Xã hội chúng ta ngày càng có những bước phát triển rõ rệt về kinh tế xã hội. Chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển đó là hàng loạt những vấn đề nảy sinh liên quan đến sức khỏe của người dân, trong đó có sức khỏe tâm thần. Với những tiến bộ của y học, cuộc sống con người ngày càng được kéo dài. Song song với đó là sự gia tăng thầm lặng của trầm cảm, đặc biệt là trầm cảm sau sinh, ảnh hưởng đến hàng triệu phụ nữ sau sinh trên toàn thế giới. Một trong hai nghiên cứu được xuất bản về sức khỏe tâm thần của bà mẹ Việt Nam cho thấy 33% phụ nữ đến phòng khám tổng thể tại thành phố Hồ Chí Minh bị trầm cảm, và 19% có ý định tự tử. Con số này đặt ra tình trạng đáng báo động cho sức khỏe của các bà mẹ sau khi sinh. Mặt khác, nhiều người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng vẫn chưa biết và tìm hiểu rõ về vấn đề trầm cảm sau sinh này nên chưa biết cách phòng tránh. Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề “Truyền thông trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ sau sinh với mục tiêu phòng tránh trầm cảm” làm đề tài tiểu luận của mình để giúp phụ nữ sau khi sinh luôn giữ được sức khỏe tâm thần tốt.
Trang 1MỤC LỤC
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
II NỘI DUNG 3
Phần 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 3
1 Cơ sở lý luận 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần 3
1.2.1 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần trên thế giới 3
1.2.2 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam 3
1.3 Thực trạng mô hình, chương trình, chính sách về vấn đề trầm cảm 4
1.4 Truyền thông 5
1.4.1 Ý nghĩa của truyền thông 5
1.4.2 Mục tiêu truyền thông 5
1.4.3 Một số hình thức truyền thông 5
2 Cơ sở thực tiễn 6
2.1 Khái niệm 6
2.2 Vấn đề trầm cảm sau sinh 6
2.2.1 Thực trạng vấn đề trầm cảm sau sinh trên thế giới 6
2.2.2 Thực trạng vấn đề trầm cảm sau sinh ở Việt Nam 6
2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh 6
2.2.4 Dấu hiệu nhận biết trầm cảm sau sinh 8
2.2.5 Hậu quả của trầm cảm sau sinh 9
2.3 Truyền thông với mục tiêu phòng tránh trầm cảm cho phụ nữ sau sinh 9
2.3.1 Một số yêu cầu trong truyền thông 9
2.3.2 Các nhiệm vụ cần thực hiện khi truyền thông 10
Phần 2: Vận dụng thực hành công tác xã hội 10
1 Giới thiệu về truyền thông 10
2 Kế hoạch truyền thông 11
3 Tổ chức truyền thông 12
3.1 Truyền thông trực tiếp 12
3.2 Truyền thông qua loa truyền thanh 12
4 Phúc trình buổi truyền thông trực tiếp 13
5 Đánh giá thuận lợi, khó khăn khi thực hiện kỹ năng 19
Phần 3 Kiến nghị và giải pháp 19
III KẾT LUẬN 21
Trang 2I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Xã hội chúng ta ngày càng có những bước phát triển rõ rệt về kinh tế - xã hội Chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển đó
là hàng loạt những vấn đề nảy sinh liên quan đến sức khỏe của người dân, trong đó có sức khỏe tâm thần
Với những tiến bộ của y học, cuộc sống con người ngày càng được kéo dài Song song với đó là sự gia tăng thầm lặng của trầm cảm, đặc biệt là trầm cảm sau sinh, ảnh hưởng đến hàng triệu phụ nữ sau sinh trên toàn thế giới Một trong hai nghiên cứu được xuất bản về sức khỏe tâm thần của bà mẹ Việt Nam cho thấy 33% phụ nữ đến phòng khám tổng thể tại thành phố Hồ Chí Minh bị trầm cảm, và 19% có ý định tự tử Con số này đặt ra tình trạng đáng báo động cho sức khỏe của các bà mẹ sau khi sinh Mặt khác, nhiều người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng vẫn chưa biết và tìm hiểu rõ về vấn đề trầm cảm sau sinh này nên chưa biết cách phòng tránh
Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề “Truyền thông trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ sau sinh với mục tiêu phòng tránh trầm cảm” làm đề tài tiểu luận của mình để giúp phụ
nữ sau khi sinh luôn giữ được sức khỏe tâm thần tốt
Trang 3II NỘI DUNG
Phần 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm
Sức khỏe tâm thần là trạng thái hoàn toàn thoải mái mà ở đó mỗi cá nhân nhận thức
rõ khả năng của mình, có thể đối phó với căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả, năng suất
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến với tình trạng giảm khí sắc, mất hứng thú, giảm năng lực ý chí, cảm giác có tội lỗi hay tự đánh giá thấp bản thân, rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống và khả năng tập trung suy nghĩ làm việc kém
Truyền thông là cung cấp các thông tin, kiến thức về sức khỏe tâm thần và thái độ tình cảm của bản thân về sức khỏe tâm thần, thái độ tình cảm của bản thân về nguời có vấn đề tâm thần và những vấn đề họ đang phải đối đầu
1.2 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần
1.2.1 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần trên thế giới
Các nghiên cứu trên khắp thế giới cho thấy 40% người trưởng thành tìm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đa khoa đều bị một dạng bệnh tâm thần nào đó Rất nhiều người tìm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đa khoa hoặc y tế cơ sở vì các vấn đề sức khỏe thể chất mơ hồ, có thể gọi là “bệnh tâm thể” hoặc một dạng tương tự như vậy Nhiều người trong số đó thực chất đang gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần
1.2.2 Thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch tễ học trầm cảm cho thấy tỷ
lệ mắc rối loạn trầm cảm trong cộng đồng khoảng từ 3 đến 8% Đối với các nghiên cứu ở đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, phụ nữ sau sinh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nhiều
Kết quả điều tra quốc gia năm 1999 – 2000 của Bệnh viện Tâm thần Trung ương I cho thấy tỉ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15% trong đó tỷ lệ mắc các bệnh cụ thể như sau: tâm thần phân liệt 0,47%; động kinh 0,33%; rối loạn trầm cảm 2,8%; chậm phát triển trí tuệ 0,63%; lo âu 2,7%; mất trí tuổi già 0,9%; rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên 0,9%; lạm dụng rượu 5,3%; rối loạn tâm thần do chấn thương sọ não
là 0,51%; nghiện ma túy 5,3%
Theo Bộ Y tế, kết quả một khảo sát gần đây cho thấy có đến 19,46% học sinh trong
độ tuổi 10 – 16 gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần Trong số các trường hợp tự tử, 10%
Trang 4ở độ tuổi 10 -17 Trong năm 2003, nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ” cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần ở học sinh tiểu học là 20% và tỷ lệ ở bà mẹ dang cho con bú (6 – 18 tháng) là 20%
1.3 Thực trạng mô hình, chương trình, chính sách về vấn đề trầm cảm.
Chăm sóc sức khỏe tâm thần có nhiều mô hình khác nhau, bao gồm chăm sóc sức khỏe tâm thần tập trung tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần hay tại các cơ sở bảo trợ
xã hội đang nuôi dưỡng, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người có vấn đề tâm thần, chăm sóc và điều trị ngoại trú do cán bộ chuyên khoa tâm thần đảm nhiệm; và chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng
Mô hình chăm sóc, điều trị tập trung tại bệnh viện tâm thần hay cơ sở bảo trợ xã hội phù hợp với những người có vấn đề tâm thần nặng trong giai đoạn bắt đầu điều trị, đang có những hành vi nguy hiểm, hoặc người có vấn đề tâm thần mãn tính không còn khả năng phục hồi Đối với những người có vấn đề tâm thần đã ổn định cũng như những người có vấn đề tâm thần ở thể nhẹ thì mô hình này hạn chế trong việc hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người rối loạn tâm thần Ngoài ra, cán bộ chuyên khoa tâm thần còn thiếu, cơ sở điều trị tập trung ở xa và việc kì thị nặng nề khi điều trị tại cơ sở
là những yếu tố dẫn đến sự tiếp cận cũng như sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất ít so với nhu cầu thực tế
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng là biện pháp chiến lược nằm trong sự phát triển của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần, bình đẳng về cơ hội hòa nhập xã hội cho người có rối loạn tâm thần Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng là chăm sóc sức khỏe tâm thần ngay tại cộng đồng và dựa vào cộng đồng, trong đó nhấn mạnh đến nguồn lực là cộng đồng (gồm chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, hàng xóm, gia đình và bản thân người có rối loạn tâm thần) Cán bộ chuyên khoa có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn, kĩ thuật Việc triển khai chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng được thực hiện lồng ghép vào mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu
Tuy chưa có luật pháp cụ thể quy định về chăm sóc sức khỏe tâm thần nhưng đã có một số luật pháp liên quan đến vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần trong các ngành, lĩnh vực sức khỏe, y tế, hôn nhân và gia đình, an sinh xã hội
Các chương trình liên quan đến chăm sóc sức khỏe người tâm thần vẫn còn tồn tại một số vấn đề: các chương trình chưa phổ cập cả nước mà chỉ có ở những tỉnh thành
Trang 5“nóng” có bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng; ở các xã, phường hiếm các nguồn lực thực hiện, chương trình bị phụ thuộc vào nhiều đối tác
1.4 Truyền thông
1.4.1 Ý nghĩa của truyền thông
Truyền thông trong chăm sóc sức khỏe tâm thần có ý nghĩa to lớn tới việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng vì:
Nhiều người chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần dẫn đến những suy nghĩ, hành vi gây tổn hại tới bản thân và người xung quanh
Hạn chế trong hiểu biết về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề về tâm thần, dẫn đến ý nghĩ cho rằng một số bệnh là do ma quỷ, lực lượng siêu hình gây ra, trở nên mặc cảm khi trong gia đình có người bị bệnh tâm thần phân liệt
Sự kì thị của người dân trong cộng đồng đối với một số chứng bệnh tâm thần khiến người có vấn đề tâm thần và gia đình của họ bị tổn thương hơn, ngăn cản khả năng hòa nhập để phát triển
Ý thức trong việc rèn luyện và nâng cao năng lực để phòng chống các bệnh tâm thần còn hạn chế
1.4.2 Mục tiêu truyền thông
Tuyên truyền phòng tránh và giảm các tác nhân dẫn đến các chứng bệnh tâm thần
Tuyên truyền phòng tránh kì thị với người và gia đình ngưới mắc bệnh tâm thần 1.4.3 Một số hình thức truyền thông
Truyền thông trực tiếp: Nhân viên công tác xã hội nói chuyện trực tiếp với đối tượng cần được truyền thông như người có vấn đề tâm thần, thành viên gia đình, người dân hoặc lãnh đạo địa phương Có thể truyền thông trực tiếp bằng phương pháp: nói chuyện; cung cấp sách báo tài liệu, băng hình; phát tờ rơi
Truyền thông qua loa truyền thanh
Truyền thông qua sinh hoạt khu dân cư, hội, đoàn thể
Truyền thông qua mít tinh, diễu hành
Truyền thông qua phát tờ rơi, áp phích, khẩu hiệu
Truyền thông bằng các hoạt động sân khấu hóa
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Khái niệm
Truyền thông là cung cấp các thông tin, kiến thức về sức khỏe tâm thần và thái độ tình cảm của bản thân về sức khỏe tâm thần, thái độ tình cảm của bản thân về người có vấn đề tâm thần và những vấn đề họ đang phải đối đầu
Phòng tránh là ngăn chặn việc tạo ra những tác nhân, các yếu tố nguy cơ có khả năng gây ra vấn đề
Trang 6 Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến với tình trạng giảm khí sắc, mất hứng thú, giảm năng lực ý chí, cảm giác có tội lỗi hay tự đánh giá thấp bản thân, rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống và khả năng tập trung suy nghĩ làm việc kém
Trầm cảm sau khi sinh là tình trạng liên quan đến suy nghĩ và cảm giác mệt mỏi, buồn chán, lo lắng xuất hiện sau sinh
2.2 Vấn đề trầm cảm sau sinh.
2.2.1 Thực trạng vấn đề trầm cảm sau sinh trên thế giới
10 – 15% phụ nữ ở các nước phát triển mắc trầm cảm sau sinh với hậu quả xấu cho mối quan hệ mẹ - con ở giai đoạn đầu và cho sự phát triển tâm lý của trẻ
Ở các nước có thu nhập thấp, tỷ lệ trầm cảm trong giai đoạn mang thai cao hơn các nước phát triển
2.2.2 Thực trạng vấn đề trầm cảm sau sinh ở Việt Nam
Một trong hai nghiên cứu được xuất bản về sức khỏe tâm thần của bà mẹ ở Việt Nam cho thấy 33% phụ nữ đến phòng khám tổng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh bị trầm cảm và 19% có ý định tự tử
Theo “Khảo sát tình trạng trầm cảm sau sinh ở những phụ nữ có thai ký nguy cơ cao đến khám tại bệnh viện Từ Dũ từ 01/06/2007 đến 30/12/2008” thì tỷ lệ trầm cảm sau sinh là 21,6%, buồn sau sinh là 30,2%
2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh
Có rất nhiều nguyên nhân cũng như giả thuyết về việc dẫn tới trầm cảm sau sinh Bệnh có thể do một nguyên nhân hay nhiều nguyên nhân tổng hợp mà thành: các yếu
tố sinh học – di truyền và tâm lý - xã hội
Các nguyên nhân sinh học - di truyền:
Việc thay đổi các hooc-môn sinh dục (estrogen và progesterol) sau khi đẻ tác động vào cơ chế điều hòa cảm xúc làm tăng cảm giác mệt mỏi, buồn chán
Việc sụt giảm trọng lượng kèm với việc chảy máu khi sinh làm ảnh hưởng tới
hệ tim mạch và huyết áp Bên cạnh đó, việc căng thẳng và đau đớn khi sinh làm tăng adrenalin - một chất hóa học trong máu làm cho cơ thể thêm mệt mỏi và căng thẳng
Cơ thể người mẹ thiếu một số chất do việc kiêng khem trong và sau thai kỳ (VD như sắt, các vitamin nhóm B, Omega 3…) Thói quen trong việc sử dụng rượu, thuốc lá và các chất kích thích, các chất gây nghiện
Gia đình hoặc bản thân người mẹ bị mắc trầm cảm hoặc những rối loạn cảm xúc
Thai phụ mắc trầm cảm trong quá trình mang thai nhưng không được tư vấn và điều trị kịp thời
Trang 7 Mất ngủ/ thiếu ngủ (đây vừa là nguyên nhân, vừa là biểu hiện của bệnh, làm trầm trọng thêm bệnh)
Các nguyên nhân do tâm lý - xã hội
Mâu thuẫn trong các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ - chồng
Quá lo lắng trong việc chăm sóc con cái (đặc biệt là những người lần đầu làm
mẹ, mang thai quá sớm)
Sinh khó, con chết hay con mắc bệnh
Thiếu sự hỗ trợ trong việc chăm sóc con, phải tự chăm sóc bản thân sau sinh
Gặp khó khăn trong việc cho con bú, chăm sóc khi con ốm
Phải tự mình chăm sóc con ban đêm mà không có sự trợ giúp nào (đặc biệt nếu trẻ hay khóc đêm)
Không có ai để tâm sự, thay đổi sự quan tâm của mọi người xung quanh (mọi người chỉ quan tâm đến bé mà ít hỏi han tới mẹ) Đối với người chồng, cũng có thể mắc trầm cảm sau sinh khi mà người vợ vì chăm lo cho đứa trẻ mà ít quan tâm đến mình, dẫn tới sự cô đơn và trầm cảm
Lo sợ về tài chính cho bản thân và đứa con, lo sợ về việc mất việc làm khi sinh con
Có con ngoài giá thú, mang thai ngoài ý muốn, không biết bản thân mình có thai
Không được phép chăm sóc con, không được nhìn mặt con
2.2.4 Dấu hiệu nhận biết trầm cảm sau sinh
Khi bạn có ít nhất 5 triệu chứng dưới đây kéo dài trên 2 tuần, hãy tới gặp các bác
sỹ để được tư vấn và hỗ trợ
Những triệu chứng về cảm xúc:
Cảm giác buồn kéo dài
Cảm thấy chán nản, tuyệt vọng, trống rỗng
Những ý nghĩ vô dụng, bất tài, không xứng đáng, cảm thấy tội lỗi, hối hận Thấy bản thân mình xấu xí, kém hấp dẫn
Mệt mỏi, kiệt sức
Lo nghĩ quá nhiều, cảm giác nhiều luồng suy nghĩ đan xen rối rắm trong đầu, suy nghĩ nhưng không rõ mình đang nghĩ cái gì, lo nghĩ mơ hồ
Lo sợ về việc ở một mình, sợ việc đi ra ngoài, sợ bị bỏ rơi
Lo lắng về đứa trẻ, sợ hãi đứa trẻ, sợ mình làm tổn thương đứa trẻ
Những dấu hiệu về hành động:
Giảm/ mất sự quan tâm, yêu thích với hầu hết mọi việc, kể cả các thói quen, hứng thú trước đây
Không muốn làm việc gì, làm việc rất nhanh mệt mỏi, kiệt sức
Trang 8 Ít quan tâm đến việc chăm sóc bản thân.
Chán ăn hoặc ăn quá nhiều
Mất ngủ, ác mộng, ngủ quá nhiều, rối loạn nhịp thức - ngủ (ngủ ngày - thức đêm)
Không muốn tiếp xúc với những người xung quanh, ngại gặp gỡ mọi người
Các biểu hiện về suy nghĩ:
Giảm sự tập trung chú ý
Giảm trí nhớ, hay nhầm lẫn
Khó khăn trong việc đưa ra quyết định
Có ý nghĩ tự sát (Khi có biểu hiện này, hãy tới gặp bác sỹ ngay)
Ý nghĩ muốn gây sát thương cho đứa trẻ và những người xung quanh
Những rối loạn về cơ thể:
Đau đầu
Bồn chồn, hồi hộp, tăng nhịp tim, vã mồ hôi
2.2.5 Hậu quả của trầm cảm sau sinh
Nếu để trầm cảm sau sinh kéo dài và không được điều trị có thể trở thành chứng rối loạn trầm cảm kinh niên, hắt hủi con, không tự chủ được hành vi, thậm chí có thể phát điên, tự tử hoặc làm nhiều hành động dại dột nghiêm trọng
Bệnh lý trầm cảm sau sinh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể làm ảnh hưởng từ mẹ sang con Khi trẻ bị trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề về hành vi, ăn uống khó khăn, giận dữ hoặc hiếu động thái quá Trẻ cũng thường bị mất ngủ, dễ kích động… Trẻ bị trầm cảm cũng dấn đến chậm phát triển nhận thức, chậm đi, chậm nói hơn những trẻ khác Trẻ cũng sẽ có thể gặp phải nhiều khó khăn trong học tập
Trẻ bị trầm cảm cũng dấn đến chậm phát triển nhận thức, chậm đi, chậm nói hơn những trẻ khác Trẻ cũng sẽ có thể gặp phải nhiều khó khăn trong học tập
Những mẹ trầm cảm có thể khiến con tự kỷ hoặc trầm cảm theo làm cho trẻ gặp khó khăn trong những mối quan hệ trong trường học và bạn bè cùng trang lứa, cư xử bất thường với bạn bè và những người xung quanh
Trẻ trầm cảm cũng thường có sự tự tin thấp, dễ lo âu, sợ hãi, hay bị động so với những trẻ khác, phụ thuộc vào gia đình hoặc những người xung quanh
2.3 Truyền thông với mục tiêu phòng tránh trầm cảm cho phụ nữ sau sinh.
2.3.1 Một số yêu cầu trong truyền thông
Xác định đúng đối tượng và nắm bắt được tâm lý của người được truyền thông
Cung cấp thông tin một cách chính xác, rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu
Phù hợp với đối tượng của truyền thông về trình độ, giới tính, độ tuổi, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán, đạo đức xã hội
Trang 9 Không phân biệt đối xử, không tạo ra sự bất bình đằng, không đưa hình ảnh tiêu cực
Biết kiểm soát cảm xúc, tâm trạng của bản thân trong quá trình truyền thông
Truyền tải thông điệp một cách dễ hiểu, ngắn gọn
Lắng nghe phản hồi của người được truyền thông để điều chỉnh hợp lí và kịp thời
về nội dung, phương pháp
Chủ động đưa nội dung truyền thông vào sinh hoạt văn hóa cộng đồng thường kỳ
Trong trường hợp các sinh hoạt văn hóa cộng đồng còn hạn chế thì hình thành các nhóm tự nguyện trong cộng đồng được đề cao Nhân viên công tác xã hội sử dụng các thành viên nhóm tự nguyện để xây dựng kế hoạch truyền thông tại cộng đồng
2.3.2 Các nhiệm vụ cần thực hiện khi truyền thông
Cung cấp thông tin một cách chính xác, rõ ràng, đầy đủ về các nội dung liên quan đến vấn đề trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh như nguyên nhân, biểu hiện, cách phòng ngừa, chữa trị giúp người được truyền thông có hiểu biết sâu sắc về vấn đề này
Cung cấp thông tin về các chương trình, chính sách, địa chỉ cung cấp dịch vụ dành cho phụ nữ bị trầm cảm sau sinh hiện đang có trong cộng đồng và xã hội
Giúp người được truyền thông hình thành kĩ năng tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân và cho người thân trong gia đình
Huy động sự tham gia tích cực của gia đình và người dân trong cộng đồng
Phần 2: Vận dụng thực hành công tác xã hội.
1 Giới thiệu về truyền thông.
Truyền thông là cung cấp các thông tin, kiến thức về sức khỏe tâm thần và thái độ tình cảm của bản thân về sức khỏe tâm thần, thái độ tình cảm của bản thân về nguời có vấn đề tâm thần và những vấn đề họ đang phải đối đầu
Truyền thông có 2 mục tiêu chính là tuyên truyền phòng tránh và giảm các tác nhân dẫn đến các chứng bệnh tâm thần; tuyên truyền phòng tránh kỳ thị với người và gia đình người mắc bệnh tâm thần Trong bài tập trung truyền thông để phòng tránh vấn đề trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh
Truyền thông trong chăm sóc sức khỏe tâm thần có ý nghĩa to lớn tới việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng vì:
Nhiều người chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần dẫn đến những suy nghĩ, hành vi gây tổn hại tới bản thân và người xung quanh
Hạn chế trong hiểu biết về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề về tâm thần, dẫn đến ý nghĩ cho rằng một số bệnh là do ma quỷ, lực lượng siêu hình gây ra, trở nên mặc cảm khi trong gia đình có người bị bệnh tâm thần phân liệt
Trang 10 Sự kì thị của người dân trong cộng đồng đối với một số chứng bệnh tâm thần khiến người có vấn đề tâm thần và gia đình của họ bị tổn thương hơn, ngăn cản khả năng hòa nhập để phát triển
Ý thức trong việc rèn luyện và nâng cao năng lực để phòng chống các bệnh tâm thần còn hạn chế
2 Kế hoạch truyền thông.
Truyền thông tại xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Mục tiêu Hoạt động Thời gian Người thực hiện Kết quả mong đợi Bước đầu
chuẩn bị cho
công tác
truyền thông
cùng chính
quyền địa
phương
- Thành lập nhóm biên soạn và ban biên tập
- Xây dựng nhóm phát thanh viên
- Chọn thời điểm truyền thông
04/11/2016 đến 05/11/2016
- Chính quyền địa phương
- Nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thần
Xây dựng được nhóm biên soạn, biên tập, phát thanh viên và thời điểm truyền thông chuẩn
bị cho công tác tuyên truyền
Giới thiệu
chung về
vấn đề trầm
cảm sau
sinh
- Truyền thông qua loa phát thanh
- Cung cấp tài liệu
- Nói chuyện trực tiếp
06/11/2016
- Nhóm biên soạn
- Phát thanh viên
- Nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thân
Người dân biết đến bệnh trầm cảm sau sinh
Cung cấp
kiến thức về
nguyên
nhân, hậu
quả của
trầm cảm
sau sinh
- Truyền thông qua loa phát thanh
- Phát tờ rơi
- Nói chuyện trực tiếp
07/11/2016
- Nhóm biên soạn
- Phát thanh viên
- Nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thần
Người dân biết được nguyên nhân
và hậu quả của bệnh
để phát hiện kịp thời
Cung cấp
kiến thức về
dấu hiệu
nhận biết và
cách phòng
tránh trầm
cảm sau
sinh
- Truyền thông qua loa phát thanh
- Nói chuyện trực tiếp
- Phát tờ rơi Cung cấp tài liệu, sách báo
08/11/2016
- Nhóm biên soạn
- Phát thanh viên
- Nhân viên viên chăm sóc sức khỏe tâm thần
Người dân nắm chắc kiến thức về dấu hiệu và cách phòng tránh bệnh trầm cảm để chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ trước và sau khi sinh một cách hiệu quả
3 Tổ chức truyền thông.
3.1 Truyền thông trực tiếp.
Tìm hiểu các gia đình có phụ nữ trong độ tuổi sinh sản trong xã có nguy cơ cao mắc trầm cảm sau sinh thông qua Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên của các thôn trong xã