Khu vực Nội đô Hà Nội có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, mang một số đặc điểm chung như: mật độ dân cư đông, kinh tế phát triển với nhiều loại hình ngành nghề đa dạng, bản sắc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
QUẢN LÝ QUY HOẠCH HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC KHU VỰC NỘI ĐÔ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
QUẢN LÝ QUY HOẠCH HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC KHU VỰC NỘI ĐÔ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN DŨNG
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đâylà luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Thúy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn PGS.TS Phạm Văn Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi vê chuyên môn, truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo của khoa Kinh tế chính trị, trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài
Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Phương Thúy
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3
5 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH HTTN KHU VỰC NỘI ĐÔ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 7
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống tiêu nước đô thị 9
1.2.1 Một số khái niệm 9
1.2.2 Nội dung quản lý Quy hoạch HTTN đô thị 11
1.2.2.1 Lập kế hoạch 11
1.2.2.2 Triển khai thực hiện kế hoạch, quy hoạch 14
1.2.2.3 Xây dựng bộ máy quản lý quy hoạch HTTN đô thị 17
1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 24
1.2.2.5 Chính sách pháp luật 24
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quy hoạch 25
1.2.3.1 Điều kiện tự nhiên 25
1.2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
1.2.4 Những tiêu chí đánh giá quản lý quy hoạch HTTN đô thị 26
1.2.4.1 Đánh giá về công tác lập kế hoạch, quy hoạch 26
1.2.4.2 Công tác triển khai thực hiện quy hoạch 27
Công tác triển khai thực hiện quy hoạch phải đảm bảo chi phí đầu tư xây dựng HTTN phù hợp với điều kiện KT-XH 27
1.2.4.3 Về xây dựng bộ máy quản lý QHHT 28
1.2.4.4 Về công tác thanh kiểm tra 28
Trang 61.3 Quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước tại một số quốc gia và bài học cho Hà Nội 28
1.3.1 Singapore 28
1.3.2 Trung Quốc 30
1.3.3 Ca na đa 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, dữ liệu 33
2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, dữ liệu 34
2.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 34
2.2.2 Phương pháp so sánh đối chiếu 35
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUY HOẠCH HỆ THỐNG TIÊU NƯỚC KHU VỰC NỘI ĐÔ HÀ NỘI 37
3.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực Nội đô Hà Nội 37
3.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên 37
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 43
3.2 Thực trạng quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội 44
3.2.1 Thực trạng về bộ phận quản lý quy hoạch HTTN 44
3.2.2 Thực trạng tổ chức quy hoạch HTTN 50
3.2.3 Thực trạng triển khai thực hiện quy hoạch 55
3.2.4 Thực trạng về công tác quản lý vận hành HTTN 59
3.2.5 Thực trạng về công tác thanh tra và xử lý những vi phạm quy hoạch hệ thống tiêu nước nội đô Hà Nội 61
3.3 Đánh giá chung 62
3.3.1 Ưu điểm 62
3.3.2 Hạn chế 63
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ QUY HOẠCH HTTN KHU VỰC NỘI ĐÔ HÀ NỘI 65
4.1 Mục tiêu của quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội trong những năm tới 65
4.1.1 Đảm bảo tiêu nước bền vững cho khu vực Nội Đô 65
4.1.2 Đảm bảo chi phí đầu tư xây dựng HTTN phù hợp với điều kiện KT-XH 66 4.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà
Trang 74.2.1 Giải pháp hoàn thiện công tác Lập kế hoạch 66
4.2.2 Giải pháp hoàn thiện triển khai lập kế hoạch, quy hoạch 68
a) Hoàn thiện quản lý sử dụng các công trình đầu mối: 70
b) Đối với hệ thống cống TN trong khu vực Nội đô 70
4.2.3 Hoàn thiện xây dựng bộ máy quản lý 71
4.2.4 Hoàn thiện công tác thanh tra và xử lý vi phạm về xây dựng HTTN theo quy hoạch 72 4.3 Đề xuất cơ chế chính sách trong quản lý HTTN cho khu vực Nội đô Hà Nội 73
4.3.1 Đề xuất về cơ chế ưu đãi để thu hút đầu tư xây dựng vào HTTN khu vực nghiên cứu.73 4.3.2 Đề xuất nâng cao quản lý cao độ nền và đấu nối hệ thống tiêu nước 74
4.3.3 Đề xuất giải pháp phân kỳ đầu tư xây dựng theo QH 75
4.3.4 Đề xuất tổ chức bộ máy quản lý xây dựng theo quy hoạch đối với HTTN khu vực Nội đô Hà Nội 76
4.3.5 Đề xuất cơ chế chính sách đầu tư và quản lý HTTN khu vực Nội đô Hà Nội 79
4.4 Một số kiến nghị 80
4.4.1 Đối với Trung ương 80
4.4.2 Đối với Bộ xây dựng 80
4.4.3 Đối với UBND TP Hà Nội 80
4.4.4 Đối với UBND các quận huyện trong khu vực Nội đô Hà Nội 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Bộ máy quản lý quy hoạch đô thị nước ta 20
2 Hình 2.1 Các bước thực hiện phân tích tổng hợp 34
3 Hình 2.2 Các bước thực hiện phân tích định tính 38
4 Hình 3.1 Quy hoạch sử dụng đất khu vực Nội đô lịch sử 40
5 Hình 3.2 Quy hoạch sử dụng đất khu vực Nội đô mở rộng 48
7 Hình 3.4 Sơ đồ trình tự thực hiện theo quy hoạch 63
DANH MỤC BẢNG
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn ba mươi năm đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế-xã hội, quá trình đô thị hóa của Thủ đô Hà Nội đã diễn ra rất nhanh chóng Đời sống của người dân cũng thay đổi theo hướng tích cực từng ngày cùng với sự phát triển kinh tế, người dân đã có thêm nhiều cơ hội để tiếp cận với các tiện ích sống hiện đại Mặc dù vậy, hiện nay chất lượng sống của người dân tại Hà Nội đang đối mặt với nhiều hệ lụy tiêu cực do sự phát triển nhanh chóng, thiếu bền vững mang lại Rất nhiều vấn đề nảy sinh xuất phát từ thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại khu vực này, do chưa được quan tâm đúng mực và đầu tư xây dựng đầy đủ Nổi lên trong số đó là vấn đề liên quan đến hệ thống tiêu nước Tình trạng úng ngập tại Hà Nội thường xuyên xảy ra sau mỗi trận mưa lớn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống môi trường, gây ô nhiễm, kìm hãm sự phát triển kinh tế Vì vậy, việc quan tâm đến Quản
lý quy hoạch HTTN là rất cần thiết
Khu vực Nội đô Hà Nội có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, mang một số đặc điểm chung như: mật độ dân cư đông, kinh tế phát triển với nhiều loại hình ngành nghề đa dạng, bản sắc văn hóa phong phú… Tuy nhiên,
hệ thống HTKT nói chung và HTTN nói riêng lại chưa được chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ (tỷ lệ mạng lưới đường cống chỉ đạt khoảng 80m/ha).Tại các khu vực này, cao độ xây dựng hầu như không thực hiện theo đúng quyhoạch, mạng lưới giao thông phức tạp, mặt cắt đường nhỏ, tỷ lệ đất dành cho giaothông và hạ tầng kỹ thuật còn ít đã cản trở đến việc xây dựng hệ thống tiêu nước,bao gồm cả tiêu nước thải và tiêu nước mưa theo đúng như các đồ án quy hoạchđã được duyệt
Trong những năm tới đây, HTTN đô thị nói chung và HTTN của các khu vực Nội đô nói riêng nói riêng sẽ được Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu
tư xây dựng Tuy nhiên,vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để có thể Quản lý
Trang 11quy hoạch hệ thống tiêu nướcmột cách hiệu quả nhất, trong các điều kiện khó khăn như: hành lang pháp lý chovấn đề quản lý xây dựng hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô chưa đầyđủ, thiếu quỹ đất để xây dựng các khu vực xử lý nước thải và mạng lưới cống rãnh,thiếu hụt cán bộ quản lý có chuyên môn về tiêu nước, khó khăn khi lựa chọn côngnghệ xử lý nước thải phù hợp, thiếu kinh nghiệm trong quản lý xây dựng và vậnhành hệ thống để qua đó không chỉ giải quyết được các bức xúc trong đời sốngcủa nhân dân mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, hướng tới các mục tiêuphát triển bền vững
Sự phát triển kinh tế cùng quá trình đô thị hoá tại các khu vực nghiên cứu đã,đang và sẽ còn diễn ra mạnh mẽ, gây áp lực lớn tới HTTN hiện trạng, làm nảy sinhcác xung đột và gây cản trở cho các khâu của công tác quản lý xây dựng
Với những tồn tại và vướng mắc đó không chỉ cần sự nỗ lực của các cấp chính quyền mà còn cần đưa ra những giải pháp đổi mới trong công tác quản lý Vì vậy để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác quản quy hoạch cần phải được giải quyết ngay từ đầu, việc quản lý quy hoạch là HTTN là vấn
đề hết sức quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội”
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn:
Những bất cập trong quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội là gì? Chính quyền thành phố Hà Nội cần phải làm gì và làm như thế nào để hoàn thiện quản lý quy hoạch, khắc phục những bất cập đó, chống ngập lụt cho Nội đô Hà Nội?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua nghiên cứu thực trạng công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực nội đô Hà Nội, luận văn đề xuất các nhóm
Trang 12giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội
đô Hà Nội đạt hiệu quả, góp phần đảm bảo giảm khả năng ngập lụt cho nội đô
Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý quy hoạch hệ thống tiêukhu vực Nội
đô Hà Nội
- Làm rõ thực trạng quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội
đô Hà Nội; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý quy hoạch HTTN khu vực nội đô
Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu:
+ Khu vực Nội đô lịch sử: quận Ba Đình, quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa, quận Hai Bà Trưng
+ Khu vực nội đô mở rộng: quận Tây Hồ, quận Cầu Giấy, quận Thanh Xuân, quận Hoàng Mai
- Thời gian nghiên cứu: 1990-2016
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: góp phần cụ thể hóa, bổ sung các lý luận khoa học về quản lý xây dựng theo quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội
- Ý nghĩa thực tiễn: giúp cho Thành phố có căn cứ để xem xét, áp dụng vào công tác quản lý xây dựng hệ thống tiêu nước theo quy hoạch, qua đó góp phần giải quyết tiêu tiêu nước, giảm úng ngập và ô nhiễm môi trường
Trang 135 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 4 chương:
Phần phụ lục
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý
quy hoạch HTTN khu vực Nội đô
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng Quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội
Chương 4 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện về Quản lý quy hoạch tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội
Phần Kết luận
Phần Tài liệu tham khảo
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH HTTN KHU VỰC NỘI ĐÔ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Có rất nhiều bài báo viết về công tác quản lý quy hoạch HTTN trên các loại báo và tạp chí, trong khuôn khổ luận văn này tác giả nêu một bài tiêu biểu:
(1)- KTS.Trần Ngọc Chính, 2016 Hệ thống tiêu nước Hà Nội – Quy hoạch thiếu tầm nhìn
Bài báo cho rằng: Quy hoạch hệ thống tiêu nước là vấn đề kỹ thuật quan trọng cho một đô thị Trước đây Hà Nội có nhiều mặt nước (hồ, ao, sông kết nối với nhau) nhưng hiện nay đã bị san lấp khá nhiều (thậm chí Hồ Tây - lá phổi của thành phố cũng bị ảnh hưởng)
Số liệu từ Sở Quy hoạch Kiến trúc cho thấy, 5 năm qua đã có gần 70/112
hồ, ao tại khu vực nội thành Hà Nội bị san lấp hoàn toàn Một số hồ bị cạn là
do nước bốc hơi nhưng một diện tích khác cũng bị "bốc hơi" vì bị người dân lấn chiếm Bên cạnh đó, các sông tiêu nước chính không được triển khai cải tạo triệt để và đúng kỹ thuật, các trạm bơm tiêu nước chính với các hồ chứa chưa đảm bảo yêu cầu khi xảy ra mưa lớn đã là những hệ lụy cho quá trình quy hoạch tiêu nước của Thủ đô
Mặc khác, Hà Nội đã phê duyệt dự án tiêu nước được sử dụng nguồn vốn vay ODA JICA (Nhật Bản) và vốn đối ứng trong nước được khởi động từ năm
2006, dự kiến hoàn thành năm 2010 Sau đó, dự án được bổ sung thêm một số hạng mục đầu tư, thời hạn được lùi sang năm 2011 rồi gia hạn đến 2015, thế nhưng đến nay vẫn chưa thể hoàn thành khiến Hà Nội cứ mưa là ngập, gây lãng phí lớn cho xã hội và chỉ ra công tác chỉ đạo và quản lý đô thị chưa hiệu quả
Về các luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ hiện chưa có đề tài nghiên cứu
Trang 15Thành phố Hà Nội
Tuy nhiên một số luận án, luận văn có đề cập đến một số phân tích cũng như đưa ra giải quản lý quy hoạch, đặc biệt trong quản lý quy hoạch HTTN có thể tham khảo:
(3) - Luận án tiến sĩ của Hán Minh Cường, 2016, Trường Đại học Kiến
Trúc Hà Nội:Quản lý xây dựng theo quy hoạch hệ thốngtiêu nước cho cácđiểm
dân cư nông thôn củađô thị trung tâm Thành phố Hà Nội
Luận án tập trung nghiên cứu các điểm dân cư nông thôn của đô thị trung tâm TP Hà Nội là các thôn, xóm, làng thuộc các xã nằm trong đô thị trung tâm của TP Hà Nội với phạm vi của đô thị trung tâm được xác định từ khu vực nội
đô về phía Tây; phía Nam đến đường vành đai 4; về phía Bắc với khu vực Mê Linh, Đông Anh và về phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên Hiện nay, các điểm dân cư nông thôn nghiên cứu đang đối mặt với một số vấn đề liên quan đến HTTN như úng ngập, ô nhiễm môi trường gây tác động lớn đến sinh hoạt và hoạt động sản xuất của người dân Để giải quyết những vấn đề đang tồn tại và định hướng đáp ứng nhu cầu tiêu nước trong tương lai, Chính phủ, UBND TP Hà Nội và chính quyền cấp huyện, xã đã phê duyệt một số đồ
án quy hoạch tiêu nước có liên quan trực tiếp đến khu vực nghiên cứu Luận án này căn cứ vào các đồ án quy hoạch đó để nghiên cứu và đề xuất ra các mô hình và giải pháp quản lý xây dựng Những mô hình và giải pháp này là những nội dung nghiên cứu mới và cần thiết, qua đó giúp góp phần nâng cao hiệu quả QLXD HTTN theo QH và hiện thực hoáđược những định hướng nêu ratrongcác đồ án quy hoạchđã được phê duyệt
(4) - Luận án ―Mô hình và giải pháp quản lý tiêu nước đô thị tỉnh lỵ vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” của NCS Nguyễn Thị Kim Sơn — ĐH
Kiến Trúc Hà Nội
Trang 16Luận án này lấy đối tượng và mục tiêu nghiên cứu là mô hình và giải phápquản lý vận hành, sử dụng HTTN đô thị các tỉnh lỵ, vùng đồng bằng sông Hồng.Một số giải pháp chính được đề xuất trong Luận án, bao gồm:
- Đối với việc quản lý xây dựng HTTN theo quy hoạchLuận án đã đưa ra nhóm 5 giải pháp (thực chất là nguyên tắc) để thực hiệnquản lý xây dựng theo quy hoạch: rà soát cao độ xây dựng của HTTN; rà soát lạicác quy hoạch chi tiết đảm bảo tiêu nước bền vững; hoàn thiện bản vẽ tổng hợpđường dây đường ống; lập hồ sơ kỹ thuật chuẩn bị hồ sơ hoàn công; đấu nối HTTNcủa khu đô thị mới với các khu đô thị khác
- Đổi mới cơ chế quản lý hệ thống tiêu nước Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý hệ thống tiêu nước thông qua một loạt các giải pháp với nội dung chính là thay đổi phương thức quản lý thu chi do Nhà nước quyết định sang giao quyền tự chủ tài chính do doanh nghiệp kết họp với kiện toàn tổ chức cũng như hoạt động của doanh nghiệp quản lý tiêu nước
Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên thoát nước và Công ty CP cấp thoátnước
Luận án đưa ra nhiều giảipháp cho công tác quản lý hệ thống tiêu nước nhưng tập trung chủ yếu vào giaiđoạn vận hành và khai thác Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu rất rộng cũng làmcho Luận án chưa đề xuất những giải pháp cụ thể và chi tiết hơn nữa cho nhữngkhu vực đặc thù như khu vực Nội
đô Hà Nội…
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Quy hoạch HTTN và xử lý nước thải ngày càng thể hiện vai trò không thể thiếu trong các đô thị hiện đại Trên thế giới, cùng với sự phát triển đô thị,
Trang 17việc quản lý quy hoạch HTTN là vấn đề quan trọng, đã được chú trọng xây dựng từ rất sớm Nhiều công trình, đề tài được nghiên cứu trong các lĩnh vực
cụ thể của QH HTTN:
(1) - Đề tài nghiên cứu ―Mô hình hoá hệ thống tiêu nước chung để tính toán cải thiện hệ thống: trường hợp nghiên cứu ở làng Rattanakosin, Thái Lan” của Viện Công nghệ Châu Á (Thái Lan) và Đại học Mennonite (Mỹ)
Đề tài nghiên cứu sử dụng phần mềm SWMM để mô hình hoá hệ thống tiêunước chung ở khu vực nông thôn ven đô Rattanakosin, Thái Lan của một nhóm cácchuyên gia từ Viện công nghệ Châu Á (AIT) Thái Lan, trường Đại học MennoniteEastem của Mỹ với mục tiêu đưa ra giải pháp cải tạo hệ thống tiêu nước mưanhằm nâng cao hơn nữa khả năng tiêu tiêu cũng chi giảm chi phí cho HTTN
Làng Rattanakosin là một đồng dân cư nông thôn ven đô đặc trưng của Thái Lan Nằm tại khu vực phía Nam của tỉnh Pathum Thani với diện tích tự nhiên 0,93 km2 Hệ thống tiêu nước của Rattanakosin là hệ thống tiêu nước chung Nước thải không qua xử lý xả thẳng vào hệ thống ao hồ kênh mương gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, do điều kiện địa hình thấp trũng, hàng năm làng Rattanakosinthường xuyên xảy ra hiện tượng úng ngập, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt vàsản xuất của người dân
Chương trình quản lýtiêu nước SWMM (EPA’s Stormwater ManagementModel) được sử dụng làm công cụ để thực hiện dự án này Chương trình này sửdụng các thông số đầu vào như: dữ liệu cường độ mưa, các thông số của hệ thốngtiêu nước hiện trạng, mẫu nước để đưa ra kịch bản chính xác về diễn biến của hệthống tiêu nước theo thời gian thực như các điểm xảy ra ngập lụt, lưu lượng trongcống, hồ hay các thông số về mức độ ô nhiễm của nước thải Sau khi tính toán, chương trình đưa ra 12 kịch bản và lựa chọn 4 kịch bảnkhả thi để nghiên cứu, từ đó đưa ra các quyết định xây
Trang 18dựng Các kịch bản này cóthể là nâng cấp, xây mới trạm bơm, xây mới đường cống hay thay đổi cao độnền Lựa chọn cuối cùng được đưa ra là kịch bản số
12, thay đổi cao độ nền, đảongược hướng dốc của 3 tuyến cống chính để giải quyết các vấn đề tiêu nước Kịchbản này không chỉ giải quyết các yêu cầu về
kỹ thuật mà còn đạt được các yêu cầuvề xã hội và môi trường, cũng như đáp ứng được hiệu quả kinh tế của dự án
Hệ thống tiêu nước cho Làng ven đô Rơttơnơkosin được quản lý xây dựng theo một phương pháp rất tiên tiến, thường được áp dụng ở các nước phát triền.Giải pháp lý xây dựng bằng mô hình hoá hệ thống dựa trên Chương trìnhSWMM, tìm ra các vẩn đề tồn tại và đưa ra các quyết định xây dựng không chỉ đạtđược sự chính xác về mặt kỹ thuật mà c.n tiết kiệm chi phí, tránh đầu tư dàn trải,thiếu hiện quả Tuy vậy, số liệu đầu vào đầy đủ là yêu cần bắt buộc để thựchiện quản lý theo phương pháp này
Như vậy, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý quy hoạch HTKT nói chung và quy hoạch tiêu nước nói riêng Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về Quản lý quy hoạch HTTN khu vực Nội đô Hà Nội
Vì vậy, với đề tài luận văn: “Quản lý quy hoạch HTTN khu vực Nội đô
Hà Nội”học viên mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào khoảng trống
nghiên cứu còn lại cho vấn đề quản lýquy hoạch tiêu nước hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện quản lý Quy hoạch lĩnh vực HTKT nói chung và tiêu nước khu vực Nội đô Hà Nội nói riêng
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống tiêu nước đô thị
1.2.1 Một số khái niệm
Đô thị: Là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát
Trang 19triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã; thị
trấn (Nguồn: Luật Quy hoạch đô thị)
Quy hoạch đô thị: Là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô
thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể
hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị (Nguồn: Luật Quy hoạch đô thị)
Quy hoạch đô thị là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị
Nó là nghệ thuật sắp xếp, tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sở điều tra, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa nguồn lực, và hướng tới sự phát triển bền vững Các không gian đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, công trình hạ tầng xã hội đô thị cần được quy hoạch phù hợp với phát triển tổng thể kinh tế xã hội, an ninh – quốc phòng
Quy hoạch hệ thống tiêu nước đô thị: là một nội dung của quy hoạch
chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết đô thị Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch tiêu nước là quy hoạch chuyên ngành được lập riêng thành một đồ án nhằm cụ thể hóa quy hoạch tiêu nước trong quy hoạch
chung đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Nguồn: Tác giả)
Nhiệm vụ quy hoạch chuyên ngành tiêu nước phải làm rõ các nội dung: Phạm vi, ranh giới; các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng; xác định lưu vực, phân vùng tiêu nước; nguồn tiếp nhận, dự báo tổng lượng tiêu nước, mạng lưới và vị trí quy mô các công trình tiêu nước
Quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước đô thị là: hoạt động của nhà quản
lý nhằm đảm bảo hệ thống tiêu nước đô thị được quy hoạch thực sự khoa học
Trang 20và triển khai thực hiện quy hoạch theo đúng thiết kế, đảm bảo tiến độ và tiết kiệm
các nguồn lực nhằm dáp ứng yêu cầu tiêu tiêu nước đô thị (Nguồn: Tác giả)
1.2.2 Nội dung quản lý Quy hoạch HTTN đô thị
Hiện nay, việc lập lập kế hoạch quy hoạch hệ thống thoát nước tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng được thực hiện bởi các tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị phải có tư cách pháp nhân, đầy đủ về số lượng, năng lực chuyên môn của cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị, năng lực quản lý và các điều kiện kỹ thuật phù hợp với công việc Ngoài ra các cá nhân tham gia lập quy hoạch đô thị phải có chứng chỉ hành nghề do cơ quan tổ chức có thẩm quyền và có năng lực phù hợp với công việc được đảm nhận
Những yêu cầu để tổ chức lập kế hoạch quản lý tốt quy hoạch HTTN đô thị:
Một là phải có một quy hoạch HTTN đô thị tương đối hoàn chỉnh - một quy hoạch vừa thể hiện tầm nhìn xa rộng lại vừa phải mang tính khả thi cao, vừa bao gồm cả những đề án ngắn hạn lẫn những đề án dài hạn lại vừa phải
Trang 21tiến độ ngoài dự kiến ban đầu, do một trong hai hoặc do cả hai nguyên nhân sau: Quy hoạch HTTN không sát đúng, thậm chí sai lầm ảnh hưởng đến phát triển bền vững; Quy hoạch HTTN sát đúng bảo đảm phát triển bền vững nhưng không khả thi so với sức chịu đựng của nền kinh tế đương thời
Hai là phải có một chính quyền nghiêm minh và chuyên nghiệp Muốn nghiêm minh thì cần phải thật sự sâu sát, vì vậy ở đây còn có vấn đề phân cấp quản lý một cách hợp lý Nói chung thành phố không nên phân cấp cho quận trong quy hoạch đô thị, bởi đặc trưng mà cũng là sức mạnh của quy hoạch đô thị là tính tổng thể, phân cấp cho quận trên lĩnh vực này rất dễ dẫn tới khả năng phá vỡ tính tổng thể ấy; nhưng về quản lý quy hoạch đô thị thì quận lại rất cần được uỷ quyền nhiều hơn để có thể chủ động xử lý và ứng phó trong phạm vi được phân cấp
Chuyên nghiệp là có nghề - công tác quy hoạch HTTN đô thị trước hết là công việc chuyên môn của những người có nghề, nhưng những người có nghề trên lĩnh vực này lâu nay chỉ được hiểu là các kỹ sư xây dựng, kỹ sư hạ tầng
kỹ thuật đô thị, kỹ sư cấp tiêu nước Điều này xuất phát từ lối tư duy kỹ trị Thật ra ở đây vai trò của kỹ sư rất quyết định nhưng không phải là duy nhất Trong công tác quy hoạch HTTN đô thị rất cần sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các chuyên gia chuyên ngành tiêu nước và những chuyên gia quy hoạch đô thị (urban planner)
Ba là: phải thực sự mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội, muốn mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội thì trước hết phải biết vượt qua thái độ chủ quan của không ít chuyên gia cho rằng quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị nói chung và Quản lý quy hoạch HTTN nói riêng là chuyện riêng của những người có nghề, tay ngang không thể tham gia được Thực tế chứng tỏ cộng đồng đô thị không chỉ đưa ra được nhiều ý kiến có giá trị tham khảo mà thậm chí ở một số nước - thông qua hình thức trưng cầu dân ý - đôi khi những ý
Trang 22kiến ấy còn mang ý nghĩa quyết định Mặt khác như phân tích trên, thành phố không nên phân cấp cho quận trong quy hoạch HTTN đô thị nhưng cũng cần
mở rộng dân chủ để chính quyền cấp dưới có thể trực tiếp góp ý vào chính cái
mà người ta sẽ được giao quản lý
Sau khi các quy hoạch HTTN đã thực hiện và đươc phê duyệt thì cần công bố quy hoạch và giao cho nhà đầu tư xây dựng HTTN có thể là cơ quan nhà nước hoặc tư nhân thì cần cắm mốc giới bàn giao đất cho tổ chức thực hiện đảm bảo đúng theo quy hoạch Nhà đầu tư xác định mốc giới để thực hiện dự án, công tác quản lý quy hoạch vô cùng quan trọng lúc này trong việc xác định đưa quy hoạch ra ngoài thực tế
Quy hoạch là một quá trình chứ không phải là một sản phẩm riêng lẻ, vì vậy, việc lập ra quy hoạch đã khó, việc tổ chức thực hiện quy hoạch và quản
lý phát triển đô thị theo quy hoạch còn khó khăn hơn
Trước đây Chính phủ đã áp dụng thí điểm mô hình Kiến trúc sư trưởng thành phố từ năm 1992 để thống nhất quản lý kiến trúc và quy hoạch trên địa bàn Sau 10 năm hoạt động và thực nghiệm thí điểm, chủ trương này có những thành công và một số quy định chức năng chưa phù hợp
Đến năm 2002 đã thay thế bằng Sở Quy hoạch, Kiến trúc cho 2 TP Hà Nội và TP.HCM
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan đơn vị tư vấn chuyên môn như Viện Quy hoạch xây dựng, các công ty tư vấn xây dựng, Hội đồng kiến trúc - quy hoạch và các Hội nghề nghiệp đã thành lập và được tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động để có thể tư vấn cho Nhà nước hoặc chủ đầu tư lựa chọn được những mô hình, giải pháp phát triển quy hoạch, kiến trúc hợp lý nhất Bộ máy này thực hiện các chức năng như sau:
- Đơn vị lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch tiêu nước (quy hoạch chuyên ngành tiêu nước hoặc các quy hoạch tiêu nước trong các đồ án quy
Trang 23hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết) Việc lập, thẩm định và phê duyệt nhiệm vụ, quy hoạch tiêu nước tuân thủ các quy định của Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng và các quy định khác có liên quan
- Đơn vị quản lý cao độ nền đô thị và cao độ của hệ thống tiêu nước Đơn
vị tiêu nước có trách nhiệm: Xác định và quản lý cao độ mực nước các hồ điều hòa, kênh mương tiêu nước nhằm bảo đảm tối đa khả năng tiêu tiêu, điều hòa nước mưa, chống úng ngập và bảo vệ môi trường; Quản lý cao độ các tuyến cống chính và cống thu gom nước thải, nước mưa; Cung cấp cao độ của
hệ thống tiêu nước cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu Các cơ quan, đơn vị được giao quản lý các sông, hồ, kênh mương có liên quan đến việc tiêunước
đô thị có trách nhiệm phối hợp vơi đơn vị tiêu nước trong việc bảo đảm yêu cầu về tiêunước, chống ngập úng đô thị…
- Sự tham gia của cộng đồng: Thực hiện chức năng giám sát về đầu
tư xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống tiêu nước theo quy định của pháp luật; Thực hiện việc đấu nối vào hệ thống tiêu nước theo quy định; Phát hiện, ngăn chặn, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động tiêu nước
1.2.2.2 Triển khai thực hiện kế hoạch, quy hoạch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ sở hữu hoặc ủy quyềnphân cấp cho UBND cấp huyện, cấp xã là chủ sở hữu đối với hệ thống tiêu thoát nước: Được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước; Nhận bàn giao lại từ các tổ chức kinh doanh, phát triển khu đô thị mới; Nhận bàn giao lại từ các tổ chức,
cá nhân bỏ vốn đầu tư để kinh doanh khai thác công trình tiêu nước có thời hạn
Trang 24Các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu công trình tiêu nước do mình bỏ vốn đầu tư hoặc đến khi bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ngoài các chủ sở hữu các công trình tiêu nước ra thì các chủ đầu tư cũng tham gia vào quá trình quản lý phát triển HTTN như:
Ủy ban nhân dân theo phân cấp quản lý hoặc đơn vị tiêu nước được giao
là chủ đầu tư xây dựngcác công trình tiêu nước sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn do mình quản lý
Chủ đầu tư hệ thống tiêu nước khu dân cư nông thôn tập trung được đầu
tư từ nguồn vốn ngân sách là Ban quản lý xây dựng nông thôn xã do Ủy ban nhân dân xã quyết định Đối với các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi có trình độ chuyên môn mà Ban quản lý xây dựng nông thôn xã không đủ năng lực thì Ủy ban nhân dân huyện giao cho đơn vị có đủ năng lực làm chủ đầu tư và có sự tham gia của Ủy ban nhân dân xã
Các tổ chức, cá nhân là chủ đầu tư công trình tiêu thoát nước do mình bỏ vốn đầu tư
Công trình tiêu nước do cộng đồng đóng góp, đại diện chủ đầu tư do cộng đồng quyết định
Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan lập Kế hoạch đầu tư phát triển tiêunước của địa phương;
Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính thẩm định Kế hoạch đầu tư phát triểntiêu nước của địa phương, trình UBND tỉnh phê duyệt Sau khi các quy hoạch tại Hà Nội được Thủ tướng, Ủy ban nhân nhân Thành phố Hà Nội phê duyệt sẽ giao cho các đơn vị đầu mối triển khai, thực hiện kế hoạch, quy hoạch Cụ thể, lĩnh vực Hạ tầng kỹ thuật nói chung và Hệ thống thoát nước nói riêng sẽ giao cho đơn vị đầu mối là Sở Xây dựng Hà Nội
Trang 25Bước đầu tiên cần phải công bố quy hoạch một cách công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức cá nhân được biết Phải công bố quy hoạch một cách rộng rãi và đòi hỏi thông tin chính xác Trong giai đoạn này nhà quản lý cần công khai quy hoạch đô thị; cung cấp thông tin quy hoạch, cấp chứng chỉ quy hoạch; cắm mốc giới ngoài thực địa; triển khai lập dự án đầu tư xây dựng Giai đoạn này công tác quản lý cũng vô cùng quan trọng vì cần kiểm tra đối chiếu xem việc thực hiện dự án có đúng quy hoạch hay không? Có vướng mắc trong quá trình triển khai ngoài thực địa cần báo cáo các cấp có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh quy hoạch…
Sau khi công bố quy hoạch và giao cho nhà đầu tư xây dựng HTTN có thể là cơ quan nhà nước hoặc tư nhân thì cần cắm mốc giới bàn giao đất cho
tổ chức thực hiện đảm bảo đúng theo quy hoạch Nhà đầu tư xác định mốc giới để thực hiện dự án, công tác quản lý quy hoạch vô cùng quan trọng lúc này trong việc xác định đưa quy hoạch ra ngoài thực tế
Đối với các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung và dự
án tiêu nước nói riêng Trình tự triển khai thực hiện dự án được tiến hành qua
3 bước chính:
- Bước 1 (chuẩn bị đầu tư), bao gồm các nội dung: Quyết định cho phép thực hiện chuẩn bị đầu tư; Lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật; Lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết môi trường; Thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
- Bước 2 (thực hiện đầu tư): Lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán; Giao đất để thực hiện dự án; Thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư và giải phóng mặt bằng (nếu có); Lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án; Xây dựng công trình
Trang 26- Bước 3 (kết thúc dự án đầu tư đưa vào khai thác sử dụng): Nghiệm thu, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng và thực hiện bảo hành, b; Quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán
Trong quá trình xây dựng, đầu tư các dự án cần phải đảm bảo thực hiện đúng quy định về tiêu thoát nước
1.2.2.3 Xây dựng bộ máy quản lý quy hoạch HTTN đô thị
Nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch gắn liền với phương hướng, mục đích, từng quy hoạch cụ thể sẽ chi phối cơ cấu hệ thống Nếu một
hệ thống có quy mô và mục tiêu phương hướng cỡ lớn (khu vực, cả nước) thì
cơ cấu tổ chức của nó cũng phải có quy mô và phương hướng tương đương Còn nếu có quy mô vừa phải, đội ngũ và trình độ tham gia hệ thống phải ở mức tương đương
Xây dựng bộ máy quản lý quy hoạch phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc chuyên môn hoá và cân đối
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo phân công, phân cấp nhiều phân hệ trong hệ thống theo yêu cầu các nhóm chuyên môn ngành với đội ngũ nhân lực được đào tạo tương ứng và có đủ quyền hạn để thực hiện được nguyên tắc này
- Nguyên tắc linh hoạt và thích ứng với môi trường
Nguyên tắc này đảm bảo việc cải tiến bộ máy quản lý phải đảm bảo cho mỗi phân hệ, mỗi bộ phận một mức độ tự do sáng tạo tương ứng để các cấp quản lý thấp hơn phát triển được tài năng để chuẩn bị thay thế các cán bộ quản lý cấp trên khi cần thiết
- Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả
Trang 27Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý phải mang lại hiệu quả cao nhất đối với chi phí bỏ ra và đảm bảo quy hoạch được xây dựng một cách hợp lý hài hòa phù hợp với điều kiện KT-XH
Để xây dựng bộ máy quản lý QH nói chung và quy hoạch HTKT nói riêng trong đó có quy hoạch HTTN ngoài các nguyên tắc nói trên, khi xây dựng bộ máy quản lý quy hoạch cần nắm rõ các đặc tính của hạ tầng kỹ thuật
đô thị:
+ Tính thống nhất, đồng bộ và tổng hợp: Hạ tầng kỹ thuật đô thị là một
hệ thống thống nhất và được tổ chức trong một không gian nhất định nhưng phải thực hiện đồng bộ với nhiều đối tượng và nhiều nhành tham gia + Tính kinh tế: Hạ tầng kỹ thuật đô thị thường tốn nhiều kinh phí và chiếm từ
25 - 40 % ngân sách quốc gia Kinh phí bỏ ra ban đầu lớn, nhưng thu hồi phải
có thời gian Do vậy tính hấp dẫn đầu tư hạn chế
+ Tính xã hội: Hạ tầng kỹ thuật mang tính xã hội cao, phục vụ đa dạng, là một loại hình dịch vụ công cộng
+ Tính phức tạp: Phức tạp trong công nghệ - kỹ thuật và cả trong quản lý + Tính thời gian và không gian: Không gian rộng và thời gian dài
+ Tính an ninh và quốc phòng: Hạ tầng kỹ thuật gắn bó mật thiết giữa xây dựng, phát triển và bảo vệ thành quả của phát triển
Để xây dựng bộ máy quản lý QH tốt cần phải đảm bảo các yêu cầu như sau: Tính tối ưu: Phải đảm bảo giữa các khâu và các cấp quản lý đều được thiết lập các mối quan hệ hợp lý, mang tính năng động cao, luôn đi sát và phục vụ quy hoạch HTTN một cách hợp lý, đảm bảo điều kiện hiện trạng địa hình tự nhiên, đảm bảo cả điều kiện KT-XH và dễ dàng phân kỳ đầu tư
Tính linh hoạt: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch phải đảm bảo khả năng thích ứng linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra ví dụ phát hiện
sự bất hợp lý trong quy hoạch, cần điều chỉnh bổ sung…
Tính tin cậy: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch phải đảm bảo tính chính xác của thông tin được xử lý trong hệ thống, nhờ đó đảm bảo được
Trang 28sự phối hợp nhịp nhàng giữa các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các hoạt động trong quy hoạch: khớp nối các quy hoạch với nhau, có sự chồng chéo hay không?
Tính kinh tế: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch phải được tổ chức sao cho chi phí bỏ ra trong quá trình xây dựng và sử dụng là thấp nhất nhưng phải đạt hiệu quả cao nhất
Tính bí mật: Việc tổ chức bộ máy quản lý quy hoạch phải đảm bảo kiểm soát được hệ thống thông tin, thông tin không được rò rỉ ra ngoài dưới bất kỳ hình thức nào
Quản lý quy hoạch đô thị trước hết là việc của chính quyền các cấp, bao gồm HĐND - UBND và các cơ quan chức năng trực thuộc Nhưng quản lý quy hoạch đô thị không chỉ là việc của chính quyền các cấp mà còn là việc của cộng đồng đô thị Chính quyền các cấp là chính quyền của dân, do dân và
vì dân, đủ tư cách thay mặt dân để quản lý quy hoạch Tuy nhiên dẫu cố gắng đến mấy thì chính quyền cũng không thể đủ sức đảm đương trọn vẹn công việc này, đòi hỏi phải xã hội hóa nguồn lực quản lý, phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng đô thị
Ở Việt Nam hiện nay bộ máy quản lý quy hoạch được phân cấp từ cấp Trung ương đến sự tham gia của các Bộ như Bộ Xây Dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường Ngoài ra, các bộ quản lý đa lĩnh vực là
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính cũng tham gia và quản lý một số nội dung liên quan đến các hoạt động đầu tư phát triển
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trực tiếp quản lý những vấn đề hệ trọng trong quản lý và phát triển đô thị, bao gồm xây dựng văn bản dưới luật, phê duyệt các chính sách và định hướng lớn về phát triển cho các vùng đô thị và các
đô thị từ loại II trở lên; trực tiếp thẩm định và phê duyệt các dự án quy hoạch,
Trang 29phê duyệt chủ trương đầu tư của một số dự án phát triển đô thị mới có quy mô lớn, hoặc ở vị trí quan trọng, hoặc ở các khu vực chưa có quy hoạch vùng
Cơ quan chủ yếu xây dựng chính sách phát triển và quản lý đô thị ở
trung ương là Bộ Xây dựng(theo Nghị định 17/CP/2008 ngày 04/02/2008, cơ quan này thay mặt Chính phủ quản lý về quy hoạch và kiến trúc đô thị, nhà ở, kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị,… ) Bộ Xây dựng cũng là cơ quan chủ trì để
phối hợp các bộ chuyên ngành khác khi giải quyết các nội dung quản lý đa ngành ở đô thị, tham mưu và thẩm định các dự án quy hoạch, dự án lớn trình Chính phủ quyết định
Các bộ khác có quan hệ mật thiết là Bộ Tài nguyên và Môi trường quản
lý về quy hoạch sử dụng đất (ngoài đô thị), kế hoạch sử dụng đất, phối hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, quản lý tài nguyên nước, quản lý địa chính Bộ Giao thông vận tải quản lý chung về giao thông và vận tải trong và ngoài đô thị, quản lý quy hoạch giao thông toàn quốc và đầu tư các công trình hạ tầng đầu mối, các công trình hạ tầng giao thông vận tải quan trọng cho các đô thị lớn
Đối với quản lý đô thị ở cấp địa phương hiện nay nước ta phân loại theo
6 loại đô thị thuộc 3 cấp quản lý, các đô thị ở Việt Nam được tổ chức thành 3 nhóm chính: nhóm bộ máy chính quyền 3 cấp, 2 cấp, và chỉ có 1 cấp hành
chính (Nghị định 42/CP/2009) Các đô thị có 3 cấp quản lý như đô thị loại I
trực thuộc trung ương và đô thị loại đặc biệt có đầy đủ 3 cấp là: thành phố, quận và phường Giúp việc cho cấp thành phố và cấp quận có sở và phòng/ ban chuyên môn Thông thường, Sở Xây dựng là đầu mối quản lý đô thị cùng với Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Giao thông vận tải Riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có Sở Kiến trúc – Quy hoạch quản lý mảng kiến trúc
và quy hoạch ở phạm vi thành phố Các đô thị từ loại I trực thuộc tỉnh đến loại IV có 2 cấp là thị xã/ thành phố và phường Đô thị loại V chỉ có 1 cấp thị
Trang 30trấn Tại các đô thị có 2 cấp hành chính, chính quyền đô thị có các phòng/ ban
chức năng giúp việc quản lý theo lĩnh vực (Căn cứ theo Nghị định 14/CP/2008 ngày 04/02/2008, các nội dung quản lý đô thị được giao cho phòng quản lý đô thị hoặc phòng xây dựng quản lý các lĩnh vực như xây dựng, nhà ở, kiến trúc và quản lý hạ tầng tiện nghi đô thị khác (xây dựng duy
tu hệ thống giao thông, quản lý rác thải, cấp tiêu nước, chiếu sáng công cộng) Các hoạt động của bộ máy chính quyền đô thị bắt đầu từ cấp cơ sở -
cấp phường/ thị trấn Cấp cơ sở này trực tiếp quản lý, giám sát và đề xuất xử
lý các vi phạm pháp luật về nhiều lĩnh vực như trật tự vỉa hè, trật tự xây dựng, bảo vệ các công trình hạ tầng đô thị và vệ sinh đô thị Tuy nhiên, phần lớn các hoạt động chuyên môn liên quan đến cấp giấy phép các loại, đầu tư các công trình hạ tầng, quản lý nhà ở, quản lý quy hoạch chi tiết được giao cho cấp quận/ thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh quản lý Các nội dung liên quan đến chính sách phát triển, thu hồi đất, đầu tư phát triển hạ tầng và quản lý giao thông đô thị, quản lý các phương tiện vận tải, quản lý quy hoạch và đầu tư cho hệ thống cấp tiêu nước, chiếu sáng; đầu tư, phê duyệt và thẩm định các đồ
án quy hoạch chung và một số quy hoạch phân khu (tỉ lệ 1/5000 – 1/2000) thường được quản lý ở cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương Quy hoạch chi tiêt (tỉ lệ 1/500) quản lý ở cấp huyện/ thành phố/ thị xã trực thuộc tỉnh
Đô thị càng phát triển hạ tầng hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở đô thị càng có
ý nghĩa quan trọng, sự phát triển của các ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị có ảnh hưởng trực đến sự phát triển của nền sản xuất ,với chức năng làm cầu nối giữa sản xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng kết cấu hạ tầng đô thị còn tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông, mở rộng thị trường,
mở rộng mối quan hệ giao lưu giữa các vùng lãnh thổ trong nước và quốc tế
Sự hình thành và phát triển , quy mô và định hướng phát triển của đô thị nói chung phụ thuộc vào quy hoạch phát triển không gian đô thị Quy hoạch
Trang 31phát triển không gian đô thị chỉ được thực hiện có hiệu quả khi hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ và đi trước một bước Sự phát triển của các ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế và
xã hội của đô thị Quản lý xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật đô thị là một vấn đề hết sức phức tạp liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và của các cấp quản lý chính quyền, phụ thuộc vào ý thức của những người xây dựng, vận hành và sử dụng Quản lý xây dựng đồng bộ được xem như là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng, đó cùng là một khâu không thể thiếu trong việc nâng cao hiệu quả và giám sát đầu tư dự án, và trong phạm vi nào đó còn cần thiết hơn cả việc huy động, tìm kiếm nguồn vốn Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị trong đó có hệ thống tiêu nước đô thị đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ các ngành, các cấp và các địa phương có liên quan từ khâu quy hoạch đến khâu triển khai xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng
Đối với bộ quận quản lý vận hành HTTN đô thị, khu dân cư nông thôn tập trung được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, việc lựa chọn đơn
vị tiêu nước tuân thủ theo quy định pháp luật hiện hành về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích Các tổ chức, cá nhân kinh doanh, phát triển khu đô thị mới, khu công nghiệp tổ chức quản lý, vận hành hệ thống tiêu nước do mình đầu tư đến khi bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định Đơn
vị tiêu nước phải có nhân lực, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật cần thiết
để thực hiện các yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý, vận hành hệ thống tiêu nước mưa và nước thải Chủ sở hữu hệ thống tiêu nước tổ chức lựa chọn đơn vị tiêu nước trên địa bàn do mình quản lý
- Quản lý hệ thống tiêu nước mưa: bao gồm quản lý các công trình từ cửa thu nước mưa, các tuyến cống dẫn nước mưa, các kênh mương tiêu nước chính, hồ điều hòa và các trạm bơm chống úng ngập, cửa điều tiết, các van ngăn triều (nếu có) đến các điểm xả ra môi trường; Các tuyến cống, mương,
Trang 32hố ga phải được nạo vét, duy tu, bảo trì định kỳ, bảo đảm dòng chảy theo thiết
kế Thường xuyên kiểm tra, bảo trì nắp hố ga, cửa thu, cửa xả nước mưa Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng các tuyến cống, các công trình thuộc mạng lưới để đề xuất phương án thay thế, sửa chữa Thiết lập quy trình quản
lý hệ thống tiêu nước mưa bảo đảm yêu cầu kỹ thuật quản lý, vận hành theo quy định;
- Quản lý hệ thống hồ điều hòa: Quản lý hệ thống hồ điều hòa trong hệ thống tiêu nước nhằm lưu trữ nước mưa, đồng thời tạo cảnh quan môi trường sinh thái kết hợp làm nơi vui chơi giải trí, nuôi trồng thủy sản, du lịch
- Quản lý, vận hành hệ thống tiêu nước thảibao gồm: các nhà máy xử lý nước thải, trạm bơm, tuyến cống áp lực, công trình đầu mối, điểm đấu nối, tuyến cống thu gom, chuyển tải đến nhà máy xử lý nước thải, các điểm xả phải tuân thủ các quy trình quản lý, vận hành đã được phê duyệt
- Hợp đồng dịch vụ tiêu nước: văn bản pháp lý được ký kết giữa đơn
vị tiêu nước với hộ tiêunước (trừ hộ gia đình) xả nước thải vào hệ thống tiêu nước…
Ngoài các nội dung trên thì quản lý vận hành HTTN còn quản lý các dịch vụ
về tiêu nước: giá tiêu nước, khối lượng nước thải…
Trang 33Hình 1.1: Bộ máy quản lý quy hoạch đô thị nước ta ( Nguồn: Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội) 1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Nội dung công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm bao gồm việc kiểm tra việc triển khai quy hoạch đã thực hiện đúng theo quy hoạch được duyệt chưa, tiến độ đầu tư dự án có phù hợp với phân kỳ đầu tư xây dựng đã xác định trong các giai đoạn trên không, đảm bảo không bị kéo dài thời gian Khi phát hiện các dự án làm không đúng quy hoạch cần phải trình cấp thẩm quyền xem xét, xử lý theo các quy định của pháp luật
1.2.2.5 Chính sách pháp luật
Cơ chế, chính sách và các quy định của pháp luật là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đô thị và đô thị hóa Cơ chế chính sách thông thoáng, hấp dẫn, thuận tiện sẽ tạo sự phát triển nhanh Việc quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước đô thị phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Trang 34Việc tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý đô thị giúp đổi mới cơ chế chính sách, tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở đô thị, quản lý tốt quy hoạch xây dựng - kiến trúc đô thị, quản lý tốt hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
Cơ chế chính sách tốt sẽ tạo động lực, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế -
xã hội nói riêng và sự phát triển của đô thị nói chung Đồng thời, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống, môi trường
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quy hoạch
1.2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Trong thực tế quy hoạch đô thị rất khó có thể tìm được một khu đất có các điều kiện tự nhiên, đáp ứng được ngay yêu cầu xây dựng Vì vậy người ta phải tiến hành những biện pháp kỹ thuật cần thiết để cải tạo điều kiện tự nhiên của khu đất trong đó có điều kiện địa hình nhằm thỏa mãn các yêu cầu quy hoạch HTTN đô thị
Công tác cải tạo địa hình trong tiến trình xây dựng phát triển đô thị được kiểm soát thông qua việc thiết kế quy hoạch và quản lý chiều cao nền khu đất xây dựng
Trong quản lý quy hoạch HTTN thì địa hình là nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc tổ chức chiều cao nền, độ dốc, hướng dốc nền hợp lý để tổ chức tiêu nước mưa tự chảy nhanh chóng, triệt để, không gây ngập úng cho
đô thị; bảo đảm an toàn, thuận tiện cho giao thông; tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng công trình ngầm và duy trì phát triển cây xanh trên khu đất xây dựng Việc xét duyệt thiết kế quy hoạch chiều cao là một phần nội dung của xét duyệt đồ án quy hoạch đô thị Quá trình xét duyệt, nhà quản lý cần thiết phải căn cứ các giai đoạn thiết kế và kiểm tra sự ―chỉ đạo‖ của giai đoạn trước và các giai đoạn sau Việc giữ cao độ không chế là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo kết nối hài hòa về cao độ giữa các khu đất chức năng cũng như các
bộ phận của kiến trúc cảnh quan Khống chế cao độ hoàn thiện cũng cần được
Trang 35nêu rõ trong quy chế quản lý kiến trúc đô thị và trong các chứng chỉ quy hoạch làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý xây dựng theo quy hoạch đô thị
1.2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong công tác quản lý quy hoạch HTTN nhằm đưa quy hoạch vào thực tiễn và khả thi nhà quản lý cần chỉ ra nguồn lực thực hiện, Chính phủ, UBND các cấp có kế hoạch đảm bảo tài chính, phân bổ sử dụng kinh phí tới các chương trình thực hiện định hướng Điều kiện Kinh tế - Xã hội và các chính sách về kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý quy hoạch HTTN ngay từ công tác lập quy hoạch và phê duyệt quy hoạch, tiếp theo ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện quy hoạch
Khi nguồn lực kinh tế kém dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, tiến độ thi công chậm trễ, kéo dài, chất lượng thi công không đảm bảo, vượt chi phí dự toán ban đầu, gây ô nhiễm môi trường, chưa an toàn cho người thi công và người sử dụng Công trình xây xong không sử dụng, một số tiêu cực trong quá trình đầu tư xây dựng làm cho dự án bị thất tiêu, tham ô, lãng phí vốn đầu
tư, hiệu quả kinh tế xã hội thấp
Phát triển đô thị cần nguồn tài chính lớn, trước hết để đảm bảo phát triển liên tục và không ngừng nâng cao chất lượng các dịch vụ đô thị cơ bản, nhằm tạo lập môi trường sống tốt và công bằng xã hội Hiện tại 3 thách thức mà chúng ta đang phải đối diện là: Chính sách phí dịch vụ và tăng cường bù đắp chi phí; Cải thiện chất lượng dịch vụ; và Cung cấp tài chính cho các dịch vụ cơ bản
1.2.4 Những tiêu chí đánh giá quản lý quy hoạch HTTN đô thị
1.2.4.1 Đánh giá về công tác lập kế hoạch, quy hoạch
Công tác lập kế hoạch, quy hoạch HTTN phải đảm bảo tiêu thoát nước bền vững, hạn chế ngập lụt cho đô thị Quy hoạch HTTN được xây dựng một cách hoàn chỉnh, hợp lý khi đưa vào triển khai thực hiện đảm bảo tiêu nước bền vững, hạn chế ngập lụt cho đô thị
Trang 36Cách tiếp cận của tiêu nước mưa bền vững (SUDS) là tiêu chậm, không phải tiêu nhanh, để tránh lượng mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn Tiết diện cống sẽ khó có thể đáp ứng nếu lượng mưa lớn, tốn kém mà nước vẫn tràn cống, gây ngập đường, lụt nhà Vì vậy, phải tổ chức tiêu nước mưa, kết hợp các biện pháp khác nhau một cách đồng bộ, sao cho dòng chảy được tập trung chậm Sử dụng các hồ điều hòa trên diện tích thu gom và truyền dẫn nước mưa để lưu giữ nước là một cách làm phổ biến Bên cạnh đó, sử dụng bản thân diện tích bề mặt của thành phố, tăng cường việc cho nước mưa thấm
tự nhiên xuống đất qua các thảm cỏ xanh, đồng thời cải tạo cảnh quan và điều hòa tiểu khí hậu Khai thác tối đa khả năng, các điều kiện thuận lợi của thành phố cho việc tiêu nước như hệ thống cống hiện có, các hồ điều tiết, khả năng tiêu nước tự chảy v.v Sử dụng công nghệ tiêu nước hiện đại một cách hợp lý
để nâng cao khả năng tiêu nước, chống ô nhiễm môi trường
1.2.4.2 Công tác triển khai thực hiện quy hoạch
Công tác triển khai thực hiện quy hoạch phải đảm bảo chi phí đầu tư xây dựng HTTN phù hợp với điều kiện KT-XH
Chi phí đầu tư xây dựng HTTN là vấn đề vô cùng quan trọng trong việc phản ánh QH có tính khả thi hay không? Nó phụ thuộc vào điều kiện KT-XH của quốc gia, địa phương…Để có thể đầu tư HTTN hoàn chỉnh và đồng bộ HTTN không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
mà cần có các giải pháp huy động vốn hiệu quả Một số giải pháp có thể kể tới như huy động vốn và các nguồn lực từ cộng đồng dân cư theo các chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, các nguồn vốn theo hình thức hợp tác công tư PPP hay các nguồn vốn tài trợ, vốn vay ưu đãi Bên cạnh đó, việc đầu
tư hiệu quả HTTN cũng cần đến các giải pháp kỹ thuật hợp lý nhằm tiết giảm chi phí đầu tư xây dựng Việc cân nhắc lựa chọn các giải pháp tiêu nước như :
sử dụng HTTN chung tận dụng HTTN hiện có, sử dụng HTTN giản lược, áp
Trang 37dụng các công nghệ xử lý nước thải chi phí thấp sẽ không chỉ tiết kiệm được chi phí đầu tư xây dựng mà còn giúp rút ngắn thời gian thực hiện, hiện thực hoá được HTTN theo quy hoạch Tất cả những yếu tố trên nhà quản lý quy hoạch cần nắm rõ đảm bảo quy hoạch được duyệt một cách hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng…
1.2.4.3 Về xây dựng bộ máy quản lý QHHT
Bộ máy Quản lý QHHT phải đảm bảo có trình độ chuyên môn, nắm vững hệ thống pháp luật, có trình độ quản lý về xây dựng, quản lý hành chính
đô thị, năng động và hội nhập khu vực và quốc tế
1.2.4.4 Về công tác thanh kiểm tra
Công tác thanh tra, kiểm tra phải thường xuyên được đổi mới, đáp ứng nhu cầu khẩn trương, kịp thời của công tác quản lý nhà nước về Quy hoạch đô thị nói chung và quy hoạch HTTN nói riêng Đảm bảo hệ thống thoát nước được xây dựng đúng quy hoạch, đúng tiến độ, kịp thời…
1.3 Quản lý quy hoạch hệ thống tiêu nước tại một số quốc gia và bài học cho Hà Nội
sơ bộ các dự án trước khi chính thức gửi đơn xin phép xét duyệt đầu tư xây dựng Họ quy định những yêu cầu nghiêm ngặt về những thông tin cần cung cấp kèm theo đơn xin phép Quy trình xét duyệt do cơ quan này tổ chức cho nhà đầu tư xây dựng và người ta cũng quy định rõ thời hạn cho việc ra quyết định Ở Singapore quy trình cấp phép xây dựng lại do một cơ quan khác cơ
Trang 38quan tái phát triển đô thị thực hiện, mặc dù cả hai cơ quan này đều chịu trách nhiệm trước cùng một cấp chính quyền Có thể coi trên thực tế chúng là hai
- Mọi quy hoạch và biện pháp quản lý đều được công khai
- Người ta ấn hành các chỉ dẫn để giải thích cơ chế làm việc của hệ thống
và ai là người chịu trách nhiệm
- Chỉ có một tổ chức chịu trách nhiệm về quy hoạch tổng thể và xét duyệt đầu tư xây dựng
- Các quy trình thủ tục đều quy định thời hạn và các quan chức phải có trách nhiệm đảm bảo đúng thời hạn quy định
- Những mặt yếu của hệ thống này là:
- Nó không cho phép cộng đồng tham gia đóng góp vào quá trình ra quyết định của đề án xây dựng
- Không đưa ra một cơ chế để phối hợp các cơ quan chuyên môn, do vậy, các nhà đầu tư sẽ gặp lúng túng trong quá trình xin ý kiến các cơ quan này dự
án của mình
Singapore có một hệ thống xét duyệt đầu tư xây dựng rất tiên tiến và được thiết lập tốt Do đặc thù quốc gia là một đô thị lớn, họ chỉ có một cấp chính quyền và điều này khiến cho việc phối hợp giữa các mục tiêu quốc gia
và xét duyệt quy hoạch hết sức dễ dàng Họ cũng có nhiều năm kinh nghiệm trong việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể của mình Mọi khía cạnh như mật
độ, tỷ lệ khu vực xây dựng, phân chia khu vực đến khối khu phố đều được kiểm soát chi tiết trong từng phần của bản quy hoạch Mọi cán bộ chuyên
Trang 39môn và các nhà đầu tư phát triển đều biết rõ và nói chung là chấp nhận các sự kiểm soát đó Người ta ban hành rất nhiều hướng dẫn và cẩm nang cho các nhà quản lý quy hoạch trong các cơ quan nhà nước Các yêu cầu của các cơ quan nhà nước đều được công bố công khai Điều đó được rút ra kinh nghiệm hoạt động nhiều năm trong một nền kinh tế thị trường và với một chính phủ mạnh có một mục tiêu rõ ràng ― vì một đô thị nhiệt đới kiệt xuất ‖
1.3.2 Trung Quốc
Trung Quốc áp dụng đa dạng mô hình quản lý, chế độ quản lý, có nhiều chính sách tập trung thu hút nguồn lực, tập trung giải quyết từng mục tiêu lớn, làm động lực phát triển lôi kéo các vùng chậm phát triển; trong quá trình triển khai, luôn luôn đổi mới, tìm tòi, điều chỉnh cách làm để phù hợp với từng điều kiện cụ thể Chính phủ Trung Quốc cho phép mỗi địa phương có cách làm riêng (Ví dụ: tại Thượng Hải ghép cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng và quản lý đất đai thành một) Trong quá trình phát triển, thường có sự đánh giá, điều chỉnh Quy hoạch đô thị theo Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm theo từng
kỳ kế hoạch (trong kỳ không điều chỉnh quy hoạch) Trong công tác quản lý HTHTKT Trung Quốc quy hoạch, đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng
kỹ thuật đô thị (giao thông, cấp điện, cấp nước, tiêu nước, xử lý nước thải – rác thải và môi trường…)
Trung Quốc rất coi trọng công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát triển
và quản lý đô thị; đồng thời cũng sử dụng đa dạng các nguồn lực sẵn có; chủ động trong quy hoạch, thiết kế, công nghệ, kỹ thuật, vật liệu, thiết bị, phương tiện xây dựng…; ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý hệ thống giao thông, ứng dụng việc quản lý tài chính tiền tệ để quản lý đô thị, quản lý giao thông, quản lý đất đai, môi trường (Thượng Hải coi hệ thống thông tin liên lạc như một hệ thống giao thông đặc biệt của Thành phố; quản lý giao thông qua
Trang 40hệ thống camera, quản lý tài khoản, phân quản lý đô thị thành hệ thống mạng – nút – điểm, tại mỗi điểm có nhân viên thường xuyên theo dõi quản lý);
1.3.3 Canađa
Chính quyền của Canađa là chính quyền liên bang nên vai trò quản lý quy hoạch xây dựng đô thị ở các thành phố khác nhau Mặc dù vậy, công tác quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị được chính quyền các thành phố rất quan tâm với quan điểm là phát triển KĐT bền vững với mục tiêu phát triển kinh tế đô thị theo xu thế toàn cầu hóa mà vẫn đảm bảo các nguồn lực tài chính cũng như phúc lợi xã hội, sự tiện nghi cho người dân
Khi lập quy hoạch chính quyền thành phố của Canađa đã coi người dân
là khách hàng của việc thiết kế và cung cấp các dịch vụ đô thị Đồng thời với tầm nhìn chiến lược dài hạn, các kiến trúc sư và các nhà quản lý luôn tính toán trước được tốc độ đô thị hóa và nhu cầu cần thiết cho việc phát triển nên các KĐT luôn được đảm bảo đầy đủ các yếu tố HTXH, HTKT ổn định và thuận tiện cũng như về mặt kiến trúc cảnh quan của khu vực sinh sống
Đối với công tác cung ứng các dịch vụ công cộng, các khoản phí và lợi ích của người thụ hưởng được dựa trên quan điểm người hưởng lợi phải trả tiền Tuy nhiên, chính quyền liên bang và các thành phố vẫn có các chính sách xã hội dành cho các đối tượng thất nghiệp, các hộ gia đình cần sự trợ giúp của Chính phủ về nơi ở, giáo dục trẻ em nhằm đảm bảo xã hội không
có các khoảng cách về việc đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của đời sống Đặc điểm quan trọng là người dân Canađa nhận thức rõ về các chính sách nhà ở và các công tác quy hoạch xây dựng phát triển đô thị của chính quyền cũng như nắm rõ các quy định pháp quy nhằm đảm bảo quyền lợi của cả người dân và của đơn vị cung ứng dịch vụ Thêm vào đó họ được phát huy vai trò giám sát việc thực hiện xây dựng đô thị theo quy hoạch thông qua các nghiệp đoàn được bầu dân chủ và công khai