Ý thức được tầm quan trọng đó, Công ty CP Việt Nam đã tích hợp việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vào trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nhằm đảm bảo tốt lợi í
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGÔ QUANG ĐÔNG
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI GÓP PHẦN ĐẢM BẢO
AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM: TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGÔ QUANG ĐÔNG
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI GÓP PHẦN ĐẢM BẢO
AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỰC PHẨM: TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THẮNG
Hà Nội - 2017
Trang 3CAM KẾT
Tôi xin cam kết rằng, nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác(trích dẫn,bảng biểu,đồ thị cũng như các tài liệu khác) dược sư dụng trong luận văn này được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, bản luận văn tốt nghiệp này là nỗ lực cá nhân của bản thân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này là kết quả làm việc của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Ngô Quang Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, đầy tinh thần trách nhiệm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình chuẩn bị đề cương, nghiên cứu, khảo sát điều tra, lập báo cáo và hoàn thiện bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo, giảng viên, cán bộ quản lý, trợ giảng, cán bộ của Khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu tại Khoa
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp MNS 02 đã cổ vũ, động viên nhau cùng thi đua học tập, nghiên cứu tiếp thu kiến thức, hoàn thành xuất sắc chương trình khoá học Tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Ngô Quang Đông
Trang 5TÓM TẮT
Ngày nay CSR (Corporate Social Responsibility – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) trở thành một nội dung quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động quản trị chiến lược của tất cả các doanh nghiệp, dù doanh nghiệp hoạt động ở thời điểm nào, theo thể chế kinh tế nào
Ý thức được tầm quan trọng đó, Công ty CP Việt Nam đã tích hợp việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vào trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nhằm đảm bảo tốt lợi ích của các bên liên quan, trong đó, tác giả đi sâu nghiên cứu trên khía cạnh các vấn đề đảm an ninh lương thực liên quan đến người tiêu dùng
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi để khảo sát các đối tượng người tiêu dùng khác nhau của công ty CP Việt Nam về các vấn đề được nêu ra Dựa trên các kết quả thu thập từ phiếu điều tra, tác giá tiến hành thống
kê, phân tích dữ liệu và so sánh sự khác nhau giữa các nhóm đối tượng và so sánh với mức
kỳ vọng trung bình để đưa ra kết luận
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy công ty CP Việt Nam đã thực sự quan tâm đến vấn đề CSR và đạt được một số thành tựu nhất định trong công tác bảo đảm lợi ích và an ninh lương thực cho người tiêu dùng, tuy nhiên, vẫn có những mặt còn hạn chế và có thể làm tốt hơn Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện CSR trên khía cạnh góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam và kiến nghị cho các bên liên quan trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội trên khía cạnh người tiêu dùng
Hy vọng những giải pháp và kiến nghị mà luận văn đã đề xuất sẽ có tính khả thi cao, giúp cho công ty CP Việt Nam hoàn thiện hơn công tác thực hiện CSR đối với người tiêu dùng góp phần đảm bảo an ninh lương thực, từ đó nâng cao hình ảnh và uy tín của mình, góp phần đem lại lợi ích kinh tế cho Công ty
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH SÁCH BẢNG ii
DANH SÁCH HÌNH iii PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 5
1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 5
1.1.1 Giới thiệu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 5
1.1.2 Xu hướng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và áp lực xã hội đối với doanh nghiệp 8
1.1.3 Phân tích Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, quá trình hình thành 10
1.1.4 Tầm quan trọng ngày càng tăng của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp15 1.2 Trách nhiệm xã hội và chiến lược của doanh nghiệp 19
1.3 Các tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 20
1.3.1 Nhóm có tính ràng buộc pháp lý 20
1.3.2 Nhóm làm tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường lớn 21
1.4 Trách nhiệm xã hội tại doanh nghiệp và nội dung của khía cạnh người tiêu dùng trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 24
1.5 Đảm bảo an ninh lương thực 27
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Quy trình nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam 32
2.3 Thiết kế câu hỏi khảo sát 33
2.4 Thực hiện khảo sát 37
2.4.1 Mô tả quá trình khảo sát 37
2.4.2 Cách thức chọn mẫu khảo sát 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Giới thiệu về CP Việt Nam 39
3.1.1.Tình hình doanh thu và lợi nhuận kinh doanh 43
3.1.2 Các lĩnh vực kinh doanh 44
3.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp qua điều tra, khảo sát tại công ty CP Viêt Nam 44
3.2.1 Kết quả khảo sát trên 5 vấn đề của người tiêu dùng 44
Trang 7CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP 49
4.1 Giải pháp cho công ty CP Viêt Nam nhằm hoàn thiện công tác thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đâm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng 49
4.1.1 Về vấn đề khắc phục, giải quyết khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng 49
4.1.2 Tăng cường công tác thực hiện trách nhiệm xã hội đối với việc bảo vệ môi trường.49
4.1.3 Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam về việc đảm bảo an toàn trong thực phẩm 49
4.1.4 Các giải pháp cụ thể thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn trong thực phẩm 50
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Công ty CP Công ty Charoen Pokerphan Công ty CP Việt Nam
CRM Customer Relationship Management Quản lý quan hệ khách hàng
CSR Corporate Social Responsibility Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ETI Ethical Trading Initiative Sáng kiến về Đạo đức Kinh doanh GRI Global Reporting Initiative Sáng kiến báo cáo toàn cầu
HRM Human Resouce Management Quản trị nhân sự
ILO International Labor Organization Tổ chức Lao động quốc tế
ISO International Standard Organization Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế
MNS Management of non security Quản trị an ninh phi truyền thống NGO None Goverment Office Các tổ chức phi chính phủ
QSE Quality safety environment Chất lượng – an toàn lao động – môi
trường SAI Social Accountability International Tổ chức bảo trợ xã hội quốc tế
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Hình 1.1: Mô hình “kim tự tháp” CSR của Carroll 11
Hình 1.2 Các khía cạnh của CSR theo ISO 26000 15
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 32
Hình 3.1 hệ thống sản xuất khép kín (PEED-FARM-FOOD) 39
Hình 3.2 cơ cấu cổ đông của công ty CP Viêt Nam 41
Hình 3.3 Hệ thống tổ chức của công ty CP Việt Nam 42
Hình 3.4 giá trị lõi của công ty cp việt nam 43
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Bảng 2.1: Nhóm 1 - Tiêu chí đánh giá về “Tiếp thị công bằng, thông tin trung thực, không thiên
vị và thực hiện hợp tác công bằng đối với người tiêu dùng tại công ty CP Việt Nam” 34
Bảng 2.2: Nhóm 2 – Tiêu chí đánh giá về “Bảo vệ sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng tại công ty CP” 35
Bảng 2.3: Nhóm 3 – Tiêu chí đánh giá “Tiêu dùng bền vững công ty CP” 35
Bảng 2.4: Nhóm 4 – Tiêu chí đánh giá “Dịch vụ sau bán hàng hỗ trợ và giải quyết khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng tại công ty CP Việt Nam” 36
Bảng 2.5: Nhóm 5 – Tiêu chí đánh giá “Giáo dục và nhận thức người tiêu dùng tại công ty CP” 36
Bảng 2.6: Đặc điểm mẫu khảo sát 38
Bảng 3.1 Doanh thu và lợi nhuận 43
Bảng 3.2: Kết quả đánh giá bình quân cho 5 nội dung của người tiêu dùng tại công ty CP Việt Nam 44
Bảng 3.3: Điểm đánh giá bình quân cho nhóm 1 - Tiếp thị công bằng, thông tin trung thực, không thiên vị và thực hiện hợp tác công bằng đối với người tiêu dùng tại công ty CP Việt Nam 45
Bảng 3.4: Điểm đánh giá bình quân cho nhóm 2 – Bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng tại công ty CP 46
Bảng 3.5: Điểm đánh giá bình quân cho nhóm 3 – Tiêu dùng bền vững tại công ty CP Việt Nam 47
Bảng 3.6: Điểm đánh giá bình quân cho nhóm 4 – Dịch vụ sau bán hàng, hỗ trợ và giải quyết khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng tại công ty CP 47
Bảng 3.7: Điểm đánh giá bình quân cho nhóm 5 – Giáo dục và nhận thức người tiêu dùng tại công ty CP 48
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Bất cứ doanh nghiệp nào khi nói đến sự phát triển bền vững phải luôn có tầm nhìn chiến lược lâu dài, ổn định, gắn kết vấn đề môi trường tự nhiên và con người vào quá trình phát triển kinh doanh, cùng với đó là vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Bản chất của kinh doanh có trách nhiệm không chỉ tạo ra lợi nhuận cho công ty, doanh nghiệp mình mà còn phải tạo ra giá trị cho cộng đồng Do đó, doanh nghiệp phải cùng lúc thực hiện nhiệm vụ vừa tăng lợi nhuận, vừa duy trì tăng trưởng dài hạn và có trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội, cam kết về bảo vệ môi trường sống tự nhiên… Bản thân việc thực hiện tốt trách nhiệm
xã hội cũng sẽ góp phần xây dựng hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp đối với cộng đồng Từ đó, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc hàng hóa và dịch vụ của mình được tiêu thụ tốt hơn, doanh nghiệp có cơ hội thu hút và giữ chân được người giỏi tốt hơn Và như vậy, sẽ đảm bảo được sức cạnh tranh lâu dài và bền vững của doanh nghiệp
Hiện nay, có khá nhiều các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Bên cạnh những ISO14001, OHS AS18001, BSCI, WRAP được nhiều người biết tới ở Việt Nam, còn có một số lượng lớn các yêu cầu từ phía các nhà mua hàng
từ thị trường Mỹ và Châu Âu (thường được gọi là Bộ quy tắc ứng xử) và những quy định
kỹ thuật như REACH, RoHs, GS Ngày 1 tháng 11 năm 2010, tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã chính thức cho ra mắt tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội ISO 26000 Đây thực sự là một mắt xích quan trọng giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm ra phương pháp chiến lược để tiếp cận với CSR Bộ tài liệu này được coi là một chuẩn mực quan trọng trong việc truyền bá, định hướng, hướng dẫn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Luận văn này dự kiến đóng góp về phương pháp luận và nghiên cứu tình huống thực tiễn trong việc thực hiện một trong 7 trụ cột quan trọng của Trách nhiệm xã hội của tổ chức, đó là vấn đề người tiêu dùng (consumer issues) (ISO 26000 -2010)
Người tiêu dùng tại các nước phát triển hiện nay không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm đó Họ muốn biết liệu các sản phẩm họ định mua có thân thiện với môi trường sinh thái, với cộng đồng, có tính nhân đạo, và có lành mạnh hay không Nhiều phong trào bảo vệ quyền của người tiêu dùng
và môi trường phát triển rất mạnh ở nhiều nước Chẳng hạn như phong trào tẩy chay thực phẩm gây béo phì (fringe foods) nhằm vào các công ty sản xuất đồ ăn nhanh, nước giải
Trang 12khát có ga; phong trào thương mại công bằng (fair trade) yêu cầu bảo đảm điều kiện lao động và giá mua nguyên liệu của người sản xuất ở các nước Thế giới thứ ba; phong trào tẩy chay sản phẩm sử dụng lông thú, tẩy chay sản phẩm bóc lột lao động trẻ em nhằm vào Công ty Nike và Gap trước đây; phong trào tiêu dùng theo lương tâm (shopping with a conscience) v.v
Thực hiện CSR cũng là một định hướng, yêu cầu tại Việt Nam Các chủ trương, chính sách, quy định liên quan đến CSR được đề cập đến trong nhiều văn kiện và các bộ Luật hiện hành như Luật lao động, Luật bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ người tiêu dùng, Luật Bình đẳng giới Việc thực hiện trách nhiệm xã hội là một công việc không thể bỏ qua trên con đường hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn pháp luật lao động tại Việt Nam Thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp Việt Nam là sự cần thiết khách quan, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội thì sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới, thậm chí tự loại mình ra khỏi thị trường và cộng đồng doanh nghiệp
Công ty CP Việt Nam là một trong những doanh nghiệp sản xuất thức ăn và chăn nuôi hàng đầu Việt Nam Với tiêu chí luôn nỗ lực ở mức cao nhất để đem lại những sản phẩm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của khách hàng Để thực hiện được điều đó, cũng như nhiều doanh nghiệp khác, công ty CP Việt Nam không thể không quan tâm tới dư luận thế giới, không quan tâm tới các tiêu chuẩn và giá trị đã được thừa nhận rộng khắp trên toàn thế giới
Đó là lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Trường hợp Công ty CP Việt Nam ” để có thể góp phần nhỏ trong
việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay cũng như góp phần tìm ra cách thức và giải pháp để lồng ghép việc thực hành trách nhiệm
xã hội vào trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Nội hàm của khái niệm trách nhiệm xã hội và khía cạnh người tiêu dùng trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
- Tại Công ty CP Việt Nam đã thực hiện CSR góp phần đảm bảo an ninh lương thực
ở khía cạnh người tiêu dùng ở mức độ như thế nào?
Trang 13- Dựa trên tình huống nghiên cứu tại Công ty CP Việt nam, có thể đề xuất Giải pháp cho các bên hữu quan trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Xác định hiện trạng và đánh giá về việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt nam Từ đó phân tích những mặt tích cực và những mặt còn có thể làm tốt hơn tại Công ty CP Việt nam trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Khảo sát, mô tả thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam
- Đề xuất các biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện CSR góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam
- Kiến nghị cho các bên hữu quan trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hành trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo
an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những đánh giá của người tiêu dùng các sản phẩm của Công ty CP Việt Nam về việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng của Công ty CP Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017
5 Đóng góp của luận văn
- Tăng cường nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và CSR góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng tại Công ty CP Việt Nam và các doanh nghiệp khác tại Việt Nam
- Xây dựng một đánh giá mẫu về trình độ (mức độ) thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần đảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng Với phương pháp đã đề xuất và đánh giá thực nghiệm thành công tại Công ty CP Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng phương pháp này để đánh giá các doanh nghiệp khác, hoặc ở những góc độ khác của CSR
Trang 14- Đề xuất các nội dung để Công ty CP Việt Nam và các bên hữu quan thực hiện tốt trách nhiệm xã hội góp phần bảm bảo an ninh lương thực trên khía cạnh người tiêu dùng
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm bốn chương cơ bản như sau:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và khung phân tích
- Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả và thảo luận
- Chương 4 Giải pháp và khuyến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)
1.1.1 Giới thiệu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) được chính thức định hình lần đầu vào năm 1953, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội
Kể từ đó, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái quản trị
“đại diện” và “đa bên” trong quản trị công ty; trên bình diện lớn hơn, đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tư bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghĩa tư bản xã hội (dân chủ, cánh tả) Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện đại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp - xã hội - nhà nước
Trường phái phản đối CSR cho rằng các chương trình của doanh nghiệp lấy tên
“trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình PR đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì- lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi
Những người ủng hộ CSR không bác bỏ toàn bộ những lập luận trên Nhưng họ đưa
ra một lập luận khác cũng hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động đã
là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi trường, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình trước xã hội Henry Mintzberg đã lấy ví dụ công ty Dow Chemicals quyết định bán chất Napalm cho quân đội Mỹ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, để lại hậu quả nặng
nề cho hàng triệu nạn nhân chất độc da cam (Crane, Matten & Spence, 2008) Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì- lợi nhuận mà doanh nghiệp ngay từ đầu đã đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong đó Chính khái niệm “công dân doanh nghiệp” (corporate citizenship) đã ra đời trong trào lưu CSR này
Thực vậy, nếu chỉ nhìn nhận đơn giản khi cho rằng doanh nghiệp hoạt động duy nhất lợi nhuận và bù đắp lại chi phí xã hội, cũng như “trả tiền” cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hưởng lợi thông qua việc đóng thuế, chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm môi trường và chi phí xã
Trang 16vì-hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (như trường hợp công ty Vedan) Và người quản lý với tư cách là người thác quản doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ
và lợi ích của chính doanh nghiệp mình Trách nhiệm của họ không phải là việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ trong đó CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ bằng các quy định pháp luật), bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội
Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội còn vì lợi ích tăng trưởng và phát triển bền vững của chính mình Thực tế cho thấy người tiêu dùng và nhà đầu tư ngày càng tính đến các tiêu chí thành tích của công ty về đạo đức, lao động, môi trường, xã hội trong các quyết định tiêu dùng hay đầu tư của mình Hơn thế nữa, không chỉ liên quan đến tính cạnh tranh, CSR còn liên quan trực tiếp đến tính bền vững của công ty Những vụ đổ vỡ của tập đoàn Enron, công ty kiểm toán Arthur Anderson, hoặc ngay vụ các cây xăng gian lận bị rút giấy phép là những minh chứng rõ nét nhất cho thấy rằng thiếu CSR, doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị trường và cộng đồng doanh nghiệp
Trong gần 1 thập kỷ trở lại đây, cùng với sự quan tâm của xã hội, các nghiên cứu về Thực hiện trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp đã nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu Song song với quá trình xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 26000 (bắt đầu từ 4/2001 đến hết 10/2010) đã có hàng loạt các hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu về CSR đã được tiến hành tại nhiều Trường đại học danh tiếng và các học viện quản lý trên thế giới Một số nghiên cứu đáng chú gần đây có:
Mathew J Hirschland trong tác phẩm “Corporate Social Responsibility and the
Shaping of Global Public Policy”, Hardcover (Dec.12,2006) đã bàn về tầm quan trọng của
CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết - quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu
Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler và Magnus Fredriksson trong tác phẩm “Public
Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge Communication
Series) đã nghiên cứu về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi
lý thuyết của quan hệ công chúng Từ đó tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, phản xạ, cũng như các vấn đề về hành vi, năng lượng, và ngôn ngữ
Trang 17Muhammad Yunus qua những gương điển hình của các doanh nghiệp quan tâm đến
CSR, tác giả thông qua tác phẩm “Building Social Business: The New Kind of Capitalism
That Serves Humanity’s Most Pressing Needs” muốn giúp các doanh nghiệp thấy được vai
trò của CSR trong hoạt động kinh doanh
Turker, D (2009a) Measuring corporate social responsibility: A scale development study Journal of Business Ethics, 85, 411-427 Trong nghiên cứu của mình Turker đã đề xuất một công cụ gồm bốn yếu tố Nó cho phép đo mức độ nhận thức CSR đối với các bên liên quan: xã hội, nhân viên, khách hàng và chính phủ Nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng là các chuyên gia kinh tế trẻ, những người có trình độ học vấn cao
và thực hiện công việc Lao động trí óc
Tại Việt Nam, bên cạnh các dự án do các tổ chức phi chính phủ tài trợ về xây dựng
và nâng cao năng lực thực hiện CSR cho các Doanh nghiệp Việt Nam, giới nghiên cứu cũng bắt đầu có những bài viết, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này
Nigel Twose và Tara Rao (2003) đã thực hiện một báo cáo có tiêu đề “Thúc đẩy sự cam kết của chính phủ các quốc gia đang phát triển đối với trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp: Kết luận và kiến nghị từ Việt Nam”
Shizuo Fukada (2007) đã có nghiên cứu về Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp tại Việt nam, thực trạng, tầm nhìn và thách thức đối với các Doanh nghiệp Nhật Bản
Nguyễn Ngọc Thắng (2010) đã có nghiên cứu về vấn đề gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trong đó, tác giả đã chỉ ra các xu thế của CSR và hướng dẫn việc lồng ghép các hoạt động quản trị nhân sự (HRM) với thực hiện trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp
Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức (2008), đã có bài viết về Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp – CSR, một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước đối CSR ở Việt nam, đăng trên tạp chí Quản lý Kinh tế số 23 Tại đó, các tác giả lược lại các cuộc tranh luận về CSR và quá trình hình thành khái niệm CSR, điểm lại một số thực trạng thực hiện CSR tại Việt nam Các tác giả cũng chỉ ra những tồn tại và yêu cầu đổi mới trong tư duy quản lý nhà nước về CSR tại Việt Nam
Trách nhiệm xã hội cũng là một vấn đề được nghiên cứu trong nhiều luận án, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ tại Việt Nam Bùi Thị Phương (2011) đã có Luận văn thạc sĩ Việt Nam học về đề tài “Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” Tạ Trang Nhung (2014) đã có Luận văn thạc sĩ du lịch về đề tài “Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Hà Nội” Lê Anh Hưng (2014) đã có Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý về đề tài “Tăng cường thực hiện trách
Trang 18nhiệm xã hội: nghiên cứu trường hợp Công ty cổ phần Sông Đà 6” Nguyễn Thị Chúc (2014) đã có Luận văn thạc sĩ về đề tài “Trách nhiệm xã hội của Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2014) đã có Luận văn thạc sĩ du lịch về đề tài “Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn Nghiên cứu trường hợp các khách sạn thuê thương hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội”… Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Tuy nhiên các công trình này hầu hết chưa đi sâu vào nghiên cứu từng khía cạnh
cụ thể của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cụ thể là 7 khía cạnh được đề cập trong Tiêu chuẩn ISO 26000:2010 Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau
1.1.2 Xu hướng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và áp lực xã hội đối với doanh nghiệp
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, giờ đây bất cứ cá nhân hay tổ chức nào đều có thể
dễ dàng tìm kiếm và truy cập để biết về mọi thông tin về các quyết định và các hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là các quyết định và các hoạt động của mọi tổ chức, doanh nghiệp đều có thể bị kiểm soát một cách kỹ lưỡng bởi một loạt các nhóm và cá nhân Việc này khiến cho các doanh nghiệp cần tìm ra được những cách thức
để triển khai công việc và giải quyết vấn đề sao cho an toàn và có lợi nhất trước sự phán xét của công chúng thế giới Chính sách hoặc thực tiễn áp dụng của các tổ chức, doanh nghiệp tại các địa điểm khác nhau có thể dễ dàng được so sánh
Bản chất toàn cầu của các vấn đề môi trường và sức khỏe, sự công nhận trách nhiệm trên toàn thế giới về chống đói nghèo, phát triển tài chính và kinh tế phụ thuộc lẫn nhau Các tổ chức phụ thuộc nhau không chỉ ở góc độ địa lý mà còn do tham gia vào chuỗi giá trị chung toàn cầu Điều này khiến cho các vấn đề xảy ra trên phạm vi thế giới đều có thể ảnh hưởng đến những doanh nghiệp cụ thể, ở những địa chỉ cụ thể Điều quan trọng là các tổ chức, doanh nghiệp cần xác định được rõ các trách nhiệm xã hội của mình mà không cần phân biệt hoàn cảnh xã hội hoặc trình độ phát triển kinh tế Các công cụ như Tuyên bố Rio
về Môi trường và Phát triển, Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và Tuyên bố ILO về các nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc đã nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn thế giới này
Trang 19Trong nhiều thập kỷ qua, toàn cầu hóa đã dẫn đến sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức khác nhau - bao gồm cả những tổ chức của khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức chính phủ đối với cộng đồng và môi trường Trong thời gian của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, tổ chức nên tìm cách duy trì hoạt động của họ liên quan đến trách nhiệm xã hội Cuộc khủng hoảng như vậy có tác động đáng kể đến các nhóm có lợi ích dễ bị tổn thương, và do đó cho thấy một nhu cầu lớn hơn đối với trách nhiệm xã hội tăng lên Sự mong đợi của xã hội về việc thực hiện của các tổ chức tiếp tục phát triển Một
số lượng ngày càng tăng của các tổ chức được giao tiếp với các bên liên quan của họ, bao gồm cả việc sản xuất các báo cáo trách nhiệm xã hội, để đáp ứng nhu cầu của họ để biết thông tin về hoạt động của tổ chức
Người tiêu dùng tại các nước Âu-Mỹ hiện nay không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm đó, có thân thiện với môi trường sinh thái, cộng đồng, nhân đạo, và lành mạnh Nhiều phong trào bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường phát triển rất mạnh, chẳng hạn như phong trào tẩy chay thực phẩm gây béo phì (fringe foods) nhằm vào các công ty sản xuất đồ ăn nhanh, nước giải khát có ga; phong trào thương mại công bằng FairTrade (bảo đảm điều kiện lao động
và giá mua nguyên liệu của người sản xuất ở các nước thế giới thứ 3), phong trào tẩy chay sản phẩm sử dụng lông thú, tẩy chay sản phẩm bóc lột lao động trẻ em (nhằm vào công ty Nike, Gap), phong trào tiêu dùng theo lương tâm (shopping with a conscience)…
Trước áp lực từ xã hội, hầu hết các công ty lớn đã chủ động đưa CSR vào chương trình hoạt động của mình một cách nghiêm túc Hàng nghìn chương trình đã được thực hiện như tiết kiệm năng lượng, giảm khí thải carbon, sử dụng vật liệu tái sinh, năng lượng mặt trời, cải thiện nguồn nước sinh hoạt, xóa mù chữ, xây dựng trường học, cứu trợ, ủng
hộ nạn nhân thiên tai, thành lập quỹ và trung tâm nghiên cứu vắc-xin phòng chống Aids và các bệnh dịch khác ở các nước nhiệt đới, đang phát triển Có thể kể đến một số tên tuổi đi đầu trong các hoạt động này như TNT, Google, Intel, Unilever, CocaCola, GE, Nokia, HSBC, Levi Strauss, GlaxoSmithKline, Bayer, DuPont, Toyota, Sony, UTC, Samsung, Gap, BP, ExxonMobil… Đáng chú ý nhiều công ty trong số này đã từng có thành tích rất xấu trong quá khứ về ô nhiễm, môi trường, bóc lột lao động… Điều đó chứng tỏ đã có biến chuyển sâu sắc trong nhận thức của họ về CSR
Hiện nay, hầu hết các công ty đa quốc gia đều xây dựng các bộ quy tắc ứng xử (code
of conduct) có tính chất chuẩn mực áp dụng đối với nhân viên của mình trên toàn thế giới Lợi ích đạt được qua những cam kết CSR đã được ghi nhận Không những hình ảnh công
ty được cải thiện trong mắt công chúng và người dân địa phương giúp công ty tăng doanh
Trang 20số bán hàng hay thực hiện các thủ tục đầu tư được thuận lợi hơn, mà ngay trong nội bộ công ty, sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty cũng tăng lên, cũng như các chương trình tiết kiệm năng lượng giúp giảm chi phí hoạt động cho công ty không nhỏ
Có thể nói CSR đã có chỗ đứng khá vững chắc trong nhận thức của giới doanh nghiệp Một số trung tâm, viện nghiên cứu về trách nhiệm doanh nghiệp đã được các trường đại học ở Mỹ thành lập 78% sinh viên ngành quản trị doanh nghiệp cho rằng chủ
đề CSR nên được đưa vào các chương trình giảng dạy
1.1.3 Phân tích Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, quá trình hình thành
Các yếu tố trách nhiệm xã hội phản ánh sự mong đợi của xã hội ở những thời điểm
cụ thể, và do đó có thể thay đổi theo thời gian Khi sự quan tâm của xã hội thay đổi, sự kỳ vọng vào trách nhiệm của các tổ chức cũng sẽ thay đổi để phản ánh những mối quan tâm
đó Do vậy, khái niệm Trách nhiệm xã hội là một khái niệm mở, được điều chỉnh và thay đổi theo thời gian
Khái niệm Trách nhiệm xã hội được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 70, mặc dù nhiều khía cạnh khác nhau của trách nhiệm xã hội đã là chủ đề hành động của các tổ chức
và chính phủ ngay từ cuối thế kỷ 19 và thậm chí còn sớm hơn Ban đầu, trách nhiệm xã hội ban đầu chỉ được tập trung cho giới kinh doanh Giờ đây, thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (CSR) trở nên quen thuộc với mọi người hơn là thuật ngữ “Trách nhiệm
xã hội” Việc thực hiện trách nhiệm xã hội được coi là góp phần vào chiến lược phát triển bền vững
Khái niệm CSR đã trải qua quá trình phát triển với những nội hàm khác nhau hoặc được bổ sung dần theo thời gian Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “CSR là
sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ” Khái niệm này đã chỉ được ra CSR là kỳ vọng của xã hội (gián tiếp thừa nhận tiêu chuẩn cho CSR có thể thay đổi) Tuy nhiên, khái niệm này còn khá mơ
hồ khiến cho các tổ chức, Doanh nghiệp khó có căn cứ và định hướng để thực hiện Trong khi
đó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp
lý, đạo đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định.”
Trang 21Hình 1.1: Mô hình “kim tự tháp” CSR của Carroll
Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện:
(i) Trách nhiệm kinh tế - tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp
(ii) Trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR
(iii) Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng - sai không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật Cho nên, tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại chính là trung tâm của CSR
(iv) Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện Nếu họ không thực hiện CSR đến mức độ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi
PHÁP LÝ
Trang 22Mô hình trên có tính toàn diện và khả thi cao, có thể được sử dụng làm khuôn khổ cho tư duy chính sách của nhà nước về CSR Hơn nữa, việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn cả nhu cầu về lý thuyết “đại diện” trong quản trị công ty,
mà còn giải quyết được những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình CSR của doanh nghiệp Từ đó, vấn đề “vì mình” hay “vì người” không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó là không thể tách rời Ranh giới giữa các tầng trong “kim tự tháp” là luôn chồng lấn, tác động bành trướng lẫn nhau Việc tuân thủ quy định pháp luật chắc chắn đưa đến các chi phí kinh tế cho doanh nghiệp Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật, bắt buộc các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội
Chính vì những yếu tố trên mà định nghĩa của Caroll đã từng được sử dụng khá rộng rãi Tuy nhiên, cách diễn đạt của Caroll dường như khiến người ta hiểu rằng để phấn đấu thực hiện được nghĩa vụ ở cấp cao hơn thì doanh nghiệp phải thỏa mãn được cấp thấp hơn trước và có sự phân biệt khá rạch ròi giữa đạo đức và từ thiện, giữa nghĩa vụ kinh tế và nghĩa vụ pháp lý Trên thực tế, các yếu tố trên vẫn lồng ghép vào với nhau và nhiều khi tồn tại cùng lúc trong cùng một sự việc chỉ bằng cách nhìn ở những góc khác nhau của vấn đề Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù.” Như vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tương quan với vai trò của nhà nước khiến khái niệm CSR luôn biến đổi, luôn mới tùy thuộc không những phạm vi không gian
mà còn thời gian nơi cuộc tranh luận về CSR diễn ra
Tuy nhiên, các định nghĩa trên còn nhiều yếu tố chưa được cụ thể hóa, chưa làm rõ được cách ứng xử trong trường hợp có sự khác nhau giữa các tiêu chuẩn về đạo đức, pháp lý Điều này khiến việc áp dụng trên quy mô toàn cầu gặp một số khó khăn
Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều khía cạnh, được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như:
(i) Bảo vệ môi trường;
(ii) Đóng góp cho cộng đồng xã hội;
(iii) Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp;
Trang 23(iv) Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng;
(v) Quan hệ tốt với người lao động;
(vi) Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp
Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung
Về phương diện quản lý nhà nước, nhiều nước đã thể chế hoá nội dung CSR vào các văn bản luật và quy định khác dưới nhiều hình thức khác nhau Trên bình diện rộng lớn hơn, nỗ lực đưa CSR trở thành một thông lệ quốc tế phổ biến đã trở thành hiện thực
Năm 1999, một thỏa thuận toàn cầu (Global compact) đã được Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Kofi Annan đề xuất tại Diễn đàn kinh tế thế giới và tháng 7/2000 đã chính thức ra mắt như một Bộ quy tắc ứng xử của LHQ về trách nhiệm xã hội các công ty đa quốc gia (gọi tắt là UNGC) Bộ quy tắc này, bao gồm 10 quy tắc đảm bảo tôn trọng nhân quyền, dân sinh, chống lạm dụng trẻ em, lao động cưỡng bức, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng… tuy không phải là văn bản có tính bắt buộc nhưng được thừa nhận như một khung khổ thảo luận chính thức tại các diễn đàn của Liên hiệp quốc
Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng đã được Ủy ban châu Âu chính thức công nhận từ rất sớm: “là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã hội và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với các cổ đông của mình, trên cơ sở tự nguyện.”
Để tạo sự thống nhất cho một tiêu chuẩn chung đối với khái niệm Trách nhiệm xã hội, tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) nhận thấy cần có sự thống nhất thành chuẩn mực chung Quá trình xây dựng tiêu chuẩn ISO 26000 được bắt đầu từ tháng 4/2001, khi Hội đồng ISO đề nghị Ủy ban ISO về chính sách đối với người tiêu dùng (COPOLCO) cân nhắc về việc phát triển một tiêu chuẩn về Trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp Sau 9 năm rưỡi chuẩn bị, ISO 26000-2010 đã được ban hành với sự đóng góp tích cực của hàng trăm chuyên gia từ 99 quốc gia (thuộc 6 nhóm hữu quan khác nhau) và 42 tổ chức liên lạc Tiêu
Trang 24chuẩn này đã được chính thức thông qua và công bố từ 11/2020 Tại đây, CSR được định nghĩa là:
Trách nhiệm xã hội của tổ chức (trong đó có doanh nghiệp) về các hoạt động và quyết định của mình đối với các hoạt động xã hội và môi trường, thông qua sự minh bạch hóa và ứng xử có đạo đức, gồm việc:
- Có đóng góp đối với mục tiêu phát triển bền vững, bao gồm chăm sóc sức khỏe và phúc lợi cho xã hội
- Quan tâm đến những mong muốn và kỳ vọng của các bên liên quan trong các quyết định và hoạt động của tổ chức
- Phù hợp với các quy định của pháp luật sở tại và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc
Quản trị tổ
chức
CSR
Trang 25Các đặc tính thiết yếu của trách nhiệm xã hội là sự sẵn lòng của một tổ chức để kết hợp các đặc điểm xã hội và môi trường trong việc đưa ra quyết định của mình và chịu trách nhiệm về tác động của quyết định và các hoạt động của nó đối với xã hội và môi trường Điều này có nghĩa cả hai hành vi minh bạch và đạo đức góp phần vào sự phát triển bền vững, phù hợp với pháp luật áp dụng và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành vi Nó cũng ngụ ý rằng trách nhiệm xã hội được tích hợp toàn bộ tổ chức, được thực hành trong mối quan hệ của nó và tính đến lợi ích của các bên liên quan
Những bên liên quan sẽ quan tâm khi bị ảnh hưởng do những quyết định và hoạt động của tổ chức Mối quan tâm này khiến cho họ tạo thành bên có liên quan với tổ chức
và điều đó dẫn tới việc hình thành nên mối quan hệ với tổ chức Các bên liên quan có thể được đề cập tới như là “các bên quan tâm” Nhằm xác định và ghi nhận mối quan tâm của các bên liên quan, tổ chức cần cân nhắc tới trách nhiệm thực thi đầy đủ các nghĩa vụ pháp
lý tới những mối quan tâm đó và họ cần phải trung thành với những chuẩn mực quốc tế trong các hành vi ứng xử Điều đó phản ảnh:
• Sự kỳ vọng của xã hội
• Vai trò của các bên liên quan tới trách nhiệm xã hội
• Tích hợp các trách nhiệm xã hội
• Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững
Định nghĩa này là sự thỏa hiệp của cùng lúc 6 bên hữu quan khác nhau và của nhiều giới, nhiều khu vực có trình độ phát triển khác nhau Do vậy, khả năng sử dụng cho các tình huống thực tế ở mức độ cao hơn Hơn nữa, định nghĩa này còn hướng tới một ý nghĩa thiết thực hơn là góp phần chỉ ra được định hướng chuẩn mực để các tổ chức, doanh nghiệp cùng hướng tới
1.1.4 Tầm quan trọng ngày càng tăng của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của hoạt động của công ty Ngày càng có nhiều người tiêu dùng muốn mua sản phẩm từ các công ty mà họ tin tưởng, các nhà cung cấp muốn hình thành quan hệ đối tác kinh doanh với các công ty họ có thể tin tưởng, nhân viên muốn làm việc cho công ty mà
họ tôn trọng, các quỹ đầu tư lớn muốn hỗ trợ các công ty mà họ cảm nhận là có trách nhiệm xã hội, và các tổ chức phi lợi nhuận và tổ chức phi chính phủ muốn làm việc cùng với các công ty theo đuổi những giải pháp thực tế cho mục tiêu chung Việc thỏa mãn mỗi nhóm bên liên quan này (và những người khác) cho phép các công ty có thể tối đa hóa cam
Trang 26kết của họ đối với chủ sở hữu (cổ đông cuối cùng của họ), những người hưởng lợi nhiều nhất khi tất cả các nhu cầu của các nhóm được đáp ứng
CSR đang ngày càng quan trọng đối với sự thành công bởi vì nó tạo cho công ty một
sứ mệnh và chiến lược mà nhiều nhóm thành phần có thể tập hợp lại Các doanh nghiệp có thể thành công trong môi trường toàn cầu phát triển nhanh chóng ngày nay sẽ là những doanh nghiệp có khả năng cân bằng tốt nhất những mâu thuẫn về lợi ích thường xuyên giữa các bên liên quan của họ Đặc biệt, các công ty thương hiệu về lối sống, cần phải hoạt động theo lý tưởng mà họ chuyển tải đến người tiêu dùng
Tại sao CSR ngày càng trở nên có liên quan?
CSR như một yếu tố của chiến lược đang ngày càng trở nên có liên quan đối với các doanh nghiệp ngày nay vì năm xu hướng có thể nhận dạng được - những xu hướng dường như có khả năng tiếp tục và có tầm quan trọng ngày càng tăng trong suốt thế kỷ 21
Sự giàu có tăng lên
Một xã hội nghèo, có nhu cầu làm việc và đầu tư trong nước, ít có khả năng bắt buộc thi hành các quy định nghiêm ngặt và trừng phạt các tổ chức không đóng góp việc kinh doanh và tiền bạc của họ cho xã hội Người tiêu dùng trong các xã hội phát triển, mặt khác,
có thể đủ khả năng để lựa chọn các sản phẩm họ mua và, như một hệ quả, mong đợi nhiều hơn từ các công ty sản xuất sản phẩm đó Xu hướng này đã tăng lên trong bối cảnh các vụ
bê bối của công ty tại thời điểm chuyển giao thế kỷ này và cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, cả hai đều làm giảm lòng tin của công chúng vào các công ty kinh doanh và sự tín nhiệm của công chúng đối với khả năng của cơ quan quản lý trong việc kiểm soát sự vượt quá giới hạn của công ty Sự giàu có ý nghĩa quan trọng và dẫn đến sự thay đổi kỳ vọng của xã hội Doanh nghiệp hoạt động trong các xã hội giàu có, do đó, phải đối mặt với gánh nặng hơn để chứng minh rằng họ có trách nhiệm xã hội Kết quả là, sự giàu có ngày càng phát triển trên toàn cầu sẽ tiếp tục thúc đẩy CSR trở thành công việc phải làm của các công ty kinh doanh trên toàn thế giới
Tính bền vững sinh thái
Sự gia tăng giàu có nói chung và thay đổi kỳ vọng của xã hội được củng cố thêm bởi mối quan tâm ngày càng tăng đối với môi trường Hoạt động kinh tế của con người đã làm suy giảm nguồn tài nguyên của thế giới và gây ra những thay đổi lớn đối với hỗn hợp khí trong bầu khí quyển của Trái đất - thay đổi có thể trở nên không thể phục hồi trong tương lai gần Kết quả là, các công ty được cho là thờ ơ với trách nhiệm môi trường của họ có thể bị chỉ trích và
Trang 27trừng phạt Ví dụ bao gồm: tiền phạt do tòa án áp dụng (Exxon Valdez), thái độ tiêu cực của
công chúng (thực phẩm biến đổi gen của Monsanto), hoặc đụng độ với các nhóm vận động (Friends of the Earth)
Toàn cầu hóa
Ngày càng có nhiều công ty hoạt động trong một môi trường kinh doanh toàn cầu Hoạt động trong nhiều quốc gia và nền văn hóa làm tăng sự phức tạp của việc kinh doanh theo cấp số nhân Không chỉ có thêm những quy định và luật cần phải hiểu, mà còn
có nhiều hơn các chuẩn mực xã hội và sự tinh tế văn hóa điều hướng Ngoài ra, phạm vi các bên liên quan mà các công ty đa quốc gia chịu trách nhiệm tăng lên, cũng như nguy cơ xung đột giữa nhu cầu cạnh tranh của các bên liên quan Trong khi toàn cầu hóa đã làm tăng tiềm năng sản lượng thu được từ sản xuất ở nước ngoài, nó cũng tăng khả năng tiếp xúc với khán giả toàn cầu nếu hành động của công ty không đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của cộng đồng địa phương
Sự tự do thông tin
Ảnh hưởng ngày càng tăng của các tập đoàn phương tiện truyền thông toàn cầu đảm bảo rằng bất kỳ sai sót CSR nào của các công ty sẽ nhanh chóng thu hút sự chú ý của công chúng trên toàn thế giới, thông thường là ngay lập tức Internet tạo điều kiện cho thông tin liên lạc giữa các nhóm hoạt động và các cá nhân cùng chí hướng, trao quyền cho họ truyền
bá thông điệp của mình trong khi cung cấp cho họ phương tiện để phối hợp hành động tập thể Công nghệ này đang vượt ngoài tầm kiểm soát của chính phủ chuyên quyền và cho phép mọi người tìm thấy những cách thức mới để huy động và phản đối
Thương hiệu
Tất cả những xu hướng đang ảnh hưởng tới tầm quan trọng của CSR này chồng chéo
về tầm quan trọng của uy tín và thương hiệu của một công ty Thương hiệu ngày nay thường
là tâm điểm của sự thành công của công ty Các công ty cố gắng thiết lập thương hiệu nổi tiếng trong tâm trí của người tiêu dùng bởi vì nó làm tăng bất kỳ lợi thế cạnh tranh nào mà họ nắm giữ,
từ đó dẫn đến doanh số bán hàng và doanh thu cao hơn Ngoài ra, người tiêu dùng có nhiều khả năng sẽ dành vị trí quan trọng cho một thương hiệu mà họ biết và tin tưởng Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng tăng từ số lượng ngày càng tăng của các bên liên quan, kết hợp với tính phức tạp tăng lên của kinh doanh trong môi trường toàn cầu và khả năng của các nhà hoạt động và các tổ chức truyền thông để truyền bá các sai lầm ngay lập tức cho khán giả toàn cầu, ngày nay, hơn bao giờ hết, danh tiếng của một công ty là không ổn định, khó để thiết lập và dễ dàng mất đi Do
Trang 28đó, khảo sát thương hiệu hàng năm của BusinessWeek cho thấy, thương hiệu có giá trị hơn bao
giờ hết, và các công ty cần phải thực hiện các bước lớn hơn nữa để bảo vệ khoản đầu tư cần thiết cho sự thành công sau này của họ
-Đối với hoạt động kinh doanh có trách nhiệm và bảo vệ môi trường, khi doanh nghiệp quan tâm đến việc ngăn ngừa ô nhiễm và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững, kết quả
có thể đem lại là hiệu suất cho doanh nghiệp Thực tế khảo sát tại Đan Mạch chỉ ra rằng, lợi ích từ việc thực hiện CSR tại doanh nghiệp đã mang lại lợi nhuận về tài chính có thể đo lường được cho doanh nghiệp là giảm chi phí năng lượng hoặc xử lý chất thải, từ đó giúp doanh nghiệp có được giá cả cạnh tranh hơn
-Doanh nghiệp thực hiện hoạt động CSR thông qua việc quản trị minh bạch và cạnh tranh công bằng, lành mạnh giúp cho doanh nghiệp có được các cơ hội liên kết mạng lưới, gia tăng lợi nhuận trong chuỗi giá trị, sự ủng hộ và tôn trọng từ các bên liên quan
-Khi doanh nghiệp quan tâm tới người tiêu dùng thông qua việc tạo ra được nhiều lợi ích
và an toàn cho người tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ giành được và giữ chân người tiêu dùng
và khách hàng kinh doanh, điều này đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa khi kinh tế đang gặp khủng hoảng, doanh nghiệp rất khó tìm được thị trường và khách hàng mới Bên cạnh đó, việc hướng tới việc bảo vệ sức khỏe, thông tin và quyền riêng tư của khách hàng sẽ tạo ra tiêu dùng bền vững
-Các hoạt động liên quan đến phát triển cộng đồng thông qua việc cam kết kinh doanh có đạo đức, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, hay tạo ra phúc lợi cho cộng đồng và xã hội, cam kết về bảo
vệ môi trường sống tự nhiên… có thể giúp doanh nghiệp xây dựng hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp đối với cộng đồng Từ đó, doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc hàng hóa và dịch vụ của mình được tiêu thụ tốt hơn, doanh nghiệp có cơ hội thu hút và giữ chân được người giỏi tốt hơn, hay duy trì giấy phép hoạt động ở một cộng đồng địa phương
-Doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện làm việc tốt cho nhân viên sẽ có những tác động tích cực đến tinh thần nhân viên và dẫn đến sự thỏa mãn công việc và cam kết đối với doanh nghiệp cao hơn của nhân viên Kết quả là doanh nghiệp có thể thu hút và giữ chân các nhân viên cam kết và có động lực làm việc Điều này càng đúng khi dùng CSR như một vũ khí khác biệt quan trọng cho các doanh nghiệp đang phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng lớn để thu hút nhân công có tay nghề cao
Trang 29-Doanh nghiệp thực hiện CSR thông qua các hoạt động quản trị tổ chức minh bạch sẽ nuôi dưỡng được các giá trị của tổ chức, thiết lập quá trình trao đổi thông tin hai chiều hiệu quả, khuyến khích sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong việc ra quyết định nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích cho các bên liên quan Kết quả là các này này sẽ tạo ra được uy tín với các nhà đầu tư, các đối tác cho vay vốn Từ đó giúp cho doanh nghiệp có thể tiếp cận và có được nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bền vững trong tương lai
-Doanh nghiệp thực hiện tốt quyền con người, tập trung vào việc tránh phân biệt đối xử trong tổ chức gây tổn thương cho người lao động trong tổ chức, đảm bảo các quyền về chính trị và dân sự, các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, và các nguyên tắc cơ bản và các quyền tại nơi làm việc của nhân viên sẽ tạo ra danh tiếng và uy tín đối với các đối tác trong và ngoài công ty cũng như các cơ quan công quyền địa phương Từ đó, các doanh nghiệp này sẽ nhận được sự ủng hộ từ các đối tác trong việc thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Trách nhiệm xã hội và chiến lược của doanh nghiệp
CSR bao trùm phạm vi của các hoạt động kinh tế, pháp lý, đạo đức, và từ thiện có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của công ty Một phần quan trọng trong trách nhiệm cơ bản của một công ty là tuân thủ các yêu cầu pháp lý hoặc quy định có liên quan đến hoạt động hàng ngày Phá vỡ các quy định này tức là vi phạm luật pháp, nó không tạo thành hành vi trách nhiệm xã hội Rõ ràng, tôn trọng pháp luật là một phần quan trọng của bất kỳ
tổ chức đạo đức nào Nhưng, tuân thủ pháp luật chỉ là một điều kiện tối thiểu của CSR Thay vì tập trung vào nghĩa vụ pháp lý và quy định của một công ty, CSR chiến lược tập trung nhiều hơn vào các vấn đề đạo đức và từ thiện khác thường ít khi được định nghĩa một cách chính xác và thường không có sự đồng thuận rõ ràng của xã hội
CSR là một yếu tố quan trọng của chiến lược kinh doanh Theo lời của The Economist, đó đơn giản là "kinh doanh tốt" Chiến lược cố gắng mang lại cho doanh nghiệp một nguồn lợi thế cạnh tranh bền vững Tuy nhiên, để một lợi thế cạnh tranh trở thành bền vững, chiến lược cần phải là chấp nhận được đối với môi trường rộng lớn hơn
mà các công ty cạnh tranh trong đó CSR được thực hiện không đúng – hoặc tệ hơn nữa, hoàn toàn bị bỏ qua - có thể gây nguy hại cho bất kỳ lợi thế so sánh nào mà công ty nắm giữ trong ngành đang hoạt động
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo cần phải giải quyết mối quan tâm của các bên liên quan bằng những cách mang lại lợi ích chiến lược cho công ty CSR là về các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và từ thiện mà các bên liên quan cho là có liên quan trực tiếp đến kế
Trang 30hoạch và hành động của công ty Giải pháp cho những vấn đề này, sự chồng chéo giao thoa giữa giá trị kinh tế và xã hội, là trung tâm của bất kỳ chính sách trách nhiệm xã hội thành công nào
Đạo đức không phải là trọng tâm của CSR chiến lược, ngoại trừ trường hợp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động hoặc xã hội coi hành động của một công ty là phi đạo đức, làm tổn hại đến tính hợp pháp và tiềm năng lợi nhuận của công ty Tương tự như vậy, các vấn đề xã hội quan trọng khác cũng nằm ngoài sự tập trung trực tiếp của CSR chiến lược Những lo ngại về sự chênh lệch thu nhập trong nước và quốc tế, các vấn đề giới tính, phân biệt đối xử, quyền con người, tâm linh và tôn giáo nơi làm việc, sự tác động của công nghệ đến dân số nội địa và các vấn đề khác ảnh hưởng đến tình trạng khỏe mạnh của xã hội Trừ khi các công ty có những hành động ảnh hưởng trực tiếp đến các bên liên quan về các lĩnh vực này, tuy nhiên, nghiên cứu về các chủ đề này tốt hơn là được đưa vào các khóa học về đạo đức, chính sách công, xã hội học, phát triển kinh tế do chúng phù hợp hơn để nghiên cứu những chủ đề xã hội quan trọng và phức tạp này ở một mức độ sâu hơn
1.3 Các tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.3.1 Nhóm có tính ràng buộc pháp lý
Nhóm các tiêu chuẩn có tính chất rằng buộc pháp lý được quy định trong Luật và văn bản dưới luật Nội dung chi tiết của các quy định có thể có sự khác nhau giữa các quốc gia, tùy trình độ phát triển và đặc thù văn hóa Tuy nhiên, nguyên tắc là các tổ chức, Doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định hiện hành của luật pháp Trong bối cảnh của trách nhiệm xã hội, tôn trọng các quy định của pháp luật có nghĩa là hoạt động của một tổ chức phải phù hợp với tất cả các luật và quy định hiện hành
Một tổ chức cần phải:
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý mà tổ chức, Doanh nghiệp có liên quan;
- Đảm bảo rằng các mối quan hệ và các hoạt động là hợp pháp;
- Bản thân Doanh nghiệp cần có cơ chế thường xuyên cập nhật các văn bản luật và quy định mới nhất;
- Định kỳ xem xét sự phù hợp với pháp luật và các quy định
Tại Việt Nam, về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, chúng ta có Bộ Luật Lao động năm 1994, được sửa đổi 2 lần vào năm 2002 có nội dung thỏa ước lao động, làm thêm giờ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, quy định về sa thải lao động và vào năm 2006 về nội dung tranh chấp lao động và đình công Trong lĩnh vực môi trường, hoạt động CSR ở nước ta có bước tiến lớn sau khi Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được ban hành thay thế cho luật cũ năm 1994 hầu như không có hiệu lực Tiếp theo, một loạt các nghị định đã được ban hành
Trang 31nhằm hướng dẫn thực thi luật, đưa nội dung bảo vệ môi trường vào thủ tục khi cấp phép đầu
tư, và thể chế hóa công tác quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng, thu phí nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, chất thải rắn … Các cơ quan giám sát và thực thi luật cũng được
tổ chức và vận hành như Cục và chi cục bảo vệ môi trường, Cục cảnh sát môi trường, phòng cảnh sát môi trường Trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, chúng ta có Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ban hành năm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.3.2 Nhóm làm tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường lớn
Tiêu chuẩn Châu Âu và của ILO,
Ở những nước châu Âu, người ta có khái niệm QSE (quality safety environment, chất lượng - an toàn lao động - môi trường) Mục đích là mở rộng chính sách quản lý doanh nghiệp vượt khỏi khái niệm chất lượng để bao hàm thêm trách nhiệm xã hội, mở rộng sổ tay chất lượng (Quality Manual) thành sổ tay QSE (QSE Manual) và chứng nhận doanh nghiệp cùng một lúc theo cả ba tiêu chuẩn chất lượng, an toàn lao động và môi trường Thực hiện đầy đủ cùng lúc ba chính sách này sẽ có thêm hiệu ứng hỗ trợ và giảm chi phí so với thực hiện riêng lẻ mỗi chính sách
ISO (International Organization for Standardization, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế) đã công bố bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống quản lý chất lượng và ISO 14000 về hệ thống quản lý môi trường Hai tiểu ban của ISO chuyên về các bộ tiêu chuẩn này đã thống nhất những phương pháp thực hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thiết lập một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý chất lượng và môi trường Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, vấn đề này phức tạp vì không phải là một vấn đề kỹ thuật Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là trách nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập thể, (b) quyền lợi tối thiểu của người lao động về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự nguyện ban cho hay phải theo quy định của nhà nước và thương lượng tập thể
Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao động quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân sự Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về trách nhiệm xã hội như là GRI (Global
Trang 32Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn diện) hay AA 1000 Asurance Standard của ISEA (Institute of Social and Ethical Accountability, Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức) Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tránh né trách nhiệm xã hội của mình Trong khi đó quản lý chất lượng và trách nhiệm xã hội là hai chính sách sẽ mau chóng đưa nước ta sớm lên hàng một quốc gia công nghệ hiện đại Hy vọng giải thưởng
“Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009” của VCCI sẽ tạo được tiếng vang và thu hút được nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham dự
Bộ quy tắc ứng xử (Code of Conduct ) Với xu thế toàn cầu hoá và tự do thương mại, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt là không tránh khỏi do các hàng rào hạn ngạch, thuế quan dần dần bị xoá bỏ
và một loại hàng rào mới xuất hiện Đó là các hàng rào kỹ thuật như yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, về an toàn vệ sinh lao động và hệ thống quản lý môi trường
Để tham gia vào thương trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những vận hội và những khó khăn lớn về khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu và thương hiệu Các doanh nghiệp Việt Nam có những lợi thế do Việt Nam được coi là nơi an toàn cho các doanh nghiệp đầu tư, có đội ngũ lao động rẻ, khéo tay, chăm chỉ Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam lại có những điểm yếu nhất định như thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, chưa có những thương hiệu lớn, chủ yếu làm gia công, và đặc biệt là chưa đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và thị trường về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), an toàn vệ sinh lao động, hệ thống quản lý môi trường
Hàng rào kỹ thuật là một khái niệm rộng bao trùm rất nhiều vấn đề trong kinh doanh và thương mại quốc tế Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cũng được coi là một trong những tiêu chuẩn của hàng rào kỹ thuật Trước những áp lực từ người tiêu dùng và xã hội, các công ty đa quốc gia đã tập trung đầu tư vào CSR dưới dạng bộ qui tắc ứng xử (COC) Nội dung của các
bộ qui tắc ứng xử thường khác nhau tuỳ theo lĩnh vực, qui mô, hoạt động của từng công ty, nhưng chúng có một điểm giống nhau là thường dựa vào các công ước của Tổ Chức Lao động quốc tế (ILO) về quan hệ lao động, an toàn vệ sinh lao động, lao động cưỡng bức, lao động trẻ
em, thời gian làm việc, trả lương Phân loại những COC này, có thể chia thành 03 loại COC khác nhau:
• Loại COC thứ nhất là do các công ty đa quốc gia (bên mua) đưa ra cho các nhà cung cấp (bên bán) của mình Bên mua sẽ cử người trực tiếp giám sát và yêu cầu bên bán thực hiện Trong trường hợp này, bên mua sẽ chịu chi phí giám sát, đánh giá còn bên bán
Trang 33chịu chi phí triển khai thực hiện Đây là trường hợp thoả thuận tự nguyện giữa người mua hàng và người bán hàng và không cần phải có chứng chỉ
• Loại COC thứ hai là loại được cấp chứng chỉ khi áp dụng Ví dụ như SA 8000, WRAP Khác với loại thứ nhất, khi áp dụng loại này các công ty thường phải làm việc với bên thứ ba (thường là các công ty tư vấn) để được cấp chứng chỉ Các công ty phải chịu hoàn toàn chi phí cho việc triển khai thực hiện và cấp chứng chỉ cho nhà máy của mình
• Loại COC thứ ba bao gồm Sáng Kiến về Đạo đức trong Kinh doanh (ETI), các công ước của ILO, bộ qui tắc Global Compact của Liên Hiệp Quốc… Các bộ qui tắc này chưa được phổ biến nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam và mục đích chủ yếu là nâng cao nhận thức và chia sẻ kinh nghiệm
Việc lựa chọn loại COC nào để áp dụng hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của mỗi doanh nghiệp sao cho có lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh những mặt thuận lợi trong việc triển khai CSR, các doanh nghiệp cũng gặp phải những điều bất cập như: hiện nay chưa có một COC chung thay cho hơn 1.000 COC đang được áp dụng trên thị trường Điều này dẫn đến việc có những doanh nghiệp cùng một lúc phải thực hiện nhiều COC của các bên mua khác nhau Việc khác nhau giữa các COC dẫn đến nhiều thắc mắc của công nhân và việc kiểm tra, giám sát quá trình triển khai, thực hiện các COC cũng khiến lãnh đạo doanh nghiệp mất nhiều thời gian
ISO 26000 Ngày 1/11/2010, tại Geneva (Thụy Sĩ), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (International Standardization Organization) đã chính thức công bố sự ra đời của ISO 26000:2010 - Tiêu chuẩn quốc tế "Chỉ dẫn về Trách nhiệm Xã hội" ISO 26000 là một Tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (gọi tắt là ISO) đưa ra hướng dẫn về trách nhiệm xã hội Nó sẽ được áp dụng cho các tổ chức ở mọi loại hình, cả ở lĩnh vực công cộng lẫn tư nhân, tại các nước phát triển và đang phát triển, cũng như các nền kinh tế chuyển đổi Nó sẽ hỗ trợ họ trong nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội theo yêu cầu ngày càng tăng của xã hội
ISO 26000 bao gồm hướng dẫn tự nguyện, không có các yêu cầu, và do đó nó không được sử dụng như một tiêu chuẩn chứng nhận giống như tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2008 Tiêu chuẩn quốc tế ISO 26000:2010 - Hướng dẫn về trách nhiệm xã hội – đưa
ra một hướng dẫn hài hòa, và mang tính toàn cầu cho các tổ chức tư nhân và tổ chức công cộng ở tất cả các loại hình dựa trên sự đồng thuận quốc tế giữa các chuyên gia thuộc các nhóm ngành chính, đồng thời cũng khuyến khích việc thực hành cao nhất trách nhiệm xã
Trang 34hội một cách rộng khắp Tiêu chuẩn ISO 26000 không những bổ sung giá trị cho công việc hiện tại về trách nhiệm xã hội mà còn mở rộng sự hiểu biết và thực thi trách nhiệm xã hội bằng cách:
• Phát triển sự đồng thuận mang tính quốc tế về Trách nhiệm xã hội là gì và Trách nhiệm xã hội cho biết các tổ chức cần phải làm gì;
• Đưa ra hướng dẫn về việc chuyển tải những nguyên tắc thành hành động có hiệu quả;
• Điều chỉnh những thực hành tốt nhất đã thực hiện và phổ biến thông tin rộng khắp
vì lợi ích của cộng đồng quốc tế
Các nước tham gia: Cơ quan tiêu chuẩn quốc gia của 83 nước thành viên ISO đã cử các chuyên gia tham gia, trong đó có các chuyên gia thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng của Việt Nam Nước quan sát viên gồm 16 quốc gia thành viên ISO chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của nhóm làm việc ISO/WG SR Tổ chức liên lạc: 42 tổ chức liên lạc đã liên hệ với nhóm làm việc nhóm làm việc ISO/WG SR và cử chuyên gia tham gia với nhóm làm việc này
1.4 Trách nhiệm xã hội tại doanh nghiệp và nội dung của khía cạnh người tiêu dùng trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng và khách hàng chịu trách nhiệm đối với họ Những trách nhiệm này bao gồm việc giáo dục về sản phẩm, thông tin trung thực, sử dụng đúng cách, thông tin tiếp thị minh bạch và hữu ích, các quá trình hợp đồng, theo đuổi phát triển bền vững, cung cấp dịch vụ hỗ trợ và quy trình thu hồi sản phẩm, tôn trọng quyền của người tiêu dùng, thiết kế và dịch vụ mà mọi người đều có thể tiếp cận, và khi phù hợp, có thể tiếp cận được đối với cả các nhóm dễ bị tổn thương hoặc các nhóm bất lợi Để đáp lại, những người tiêu dùng được thỏa mãn sẽ giúp tăng cường thêm danh tiếng và lợi nhuận kinh tế cho doanh nghiệp
Người tiêu dùng có vai trò và ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển và lợi nhuận của doanh nghiệp Có thể nói, sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của họ Các doanh nghiệp luôn muốn thu hút người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng trung thành để mang lại nguồn thu cho doanh nghiệp Nhưng ngược lại, các doanh nghiệp cũng cần thực hiện trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng Một mặt, đó là yêu cầu pháp lý bắt buộc phải tuân theo khi mà người tiêu dùng ngày càng được bảo vệ tốt hơn bởi pháp luật, mặt khác, khi bảo đảm tốt lợi ích người tiêu dùng
và được nhận thức là có trách nhiệm với xã hội, doanh nghiệp cũng sẽ thu hút được nhiều khách hàng trung thành hơn, và theo đó là lợi ích kinh tế ngày càng tăng lên