1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc xử lý nước thải, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước sông tô lịch, hà nội

75 324 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về các nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước .... Do đó, việc nghiên cứu các nhân t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGUYỄN HỮU MINH

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN XÁC ĐỊNH

MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN CHO VIỆC

XỬ LÝ NƯỚC THẢI, GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH

NGUỒN NƯỚC SÔNG TÔ LỊCH, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG(MNS)

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

NGUYỄN HỮU MINH

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN XÁC ĐỊNH

MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN CHO VIỆC

XỬ LÝ NƯỚC THẢI, GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH

NGUỒN NƯỚC SÔNG TÔ LỊCH, HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản trị an ninh phi truyền thống

Mã số: Chương trình thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ HOÀNG HÀ

Hà Nội - 2017

Trang 3

CAM KẾT

Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác

Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công

thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã được các tác giả

đồng ý và trích dẫn cụ thể

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng đánh giá luận văn, Khoa Quản trị

và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học cao học và làm luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được

sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa và các thầy cô đã tận tình giảng dạy trong quá trình theo học

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Hoàng Hà đã rất tận tình quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giúp đỡ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

Cùng với sự giúp đỡ từ nhiều phía, tôi cũng đã rất nỗ lực để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất nhưng do những hạn chế nhất định về kiến thức, thời gian, thông tin nên sản phẩm chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự cảm thông, đóng góp và bổ sung của các thầy cô và bạn đọc để sản phảm hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Minh

Trang 5

MỤC LỤC

CAM KẾT i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ AN NINH NGUỒN NƯỚC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC 6

1.1 Tổng quan về an ninh nguồn nước 6

1.1.1 Khái niệm chung về an ninh 6

1.1.2 Khái niệm về an ninh nguồn nước 8

1.1.3 Những vấn đề về an ninh nguồn nước khu vực đô thị tại Việt Nam 10

1.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước 12

1.2.1 Khái niệm phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và mức sẵn lòng chi trả 12

1.2.2 Sự cần thiết xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước 13

1.2.3 Các bước tiến hành đánh giá ngẫu nhiên 17

1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 20

1.3 Tổng quan về các nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước 21

1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 21

1.3.2 Nghiên cứu trong nước 25

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN CHO 28

XỬ LÝ NƯỚC THẢI SÔNG TÔ LỊCH 28

2.1 Giới thiệu chung về sông Tô Lịch và thực trạng ô nhiễm nước 28

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28

2.2.2 Thực trạng ô nhiễm nước sông Tô Lịch 29

2.1.3 Khó khăn, thách thức trong kiểm soát ô nhiễm nước sông Tô Lịch 31

2.2 Đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân trong một năm cho xử lý nước thải sông Tô Lịch 33

Trang 6

2.2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 33

2.2.2 Xây dựng bảng hỏi, chọn mẫu và tiến hành điều tra 33

2.2.3 Kịch bản giả định trong phiếu điều tra 34

2.2.4 Thống kê mô tả chung về mẫu điều tra 35

2.2.5 Kết quả đánh giá mức độ quan tâm của người dân đến chất lượng sông Tô Lịch 37

2.2.6 Kết quả ước lượng mức sẵn lòng chi trả của cộng đồng trong một năm cho làm sạch nước sông Tô Lịch 43

2.2.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tớimức sẵn sàng chi trả cho kiểm soát ô nhiễm sông Tô Lịch 45

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC SÔNG TÔ LỊCH 48

3.1 Quan điểm giải quyết ô nhiễm môi trường nước sông Tô Lịch của chính quyền thành phố Hà Nội 48

3.2 Đề xuất các nhóm giải pháp góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước sông Tô Lịch 49

3.2.1 Nhóm giải pháp tuyên truyền, vận động, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng trong công tác kiểm soát ô nhiễm 49

3.2.2 Tăng cường hợp tác công tư trong công tác bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, đảm bảo an ninh môi trường nước sông ở khu vực đô thị 50

3.2.3 Một số giải pháp khác 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống 7 Bảng 2.1 Thống kê mô tả WTP của đối tƣợng phỏng vấn 43 Bảng 2.2 Bảng kết quả hồi quy hàm WTP 44

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sông Tô Lịch ngày nay 28

Hình 2.2 Giá trị BOD5 tại các điểm quan trắc trên các sông nội thành tháng 7/2015 30

Hình 2.3 Giá trị N-NH4+ trên các sông nội thành tháng 7/ 2015 31

Hình 2.4 Biểu đồ cơ cấu nhóm tuổi của đối tượng được phỏng vấn 35

Hình 2.5 Biểu đồ cơ cấu giới tính của đối tượng được phỏng vấn 36

Hình 2.6 Biểu đồ cơ cấu trình độ học vấn của đối tượng được phỏng vấn 36

Hình 2.7 Biểu đồ cơ cấu thu nhập/tháng của đối tượng được phỏng vấn 37

Hình 2.8 Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm nước sông 38

Hình 2.9 Đánh giá của người dân về chất lượng nước sông Tô Lịch 38

Hình 2.10 Đánh giá của người dân về chất lượng nước sông Tô Lịch 39

Hình 2.11 Đánh giá của người dân về chất lượng nước sông Tô Lịch 39

Hình 2.12 Đánh giá của người dân về chất lượng nước sông Tô Lịch 40

Hình 2.13 Đánh giá của người dân về chất lượng nước sông Tô Lịch 40

Hình 2.14 Đánh giá của người dân về cơ hội nếu xử lý nước thải, giảm ô nhiễm dòng sông 41

Hình 2.15 Đánh giá của người dân về sự sẵn lòng chi trả cho xử lý nước thải sông Tô Lịch 42 Hình 2.16 Đánh giá của người dân về sự sẵn lòng chi trả cho xử lý nước thải sông Tô Lịch 42

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Sông Tô Lịch xưa là một con sông nhỏ, chảy trong địa phận kinh thành Thăng Long, vốn từng là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ thượng lưu ở sông Hồng sang sông Nhuệ Đến đoạn trung lưu, sông gặp hồ Tây và một phần nước từ hồ Tây được cung cấp cho đoạn sông từ đó đến hạ lưu, phục vụ đời sông sinh hoạt của cư dân xưa Ngày nay, dưới sức ép của quá trình đô thị hóa, quy hoạch xây dựng không đồng bộ cùng với sự thiếu

ý thức của người dân sống ven sông đã làm cho diện tích sông bị thu hẹp Đoạn sông Tô Lịch từ Cầu Gỗ đến Bưởi đã bị lấp làm sông Tô Lịch không còn thông với sông Hồng Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ phường Nghĩa Đô thuộc quận Cầu Giấy với chiều dài khoảng 14 km, chảy qua địa phận 5 quận, huyện: Cầu Giấy, Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Thanh Trì Sông Tô Lịch cùng với sông Kim Ngưu, sông Lừ và sông Sét đã tạo nên

hệ thống tiêu thoát nước chính của thành phố Hà Nội

Bên cạnh diện tích bị thu hẹp, hành lang bảo vệ sông Tô Lịch cũng bị lấn chiếm ở nhiều đoạn, chất lượng nước sông ngày càng bị ô nhiễm Chỉ trên một đoạn sông dài chưa đầy 14km đã có hàng trăm cống nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử

lý của các hộ dân và doanh nghiệp kinh doanh xả trực tiếp xuống dòng sông Từ một con sông đẹp, sông Tô Lịch đã trở thành nơi chứa nước thải của thành phố Hà Nội Một số kết quả quan trắc chất lượng nước sông Tô Lịch trong những năm gần đây cho thấy: (i) Mỗi ngày có khoảng 150.000 m³ nước thải xả trực tiếp xuống dòng sông, trong đó 1/3 là nước thải công nghiệp chưa qua xử lý(Trần Đức Hạ và Nguyễn Bá Liêm, 2015); (ii) Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) thấp hơn 2,31 lần so với tiêu chuẩn; (iii) Nhu cầu ôxy sinh học (BOD5) vượt giới hạn cho phép 7,13 lần, nhu cầu ôxy hóa học (COD) vượt 9,86 lần, tổng chất rắn

lơ lửng (TSS) vượt 2,11 lần, hàm lượng nitrat (NO3-) vượt 1,64 lần(Tổng cục Môi trường, 2014) Nước sông có màu đen, có váng, cặn lắng và mùi hôi Đặc biệt, mức độ ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng về cuối nguồn Sự ô nhiễm của sông đã gây ảnh hưởng lớn tới đời sống sinh hoạt của những người sông ven sông, tác động tiêu cực đến hệ động thực vật ở sông, ngoài ra nguồn nước bị ô nhiễm đã tác động gián tiếp tới sức khỏe người dân thông qua hoạt đông sản xuất nông nghiệp tại một số vùng Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm sông Tô Lịch ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn nước ngầm của Hà Nội, trong khi đó hiện 80-85% nguồn nước cấp cho sinh hoạt là nước ngầm, chỉ một phần nhỏ là nước mặt từ nhà máy nước lấy nước từ sông Đà

Trang 11

Thực tế, việc xử lý nước thải sinh hoạt được xem là một trong những giải pháp quan trọng đang được UBND thành phố Hà Nội đầu tư kinh phí thực hiện Năm 2009, Sở TN&MT Hà Nội đã công bố “Đề án định hướng cải tạo, nâng cấp sông Tô Lịch thí điểm biện pháp thu gom, xử lý nước thải, với tổng kinh phí thực hiện đến năm 2010 khoảng 600

tỷ đồng”trong đó: (1) Tập trung xây dựng trạm xử lý nước thải quy mô nhỏ và hệ thống thu gom đảm bảo thu gom toàn bộ nước thải, kết hợp với việc xử lý bề mặt và nạo vét thường xuyên để cải thiện chất lượng nước cho một đoạn sông; (2) Đối với các nguồn thải dân sinh, trước mắt vẫn cho chảy trực tiếp vào sông và tự làm sạch một phần theo dòng chảy có thể kết hợp với các biện pháp xử lý bằng chế phẩm vi sinh; (3) Đối với các cửa xả trung bình có đường kính từ 300 -1500mm sẽ khảo sát cụ thể để thu gom tập trung từng đoạn chuyển về trạm xử lý nước thải kết hợp với hệ thống thu gom để xử lý như các cửa xả lớn Năm 2016, Hà Nội đã khởi công xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (huyện Thanh Trì) với tổng vốn đầu tư gần 16.300 tỷ đồngphục vụ thu gom và xử lý nước thải tập trung

từ các dòng sông, trong đó có sông Tô Lịch Điều này cho thấy chi phí từ ngân sách Nhà nước đầu tư cho hệ thống thu gom xử lý nước thải là vô cùng lớn Đặt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước mức bội chi ngân sách cao như hiện nay, đòi hỏi cần phải có cách tiếp cận mới trong việc huy động các nguồn vốn từ cộng đồng, doanh nghiệp trong việc chung tay với Nhà nước đầu tư, xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải sinh hoạt cộng đồng

Theo UNESCO-IPH (2012), an ninh nguồn nước là trạng thái phản ánh năng lực tiếp cận bền vững với đủ lượng nước sạch của cộng đồng nhằm duy trì sinh kế, sức khỏe con người và phát triển kinh tế- xã hội, phòng tránh thiên tai liên quan đến nước và bảo tồn hệ sinh thái trong bối cảnh hòa bình và chính trị ổn định Theo cách tiếp cận của UNESCO-IPH thì việc đảm bảo khả năng tiếp cận bền vững với nguồn nước sạch phục vụ sinh kế và sức khỏe cho cộng đồng đòi hỏi: (i) Phải ứng phó với các hậu quả tiêu cực do tình trạng ô nhiễm các nguồn nước, các dòng sông hiện nay gây ra cho cộng đồng; (ii) Phải khắc phục các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước; (iii) Phải có các kế hoạch phòng ngừa các rủi ro gây ô nhiễm các nguồn nước trong tương lai Để đảm bảo an ninh môi trường nói chung và an ninh nguồn nước nói riêng, cầncó sự tham gia của 03 chủ thể chính: (i) Nhà nước, (ii) Doanh nghiệp; và (iii) Cộng đồng (Hoàng Đình Phi, 2016) Điều này có thể được hiểu việc huy động các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện các giải pháp ứng phó, khắc phục các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước, từ đó đảm bảo an ninh nguồn nước đòi hỏi phải sự tham gia của 03 chủ thể chính

Trang 12

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: (i) Nước thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên dòng sông Tô Lịch, ảnh hưởng đến việc tiêu thoát nước đô thị, cảnh quan hai bên bờ sông, đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của các hộ dân sinh sống trên hai bên bờ dòng sông; (ii) Việc thu gom

và xử lý nước thải sinh hoạt hai bên dòng sông Tô Lịch đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn trong khi ngân sách nhà nước có hạn; (iii) Chưa có cơ chế, chính sách huy động nguồn tài chính của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư trong việc đầu tư xử lý nước thải sinh hoạt hai bên dòng sông Tô Lịch Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và mức độ sẵn lòng tham gia đóng góp tài chính của cộng đồng cho việc thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt hai bên dòng sông Tô Lịch, từ đó ước lượng tổng mức đóng góp tài chính của cộng đồng, chung tay cùng thành phố Hà Nội và ngân sách nhà nước trong việc xử lý nước thải sinh hoạt sông Tô Lịch là một trong những yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay Chính vì vậy, học viên đã chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mứcsẵn lòng chi trả của người dân cho việc xử lý nước thải, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước sông Tô Lịch, Hà Nội”làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Với tầm quan trọng của dòng sông Tô Lịch tới cảnh quan của Thủ đô Hà Nội và hoạt động tiêu thoát nước thải sinh hoạt của người dân đô thị, nhất là trong mùa mưa lũ, đã có những nghiên cứu, đề án nhằm đánh giá thực trạng, tác động của tình trạng ô nhiễm dòng sông Tô Lịch tới cảnh quan và sức khỏe của người dân Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội cũng đã có những dự án nhằm khắc phục tạm thời các tác động do ô nhiễm dòng sông gây

ra Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu đưa ra một giải pháp tổng thể nhằm quản lý ô nhiễm dòng sông Chính vì vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của người dân để xử lý nước thải sông Tô Lịch và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý ô nhiễm, góp phần đảm bảo an ninh môi trường nước sông Tô Lịch

Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc cải thiện chất lượng môi trường đã được thực hiện tại nhiều khu vực trên thế giới như cải thiện chất lượng nước sông tại Pune, Ấn Độ (Imandoust và Gadam, 2007), Thượng Hải, Trung Quốc (Shang và nnk, 2012), Nam Kinh (Cai và Zhang, 2007), Bắc Kinh (Swanson và nnk, 1999), Giang Tô (He và nnk, 2007); dịch vụ nước uống hợp vệ sinh tại Nowshera, Pakistan (Parveen và nnk, 2016), Bangladesh (Khan và nnk, 2014), Pusan, Hàn Quốc (Kwak và nnk, 2013)

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã thực hiện áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước ở các làng nghề

Trang 13

tỉnh Bắc Ninh (Dung và Dat, 2016), làng nghề Vạn Phúc, Hà Nội (Ngô Thị Thủy và nnk, 2015), dịch vụ thu gom quản lý xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm, Hà Nội (Nguyễn Văn Song và nnk, 2011), bảo vệ nước sông đồng bằng sông Cửu Long (Võ Thành Danh, 2010) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc cải thiện nước sông Tô Lịch, Hà Nội sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc xửlý nước thải sông Tô Lịch, Hà Nội sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

- Đề xuất các giải pháp góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước sông Tô Lịch, Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu

- Sông Tô Lịch;

- Các hộ dân đangsống xung quanh sông Tô Lịch tại 04 quận nội thành thành phố Hà Nội (Đống Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai)

5 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu tại khu vực sông Tô Lịch

bị ô nhiễm chảy qua 4 quận nội thành của thành phố Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu:9/2016-5/2017

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa: Sử dụng kế thừa các tư liệu, thông tin phù hợp, hiện có trong nước và quốc tế từ tất cả các nguồn về cơ sở lý luận của lượng giá kinh tế giá trị tài nguyênmôi trường, kinh nghiệm lượng giá của các quốc gia/tổ chức đối với tài nguyên nước, các văn bản pháp lý, định hướng chiến lược của địa phương về quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước, các báo cáo nghiên cứu, tư liệu trong các lĩnh vực khác nhau liên quan đến quản lý nước sông Tô Lịch

Phương pháp mô hình toán: Các mô hình toán kinh tế và kinh tế lượng được phát triển trong đề tài bao gồm mô hình phi tham số để tính khoảng của biến số sẵn sàng chi trả

Mô hình này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết kinh tế về lượng giá tài nguyên, được tham vấn ý kiến chuyên gia để lựa chọn các biến số phù hợp Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được lựa chọn áp dụng để tính toán mức sẵn sàng chi trả của người dân cho xử lý nước sông Tô Lịch đang bị ô nhiễm bằng cách xây dựng một thị trường ảo với một tình huống giả định

Trang 14

Phương pháp điều tra thực địa: Được thực hiện tại hiện trường nghiên cứu là khu vực sông Tô Lịch Công tác điều tra, khảo sát được tiến hành theo các bước là: Chuẩn bị trước thực địa gồm có xây dựng bảng hỏi cho đối tượng điều tra, tính toán mẫu điều tra, xác định khung điều tra và lên kế hoạch thu thập số liệu; Thu thập ý kiến phản hồi để hoàn thiện phiếu điều tra, các ý kiến để cải thiện cách điều tra (cách đặt câu hỏi, bố trí các phần hỏi ), khảo sát ngoài thực địa Điều tra thực địa nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của các hộ dân cho việc xử lý nước thải sông Tô Lịch được tiến thành từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2017 Tổng số phiếu đã thực hiện tại khu vực nghiên cứu của 4 quận nội thành ven sông Tô Lịch: Đống Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai là 189 Đối tượng phỏng vấn là các hộ dân sống gần khu vực sông Tô Lịch, có hiểu biết về sông Tô Lịch và có mức quan tâm nhất định đến cải thiện chất lượng nước sông

Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu: Các số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập sẽ được xử lý bằng các mô hình và phần mềm thống kê SPSS hoặc Excel phục vụ cho phần báo cáo về kết quả, thảo luận và đề xuất biện pháp quản lý, sử dụng phương pháp định tính

và định lượng để phân tích và đánh giá…

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng trong quá trình hoàn thiện báo cáo nghiên cứu Kết hợp với phương pháp trên các thông tin đầu vào sẽ được phân tích cụ thể, dữ liệu đầu ra sẽ được giải trình, thảo luận chi tiết Các phương hướng quản lý cũng sẽ được đề xuất dựa trên những kết quả phân tích và tổng hợp

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần giới thiệu nghiên cứu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về an ninh nguồn nước và phương pháp đánh giá

ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước

Chương 2: Đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân cho xử lý nước thải sông Tô

Lịch

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước sông Tô Lịch

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ AN NINH NGUỒN NƯỚC VÀPHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG CHI

TRẢ CHO VIỆCĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC

1.1 Tổng quan về an ninh nguồn nước

1.1.1 Khái niệm chung về an ninh

An ninh trong tiếng anh được gọi là “security” và có hàm ý là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể Trong nhiều từ điển tiếng Trung thì an ninh và an toàn được dùng chung một từ an toàn An ninh của một cá nhân là một trạng thái hay một mức độ mà ở đó trong một không gian, thời gian và địa điểm cụ thể, một con người cảm thấy an toàn về mặt tâm

lý và trên thực tế cá nhân được an toàn và tự do(Nguyễn Văn Hưởng và nnk, 2016) Như vậy, có thể hiểu an ninh có ý nghĩa là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về người và của Ngược lại với an ninh là mất an ninh là những rủi ro, nguy hiểm, tổn thất Lịch sử đã chứng minh rằng con người không thể có cuộc sống ổn định và phát triển bền vững nếu như không có an ninh và một quốc gia cũng không thể phát triển bền vững nếu không đảm bảo được an ninh cho con người và doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh

Phương trình cơ bản an ninh của một chủ thể được thể hiện như sau (Nguyễn Văn Hưởng và nnk, 2016):

AN NINH CỦA 1 CHỦ THỂ = (AN TOÀN + ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (CHI PHÍ QUẢN TRỊ RỦI RO + KHỦNG HOẢNG + CHI PHÍ KHẮC PHỤC)

Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, khái niệm an ninh đã phân loại thành: an ninh truyền thống (ANTT), và an ninh phi truyền thống (ANPTT) Trong đó, ANTT là khái niệm có nội hàm là an ninh quốc gia theo cách tiếp cận lấy quốc gia hay nhà nước làm trung tâm, là khả năng chống lại sự xâm lược của nước ngoài An ninh quốc gia

là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc(Quốc hội nước CHXHXN Việt Nam, 2014) Như vậy, có thể hiểu an ninh truyền thống theo quan điểm truyền thống là sự tồn tại và phát triển ổn định của một quốc gia trên các lĩnh vực: an ninh chính trị, an ninh quân sự, an

ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng Tuy nhiên, quan điểm về an ninh truyền thống hay

an ninh quốc gia đã thay đổi cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, lịch sử quan hệ quốc tế với những cột mốc lịch sử quan trong như kết thúc chiến tranh lạnh (1947-1991), bức tường Berlin sụp đổ (1989) và Liên Xô cũ tan rã (1991) Tình hình chính trị thế giới

Trang 16

trở lên phức tạp và hỗn loạn hơn Xung đột giữa các quốc gia, xung đột về sắc tộc, xung đột về tôn giáo ngày càng trở nên gay gắt hơn Thế giới trở nên phẳng hơn và đang bước sang giai đoạn hội nhập nhanh với sự phát triển của các công nghệ mới, công nghệ thông tin và truyền thông, mạng Internnet, các dòng chảy thông tin, quan điểm, ý tưởng, đầu tư, thương mại, du lịch, du học, văn hóa… Thế giới đang đứng trước các nguy cơ của biến động toàn cầu, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, trong khi vẫn đang phải đối phó với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội… Tất cả các yếu tố trên đã hình thành nên khái niệm

an ninh phi truyền thống (ANPTT), lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo “Phát triển con người” năm 1994 của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP, 1994) Theo đó

an ninh phi truyền thống được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Điều này hàm ý rằng các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống được hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh biến động toàn cầu và biến đổi khí hậu Và để có thể đạt được mục tiêu chính trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống đòi hỏi sự tham gia của cả ba chủ thể là: Nhà nước; Con người/Cộng đồng; và Doanh nghiệp cùng với sự vận dụng các công cụ chính như: Sức mạnh & nguồn lực Nhà nước; Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng; và sức mạnh nguồn lực của doanh nghiệp (Hoàng Đình Phi, 2016)

Bảng 1.1 So sánh an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống

Là an ninh nhà nước, A.N con người và A.N

Khái niệm mới ra đời khi hội nhập toàn cầu

độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, lãnh thổ

Ổn định và PTBV của nhà nước, con người (cộng đồng) và doanh nghiệp

Mối quan

hệ biện chứng

Phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu

Trang 17

TT ANTT ANPTT ĐIỂM

 Doanh nghiệp

Mối quan

hệ biện chứng

Đổi mới nhận thức

 Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng

 Sức mạnh &

nguồn lực doanh nghiệp

Mối quan

hệ biện chứng

Thay đổi nhận thức Phải chủ động

và thể chế nhà nước do Đảng cầm quyền quyết định

 Quốc tế (* VD: An ninh mạng )

 Khu vực (*VD Đói, Dịch bệnh…)

 NN (* tùy tình huống)

 Con người/ Cộng đồng

 Doanh nghiệp

Mối quan

hệ biện chứng

Tác động đa chiều, đa mức độ, đa cấp độ, đa lĩnh vực, xuyên biên giới…

Nguồn: Hoàng Đình Phi, 2016

1.1.2 Khái niệm về an ninh nguồn nước

Khái niệm an ninh nguồn nước được đưa ra chính thức lần đầu trong tuyên bố cấp Bộ trưởng – Diễn đàn kinh thế thế giới ngày 22 tháng 3 năm 2000, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh nguồn nước trong thế kỷ 21 Theo UNESCO-IPH (2012), an ninh nguồn nước là trạng thái phản ánh năng lực tiếp cận bền vững với đủ lượng nước sạch của cộng đồng nhằm duy trì sinh kế, sức khỏe con người và phát triển kinh tế-

xã hội, phòng tránh thiên tai liên quan đến nước và bảo tồn hệ sinh thái trong bối cảnh hòa bình và chính trị ổn định Tại Việt Nam, xuất phát từ những nghiên cứu về ANPTT nói chung, an ninh nguồn nước có thể hiểu là trạng thái phản ánh năng lực tiếp cận an toàn, ổn định và bền vững với nguồn nước sạch cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người(Nguyễn Văn Hưởng và nnk, 2016) Dựa trên phương trình cơ bản an ninh của 1 chủ thể, các tác giả đã tổng hợp và phát triển mô hình phương trình cơ bản về quản trị an ninh nguồn nước, cụ thể như sau (Hoàng Đình Phi và nnk, 2016):

Trang 18

QUẢN TRỊ AN NINH NGUỒN NƯỚC = (AN TOÀN + ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (CHI PHÍ QUẢN TRỊ RỦI RO + CHI PHÍ MẤT DO KHỦNG

HOẢNG + CHI PHÍ KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG)

Trong đó các hợp phần của phương trình quản trị an ninh nguồn nước bao gồm các thông số sau:

An toàn: chất lượng nước, xung đột liên quan đến nước, tai biến liên quan đến nước

Ổn định: trữ lượng nước, khả năng tiếp cận với nguồn nước (chi phí, hệ thống cấp

thoát nước)

Phát triển bền vững: hiện trạng các chiến lược, chính sách, luật pháp, quy hoạch dảm

bảo an ninh nguồn nước, tiềm lực kinh tế đảm bảo an ninh nguồn nước, khoa học – công nghệ và hợp tác (quốc tế, trong nước)

Chi phí quản trị rủi ro: chi phí cho hệ thống trữ và thoát nước, chi phí quan trắc và

xử lý nước, chi phí cho đội ngũ quản lý nguồn nước, chi phí xây dựng và vận hành hệ thống cảnh báo thiên tai

Chi phí mất do khủng khoảng: chi phí mất do khan hiếm nước (thiếu nước, mất

nước), chi phí mất do ô nhiễm nước, chi phí mất do xung đột liên quan đến nguồn nước, chi phí mất do tai biến liên quan đến nước

Chi phí khắc phục khủng hoảng: chi phí khắc phục thiệt hại do ô nhiễm gây ra, chi

phí khắc phục thiệt hại do xung đột nguồn nước gây ra, chi phí khắc phục tai biến liên quan đến nước

Theo cách tiếp cận này thì việc đảm bảo khả năng tiếp cận an toàn, ổn định và bền vững với nguồn nước sạch phục vụ sinh kế và sức khỏe cho cộng đồng đòi hỏi phải huy động các nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp trong việc quản trị rủi ro, ứng phó với các rủi ro gây khủng hoảng mất an ninh nguồn nước cũng như chi phí cho việc khắc phục hậu quả sau khủng hoảng

Ô nhiễm nguồn nước là một trong những yếu tố phổ biến dẫn đến mất an ninh nguồn nước Nguồn nước thải chưa được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu đang là một trong những rủi ro tạo nên các nguồn ô nhiễm lớn, thường xuyên, làm ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng các nguồn nước, làm cạn kiệt nguồn nước sạch, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và sản xuất của nhân dân, góp phần gây mất an ninh nguồn nước, đặc biệt tại các dòng sông chảy qua các đô thị, thành phố lớn tại Việt Nam (Lê Bắc Huỳnh, 2013) Chính

vì vậy, để đảm bảo an ninh nguồn nước, đặc biệt là các dòng sông tại các đô thị lớn đòi hỏi phải đầu tư nguồn lực cho việc (i) Ứng phó với các hậu quả tiêu cực do tình trạng ô nhiễm

Trang 19

các nguồn nước, các dòng sông hiện nay gây ra cho cộng đồng; (ii) Khắc phục các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước; (iii) Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa các rủi ro gây ô nhiễm các nguồn nước trong tương lai Trong đó, việc đầu tư, xây dựng hệ thống xử lý nguồn nước thải từ cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm ứng phó với các hậu quả tiêu cực do tình trạng ô nhiễm các nguồn nước gây mất an ninh nguồn nước đang diễn ra hiện nay tại các con sông lớn chảy qua các độ thị và thành phố Đảm bảo an ninh môi trường nói chung và an ninh nguồn nước nói riêng đòi hỏi sự tham gia của 03 chủ thể chính: (i) Nhà nước, (ii) Doanh nghiệp; và (iii) Cộng đồng cùng với sự vận dụng các công cụ chính như: Sức mạnh & nguồn lực Nhà nước; Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng; và sức mạnh nguồn lực của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Hưởng và nnk, 2016) Do đó, việc ứng dụng các phương pháp nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và tính toán mức độ sẵn lòng tham gia đóng góp nguồn lực tài chính từ cộng đồng trong việc thu gom, xử lý nguồn nước thải sinh hoạt gây ra tình trạng ô nhiễm, mất an ninh nguồn nước tại các dòng sông chảy qua các đô thị lớn tại Việt Nam là một yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay

1.1.3 Những vấn đề về an ninh nguồn nước khu vực đô thị tại Việt Nam

Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số tăng nhanh trong khi cơ sở vật chất không đảm bảo, quy hoạch còn nhiều bất cập tình trạng môi trường ở đô thị tại các nước đang phát triển đang có xu hướng ngày càng xấu đi, trong đó phải kể đến ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước Quá trình đô thị hóa đặt ra những thách thức to lớn đối với công tác quản lý tài nguyên nước, cấp nước, vệ sinh, hệ sinh thái và môi trường trong đó mối quan hệ giữa nguồn nước và đô thị là rất mật thiết Các đô thị với nhu cầu không gian, nhu cầu nước, lương thực cũng như lượng sản sinh nước thải, chất thải rất lớn của mình đang tạo ra những sức ép ngày càng gia tăng tới hệ thống các nguồn nước và hệ sinh thái thủy sinh Các hệ lụy và tác động qua lại này không chỉ giới hạn trong phạm vi đô thị Các vấn đề này trở nên trầm trọng hơn ở những đô thị có mức độ dễ bị tổn thương cao trước các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai

Phần lớn các đô thị ở các nước đang phát triển có một đặc điểm khá giống nhau, đó

là hệ thống nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, y tế đều chung nhau một hệ thống cống thoát, không được xử lý trước khi đổ vào các dòng sông, gây ra ô nhiễm môi trường nước tại các sông hồ, kênh rạch nội thành, nội thị ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh nguồn nước tại các khu vực này

Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 về môi trường đô thị (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) cho thấy tình hình ô nhiễm và xử lý nước thải như sau:

Trang 20

- Nhiều sông nội thành ở Việt Nam vẫn là các kênh dẫn nước thải, các sông lớn chảy qua các khu vực nội đô chất lượng nước cũng bị suy giảm Môi trường nước chủ yếu bị ô nhiễm các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật Nguyên nhân chủ yếu là do các khu vực này phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải sinh hoạt đô thị chưa được xử lý hoặc xử

lý chưa đạt yêu cầu.Tỷ lệ nước thải được xử lý còn khá thấp đã ảnh hưởng lớn đến hiện trạng chất lượng môi trường nước ở đô thị

- Nước thải sinh hoạt: Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh ở khu vực đô thị tiếp tục tăng cao Thành phần các chất gây ô nhiễm chính trong nước thải sinh hoạt gồm chất rắn lơ lửng (TSS), BOD5, Amoni (N-NH4+), Phốtphát, Clorua (Cl-), chất hoạt động bề mặt, vi sinh vật gây bệnh Tỷ lệ lượng nước thải sinh hoạt được xử lý vẫn ở mức thấp, tình trạng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả thẳng ra môi trường bên ngoài vẫn diễn ra khá phổ biến ở các đô thị ở các nước đang phát triển Công nghệ xử lý nước thải (XLNT) sinh hoạt khá đa dạng, tùy thuộc điều kiện cụ thể từng vùng, từng địa phương

- Nước thải y tế:Ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ, chất thải ý tế còn có những chất hữu cơ đặc thù, các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh và có thể có các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh Lượng nước thải thực tế thu gom phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của hệ thống thu gom trong các cơ sở y tế Lượng nước thải y tế phát sinh hàng năm tăng dần theo thời gian do các đô thị lớn là nơi tập trung nhiều bệnh viện với lượng nước thải phát sinh lớn

- Nước thải từ các nguồn khác:Bao gồm nước thải công nghiệp, dịch vụ, trung tâm thương mại… Ở một số thành phố vẫn còn một số khu công nghiệp nằm trong nội thành và

có nhiều khu công nghiệp nằm sát nội thành Các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ này chủ yếu là của các hộ gia đình nên hầu hết không được đầu tư hệ thống xử lý chất thải Ngoài việc thiếu hụt kinh phí xây dựng hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn trong việc không được tiếp cận hệ thống, công nghệ xử lý chất thải mới Do

đó, chất lượng nước thải không đảm bảo khi xả thải ra ngoài môi trường Nước thải từ các ngành sản xuất công nghiệp thường chứa nhiều kim loại nặng, dầu mỡ và chất rắn lơ lửng Nước thải từ các trung tâm thương mại - dịch vụ cũng xả thải chung vào hệ thống thoát nước đô thị Nước thải phát sinh từ các ngành khách sạn và trung tâm thương mại - dịch vụ

có tính chất tương tự như nước thải sinh hoạt đô thị với hàm lượng BOD, TSS, Coliform tương đối cao Tuy nhiên, so với nguồn thải từ hoạt động sinh hoạt, loại nước thải này có chứa hàm lượng chất tẩy rửa cao hơn nhiều Bên cạnh đó, nước thải từ các chợ dân sinh đô thị cũng là nguồn gây ô nhiễm đến môi trường nước mặt đô thị

Trang 21

- Nước mặt ở các sông, hồ, kênh, mương nội thành, nội thị hầu hết đã bị ô nhiễm do tiếp nhận chất thải từ các hoạt động phát triển đô thị, khả năng tự làm sạch thấp, nhiều hồ đã trở thành nơi chứa nước thải của các khu vực xung quanh Ngoài ra, chất lượng nước một số đoạn sông chảy qua khu vực đô thị cũng có sự suy giảm Mức độ suy giảm chất lượng nước các sông chảy qua khu vực đô thị có sự khác nhau Những sông có lưu lượng nước lớn, khi chảy qua khu vực

đô thị, mặc dù chất lượng nước bị suy giảm nhưng do khả năng tự làm sạch tốt nên chất lượng nước sông vẫn còn khá ổn định Đối với những sông có lưu lượng nước nhỏ hơn, chất lượng nước có sự suy giảm đáng kể, khả năng phục hồi hạn chế

- Hoạt động phát triển đô thị và ô nhiễm kéo dài, một số hồ bị thu hẹp, lấn chiếm, bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước và XLNT Các khu dân cư xung quanh hồ chưa có hệ thống thu gom nước thải nên nước thải đô thị xả trực tiếp vào hồ Phần lớn các

hồ nội thành, nội thị ở các cấp loại đô thị đều bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất dinh dưỡng ở các mức độ khác nhau Tình trạng vứt rác bừa bãi, xả nước thải sản xuất chưa qua xử lý xuống lòng sông, kênh mương khá phổ biến Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm lòng sông , kênh mương xảy ra khắp nơi khiến diê ̣n tích mặt nước thu he ̣p, cản trở dòng chảy

1.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước

1.2.1 Khái niệm phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và mức sẵn lòng chi trả

Đánh giá ngẫu nhiên (tên gốc là Contingent Valuation – CV) hay Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM) là phương pháp được sử dụng để đánh giá hàng hoá chất lượng môi trường không dựa trên giá thị trường (Michell và Carson, 1989), đặc thù cho nhóm giá trị phi sử dụng Bằng cách xây dựng kịch bản/ tình huống giống như một thị trường ảo cho các sản phẩm và dịch vụ chất lượng môi trường, người ta xác định được hàm cầu về hàng hoá môi trường thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (Willingness To Pay – WTP), đặt trong một tình huống giả định Do thị trường thì không có thực, WTP thì không thể biết trước nên phương pháp được gọi là “đánh giá ngẫu nhiên” Người được hỏi được điều tra, lấy mẫu và các công cụ điều tra dựa trên giả thuyết thị trường được sử dụng để thu thập dữ liệu để sử dụng trong các mô hình dự đoán

số tiền tối đa mà mọi người sẽ sẵn sàng chi trả (WTP) để nhận được chất lượng dịch vụ ở mức độ nhất định, ngẫu nhiên dựa vào kịch bản thị trường đề xuất Một đặc điểm của các nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên là người được phỏng vấn trả lời liệu rằng họ có sẵn sàng mua hàng hóa đó không và ở mức giá nào Ý nghĩa của việc trả giá cho một dịch vụ được xác định rõ ràng phù hợp với kinh nghiệm thị trường của hầu hết người trả lời (Michell và

Trang 22

Carson, 1989) Một khi tình huống giả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả lời đúng với hành động thực của họ thì kết quả của phương pháp là tương đốichính xác

Mức sẵn lòng chi trả (WTP) là mức giá lớn nhất mà mỗi cá nhân bằng lòng chi trả đối với một đơn vị sản phẩm hàng hóa nhất định (Varian, 1992), phản ánh mức giá trị về mặt tiền tệ mà người đó định ra cho mặt hàng đó Ngược lại, giá trị tiền tệ cũng cho thấy sức hút của mặt hàng đó với mỗi cá nhân Mức sẵn lòng chi trả có thể được đo lường thông qua thay đổi thặng dư tiêu dùng

Các nhà phân tích sau đó có thể tính toán mức sẵn lòng chi trả trung bình của những người được hỏi, nhân với tổng số người hưởng thụ giá trị hay tài sản môi trường thì thu được ước lượng giá trị mà tổng thể dân chi trả cho tài sản đó Tổng mức sẵn lòng chi trả (Total Willingness To Pay – TWTP) chính là phần diện tích bên dưới đường cầu, được giới hạn bởi mức sản lượng tiêu dùng tương ứng với mức giá trên thị trường.Nếu chúng ta muốn ước lượng TWTP của cá nhân đối với một loại hàng hóa thì ước lượng tốt nhất ban đầu về lợi ích phải là ước lượng về sức tiêu thụ của khách hàng đối với loại hàng hóa đó Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được áp dụng cho rất nhiều yếu tố môi trường như chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giá trị tiêu thoát nước của sông hồ, giá trị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và săn bắn, phát thải chất độc hại, quản lý và xử lý chất thải…

1.2.2 Sự cần thiết xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước

Một số nguyên nhân chủ yếu sau tạo ra nhiều thách thức trong quản lý nước và đảm bảo an ninh nguồn nước tại khu vực đô thị ở một số nước đang phát triển, đó là: (i) Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức; (ii) Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa đồng bộ, sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp trong đô thị kéo theo nhiều hệ quả về môi trường, trong đó có môi trường nước…(Bộ Tài chính, 2013); (iii) Không quản lý tốt nguồn gây ô nhiễm nước thông qua các công cụ quản lý nhà nước (thuế, phí bảo vệ môi trường với nước thải, quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn nước thải, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường nước ) dẫn đến các đô thị đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững Ví dụ ở Việt Nam, Nghị định 67/2007/NĐ-CP của Việt Nam quy định thu phí với 7 chất gây ô nhiễm đối với nước thải công nghiệp ở tất cả các cơ sở sản xuất công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản Tuy nhiên cả nước hiện có khoảng 20 ngàn cơ sở sản xuất trong diện phải thu phí nước thải (Laplante, 2006) cho nên sẽ rất khó có thể thực hiện tốt việc thu phí do việc yêu cầu nộp tờ khai nộp phí, kiểm tra tính chính xác của tờ khai nộp phí thông qua việc đo đếm, lấy mẫu

Trang 23

phân tích ở tất cả các cơ sở sản xuất là một việc làm tốn rất nhiều nguồn lực (Nguyễn Mậu Dũng, 2016) Hoặc một ví dụ khác cho thấy công cụ thuế, phí không tạo động lực cho người dân và doanh nghiệp giảm phát thải gây ô nhiễm nước như sau: mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp/ một đơn vị chất gây ô nhiễm thải ra môi trường của Việt Nam là như nhau đối với mọi cơ sở sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào hàm lượng chất gây ô nhiễm trong nước thải cao hay thấp (Nguyễn Mậu Dũng, 2016) Trong khi đó, tại nhiều quốc gia đang phát triển, chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải còn lỏng lẻo Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được ban hành nhưng nguồn thu từ đó chênh lệch khá lớn với mức chi cho công tác xử lý nước thải, thu không đủ bù chi Ở Việt Nam, về chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, Chính phủ ban hành tại Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2014, theo đó mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán của 1m3 nước sạch, nhưng tối đa không quá 10% giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng Mới đây, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, theo đó mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng

Theo tính toán của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 2013), chi phí bình quân đầu người cho việc xử lý nước thải từ 200-600 USD Với nước thải sinh hoạt, tính phí ở mức thấp không đủ để bù chi phí xử lý nước thải Nguồn kinh phí chủ yếu để xử lý nước thải lấy từ nguồn ngân sách Nhà nước Việc thu phí chỉ giúpgiảm chi từ ngân sách và bù đắp một phần chi phí cho hoạt động thoát nước, xử lý nước thải và đồng thời, nâng cao ý thức của dân về việc sử dụng hợp lý nước sạch là việc làm cần thiết hiện nay

Liên quan đến chi phí bình quân đầu người cho việc xử lý nước thải, Việt Nam cần phải đầu tư thêm khoảng 6,4-20 tỷ USD trong 10 năm tới để đạt được mục tiêu đề ra (ADB, 2013) Hiện tại, với nước thải sinh hoạt, tính phí ở mức 10% được cho là không đủ

để xử lý nước thải

Trên thế giới, mô hình PPP (Public–Private Partnership)- mô hình hợp tác công tư trong công tác bảo vệ môi trường đã tạo điều kiện cho các công ty tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã, các viện nghiên cứu, trường đại học, các trung tâm nghiên cứu tham gia với tư cách là các chủ thể cung ứng dịch vụ môi trường mới Mô hình này ngày càng phát triển và thể hiện tính hiệu quả rõ nét Sự tham gia của các thành phần ngoài khu vực Nhà nước bao gồm cả cộng đồng vào dịch vụ môi trường ngày càng nhiều là một xu hướng tích cực, phù hợp yêu cầu xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Nhiều nước đã áp dụng thành

Trang 24

công mô hình hợp tác công tư trong 20 năm qua, nhờ việc đưa ra các cơ chế, chính sách phù hợp về PPP (Bennett và nnk, 1999; United Nations, 1997; Forsyth, 2005)

Hơn nữa, ở Việt Nam, hợp tác công tư trong công tác bảo vệ môi trường vẫn còn mới

mẻ, và hiện đang từng bước nghiên cứu và học tập kinh nghiệm thế giới cũng như thực hiện thí điểm mô hình theo một số quy chế riêng Một số kinh nghiệm của các nước về PPP có thể kể đến là:

Ở Anh, xu hướng chung trước đây là Nhà nước thu hút tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng môi trường hoặc cung cấp các thiết bị xử lý môi trường, sau đó chuyển giao cho Nhà nước để sở hữu quản lý Trong một số trường hợp, Nhà nước thuê các công ty khác để bảo trì, vận hành các công trình, thiết bị cung ứng dịch vụ môi trường cho công chúng Tuy nhiên, hình thức này vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn Do vậy ngày nay, Nhà nước thực hiện các dịch vụ này qua PPP, trong đó Nhà nước không trực tiếp sở hữu hay vận hành mà chỉ giữ vai trò điều tiết để người dân nhận được các dịch vụ môi trường tốt hơn, với giá rẻ hơn (Đinh Văn Ân, 2008) Tính đến năm 2006, khoảng 750 dự án PPP trị giá 90 tỷ USD đã được ký kết tại Vương quốc Anh, trong đó hơn 500 dự án đã đi vào hoạt động và đều được người sử dụng đánh giá cao về chất lượng của các dịch vụ Gần 90% dự

án đã được bàn giao đúng thời hạn hoặc sớm hơn, thời gian đấu thấu/ mua thiết bị giảm đáng kể Sự thành công là do Chính phủ Anh chịu trách nhiệm trước công chúng về sự thành công hay thất bại của chương trình (PPP) Chính phủ thường xuyên giám sát đánh giá chi phí và lợi nhuận của các quan hệ đối tác công tư và công khai các kết quả thu được Hàn Quốc bắt đầu chương trình PPP của mình từ năm 1994 với Luật Thúc đẩy tư nhân đầu tư vốn cho toàn xã hội Chương trình này nhằm xây dựng một chính sách nhất quán trong các lĩnh vực khác nhau Sau luật này, có khoảng 100 dự án hạ tầng được thực hiện theo hình thức PPP Tuy nhiên trong 4 năm đầu chỉ có 42 dự án được hoàn thành Do

sự thành công hạn chế, chính phủ Hàn Quốc đã phải ban hành Luật PPP mới vào tháng 2 -

1998 Luật này đã cải thiện hình thức các hợp đồng, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, đồng thời quy định nghiên cứu khả thi bắt buộc, hệ thống hỗ trợ rủi ro khác nhau và thiết lập hẳn một trung tâm PPP mang tên PICKO Ngoài ra, Hàn Quốc còn khuyến khích sự phát triển của PPP bằng việc miễn giảm cả thuế VAT Trong nhiều hợp đồng, có thể đàm phán, chính phủ có thể bảo lãnh doanh thu lên tới 90%, điều này khiến cho khu vực tư nhân hầu như không có rủi ro doanh thu mà phần rủi ro này được chuyển sang phần lớn cho Chính phủ Chính vì vậy, tốc độ phát triển của các dự án PPP tăng lên nhanh chóng

Hình thức ưa thích áp dụng ở Trung Quốc là Chính phủ hợp tác với tư nhân thông qua các công ty cổ phần Ý tưởng về việc cải tiến cơ chế cung ứng dịch vụ môi trường

Trang 25

thông qua PPP được bắt đầu trước hết từ khuôn khổ thể chế, chính sách và tái cơ cấu của các cơ quan, tổ chức có liên quan Năm 2002, Trung Quốc đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để huy động sự hợp tác của khu vực tư nhân, thu hút sự tham gia của họ vào lĩnh vực xử lý rác thải bệnh viện Tương tự, để giải quyết vấn đề nước thải chính phủ Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp miễn thuế có thời hạn, cấp đất cho các công trình xử

lý nước thải Kết quả là khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước đã có những phản ứng tích cực đối với đổi mới về thể chế

Xét trên kinh nghiệm trên thế giới và điều kiện của Việt Nam, việc áp dụng mô hình PPP là một trong những giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tư nhân cho các dự án môi trường, nâng cao vai trò cung ứng các dịch vụ công nói chung, dịch vụ môi trường nói riêng

Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều định hướng, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, như Nghị quyết 41 của Bộ chính trị; Luật Bảo vệ môi trường 2014; nhiều văn bản dưới Luật như Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường…

Hơn nữa, việc huy động vốn cho công tác đảm bảo an ninh nguồn nước sẽ đem lại nhiều lợi ích khác như: không cần vay vốn ODA và các hình thức khác với lãi suất thấp

để mua công nghệ, thiết bị xử lý nước thải nhưng thực ra chi phí lại tăng lên rất nhiều khi triển khai và khó kiểm soát chất lượng, tránh chảy máu ngoại tệ trong dân và hạn chế tham nhũng

Do đó, cần xác định mức sẵn sàng chi trả của người dân cho các hoạt động đảm bảo

an ninh môi trường nước vì những lý do sau:

- Để thiết lập quỹ đầu tư huy động sự tự nguyện đóng góp từ phía người dân cùng chung tay với Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường

và an ninh nguồn nước ở các khu vực đô thị nói riêng

- Thông qua điều tra mức sẵn lòng chi trả của người dân cho xử lý nước thải nước sông ở khu vực đô thị, sẽ giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của dòng sông, từ

đó có thể thay đổi những hành động của họ góp phần bảo vệ dòng sông

- Xác định giá trị thực bằng tiền của việc cải thiện chất lượng dòng sông hay giá trị của sông, có thể xác định mức phạt hoặc đền bù khi cá nhân, tổ chức vi phạm, làm ảnh hưởng đến chất lượng dòng sông, mức phí bảo vệ môi trường dành cho các cá nhân, tổ chức đổ nước thải ra sông

Trang 26

- Giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để đưa ra các giải pháp và chính sách đầu tư hiệu quả và hợp lý để giữ gìn và bảo vệ dòng sông

1.2.3 Các bước tiến hành đánh giá ngẫu nhiên

Để thực hiện phương pháp CVM thành công, theo tổng hợp của các tác giả Phùng Thanh Bình (2016), Bateman và Turner(1992)cần thực hiện các bước như sau:

Bước 1: Xây dựng thị trường giả định

Bước đầu tiên là xây dựng một thị trường giả định cho các dịch vụ môi trường Các kịch bản lượng giá cần được xác định rõ ràng, giải thích đầy đủ các hàng hoá môi trường được nói đến và bản chất sự thay đổi Để làm được điều này nên sử dụng các hình ảnh như ảnh chụp hoặc ảnh minh họa

Phải xác định rõ các tổ chức có trách nhiệm cung cấp hàng hoá và khả năng cung cấp hàng hoá của họ Điều này giúp người được hỏi nhìn thấy được hàng hoá đó được cung cấp trong thực tế như thế nào

Bước này cũng cần xác định các khoản chi trả là bao nhiêu Các khoản này thường được chi trả dưới dạng thuế, phí, giá thay đổi hoặc các khoản biếu tặng Bước này đòi hỏi phải tạo ra kịch bản về phương tiện chi trả hoặc đền bù dưới hai dạng sau:

- Kịch bản đóng: Một hệ thống giá trị tiền tệ được xây dựng từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp Với dạng kịch bản này, chúng ta đã ấn định trước một mức giá cho người được hỏi lựa chọn lựa chọn

- Kịch bản mở: Trong kịch bản này không ấn định mức giá trước mà thay vào đó, người được hỏi sẽ đưa ra mức giá bao nhiêu tiền

Thị trường giả định sẽ được miêu tả kỹ lưỡng trong bảng hỏi cùng với mô tả cặn kẽ những giá trị, đặc điểm môi trường của khu vực cần đánh giá để người đọc thấy rằng, những giá trị đó là hết sức thiết yếu mà có thể trước đó họ đã không nhận ra hết được Từ

đó, đưa ra các câu trả lời lựa chọn (bảng hỏi đóng) để người đọc điền vào hoặc để chỗ trống cho họ viết câu trả lời theo như những gì họ nghĩ (bảng hỏi mở) Về các mức chi trả,

có thể đưa ra một hệ thống giá trị tiền tệ từ thấp lên cao hoặc gợi ý lựa chọn cho người được điều tra Phần này bao gồm cả câu hỏi về phương tiện chi trả nếu họ bằng lòng một mức giá nào đó Ngoài ra, tìm hiểu về thông tin cá nhân của người trả lời Những dữ liệu

về tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập cá nhân… đều có ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định WTP của họ, vậy nên ta không thể bỏ qua chúng trong phân tích hồi quy tương quan (biến độc lập)

Bảng hỏi là một phần quan trọng trong đánh giá ngẫu nhiên, bởi vì hầu hết các kết luận của nghiên cứu đều dựa trên thông tin lấy được từ những người trả lời bảng phỏng

Trang 27

vấn Chính vì vậy, khi thực hiện bảng hỏi phải tuân theo nhiều yêu cầu ngặt nghèo như làm tuần tự từng bước một (peer review), kiểm tra chéo giữa những người thực hiện (cross checking), điều tra thử (pretest), lấy phản hồi (feedback), từ đó rút kinh nghiệm, chỉnh sửa

và đưa ra bảng hỏi chuẩn Nhưng trước đó, một việc rất quan trọng phải đặt ra là, mục tiêu của điều tra là gì? Xác định được rõ ràng điều này, câu hỏi của chúng ta sẽ tập trung bám sát những ý đã đặt ra, không bị phân tán, nông cạn Sau khi thu thập xong tất cả thông tin,

ta tính trung bình của WTP Những mức giá nào cao hoặc thấp đột biến có thể bỏ đi được Còn với những biến số kinh tế xã hội của người trả lời, ta hồi quy với giá sẵn lòng chi trả

để xem biến nào ảnh hưởng đến mức giá đó nhất Sau đó ta có thể lấy mức giá trung bình nhân với tổng dân số ra tổng giá trị kinh tế của khu vực cần đánh giá

Bảng hỏi có thể sử dụng những dạng câu hỏi sau đây:

- Câu hỏi đóng: Là dạng câu hỏi có câu trả lời dưới dạng Có hoặc Không Để đảm bảo tính tự do và chính xác của câu trả lời thu được, dạng câu hỏi đóng sẽ đi kèm hai khả năng trả lời phụ: "Không trả lời" - hoặc "không biết" nhằm phân biệt khi người trả lời không muốn/ không thể trả lời, đặc biệt ở những câu hỏi nhạy cảm

- Câu hỏi lựa chọn: Người trả lời lựa chọn một trong những mục trong bảng các câu trả lời soạn sẵn Loại câu hỏi lựa chọn có ưu thế trong trường hợp hỏi thông tin về ý kiến, quan điểm và thái độ của người được hỏi Mỗi câu trả lời được đưa ra có thể mang sắc thái, góc nhìn khác nhau về một vấn đề liên quan, điển hình là các câu hỏi theo thang ý kiến

- Câu hỏi mở: Người trả lời hoàn toàn tự do để trả lời, không hề có câu trả lời hay dạng câu trả lời nào được đưa ra

-Câu hỏi hỗn hợp đóng-mở: Là dạng câu hỏi đóng kèm thêm một vế mở dạng "ý kiến khác"

-Câu hỏi ma trận: dòng là các chỉ tiêu đánh giá, cột là các đánh giá

Mục tiêu trung tâm của bảng hỏi phỏng vấn là để biết người được phỏng vấn đánh giá đặc điểm môi trường có giá trị như thế nào đối với họ, làm cho họ bộc lộ mức giá sẵn lòng chi trả tối đa cho giá trị môi trường đó Nếu họ hiểu vấn đề và trả lời trung thực, con

số họ bộc lộ chính là giá trị lợi ích ròng của hàng hóa môi trường mà họ đánh giá

Bước 2: Xác định giá

Bước này cần dùng một số kỹ thuật điều tra như: phỏng vấn mặt đối mặt, phỏng vấn qua điện thoại hoặc qua thư Phỏng vấn qua điện thoại ít được ưa thích nhất do khó có thể truyền tải thông tin về hàng hoá qua điện thoại, một phần là do quãng thời gian tham gia phỏng vấn bị hạn chế Điều tra qua thư cũng thường được sử dụng, tuy nhiên chứa đựng

Trang 28

rủi ro không được trả lời hay tỷ lệ trả lời thấp Phỏng vấn mặt đối mặt với người phỏng vấn được đào tạo bài bản sẽ thu được câu hỏi và câu trả lời tốt nhất

Mục đích của điều tra là xác định mức sẵn lòng chi trả lớn nhất để cải thiện môi trường hoặc mức chi trả lớn nhất để ngăn chặn sự suy giảm chất lượng môi trường, ngoài ra là các thông tin về các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả điều tra như học vấn, thu nhập

Các câu hỏi có tính liên tục như “Bạn có nghĩ rằng các dịch vụ môi trường sẽ cải thiện chất lượng môi trường cho cộng đồng bạn không?” cũng cần được đưa ra nhằm để hiểu được động lực nào phía sau mỗi người được hỏi Điều này giúp loại bỏ các câu trả lời

“phản đối” (protest bids) hoặc không hợp lý

xử lý các số liệu ra khỏi quá trình tính toán

Giá trung bình sẽ dễ dàng được tính toán hơn nếu sử dụng phương pháp điều tra

“kịch bản đóng”, còn nếu sử dụng “kịch bản mở”, ví dụ như câu trả lời Có/Không, thì cần phải sử dụng các kỹ thuật toán học để tính toán xác suất câu trả lời Cóvới mỗi một khoản

tiền được đưa ra

Đường giá được xây dựng bằng cách sử dụng hồi quy toán học Lượng tiền WTP được coi là biến phụ thuộc, và thông tin về các biến số như thu nhập (I), tuổi (A), trình độ giáo dục (E) được thu thập trong quá trình điều tra được sử dụng như các biến giải thích

Hàm hồi quy: WTPi = f (Ii, Ei, Ai) trong đó i: người được hỏi thứ i

Đường giá cho phép dự đoán được lượng tiền sẵn lòng chi trả khi có sự thay đổi của các biến độc lập Ví dụ, “Mức lương cao hơn ảnh hưởng gì đến mức sẵn lòng chi trả cho cung cấp dịch vụ liên quan đến nước?”

Bước 4: Đánh giá việc áp dụng CVM

Trang 29

Bước này đòi hỏi phải đánh giá việc áp dụng CVM thành công như thế nào Kết quả điều tra có cho tỷ lệ giá “phản đối” cao không? Có chứng cứ chứng minh người được hỏi hiểu được thi trường giả định không? Người được hỏi hiểu được bao nhiêu về hàng hoá môi trường được nói đến? Giả thiết rằng người được hỏi thể hiện sự sẵn lòng chi trả cho việc xử lý nước thải góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm sông Tô Lịch, thì điều này thiếu tính tin cậy nếu người được hỏi không biết rõ về sông Tô Lịch Thực tế, chất lượng một nghiên cứu CVM phụ thuộc vào chất lượng của cả quá trình tiến hành

1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

Ưu điểm của phương pháp đánh giá ngẫu nhiên: So với các phương pháp đo lường

trực tiếp khác (chi phí thiệt hại, liều lượng-đáp ứng…), CVM dễ sử dụng, không đòi hỏi phải chia vùng hay phân nhóm mà dựa trên những đánh giá hoàn toàn ngẫu nhiên, không mặc định cụ thể một nhóm đối tượng nào

Người trả lời có thể không đến khu vực cần đánh giá, nhưng họ vẫn có thể đánh giá

về chúng theo cảm nhận của mình

Các khâu thiết kế kĩ thuật từ kịch bản tới các tiêu chí lựa chọn tương đối dễ dàng với những phần mềm có sẵn phục vụ cho công tác xử lý số liệu

Hạn chế của phương pháp đánh giá ngẫu nhiên: Trong quá trình thực hiện CVM, một

số vấn đề lớn sau đây gây cản trở cho việc làm một nghiên cứu thành công, đó là:

Thứ nhất, khi một kịch bản về thị trường không có thực được đề xuất để người trả lời đưa ra mức giá cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ, hàng hóa môi trường, sẽ có 02 trường hợp có thể xảy ra Đó là: (i) người được hỏi không hình dung và tưởng tượng hết được thị trường đó, không hiểu hết được vấn đề, nên không biết đưa ra mức giá nào cho đúng, gây

ra sai lệch về độ chính xác trong mức giá đưa ra hoặc (ii) người được phỏng vấn cố tình trả lời sai lệch do lo sợ phải chi trả thật cho hàng hóa, dịch vụ môi trường đó ở mức họ đưa ra nên đưa ra mức giá thấp hơn so với mức giá họ thực sự nghĩ Với những lý do đó, sai lệch trong mức sẵn sàng chi trả của người được hỏi là không thể tránh khỏi Do đó, kết quả sẽ phụ thuộc nhiều vào nhận thức và thái độ của người được phỏng vấn

Thứ hai, về phía người hỏi: Từ những khâu như thiết kế bảng hỏi, chọn phương pháp chi trả, đặt kịch bản giả định, chọn kích thước mẫu đến cách tiếp cận người trả lời đều có thể gây ra sai số Nếu đánh giá quy mô nhỏ, người nghiên cứu có thể tự đi lấy thông tin – tuy nhiên trường hợp này là hiếm vì thường hàng hoá môi trường có quy mô khá lớn và liên quan nhiều người Khi đó, ta phải đào tạo người điều tra, điều tra thử, chỉnh sửa bảng hỏi, lưu trữ khối lượng văn bản lớn… những việc này đều tiêu tốn khá nhiều nguồn lực

Trang 30

Nhiều khi xong hết khâu thu thập dữ liệu, tính ra được WTP trung bình, tổng WTP, nhưng tổng này lại không phù hợp với thực tế thì ta lại phải xem lại mẫu đã chọn ban đầu

Nói tóm lại, với những ưu điểm này, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên thường được lựa chọn để đánh giá giá trị kinh tế của cảnh quan, giá trị tiêu thoát nước của sông hồ, giá trị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và săn bắn, phát thải chất độc hại…

1.3 Tổng quan về các nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước

Như đã phân tích ở trên, việc xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc

xử lý nước thải được xem là một nhiệm vụ quan trọng nhằm xác định nguồn lực của cộng đồng/con người trong việc tham gia xử lý khủng hoảng, từ đó góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước nói chung

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên là phương pháp sử dụng để lượng hóa giá trị môi trường nói chung thông qua phỏng vấn người dân một cách ngẫu nhiên về đánh giá của họ đối với hàng hóa chất lượng môi trường ở vị trí cần đánh giá hay xem xét Trên cơ sở đó, bằng thống kê xã hội học và kết quả thu được từ các phiếu đánh giá, người ta sẽ xác định được giá trị chất lượng môi trường của khu vực cần đánh giá Cụ thể, trong trường hợp này, người dân có thể được hỏi về mức giá họ sẵn sàng chi trả/sẵn sàng chấp nhận để duy trì/bồi thường những tổn thất chất lượng môi trường/sự suy giảm chất lượng môi trường do tình trạng nước thải từ cộng đồng xả thải ra các dòng sông Phương pháp này được gọi là đánh giá ngẫu nhiên vì đối tượng được phỏng vấn đưa ra mức sẵn lòng chi trả của họ đặt trong một tình huống kịch bản giả định cụ thể với những mô tả sơ lược về giá trị mất đi của dòng sông do tình trạng xả nước thải từ cộng đồng

Đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước về mức sẵn lòng chi trả của người dân để cải thiện chất lượng nước, các dịch vụ và sản phẩm hàng hóa môi trường tại các khu vực đô thị và làng nghề và sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên làm phương pháp nghiên cứu Đây là những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài của mình Những nghiên cứu đó là:

1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài

Hite và nnk (2002) đã tiến hành điều tra đánh giá ngẫu nhiên được thực hiện ở sông Misisissippi để đánh giá mức sẵn lòng chi trả cho việc giảm ô nhiễm nông nghiệp Phân tích tập trung vào việc thực hiện một chính sách để cung cấp cho nông dân một thiết bị ứng dụng chính xác để giảm bớt lượng chất dinh dưỡng trong dòng nước thải nông nghiệp Các phát hiện đề xuất rằng những hỗ trợ công (thể chế) đã có để áp dụng chính sách này

Trang 31

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc đưa ra các câu hỏi phỏng vấn có thể được sử dụng để sàng lọc mức ước tính sẵn sàng chi trả trong các nghiên cứu định giá ngẫu nhiên Phạm vi nghiên cứu thử nghiệm để xuất người trả lời nhạy cảm với mức mức độ giảm bớt ô nhiễm của dòng nước thải nông nghiệp và liên quan đến các lợi ích về chất lượng nước

Blaine và nnk (2003) đã tiến hành nghiên cứu mở rộng về thái độ của cư dân đối với các chương trình bảo tồn các vùng tự nhiên và đất nông nghiệp Trong những năm gần đây, các cơ quan chính phủ liên bang và tiểu bang yêu cầu phải có tỷ lệ lớn hơn các khoản tài trợ cho các chương trình môi trường tại địa phương Các quan chức địa phương muốn đánh giá ý kiến công chúng địa phương để đưa ra các quyết định tài trợ Các nhà giáo dục nhân

cơ hội này để lấp đầy nhu cầu quan trọng này Bài báo trình bày kết quả Các phát hiện thu được bằng cách sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) cho thấy thái độ cơ bản

về bảo tồn, khu vực dân cư và thu nhập là những yếu tố dự báo quan trọng cho sự sẵn lòng trả của người dân đối với các chương trình bảo tồn

Nghiên cứu về “mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện lượng nước chảy vào hồ Mono” (Dennis và Mazzotta, 2004) được miêu tả như sau: Ủy ban Kiểm soát Tài nguyên Nước Tiểu bang California đã phải đối mặt với quyết định về lượng nước phân bổ cho Los Angeles từ nguồn chảy vào hồ Mono Việc giảm nước chảy vào hồ đang ảnh hưởng đến nguồn cung cấp lương thực cho chim làm tổ và chim di cư Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để đo lường các giá trị sử dụng và không sử dụng mà công dân

có đối với hồ Mono Một cuộc khảo sát tại các hộ gia đình ở California về việc sẵn sàng chi trả cho việc tăng lưu lượng nước vào hồ Mono được tiến hành Nghiên cứu ban đầu cho thấy các hộ gia đình ở California, trong một cuộc khảo sát bằng thư, liệu họ có trả nhiều tiền hơn cho hóa đơn tiền nước của họ để cung cấp nước thay thế chi phí cao hơn, để các dòng chảy tự nhiên lại có thể đi vào hồ Mono Họ cho biết, theo các nhà sinh vật học, dòng chảy cao hơn tới hồ là cần thiết để duy trì nguồn cung lương thực cho chim làm tổ và chim

di trú Mức trung bình sẵn sàng chi trả cho mỗi hộ gia đình được ước tính là 13 đô la một tháng, hoặc 156 đô la một năm Khi nhân với số hộ gia đình ở California, tổng lợi ích đã vượt quá con số chi phí 26 triệu đô la để thay thế nguồn cung cấp nước 50 lần Một tác động của kết quả khảo sát là làm thay đổi bản chất của cuộc tranh luận về hồ Mono Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người ta quan tâm đến cá và chim, cũng như về việc cấp nước cho Los Angeles

Nghiên cứu “Người dân có sẵn lòng chi trả cho chất lượng nước sông không? Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên” được thực hiện trên 305 người dân thuộc 5 nhóm đối tượng (hộ gia đình, nông dân, ngư dân, phụ nữ giặt giũ quần áo, người tắm sông) tại Pune,

Trang 32

Ấn Độ cho thấy giá trị trung bình của mức sẵn lòng chi trả được ước lượng là 17.6 rupi/hộ gia đình/tháng (Imandoust và Gadam, 2007) (tương đương 6.242 đồng/hộ gia đình/tháng) Nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của chất lượng nước sông đối với thành phố Punevà tính hiệu quả, khả thi của việc áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên trong đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân

Han và nnk (2011) tiến hành nghiên cứu ước tính mức độ sẵn sàng chi trả của công chúng trong việc bảo tồn môi trường và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến WTP dựa trên phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được tiến hành tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kanas, Tân Cương, Trung Quốc Bảy mươi ba phần trăm trong số 412 người trả lời sẵn sàng trả ở các mức khác nhau, và giá trị WTP trung bình là RMB 54,60 (8,03 USD) Kết quả của cuộc khảo sát này đã đánh dấu một sự lạc quan rằng công chúng sẵn sàng góp phần cải thiện chất lượng môi trường Phân tích hồi quy được sử dụng để so sánh đặc điểm của những người đã và không sẵn sàng trả Các kiểm tra Chi-square được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố giải thích khác nhau và WTP Kết luận và ý nghĩa của nghiên cứu thực nghiệm có thể được cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý tại khu vực nghiên cứu Theo nghĩa rộng hơn, những phát hiện của nghiên cứu này sẽ có những đóng góp tốt về mặt các tài liệu liên quan đến WTP để bảo tồn môi trường tại các điểm thu hút tự nhiên

Nghiên cứu “Đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân địa phương đối với việc bảo vệ hệ thống sông: Nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên tại Thượng Hải, Trung Quốc” (Shang và nnk, 2012)đã chỉ ra sự ô nhiễm nghiêm trọng do tốc độ gia tăng nhanh chóng của dân số và đô thi hóa và tầm quan trọng của việc tiến hành bảo vệ hệ thống sông Nghiên cứu

đã tiến hành điều tra khảo sát người dân địa phương tại các khu vực đô thị và bán đô thị ở Thượng Hải, Trung Quốc Nghiên cứu xem xét yếu tố nhận thức của người dân về giá trị của mạng lưới các sông, thái độ của họ với hiện trạng sông, sau đó phân tích hàm hồi quy dựa vào phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để tính toán tổng lợi ích và giải thích các biến kinh tế

xã hội ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân Nghiên cứu chỉ ra rằng đa phần người được hỏi sẵn lòng chi trả để bảo vệ hệ thống sông Mức sẵn lòng chi trả cho việc bảo

vệ hệ thống sông khu vực Thượng Hải là 226,44 RMB/hộ/tháng tương đương 767.987,78 đồng (2017) hay 22,43 tỷ RMB/năm Số năm sống ở Thượng Hải, khoảng cách

từ nhà đến sông, mức chi trả là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân Những đề xuất của nghiên cứu cho quản lý toàn diện của nghiên cứu là thông tin đầu vào cho những nhà hoạch định chính sách về bảo tồn hệ thống sông

Trang 33

Kwak và nnk (2013) đã sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để lượng giá mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước uống tại Pusan, Hàn Quốc Kết quả nghiên cứu 400 hộ gia đình cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình để cải thiện nước là 2.124 KRW (42.918 đồng)/hộ gia đình/tháng, chiếm 36,6% chi phí trong hóa đơn nước hàng tháng của các hộ gia đình

Wang và nnk (2013) đã đánh giá mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước một số dòng sông ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc dựa vào phương pháp đánh giá ngẫu nhiên Kết quả phỏng vấn 460 hộ gia đình cho thấy người dân sẵn lòng chi trả 74 tệ (280.232 đồng/hộ/tháng) (tương đương 5% thu nhập) trong vòng 5 năm để cải thiện nước sông đạt tiêu chuẩn cho bơi và câu cá trong 10 năm Những nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước sông cũng được thực hiện tại một số khu vực khác ở Trung Quốc như Nam Kinh (Cai và Zhang, 2007), Bắc Kinh (Swanson và nnk, 1999), Giang Tô (He và nnk, 2007)

Khan và nnk (2014) đã đánh giá mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình cho nước uống có hàm lượng asen đạt quy chuẩn được thực hiện tại Bangladesh, nơi ô nhiễm asen là vấn đề sức khỏe được ưu tiên hàng đầu với ước tính khoảng 30-40 triệu người có nguy cơ nhiễm độc asen Nghiên cứu được thực hiện tại các khu vực bị phơi nhiễm với nồng độ asen khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ nhận thức về rủi ro sức khỏe liên quan đến ô nhiễm asen ở mức cao và người dân sẵn lòng chi trả khoảng 5% thu nhập hộ gia đình hàng năm để có được nguồn nước an toàn với asen Các yếu tố chính ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ nước an toàn với asen bao gồm: mức giá xây dựng các đường ống dẫn nước cấp, khu vực hộ gia đình sinh sống, thu nhập hộ gia đình, tiêu thụ nước, nhận thức về nguồn ô nhiễm nước

Tussupova và nnk (2015) tiến hành nghiên cứu về điều tra mức sẵn lòng chi trả của người dân để cải thiện chất lượng nước bằng cách áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên Cung cấp nước sạch là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ quan trọng Để phát triển các dịch vụ cấp nước thị trường, sự sẵn sàng của người tiêu dùng phải trả là rất cần thiết Mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng (WTP) cung cấp nước cấp bằng đường ống bằng cách sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên với mức đưa ra giá ban đầu khác nhau đã được điều tra cho vùng Pavlodar, Kazakhstan Kết quả cho thấy các hộ gia đình tiếp cận với nước ngầm (người sử dụng nước giếng khoan) đã nhận thấy nước này có chất lượng tốt Người tiêu dùng không sử dụng nguồn nước ngầm từ các nguồn mở, cống hoặc nước mà họ phải vận chuyển và dành thời gian hoặc trả tiền Chất lượng nước nguồn mở

và chất lượng nước đáy đã được nhìn nhận là xấu hoặc đạt yêu cầu Hơn 90% người tiêu

Trang 34

dùng sẵn sàng trả tiền cho chất lượng nước tốt hơn và cung cấp nước thường xuyên Mức trung bình của WTP được ước tính khoảng 1120 trong hồ sơ dự thầu và khoảng 1590 KZT mỗi hộ gia đình mỗi tháng ở dạng câu hỏi mở (150 KZT vào khoảng 1 USD vào tháng 1 năm 2012) Các kết quả có thể được sử dụng để xác định tốt hơn sự lựa chọn công nghệ phù hợp và mức độ cung cấp dịch vụ cung cấp cho các dự án nước nông thôn bền vững và khả năng nhân rộng ở quy mô lớn hơn

Parveen và nnk (2016) cũng sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để ước tính mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ nước uống tại thành phố Nowshera, Pakistan Kết quả phỏng vân 200 hộ gia đình thành phố Nowshera cho thấy thu nhập và nhận thức là hai nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu cải thiện chất lượng nước và là cơ sở để ước tính mức sẵn lòng chi trả của người dân

Lee và Heo(2016) tiến hành nghiên cứu về năng lượng tái, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Hàn Quốc Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định mức độ chấp nhận năng lượng tái tạo ở Hàn Quốc bằng cách ước tính sự sẵn sàng trả thêm tiền của người tiêu dùng Hàn Quốc (WTP) thông qua sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, được sử dụng rộng rãi nhất để phân tích sở thích của người tiêu dùng Kết quả ước lượng chỉ ra rằng người tiêu dùng Hàn Quốc sẵn sàng trả thêm 3,21 đô la Mỹ mỗi tháng cho điện năng sinh ra từ năng lượng tái tạo Tuy nhiên, WTP tại Hàn Quốc thấp so với các nước tiên tiến khác, cho thấy những giá trị này có thể bị ảnh hưởng thông qua các chính sách nhằm nâng cao kiến thức

và sự chấp nhận nguồn năng lượng tái tạo trong số những người tiêu dùng Hàn Quốc Jianjun và nnk (2016) đã tiến hành nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho người dân địa phương (WTP), bằng cách áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên như một khoản phụ thu vào hóa đơn tiền nước của họ, để cải thiện chất lượng nước uống và độ tin cậy cung cấp Mức trung bình của WTP đối với chương trình cải thiện chất lượng nước uống ước tính là 16,71 nhân dân tệ (0,3% tổng thu nhập hộ gia đình) Kết quả ghi nhận rằng những người trả lời có trình độ văn hóa giáo dục cao hơn và những hộ gia đình có thu nhập cao hơn và có ít thành viên hộ gia đình thì trung bình sẵn sàng trả nhiều hơn Nghiên cứu này cũng cho thấy mối quan tâm của người trả lời về chất lượng nước uống và nhận thức

về nguy cơ sức khoẻ đối với chất lượng nước uống có thể có những tác động tích cực đáng

kể đến WTP của người dân Các kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà ra quyết định hiểu nhu cầu về chất lượng nước uống của người dân địa phương và thực hiện phân tích lợi ích

về môi trường

1.3.2 Nghiên cứu trong nước

Trang 35

Nghiên cứu “Sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước ở các làng nghề của Bắc Ninh, Việt Nam” đã sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để tiến hành điều tra 1.000

hộ từ 5 làng nghề trong tổng số 62 làng nghề của tỉnh Bắc Ninh nhằm ước lượng sự sẵn lòng trả của các hộ gia đình để nâng cao chất lượng môi trường nước và xác định các yếu

tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng trả (Dung và Dat, 2016) Kết quả nghiên cứu cho thấy mức sẵn lòng trả trung bình của các hộ làm nghề truyền thống là 485,273 VND/ hộ/năm Tổng quỹ tiềm năng có thể thu được từ các hộ này xấp xỉ 6 tỉ VNĐ/năm (268,251 USD/năm) và tổng quỹ thực tế là 3,45 tỉ VNĐ/năm (154,475 USD/năm) Đối với toàn tỉnh Bắc Ninh, tổng quỹ thực tế có thể thu được là 100,2 tỉ VNĐ/năm (4,48 million USD) Trong khi đó, tổng quỹ tiềm năng có thể đạt được lên tới 155,4 tỉ VNĐ/năm (6,9 million USD) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những hộ sản xuất nghề, hộ đồng ý với việc đánh đổi giữa phát triển kinh tế và môi trường, hộ sử dụng nước máy và những hộ có thu nhập cao là những

hộ có nhiều khả năng trả lời “đồng ý” với mức giá họ được nhận Những hộ sống gần với hai con sông đang bị ô nhiễm nặng của tỉnh Bắc Ninh có xu hướng trả lời “đồng ý” trong khi những hộ gia đình ít có khuynh hướng đồng ý nếu họ nhận được các mức giá thầu cao Nghiên cứu “Ước lượng mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề Vạn Phúc, Hà Đông” cho thấy chất thải từ quá trình sản xuất đang gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước tại làng với các giá trị BOD5,

NH4+ và coliform đều cao trên mức cho phép gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng địa phương (Ngô Thị Thủy và nnk, 2015) Kết quả đánh giá ngẫu nhiên cho thấy 61,91%

số hộ điều tra sẵn sàng trả tiền để khắc phục ô nhiễm môi trường tại làng nghề với số tiền 150.000 đồng/hộ/năm Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy cho thấy tuổi của người được phỏng vấn, trình độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp và việc có làm trong tổ chức môi trường là những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề, trong đó biến nghề nghiệp có tác động rõ rệt nhất

Nghiên cứu “Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom quản lý xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội” đã chỉ ra sự cần thiết của sự đóng góp của người dân trong việc thu gom, quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) do ngân sách Nhà nước phải bù đắp một khoản tiền rất lớn cho công tác này (Nguyễn Văn Song và nnk, 2011) Kết quả điều tra 116 hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, sử dụng phương pháp tạo thị trường ảo, đánh giá ngẫu nhiên, nghiên cứu đã xác định mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác thải ở huyện Gia Lâm

là 6.000 đồng/người/tháng Tổng mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ này trong một năm trên địa bàn nghiên cứu khoảng 4 tỷ đồng/năm

Trang 36

Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, nghiên cứu “Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước sông ở đồng bằng sông Cửu Long” cũng cho thấy tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường có thể lên đến khoảng 1.454 tỷ đồng/năm và chỉ ra mức sẵn lòng chi trả cho chương trình bảo vệ nước sông không bị ô nhiễm là 29.345 đồng/hộ/tháng (Võ Thành Danh, 2010).Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân bao gồm: giá cược, thu nhập hộ, tuổi, giới tính, trình độ học vấn…

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN CHO

XỬ LÝ NƯỚC THẢI SÔNG TÔ LỊCH

2.1 Giới thiệu chung về sông Tô Lịch và thực trạng ô nhiễm nước

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Sông Tô Lịch là dòng sông nhỏ chảy trong địa phận Hà Nội Dòng chính sông Tô Lịch chảy qua các quận huyện: Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì Sông Tô Lịch trước là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng sang sông Nhuệ Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi, nay đã bị lấp, chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê Vì vậy sông Tô Lịch ngày nay không còn thông với sông Hồng nữa Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ Cầu Gỗ ngược lên (cống chéo) Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông

Tô Lịch ngày nay)

Hình 2.1 Sông Tô Lịch ngày nay

Nguồn: Google Map, 2017

Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ Cầu Giấy (phía nam đường Hoàng Quốc Việt), chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng, đường Khương Đình và đường Kim Giang

về phía Nam tới sông Nhuệ qua đập Thanh Liệt Sông Tô Lịch dài 14,6 km, rộng trung bình 40 - 45 m, sâu 3 - 4 m Đoạn cuối sông đảm nhận toàn bộ nước thải của thành phố Từ khi bị lấp, sông chỉ là một dòng thoát nước thải của thành phố Từ cuối những năm 1990, Tô Lịch bắt đầu được nạo vét đáy sông, kè bờ, để làm sạch và chống lấn chiếm, tuy nhiên tình trạng

ô nhiễm nước sông vẫn đang hiện hữu và chưa hoàn toàn được cải thiện

Ngày đăng: 26/12/2017, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w