1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các loại hình BHXH của đức

31 433 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 241 KB
File đính kèm Phân tích các loại hình.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước Đức là nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất. Ngay từ những năm 50 của Thế kỷ XIX, dưới thời Thủ tướng Bismark, những điều luật BHXH đầu tiên đã được ban hành. Cho đến nay, hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện với ba hệ thống là: Hệ thống BHXH bắt buộc, Hệ thốngBHXH tư nhân, Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp. Một trong những đặc thù trong hệ thống BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức là có sự phân chia ra việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH. Không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm cho một số chế độ nhất định. Do đó, người lao động có thể tham gia vào các hệ thống BHXH khác nhau. Ví dụ, công chức Nhà nước không phải đóng BHXH theo tiền lương cá nhân, nhưng phải đóng thuế chung, trong đó có phần để đảm bảo các chế độ hưu. Công chức có thể tham gia vào hệ thống BHXH tư nhân để có mức thụ hưởng cao hơn (ngoài mức do hệ thống của Nhà nước chi trả). Có nhiều tổ chức cùng tham gia thực hiện các chế độ BHXH, trong đó có các tổ chức BHXH tư nhân, đã giúp cho hoạt động BHXH có hiệu quả hơn, người lao động có cơ hội được thụ hưởng BHXH tốt hơn. Với mô hình tự quản này, có thể có một số cơ quan BHXH khác nhau, thực hiện cho các nhóm đối tượng khác nhau như BHXH cho những người lao động trong ngành đường sắt, BHXH cho lao động ngành hàng không, BHXH cho cảnh sát và quân đội…

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp 2

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG I: Khái quát chung về hệ thống BHXH nước Đức 4

1.2 Lịch sử hình thành của Bảo hiểm xã hội Đức 5

CHƯƠNG II: Phân tích các loại hình BHXH của Đức 6

2.1 Bảo hiểm y tế(BHYT) 6

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển BHYT ở Đức 6

2.1.2 Đối tượng tham gia BHYT 6

2.1.3 Các loại hình BHYT 7

2.1.4 Mức đóng và mức hưởng BHYT 7

2.1.5 Nội dung của từng chế độ BHYT tại Đức 9

2.2 Bảo hiểm thất nghiệp(BHTN) 10

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 10

2.2.2 Nội dung của BHTN 11

2.2.3 Nội dung của trợ cấp thất nghiệp 14

2.3 Bảo hiểm chăm sóc và điều dưỡng (BHCS Và ĐD) 15

2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 15

2.3.2Quy định của bảo hiểm chăm sóc dài hạn 16

2.4 Bảo hiểm hưu trí (BHHT) 21

2.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển của BHHT tại Đức 21

2.4.2 Đặc điểm của BHHT nước Đức 22

2.4.3 Nội dung của BHHT tại Đức 23

2.5Bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ và BNN) 24

2.5.1 Đặc điểm của BHTNLĐ và BNN 24

2.5.2 Mức trợ cấp và quyền lợi đi kèm 24

3.1 Thực trạng về hệ thống bảo hiểm nước Đức 26

3.2 Bài học kinh ngiệm để hoàn thiện hơn hệ thống BHXH ở Việt Nam 26

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 2

BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

BHCS VÀ ĐD Bảo hiểm chăm sóc và điều

dưỡng

BHTNLĐ VÀ BNN Bảo hiểm tai nạn lao đông và

bệnh nghề nghiệp

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Bảng 2: Mức đóng của bảo hiểm chăm sóc và điều dưỡng

Bảng 3: Mức hưởng của bảo hiểm chăm sóc và điều dưỡng

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

-Nước Đức là nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất Ngaytừ những năm 50 của Thế kỷ XIX, dưới thời Thủ tướng Bismark,những điều luật BHXH đầu tiên đã được ban hành Cho đến nay, hoạtđộng BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện với ba hệ thốnglà: Hệ thống BHXH bắt buộc, Hệ thốngBHXH tư nhân, Hệ thốngBHXH ở các xí nghiệp

Một trong những đặc thù trong hệ thống BHXH của Cộng hoàLiên bang Đức là có sự phân chia ra việc quản lý và thực hiện các chếđộ BHXH Không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiềuchế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm cho một sốchế độ nhất định Do đó, người lao động có thể tham gia vào các hệthống BHXH khác nhau Ví dụ, công chức Nhà nước không phảiđóng BHXH theo tiền lương cá nhân, nhưng phải đóng thuế chung,trong đó có phần để đảm bảo các chế độ hưu Công chức có thể thamgia vào hệ thống BHXH tư nhân để có mức thụ hưởng cao hơn (ngoàimức do hệ thống của Nhà nước chi trả) Có nhiều tổ chức cùng thamgia thực hiện các chế độ BHXH, trong đó có các tổ chức BHXH tưnhân, đã giúp cho hoạt động BHXH có hiệu quả hơn, người lao độngcó cơ hội được thụ hưởng BHXH tốt hơn Với mô hình tự quản này,có thể có một số cơ quan BHXH khác nhau, thực hiện cho các nhómđối tượng khác nhau như BHXH cho những người lao động trongngành đường sắt, BHXH cho lao động ngành hàng không, BHXH chocảnh sát và quân đội…

-Mô hình BHXH này của Đức đã dần dần lan rộng ra các nướcChâu Âu vào thế kỉ XIX, sau đó lan sang các nước Mỹ la tinh rồi đếnBắc Mỹ và Canada Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH lan rộngsang các nước Châu Á, Châu Phi và vùng Caribê vào cuối thế kỉ XX

-Ngày nay,BHXH trở thành một trong những quyển cơ bản màcon người và được xã hội thừa nhận Nó được coi là hình thức đảmbảo an sinh xã hội phổ biến nhất và có vai trò vô cùng quan trọng đốivới các quốc gia Việc hệ thống BHXH của một quốc gia phát triểnnhư thế nào nó sẽ phản ánh được kinh tế, các dịch vụ y tế, khoa học-kỹ thuật của một đất nước phát triển đến như thế nào

-Chúng ta cùng đi tìm hiểu rõ hơn về hệ thống BHXH nước Đứcđể xem những chính sách của Chính phủ cũng như những quyền lợimà người tham gia được hưởng khi họ tham gia vào hệ thống BHXH

Trang 4

CHƯƠNG I: Khái quát chung về hệ thống BHXH nước Đức

Tại Đức có tới gần 90% dân chúng được bảo hiểm bắt buộchoặc tự nguyện trong bảo hiểm xã hội

1.1Năm trụ cột của bảo hiểm xã hội

Hệ thống bảo hiểm xã hội của Đức hiện nay bao gồm năm lĩnhvực, được gọi là “Năm trụ cột của bảo hiểm xã hội” Đơn vị chủ quảncủa bảo hiểm xã hội không phải là cơ quan nhà nước, mà là tổ chứccông cộng Năm trụ cột của bảo hiểm xã hội là:

 Bảo hiểm thất nghiệp

 Bảo hiểm y tế

 Bảo hiểm chăm sóc điều dưỡng

 Bảo hiểm hưu trí

 Bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

-Quỹ bảo hiểm xã hội hình thành từ khoản phí do người lao độngvà chủ thuê lao động đóng, về nguyên tắc mỗi bên sẽ đóng góp mộtnửa Mức lệ phí phải đóng tính theo phần trăm lương của người laođộng:

- Do Cơ quan hành chính tự quản quy định đối với bảohiểm y tế và bảo hiểm tai nạn

- Do cơ quan lập pháp (Quốc hội) quy định đối với bảohiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm chăm sóc, điều dưỡng

Hiện nay, lệ phí bảo hiểm y tế chiếm 15% tổng lương của ngườilao động, trong đó người lao động đóng 7,3% và chủ thuê lao độngđóng 8,2%, lệ phí, bảo hiểm hưu trí là 18,7%

Những người không có công ăn việc làm hoặc thu nhập quá thấpsẽ được nhận trợ cấp xã hội để đảm bảo mức sống tối thiểu từ nhànước, lấy từ tiền thuế

CHLB Đức không chỉ đi theo nền kinh tế thị trường thuần túy,mà là nền kinh tế thị trường xã hội, nên hệ thống phúc lợi, an sinh xãhội của họ rất tốt

- Những người Việt Nam ở Đức hiện nay cũng được hưởngphúc lợi xã hội như người Đức Những người làm công, ăn lương thìcũng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo luật định Những người hànhnghề tự lập thì không bắt buộc phải đóng bảo hiểm, nhưng cũng có thểtự nguyện đóng bảo hiểm xã hội theo luật định hoặc bảo hiểm tư nhân

Trang 5

Khi đến tuổi nghỉ hưu, thông thường trong thời gian quá độ hiệnnay là từ 65 tới 67 tuổi, một số có thể nghỉ từ 63 tuổi, nếu đã đóng 45năm bảo hiểm hưu trí, người hưu trí sẽ được nhận lương hưu tùy theomức độ họ đã đóng.

1.2 Lịch sử hình thành của Bảo hiểm xã hội Đức

Việc bảo vệ người dân trước những rủi ro xã hội ở Đức đã đượcbắt đầu trong thế kỷ 19 Sau khi nước Đức thống nhất lần đầu vào năm

1871, chỉ 12 năm sau, năm 1883 Đức đã đưa bảo hiểm y tế theo luậtđịnh đối với người lao động vào áp dụng Theo luật này, người laođộng có quyền được bảo hiểm đối với ốm đau, thương tật, tai nạncũng như khó khăn về vật chất lúc tuổi già

Với việc áp dụng bảo hiểm y tế, chất lượng sống của người laođộng đột nhiên được cải thiện rõ rệt Vì chính sách xã hội mẫu mựcnày, cho tới nay Bismark vẫn được coi là “Người cha đẻ của chínhsách xã hội Đức”

Những đạo luật quan trọng khác đã lần lượt được ban hành, mởđầu cho chính sách xã hội của nhà nước Đó là:

 Năm 1884 áp dụng bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp

 Năm 1889 áp dụng bảo hiểm hưu trí, ban đầu được gọi làbảo hiểm thương tật và tuổi già

 Năm 1927 áp dụng bảo hiểm thất nghiệp

 Năm 1995 bắt đầu áp dụng bảo hiểm chăm sóc, điều dưỡngtheo luật định, hoàn thiện “Năm trụ cột” của Hệ thống bảo hiểm xãhội của Đức

Trang 6

CHƯƠNG II: Phân tích các loại hình BHXH của Đức

2.1 Bảo hiểm y tế(BHYT)

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển BHYT ở Đức

Ở Đức, BHYT là 1 cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau.Đức là quốc gia khởi nguồn cho mô hình BHYT hình thành từ nguồntài chính đóng góp của người tham gia , bên cạnh đó có sự đóng gópcủa người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ nhất định từ Nhà nước

BHYT hình thành một cách tự phát trong quá trình côngnghiệp hóa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và phát triển nhanhchóng Thấy được lợi ích của hoạt động này mang lại, vào năm 1883Thủ tướng Đức đã ban hành Đạo luật BHYT Bismarck , trong đó quyđịnh bảo hiểm bắt buộc cho công nhân

-Năm 1911, Bộ luật Bảo hiểm Reich ra đời quy đinh BHYT bắtbuộc cho người lao động di cư và người làm việc trong lĩnh vực nông,ngư nghiệp

- Năm 1041, BHYT cho người nghỉ hưu được ban hành

- Năm 1974 đối tượng của BHYT được mở rộng cho nông dântự làm chủ, sinh viên, người tàn tật, cũng như các nghệ sĩ và ngườilàm việc trong nghề xuất bản

- Năm 1997, 2004,2007 Chính phủ Đức không ngừng cải cáchcác chính sách y tế Theo đó số người tham gia BHYT đã tăng lêntheo từn năm và hiện nay đã bao phủ đến hầu hết các tầng lớp trong xãhội

2.1.2 Đối tượng tham gia BHYT

-Ở Đức BHYT bắt buộc áp dụng với hầu hết người dân: Ngườilàm công ăn lương có thu nhập dưới ngưỡng quy định (2013 là 52.200Euro/năm) và người thân của họ (vợ hoặc chồng, và nếu con cái củahọ dưới 18 tuổi thì được hưởng BHYT miễn phí) Sinh viên, ngườiđược đào tạo nghề, người khuyết tật, người thất nghiệp và đang nhậntrợ cấp và các đối tượng khác

- Ngoài ra ở Đức còn có BHYT tự nguyện cho những người cóthu nhập trên ngưỡng quy định Họ có thể tham gia BHYT theo luậtđịnh hoặc BHYT tư nhân bất kỳ

Như vậy ở Đức BHYT theo luật định là hình thức bảo hiểm ápdụng đối với gần hết các thành phần trong xã hội, hoạt động theonguyêt tắc tương trợ cộng đồng BHYT theo luật định song song tồn

Trang 7

tại hai loại hình là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện, trong đóBHYT bắt buộc được coi là nòng cốt của hệ thống BHYT.

2.1.3 Các loại hình BHYT

BHYT tại Đức có 3 loại hình:

- BHYT công là loại hình bảo hiểm mang tính chất bắt buộc,hoạt động theo nguyêt tắc tương trợ cộng đồng

- BHYT tư nhân là bảo hiểm thương mại, bảo hiểm căn cứvào rủi ro cá nhân

- BHYT bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của người tham giabảo hiểm về các dịch vụ mà BHYT công và BHYT tư nhân chưa đápứng được

2.1.4 Mức đóng và mức hưởng BHYT

-Thu nhập được tính dựa trên những điểm sau:

Tiền lương, tiền công

Thu nhập từ các khoản đầu tư cá nhân

Các khoản cho thuê

Lương hưu

Các khoản khác

Mức đóng tối đa là 53550 Euro mỗi năm( 4463 Euro mỗi tháng) *BHYT tư nhân

-Đối tượng tham gia là những người có thu nhập cao từ 4463Euro/tháng

-Mức đóng dựa vào độ tuổi và tình trạng sức khỏe của ngườitham gia Tùy theo từng công ty và từng gói bảo hiểm mà họ tham gia

Trang 8

b Mức hưởng

*Về khám dự phòng: trẻ em từ 6-10 tuổi được khám lâm sàngcho mọi loại bệnh Phụ nữ từ 20 tuổi và nam từ 45 tuổi được kiểm tralâm sàng ung thư, 2 năm 1 lần người tham gia BHYT từ 35 tuổi đượckiểm tra sàng lọc y tế nói chung

*Về chăm sóc y tế: Người tham gia BHYT được chỉ trả phí chomột lần khám bệnh ban đầu trong 1 quý là 10 Euro/người

*Về chăm sóc điều dưỡng: Trong trường hợp gia đình của bệnhnhân không thể chăm sóc cho họ khi họ nằm viện mà phải thuê nhânviên điều dưỡng thì quỹ bảo hiểm sẽ chi trả chi phí đó tối đa là 4 tuần.Nếu vượt quá thời gian thì bệnh nhân sẽ phải tự chịu chi phí vượt quáđó

*Về việc điều trị nội trú: người tham gia bảo hiểm được hưởngbất kì hình thức điều trị tại bệnh viện nào mà họ yêu cầu Với trườnghợp nằm viện trên 28 ngày/năm, mỗi ngày họ phải trả thêm 10 Euro

*Trợ cấp ốm đau: Chủ sừ dụng lao động sẽ trả lương và tiềncông trong 6 tuần khi người lao động chưa thể làm việc được Sau đó,quỹ bảo hiểm sẽ trả 70% mức tiền công hoặc tiền lương trước khikhấu trừ giới hạn mức tiền đóng BHYT,nhưng không vượt quá 90%tiền lương sau khi đã khấu trừ các khoản phải nộp

*Trợ cấp sinh con trong thời gian mang thai và sau khi sinhcon: Các bà mẹ được trả lương đầy đủ trong 6 tuần trước sinh và 6tuần sau sinh, căn cứ vào lương bình quân 3 tháng cuối hoặc 13 thángtrước khi hưởng trợ cấp

c Về tài chính thực hiện BHYT

Để đảm bảo thực hiện chế độ BHYT, Đức thiết lập các quỹBHYT theo tiêu chí nghề nghiệp- xã hội, do các cơ quan tự quản theoluật công Đây là một đặc thù trong luật tổ chức Nhà nước Đức vàcũng là một đặc thù của châu Âu, vai trò của Nhà nước chỉ giới hạntrong việc lập pháp, giám sát và pháp lý

Cơ quan cao nhất của BHYT là Hội đồng Quản lý quỹ BHYT.Đây là tổ chức tự quản, được bầu theo nhiệm kỳ 6 năm với các thànhviên là những người đại diện cho người lao động, người sử dụng laođộng, cơ quan BHYT…

Việc cân đối thu chi được giải quyết linh hoạt trong mối tươngquan với mức đóng của người tham gia Trong trường hợp quỹ BHYT

Trang 9

có kết dư, năm sau quỹ đó phải giảm mức đóng, ngược lại nếu trongnăm bội chi, các quỹ đó có quyền tăng mức phí cho phù hợp cân đốithu chi Ngoài ra, luật cho phép các quỹ BHYT được lập quỹ dựphòng với mức quy định không vượt quá phạm vi chi trong một thángvà tối thiểu phải đủ chi trong một tuần Các quỹ BHYT được trích 5%tổng thu để lập quy chi quản lý hành chính Tiền tạm thời nhàn rỗicủa quỹ BHYT chỉ được gửi ngân hàng, mua công trái, không đượcđầu tư vào lĩnh vực khác.

d Về phương thức thanh toán khám chữa bệnh BHYT

-Hiệp hội bác sĩ sẽ ký hợp đồng với từng quỹ bảo hiểm, về việc

thanh toán chi phí khám chữa bệnh, việc thanh toán thực hiện hàngquý Sau đó hiệp hội bác sĩ sẽ phân bổ cho từng bác sĩ theo phần chiphí của họ đã thực hiện Qũy bảo hiểm có thể chấm dứt hợp đồng vớimột bệnh viện nào đó nếu dịch vụ y tế không tốt hoặc hoạt động kémhiệu quả

Có thể thấy, BHYT ở Đức là hệ thống BHYT có bề dày kinhnghiệm Đức là nước sớm có Luật BHYT với những khung pháp lý cơbản Trải qua 130 năm hình thành và phát triển, Đức không ngừng cảicách hệ thống BHYT Cho tới nay, BHYT ở Đức là một trong nhữnghệ thống BHYT tốt nhất thế giới với chất lượng cao và độ bao phủrộng

2.1.5 Nội dung của từng chế độ BHYT tại Đức

*BHYT công cộng.

-Mọi công dân đều là đối tượng của BHYT công cộng

Các nguyên tắc cơ bản của BHYT bắt buộc tại Đức:

-Nguyên tắc trợ cấp: Đảm bảo cho mọi người tham gia đềunhận được những lợi ích như nhau bất kể họ đóng góp bao nhiêu haynguy cơ gặp rủi ro như thế nào

-Nguyên tắc lợi ích bằng hiện vật: Đảm bảo các quyền lợi sẽđược thực hiện sao cho việc chi trả không vượt quá phần người thamgia được hưởng

-Nguyên tắc đoàn kết: Cung cấp các lợi ích dựa trên nguồn tàichính đảm bảo NSDLĐ chia sẻ 1 phần phí với NLĐ và chế độ đồngbảo hiểm cho các tành viên trong gia đình

-Nguyên tắc tự chủ: BHYT công cộng là hệ thống BH tự cungcấp và tự quản

-Nguyên tắc về các lợi ích cơ bản: Đảm bảo rằng các doanh

Trang 10

nghiệp bảo hiểm đều cung cấp những dịch vụ bảo hiểm cơ bản theoluật và có mức chi phí rõ ràng.

*BHYT tư nhân:

-Đối tượng là những người có thu nhập cao trong xã hội

-Nguyên tắc của chế độ này là mức đóng dựa vào độ tuổi vàtình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT Loại bảo hiểm nàycũng cung cấp các gói bảo hiểm cá nhân theo mong muốn, điều nàyđảm bảo cho sự an toàn cho chính gói bảo hiểm đó là trường hợp phảitrả phí quá nhiều, bất kì sai sót nào cũng dẫn đến việc mất an toàn choquỹ

-BHYT tư nhân có 3 mức độ cho người tham gia lựa chon: .Mức độ cơ bản: cung cấp các gói dịch vụ tương tự BHYT bắtbuộc Chi phí rẻ nhưng lợi ích thấp

.Mức độ an toàn: có hệ thống dịch vụ vững chắc đảm bảo, cósự tương đương giữa mức phí và quyền lợi

.Mức độ thoải mái: Người tham gia không bị giới hạn về dịchvụ y tế, không phải trả thêm tiền và có thể đề nghị bất kì chuyên gianào điều trị cho mình Nhưng mức phí rất cao

*BHYT bổ sung

-Không giưới hạn phạm vi bảo hiểm,tùy thuộc vào tình hìnhcủa người tham gia

-Một số chính sách BHYT bổ sung như: Chăm sóc điều dưỡngdài hạn, BHYT du lịch, Bảo hiểm bảo vệ thu nhập

2.2 Bảo hiểm thất nghiệp(BHTN)

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

-Năm 1919Bảo hiểm thất nghiệp được bắt đầu thực hiện tạiĐức và chính thức hóa bằng một bộ luật vào năm 1927, là một bộphận trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảo hiểm hưu trí,BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệpvà bảo hiểm chăm sóc

-Bảo hiểm thất nghiệp là một chương trình BHXH bắt buộc dựatrên sự đóng góp tài chính của người lao động và chủ sử dụng laođộng Năm 2003, tỷ lệ đóng góp bảo hiểm thất nghiệp là 6,5% lươngtrong đó người lao động đóng 50%, chử sử dụng lao động đóng 50%

-Chế độ bảo hiểm thất nghiệp được chi trả hàng tháng với một

tỷ lệ thay thế lương là 68% hoặc 63% mức lương thực tế tháng cuốicùng của người lao động trước khi thất nghiệp, không bao gồm các

Trang 11

khoản thu nhập và tài sản khác Năm 2003, tổng số tiền chi cho chế độbảo hiểm thất nghiệp gần 30 tỷ Euro.

-Về chính sách bảo đảm thu nhập cho người lao động bị mấtviệc làm đang được thực hiện tại Cộng hòa Liên bang Đức bao gồmhai loại hình: Bảo hiểm thất nghiệp (dựa vào đóng góp) và Trợ cấpthất nghiệp (dựa vào ngân sách Nhà nước)

2.2.2 Nội dung của BHTN

*Điều kiện hưởng

-Người lao động phải có hợp đồng lao động tối thiểu 12 thángtrong một giai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đăng ký thấtnghiệp) và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc Trong một sốtrường hợp đặc biệt (ví dụ: chăm sóc thành viên gia đình, chăm sóc trẻ

em dưới 3 tuổi), thời gian này được loại trừ khỏi giai đoạn xem xét.Đối với người lao động làm việc thường xuyên dưới 12 tháng trongmột năm vì lý do đặc thù của công việc (gọi là các lao động thời vụ)thì chỉ cần có đủ 6 tháng làm việc và đóng bảo hiểm thất nghiệp bắtbuộc - Người lao động nước ngoài có công việc thường xuyên cóthể nhận được chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo các điều kiện tươngtự như người lao động Đức

-Đối tượng xin hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải là người

bị thất nghiệp, đã đăng ký tại cơ quan việc làm địa phương và đủ điềukiện về thời gian làm việc và đóng bảo hiểm Người trên 65 tuổi sẽkhông được nhận chế độ bảo hiểm thất nghiệp Người thất nghiệp làngười làm công ăn lương bị mất việc làm tạm thời và đang tìm côngviệc làm mới đối tượng của sự đóng góp BHXH Tại Đức, công việcđòi hỏi thời gian làm việc dưới 18 giờ/tuần hoặc có được một khoảnthu nhập dưới 325 Euro (hoặc lao động tự lập có mức thu nhập tươngtự) được gọi là “việc làm phụ” – cũng có thể được đăng ký và hưởngchế độ bảo hiểm thất nghiệp

-Chương trình bảo hiểm thất nghiệp yêu cầu đối tượng hưởngchế độ phải chứng tỏ sự sẵn sàng nhận công việc mới và các nỗ lựccủa họ nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Theo yêu cầu của cơquan việc làm, đối tượng thụ hưởng phải đưa ra bằng chứng về các nỗlực của họ đã thực hiện để tìm việc làm Khi đã đăng ký thất nghiệp,những người hưởng chế độ thất nghiệp phải có trách nhiệm báo cáovới cơ quan việc làm nếu được yêu cầu

Trang 12

*Mức hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp

-Lương thất nghiệp được chi bằng 53% lương thực tế sau khi đãtrừ đi các khoản đóng góp bắt buộc (thuế thu nhập, đóng góp BHXH,BHYT) Trong trường hợp người lao động có ít một trẻ em phụ thuộcsẽ được nhận mức lương thất nghiệp là 57 %lương thực tế Mức lươngthất nghiệp khác nhau tùy thuộc vào mức lương đóng bảo hiểm màngười lao động phải đóng Có một mức trần đóng bảo hiểm để xácđịnh mức lương thất nghiệp tối đa (tại thời điểm 2001 là 4.448 Euro).Mức trần này được điều chỉnh hàng năm theo mức tăng lương chung

-Lương thất nghiệp dựa trên tổng thu nhập trung bình hàng tuầnlàm căn cứ đóng bảo hiểm trong khoảng 52 tuần trước khi yêu cầuhưởng bảo hiểm thất nghiệp Để tính toán mức hưởng, đầu tiên cáckhoản mà người lao động có nghĩa vụ phải nộp theo luật pháp sẽ đượckhấu trừ đi từ thu nhập chưa chịu thuế – ví dụ, các loại thuế thu nhậpvà các đóng góp BHXH, BHYT Các tỷ lệ được đề cập ở trên đượctính từ tổng thu nhập thực tế

-Thu nhập từ chế độ bảo hiểm thất nghiệp không phải chịu thuế.Trong thời gian thất nghiệp, đối tượng hưởng chế độ vẫn được tiếp tụctham gia BHYT trong một quỹ y tế công Cơ quan việc làm cũng đóngbảo hiểm hưu trí bắt buộc cho người hưởng chế độ thất nghiệp

*Thời gian hưởng chế độ:

-Sau khi mất việc làm, không có giai đoạn chờ áp dụng chongười thất nghiệp trước khi nhận phúc lợi Khoảng thời gian hưởngchế độ thất nghiệp tùy thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểmtrước đó (trong giai đoạn 7 năm trước khi bị thất nghiệp) và tuổi củangười thất nghiệp (bảng dưới)

Bảng 1: Thời gian hưởng chế độ BHTN

Đối với người

thất nghiệp

Sau khi

đã làm việc ít nhất

Thời gia hưởng (tháng)

Dười 42 tuổi 2 năm 12

Từ 44-48 tuổi 3 năm 8 tháng 22

Từ 49-53 tuổi 4 năm 4 tháng 26

Từ 54-65 tuổi 5 năm 4 tháng 32

-Theo quy định của Liên minh châu Âu, người thất nghiệp có thểtìm việc trong các nước Liên minh châu Âu khoảng 3 tháng và có thểlưu tại đó trong thời gian này và sẽ tiếp tục nhận được lương thất

Trang 13

nghiệp Thời gian hưởng chế độ không bị gián đoạn trong các kỳ nghỉ(không quá 3 tuần) nếu thông báo cho cơ quan việc làm.

*Các thu nhập bổ sung

-Thu nhập bổ sung trong thời gian đang hưởng chế độ mà mộtngười thất nghiệp nhận được từ “việc làm phụ” (dưới 15 giờ/tuần) sẽđược khấu trừ từ lương thất nghiệp tính theo tháng

*Giai đoạn không đủ tiêu chuẩn hưởng và sự mất quyền

hưởng chế độ

-Một người thất nghiệp sẽ bị tước quyền hưởng chế độ trong 12tuần (6 tuần trong trường hợp người thất nghiệp đang trong tình trạngcực kỳ khó khăn) nếu đối tượng đã bị chấm dứt hợp đồng lao động vì

lý do vi phạm các điều khoản trong hợp đồng, hoặc sai phạm trongcông việc dẫn tới chủ sử dụng lao động sa thải Thời hạn đình chỉquyền hưởng chế độ tương tự cũng được áp dụng nếu người thấtnghiệp từ chối nhận công việc được đề nghị bởi cơ quan việc làm hoặctừ chối tham gia các chương trình đào tạo Nếu người thất nghiệp đãtừng bị tước quyền hưởng chế độ trong 12 tuần và đã nhận thông báobằng văn bản về vấn đề này thì quyền hưởng chế độ sẽ vĩnh viễn bịtước nếu đối tượng vi phạm một vấn đề tương tự

*Tiền bồi thường chấm dứt hợp đồng lao động

-Khoản tiền bồi thường chấm dứt hợp đồng mà một người thấtnghiệp đã nhận hoặc được quyền hưởng do sự chấm dứt quan hệ laođộng nói chung không bị khấu trừ vào chế độ thất nghiệp Nhưngngày chi trả sẽ bị chậm lại trong khoảng tối đa là một năm nếu sựchấm dứt hợp đồng không phù hợp với giai đoạn bảo đảm công việcluật định Trong giai đoạn này người thất nghiệp phải tự đóng BHYT.Nếu hợp đồng lao động được chấm dứt với thông báo hợp lệ, thì ngườithất nghiệp sẽ được chi trả chế độ thất nghiệp ngay khi đăng ký thấtnghiệp

*Sự đình chỉ chi trả chế độ

-Chế độ bảo hiểm thất nghiệp bị ngừng chi trong thời gian ngườithất nghiệp nhận tiền trợ cấp từ các chế độ BHXH khác như chế độốm đau, lương hưu

*Chế độ thất nghiệp một phần

-Chế độ thất nghiệp một phần mới được áp dụng là một mô hìnhthay thế thu nhập độc lập trong hệ thống bảo hiểm thất nghiệp Mụcđích của nó là bảo đảm người lao động đang tham gia vào một số quan

Trang 14

hệ lao động bán thời gian trong cùng một thời điểm Việc mất mộttrong số các việc làm bán thời gian này sẽ được xét hưởng chế độ thấtnghiệp một phần.

-Điều kiện hưởng chế độ là người lao động đã có một công việctrong 12 tháng trong hai năm gần nhất, bên cạnh đó, còn có một côngviệc được bảo hiểm khác và người lao động sẵn sàng và có khả năngnhận một công việc bán thời gian được bảo hiểm mới (bên cạnh côngviệc hiện có) hoặc một công việc toàn thời gian Do nguyên nhân rủi

ro đặc thù cho hệ thống bảo hiểm thất nghiệp liên quan tới chế độ bảohiểm, chế độ thất nghiệp một phần chỉ được chi trả trong thời gian tối

đa là 6 tháng

2.2.3 Nội dung của trợ cấp thất nghiệp

-Khi người thất nghiệp đã nhận bảo hiểm thất nghiệp quá thờigian quy định mà vẫn chưa tìm được công việc làm mới thì họ sẽ bịcắt chế độ bảo hiểm thất nghiệp Nếu gặp khó khăn về tài chính, ngườithất nghiệp lúc này có quyền xin hưởng trợ cấp thất nghiệp

*Các điều kiện hưởng:

-Đối tượng xin hưởng trợ cấp thất nghiệp phải là người đã đăng

ký thất nghiệp tại cơ quan việc làm và không còn được hưởng chế độbảo hiểm thất nghiệp Một điều kiện khác là đối tượng đang trong tìnhtrạng khó khăn tài chính và trước đó đã lĩnh chế độ bảo hiểm thấtnghiệp

-Một người thất nghiệp được coi là đang trong hoàn cảnh khókhăn là người không thể tự nuôi bản thân bằng bất kỳ nguồn thu nhậpnào ngoài tiền trợ cấp thất nghiệp Việc kiểm tra thu nhập và tài sảncăn cứ trên thu nhập, tài sản của bản thân đối với vợ/chồng người thấtnghiệp không vượt quá một mức nhất định Một số phúc lợi đượchưởng bao gồm chế độ phòng bệnh, khám chữa bệnh, trợ cấp căn bảntheo Luật Trợ cấp Liên Bang và chế độ chăm sóc trẻ em theo LuậtPhúc lợi Trẻ em Liên Bang

*Mức hưởng trợ cấp

Người thất nghiệp có ít nhất một trẻ em sống phụ thuộc sẽ đượchưởng tiền trợ cấp thất nghiệp tương đương với 57% lương thực tế saukhi khấu trừ các khoản đóng góp bắt buộc theo luật định, nếu khôngcó trẻ em phụ thuộc thì trợ cấp thất nghiệp sẽ là 53% Trợ cấp thất

Trang 15

nghiệp được điều chỉnh hàng năm Cơ quan Việc làm Liên bang chicác khoản đóng bảo hiểm hưu trí và y tế cho đối tượng hưởng trợ cấpthất nghiệp.

*Thời gian hưởng

-Như trong quy định, trợ cấp thất nghiệp được cấp không giớihạn thời gian đến tận khi nào đối tượng hưởng trợ cấp đến tuổi 66.Thường thì một quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp chỉ có tác dụngtrong 1 năm, sau đó phải được xem xét và quyết định lại

-Tại Đức, cứ 4 người thất nghiệp thì có 1 người không đượchưởng chế độ thất nghiệp hoặc trợ cấp thất nghiệp Những người thấtnghiệp này chủ yếu là những người không đủ tiêu chuẩn hưởng phúclợi/trợ cấp Một số khác chỉ đăng ký với cơ quan việc làm với các lý

do an sinh xã hội, hoặc họ cố gắng tìm việc thông qua cơ quan việclàm công không cần tới chế độ bảo hiểm/trợ cấp thất nghiệp

2.3 Bảo hiểm chăm sóc và điều dưỡng (BHCS Và ĐD)

2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển

-Mô hình bảo hiểm chăm sóc dài hạn ở Cộng hòa liên bang Đứcđược thành lập vào năm 1995 và là trụ cột thứ 5 trong hệ thống bảohiểm xã hội của Đức Đây là chính sách bảo hiểm bắt buộc đối vớingười lao động và bao trùm lên toàn bộ người dân – những người cầnđược trợ giúp như người cao tuổi, người khuyết tật

* Già hóa dân số và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

- Năm 2008 nước Đức có khoảng 20% dân số từ độ tuổi 65 trởlên và con số này được dự báo tăng lên 34% vào năm 2060 Cùng với

sự già hóa dân số nhanh chóng thì tuổi thọ trung bình của dân sốcũng không ngừng gia tăng Tính đến năm 2013, dân số nước Đức đạt80,7 triệu dân trong đó người cao tuổi chiếm 21% tổng dân số, sấp sỉ

17 triệu người; tuổi thọ trung bình đạt 80.9 tuổi( loại I)

-Theo Bộ Y tế liên bang năm 2013, 28.8% số người trong độ tuổitừ 80% cần đến trợ giúp từ loại hình dịch vụ này, 4.2% những ngườitrong độ tuổi từ 60-80 có nguy cơ cần đến trợ giúp này và con số nàyở nhóm người dưới 60 tuổi là thấp nhất với 0.7% (loại II) Như vậy,nhóm người cần nhận đươc sự trợ giúp này là nhóm người già trong

xã hội

-Theo số liệu thống kê, tính đến 2013 có hơn 2.55 triệu người ởĐức được bao phủ bởi quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn Trong đó,khoảng 0.77 triệu trong số này sống tại các bệnh xá, nhà an dưỡng với

Ngày đăng: 25/12/2017, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w