn hình thức tổ chức tiết học phù hợp với điều kiện CSVC của trường , phù hợp với nội dung bài dạy và môn dạy
Để tổ chức tốt một tiết dạy phải tùy nội dung và mục đích cụ thể của bài dạy để xác nhận cách tổ chức học tập cho học sinh làm thế nào để có kết quả cao nhất
Ví dụ: Nếu mục đích của bài dạy chủ yếu để rèn luyện kỉ năng hoặc kiểm tra kiến thức đã học thì coi trọng cách học cá nhân của học sinh Nếu đối tượng nhận thức quá mới mẽ với học sinh cần vai trò chủ đạo của giáo viên trong việc thông báo, giải thích thì nên tổ chức cho các em học tập theo lớp.Còn đối với những bài có đối tượng nhận thức mà bản thân học sinh ít nhiều có kinh nghiệm hoặc chứa đựng các hiểu biết khác nhau, dễ phân hóa thành các nhóm ý kiến để tranh luận, bàn cải… chúng ta tổ chức cho học sinh học nhóm để kích thích họat động từng cá nhân Nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ, kiến thức các em sẽ lướt phần chủ quan, phiến diện làm tăng thêm tính khách quan khoa học Việc học tập theo nhóm càng chứng tỏ quan điểm “học thầy không tày học bạn” qua việc trao đổi, hợp tác với bạn mà trí thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn Khi mỗi nhóm trình bày xong để khắc sâu kiến thức, GV bao giờ cũng phải kết luận ngắn gọn ý kiến nào đúng, sai, vì sao và đưa ra bài học Chú ý tuyên dương, khen thưởng, động viên, các em kịp thời
* Đối với học sinh
-Học sinh phải có kĩ luật tốt, lễ phép
-Học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa
-Chuẩn bị tốt bài học ở nhà, đưa ra những suy nghĩ nhận xét của mình khi quan sát để ra lớp thảo luận, trao đổi cùng các bạn
Trang 9-Tập trả lời câu hỏi theo SGK.
-Tự đặt câu hỏi sau khi đã đọc trước bài
e Có khả năng chỉ đạo tổ chức điều khiển lớp học:
Vì là độ tuổi cấp II nên học sinh chưa có ý thức tự giác học, lười học Mặt khác sự tiếp thu kiến thức nhận thức và giải quyết vấn đề cho bài giảng của mỗi học sinh chênh lệch rõ rệt Do đó giáo viên phải quản lí tổ chức điều khiển lớp học
Cải tiến hình thức kiểm tra bài cũ: Không hoàn toàn gọi học sinh lên trả bài như thông thường, tuỳ vào tình hình từng lớp có thể dùng nhiều hình thức khác nhau, nhất là Công nghệ là một môn khoa học thực nghiệm Tôi thường cho các
em tình nguyện trong kiểm tra bài cũ, kiến thức cũ được hỏi trọng tâm và được ghi lên bảng cho các em chuẩn bị, thông qua hỏi miệng, áp dụng bài tập, làm mô
tả thí nghiệm, điền từ hay kết quả điền vào ô trống hay viết lên giấy Học sinh có thể đứng tại chỗ hay lên bảng làm sao tránh tâm lí lo sợ hồi hộp quá đáng trong thời gian ôn bài cũ
Hướng dẫn học sinh tự ghi bài: học sinh thường có thói quen nhờ giáo viên đọc bài chép hoặc giáo viên ghi lên bảng học sinh chụm vào nhau nói chuyện, không chú ý ghi bài, làm chuyện riêng và để khắc phục thói quen này tôi vừa giảng vừa ghi bài nhưng phần ghi trên bảng là phần hướng dẫn ghi bài không phải là nội dung để học sinh ghi, học sinh nào không chú ý nghe giảng không thể ghi bài được Qua phương pháp hướng dẫn tự ghi bài đa số 100% học sinh đều thực hiện được kể cả những học sinh yếu kém, thông qua đó học sinh dễ học bài và mau thuộc bài, lớp học nghiêm túc
Ví dụ:
TIẾT 5: Bài 7: TÁC DỤNG CỦA PHÂN BÓN TRONG TRỒNG TRỌT
I Mục tiêu cần đạt:
1 Kiến thức: Nhận biết các loại phân bón thường dùng và tác dụng của phân
bón đối với đất và cây trồng
2 Kỹ năng: Phân biệt được các loại phân bón sử dụng cho từng loại cây trồng
khác nhau
3 Thái độ: Có ý thức tận dụng các sản phẩm phụ (thân, cành, lá) cây hoang dại
để làm phân bón
Trang 10II Chuẩn bị của GV- HS :
- GV: Một số loại phân hoá học (đựng trong túi nilon có ghi chú), Hình 6 SGK phóng to
- HS: Tìm hiểu bài trước khi đến lớp
III Các hoạt động dạy học:
1.Ổn định tổ chức: (1’)
2.Khởi động / mở bài: (2’)
Mở bài: Ngay từ xa xưa cha ông ta đã nói “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ
giống”.Câu tục ngữ này phần nào nói lên tầm quan trọng của phân bón phân bón có tác dụng gì?Muốn trả lời được câu hỏi đó chúng ta vào bài học “Tác dụng của phân bón trong trồng trọt”
3 Bài mới(37’)
*Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm về phân bón
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
- GV: Yêu cầu HS đọc mục I
(?): Phân bón là gì?
- HS: Là thức ăn do con người bổ sung
cho cây trồng
GV giải thích cho HS hiểu từ “thức ăn”
(?): Phân bón được chia làm mấy nhóm?
Kể tên các nhóm?
- Gồm 3 nhóm: Phân hữu cơ, phân hoá
học, vi sinh
-GV có thể cho HS xem mẫu thật Ví dụ:
Phân bón đạm (N) dạng viên màu trắng,
phân bón lân (P) dạng bột màu xám tro,
phân bón kali (K) dạng bột màu muối ớt
- GV: Yêu cầu HS quan sát sơ đồ 2 và trả
lời câu hỏi
(?): Nhóm phân hữu cơ (hoá học, vi sinh)
gồm những loại phân nào?
- HS: Quan sát sơ đồ 2 và trả lời
+ Phân hữu cơ: Phân chuồng, phân bắc,
phân rác, phân xanh, than bùn, khô dầu
+ Phân h2: Đạm, lân, kali, đa nguyên tố vi
lượng
+ Phân vi sinh: Chuyển hoá đạm, chuyển
hoá lân
- GV: Yêu cầu HS thảo luận nhóm
Dựa vào sơ đồ 2 hãy sắp xếp các loại
phân bón theo mẫu bảng (phụ lục)
- HS: Kẻ bảng và hoạt động nhóm sắp xếp
I Phân bón là gì?
- Là “thức ăn” do con người bổ sung cho cây trồng
- Phân bón gồm 3 nhóm chính + Phân hữu cơ: Phân chuồng, phân bắc, phân rác, than bùn…
+ Phân hoá học: Phân đạm, lân, Kali, phân vi lượng…
+ Phân vi sinh: chứa vi sinh vật chuyển hoá đạm, lân…