1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT môn học LỊCH sử văn MINH THẾ GIỚI

20 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 66,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung học phần cung cấp cho người học có thể có dó được những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của các trung tâm văn minh tiêu biểu trên thế giới.. Qua đó, người h

Trang 1

TRƯỜNG ĐH LUẬT TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-oOo -ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC

1 Tên học phần: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

2 Số đơn vị học trình: 02 (30 tiết).

3 Trình độ:

Sinh viên năm thứ nhất hoặc năm thứ hai

4.Phân bổ thời gian:

–Giảng lý thuyết: 24 đến 27 tiết

–Thảo luận: 03 đến 06 tiết

–Tự học có hướng dẫn của giảng viên

5.Điều kiện tiên quyết:

Tích lũy môn Triết học Mác – Lê-nin, Cơ sở văn hóa Việt Nam

6.Mục tiêu của học phần:

Giúp người học có những kiến thức cơ bản về lịch sử văn minh thế giới trước khi tiếp cận các môn chuyên ngành Luật Nội dung học phần cung cấp cho người học có thể có dó được những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của các trung tâm văn minh tiêu biểu trên thế giới Qua đó, người học cũng có thể hiểu sâu hơn một số khái niệm liên quan đến học phần; nắm vững về cơ sở hình thành

và những thành tựu nổi bật của một số trung tâm văn minh trên thế giới; tìm hiểu về phương pháp tiếp cận và nghiên cứu một nền văn minh, từ đó rút ra một số quy luật chung về quá trình hình thành, phát triển của văn minh nhân loại

Mặt khác, nghiên cứu lịch sử không chỉ tìm hiểu về quá khứ của, mà trên cơ sở đó để hiểu biết sâu sắc hơn về hiện tại, hành động tích cự trong hiện tại và tiên đoán sự phát triển của tương lai Từ đó, môn Lịch sử văn minh thế giới góp phần xây dựng quan điểm nhân văn, nhân sinh quan đúng đắn, nâng cao lòng tự hào, biết trân trọng những giá trị tinh thần, vật chất của văn minh loài người, biết vận dụng một cách hữu ích vào công việc, đời sống; nhận thức rõ được những yếu tố cần kế thừa, phát huy hay loại trừ trong bối cảnh hội nhập thế giới, phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước theo đường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

7.Mô tả vắn tắt nội dung:

7.1 Nhập môn Lịch sử văn minh thế giới: khái niệm lịch sử, văn hóa, văn minh, văn hiến,

Phương Đông, Phương Tây, phân kỳ lịch sử, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và tiếp cận, ý nghĩa môn học…

7.2 Lịch sử Văn minh Phương Đông:

7.2.1 Văn minh Ai Cập cổ đại.

7.2.2 Văn minh Ấn Độ.

7.2.3 Văn minh Trung Hoa.

7.2.4 Văn minh Arập.

7.3 Lịch sử Văn minh Phương Tây:

7.3.1 Văn minh Phương Tây cổ đại: Hy Lạp và La Mã.

7.3.2 Văn minh Phương Tây Âu trung đại:

7.4 Khái lược sự tiếp xúc, giao lưu văn minh Phương Đông và Phương tây thời cổ -trung đại.

Phần văn minh Lưỡng Hà cổ đại, Văn minh công hiệp và Văn minh thế kẻ XX người học tự nghiên cứu và trao đổi với giảng viên

Hiện nay, các giáo trình môn Lịch sử văn minh thế giới ở nước ta đều được viết cho thời lượng giảng dạy từ 60 đến 90 tiết (tương đương từ 4 đến 6 đơn vị học trình) Với thời lượng 30 tiết, nội dung học phần sẽ đề cập đến những cơ sở hình thành nền văn minh (điều kiện tự nhiên, cư dân, kinh tế, chính trị - xã hội, các giai đoạn lịch sử) và một số thành tựu tiêu biểu (kết hợp tự học có hướng dẫn) về văn tự,

Trang 2

văn học, khoa học tự nhiên - kỹ thuật, nghệ thuật, các học thuyết chính trị, các quan điểm triết học, tín ngưỡng, tôn giáo…

8.Tài liệu học tập:

8.1 Giáo trình: Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2003), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo

dục, Hà Nội

8.2 Tài liệu tham khảo:

8.2.1 Đặng Đức An (chủ biên, 1999, 2000), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB Giáo

dục, Hà Nội

8.2.2 Đặng Đức An (chủ biên, 2003), Những mẩu chuyện lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo

dục, Hà Nội

8.2.3 Đỗ Thanh Bình (1996), Một số vấn đề về lịch sử thế giới, NXB Giáo dục, Hà Nội.

8.2.4 Nhật Chiêu (2003), Câu chuyện văn chương Phương Đông, NXB Giáo dục, Hà Nội 8.2.5 Doãn Chính (chủ biên, 1992), Đại cương lịch sử triết học Phương Đông cổ đại, NXB Đại

học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội

8.2.6 Crane Brinton – Jhon B Christopher, Robert Lee Wolff (2004), Văn minh Phương Tây,

NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

8.2.7 F Engels (1979), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, NXB Sự

thật, Hà Nội

8.2.8 Phạm Cao Hoàn (2000), Hội họa Phục hưng, NXB Mỹ thuật, TP Hồ Chí Minh.

8.2.9 Đặng Thái Hoàng (2000), Lịch sử kiến trúc, tập 1 và 2, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 8.2.10 Lê Phụng Hoàng – Hà Bích Liên - Trần Hồng Ngọc (1998), Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

8.2.11 Jhon Bowker (2003), Các tôn giáo lớn trên thế giới, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội 8.2.12 K Marx – F Engels (1980), Tuyển tập, Tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội.

8.2.13 K Marx – F Engels (1984), Tuyển tập, Tập 4, NXB Sự thật, Hà Nội.

8.2.14 Nguyễn Văn Khỏa (2004), Thần thoại Hy Lạp, NXB Văn học, Hà Nội.

8.2.15 Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý (chủ biên, 1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

8.2.16 Nguyễn Thọc Nhân (2004), Đạo Hồi và thế giới A Rập, Văn minh - lịch sử, NXB Tổng

hợp TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

8.2.17 Nhiều tác giả (1996), Almanach những nền văn minh thế giới, NXB Văn hóa thông tin, Hà

Nội

8.2.18 Nhiều tác giả (2000), Bộ thông sử thế giới vạn năm, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội 8.2.19 Lương Ninh (chủ biên, 2003), Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

8.2.20 Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Trần Văn La (2003), Lịch sử thế giới trung đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

8.2.21 Lê Minh Quốc (2000), Hành trình chữ viết, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

8.2.22 Samuel Huntington (2003), Sự va chạm của các nền văn minh, NXB Lao động, Hà Nội 8.2.23 Shijie Congshu (2004), Những nền văn minh thế giới, NXB Văn học, Hà Nội.

8.2.24 Lương Duy Thứ (chủ biên, 2000), Đại cương lịch sử văn hóa Phương Đông, NXB Đại học

quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

8.2.25 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công

an nhân dân, Hà Nội

8.2.26 Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội – Khoa Luật (1993), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Hà Nội.

8.2.27 Vũ Bội Tuyền (1997), Mười nhà thám hiểm lừng danh thế giới, NXB Thanh niên, Hà Nội 8.2.28 Will Durant (2002), Lịch sử văn minh Ai Cập, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

8.2.29 Will Durant (2002), Lịch sử văn minh Ấn Độ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

8.2.30 Will Durant (2002), Lịch sử văn minh Trung Hoa, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

8.2.31 Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên, 2003), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội

8.2.32 X Carpusina – V Carpusin (2004), Lịch sử văn hóa thế giới, NXB Thế giới, Hà Nội.

9.Phương pháp giảng dạy:

Trang 3

Giảng lý thuyết và thảo luận trên lớp kết hợp với tự học có hướng dẫn.

10.Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:

10.1 Hình thức đánh giá bộ phận: Tham dự bài giảng, kiểm tra thường xuyên, thái độ tham

gia thảo luận, đóng góp ý kiến trong giờ học

10.2 Hình thức thi kết thúc học phần: thi viết (tự luận) kết hợp trắc nghiệm.

10.3 Điểm học phần gồm: 80 % điểm thi kết thúc học phần + 20 % điểm đánh giá bộ phận.

11.Nội dung chi tiết:

Bài mở đầu: NHẬP MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

I CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

1 1.Lịch sử:

–Là quá trình lịch sử khách quan của xã hội loài người trước đây hoặc lịch sử của những sự vật, hiện tượng đã từng xảy ra trong quá khứ (lịch sử của sự tồn tại khách quan với tư cách là đối tượng nhận thức của những người nghiên cứu và học tập lịch sử)

–Là sự nhận thức lịch sử của con người qua các tác phẩm lịch sử, thể hiện kết quả của sự nhận thức lịch sử

–Là môn khoa học nghiên cứu các hiện tượng lịch sử đã xảy ra trong xã hội loài người và phát hiện ra quy luật phát sinh, phát triển của nó

Nói tóm lại, lịch sử là một ngành khoa học thuộc nhóm các ngành khoa học nhân văn, có đối tượng nghiên cứu là quá khứ của con người và xã hội loài người kể từ khi con người xuất hiện cho đến nay, từ

đó phát hiện ra quy luật phát sinh và phát triển của lịch sử xã hội loài người Cho đến nay, đa số các học

giả trên thế giới đều cho rằng loài người đã xuất hiện cách ngày nay khỏang 3,5 triệu năm

1 2.Văn hóa – Văn minh:

2.1 Văn hóa:

Văn hóa là một từ gốc Hán, là một trong những khái niệm phức tạp có nguồn gốc từ

chữ cultura trong tiến Latin nghĩa là trồng trọt, cư trú, luện tập, lưư tâm… Về sau, từ “văn hóa” mang

nhiều nghĩa mới, do vậy trên thế giới đã xuất hiện hàng trăm quan điểm khác nhau

Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị về cả hai mặt vật chất và tinh thần do con người và xã hội loài người sáng tạo ra, kể từ khi con người xuật hiện đến nay Qua đó, có thể thấy rằng giá trị là một thuộc tính cơ bản của văn hóa và văn

hóa xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người

2.2 Văn minh:

Văn minh cũng là một khái niệm phức tạp, được dịch từ chữ Civilisation trong tiếng Pháp

và Civilization trong tiếng Anh, có nghĩa ban đầu là hoạt động khai hóa, làm thoát khỏi tình trạng nguyên

thủy

Hiện nay, các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến khái niệm văn

minh Tuy nhiên, đa số các ý kiến đều cho rằng, văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần do con người và xã hội loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội (khi có

sự xuất hiện của nhà nước, trong đó Ai Cập là nhà nước được xem là xuất hiện sớm nhất trong lịch sử,

khoàng cuối thiên niên kỷ IV tr.CN) Trái với văn minh là dã man Từ đó cho thấy, tiến bộ là một thuộc

tính cơ bản của văn minh và nhà nước là tiêu chí quan trọng để xác định một nền văn minh

Văn hóa thường mang đậm tính dân tộc, có một bề dày lịch sử và hình như gắn bó nhiều hơn với Phương Đông nông nghiệp Còn văn minh lại mang tính quốc tế, chỉ một trình độ phát triển và gắn bó nhiều hơn với Phương Tây đô thị

1 3.Phương Đông – Phương Tây:

Phương Đông, Phương Tây là những khái niệmthuộc về nhận thức của con người Ban đầu, các khái niệm này đơn thuần dùng để chỉ phương hướng, nhưng về sau nó gắn liền với yếu tố lịch sử và có tính chính trị Vì thế, ranh giới giữa Phương Đông và Phương Tây chỉ mang tính quy ước, tương đối Thời cổ đại, Hy Lạp và La Mã được là hai quốc gia chiếm hữu nô lệ điển hình Khối cư dân ở đây gọi khu vực phía Tây của họ là Phương Tây, còn các vùng đất còn lại (bao gồm khu vực phía Đông Địa Trung Hải - hướng mặt trời mọc và cả Đông Bắc Phi) là Phương Đông Từ quan niệm này, sau đó đã xuất hiện các khái niệm Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử, khái

Trang 4

niệm Phương Đông và Phương Tây lại được hiểu một cách linh hoạt dựa trên các tiêu chí khác nhau (nhân chủng, văn hóa, kinh tế, chính trị, địa lý…)

1 4.Phân kỳ lịch sử:

Cho đến nay, trong giới sử học, xã hội học đã hình thành hàng loạt lý thuyết về sự phát triển của

xạ hội loài người như lý thuyết khu vực, lý thuyết thời kỳ kinh tế, lý thuyết hội tụ Tuy nhiên, quan điểm của Marx – Engels đã lấy cơ sở kinh tế và sau đó là phương thức sản xuất và hình thài kinh tế - xã hội làm tiêu chí cơ bản để phân kỳ lịch sử xã hội loài người và được giới sử học mác-xít sau này thừa nhận Dựa trên tiêu chí đó, lịch sử loài người phát triển liên tục qua các thời kỳ sau:

1.4.1 Thời kỳ nguyên thủy: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội công xã nguyên thủy (từ khi

hình thành loài người đến khi xuất hiện nhà nước)

1.4.2 Thời kỳ cổ đại: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ (kết thúc năm 476 –

năm đế quốc Tây La Mã diệt vong)

1.4.3 Thời kỳ trung đại: tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội phong kiến (kết thúc năm 1640 –

năm diễn ra cuộc Cách mạng tư sản Anh)

1.4.4 Thời kỳ cận đại: tương ứng với với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa (kết thúc năm

1917)

1.4.5 Thời kỳ hiện đại: từ năm 1917 đến nay.

Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi nơi diễn ra trong các mốc thời gian khác nhau Do vậy, cách phân kỳ này chỉ mang ý nghĩa khái quát trong quá trình nghiên cứu lịch sử loài người

1 5.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Lịch sử văn minh là một phân ngành của khoa học lịch sử, có đối tượng nghiên cứu là những thành tựu đỉnh cao thể hiện sự tiến bộ của con người và xã hội loài người kể từ khi nhà nước xuất hiện đến nay Những thành tựu đó được biểu hiện cả trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng

của xã hội

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Là một phân ngành của khoa học lịch sử, phương pháp nghiên cứu của lịch sử văn minh dựa trên phương pháp luận mác-xít, mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngòai ra, còn phải tiếp cận với phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, như phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp lịch đại và phương pháp đồng đại, phương pháp so sánh…

Khi nghiên cứu một nền văn minh cần phải nắm vững phương pháp tiếp cận với cá nền văn minh,

cụ thể là: 1 Cơ sở hình thành: bao gồm cơ sở về điều kiện tự nhiên, cư dân, kinh tế, nhà nước và kết cấu xã hội, khái quát về các giai đoạn lịch sử 2 Thành tựu văn minh: bao gồm chữ viết, văn học (thần thoại, thơ, kịch), sử học, khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nghệ thuật (kiến trúc, điêu khắc, hội họa), tư tưởng và các quan điểm triết học, tôn giáo, luật pháp

Trang 5

Chương 1 VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG (Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa) Bài 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH

1 1.Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên:

–Khái quát về vị trí địa lý, địa bàn hình thành của các nền văn minh Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa –Các nền văn minh Phương Đông cổ đại đều hình thành trên lưu vực của các con sông lớn, mang

tính chất văn minh sông nước.

–Các nền văn minh Phương Đông cổ đại đều hình thành trên các đồng bằng phù sa, đất đai màu

mỡ, mềm, mịn, tơi xốp từ đó hình thành tính chất văn minh nông nghiệp.

–Buổi đầu, hầu hết các quốc gia Phương Đông đều tồn tại một cách biệt lập, khép kín Vì thế, có ý

kiến cho rằng Văn minh Phương Đông mang tính chất khép kín.

– Nguồn tài nguyên khoáng sản ít, kỹ thuật khai khoáng chưa phát triển nên công cụ lao động thô sơ, lạc hậu, tiến bộ nhất là công cụ bằng đồng Chính vì thế, văn minh Phương Đông còn

gọi là văn minh đồ đồng.

– Loại hình khí hậu chủ yếu là nhiệt đới (nhiệt đới sa mạc và nhiệt đới gió mùa)

1 2.Cư dân:

Phần này tìm hiểu và xác định chủ nhân chính thức của các nền văn minh Tuy nhiên, điều này là hết sức phức tạp nên chỉ mang tính tương đối

4.1 Ai Cập:

Khối cư dân bản địa đầu tiên là người Negroid (thổ dân châu Phi) Đến khoảng 4000 tr.CN, một nhánh người Hamit ở phía đông Địa Trung Hải đến định cư ở vùng đồng bằng sông Nil, dần dần đồng hóa với cư dân bản địa, đều coi mình là con cháu của thần sông Nil và được gọi là người Egypt - chủ

nhân của nền văn minh Ai Cập cổ đại

4.2 Ấn Độ:

Chủ nhân của nền văn hóa Harappa (văn minh sông Ấn) là người Dravida, được xem là khối cư

dân bản địa

Chủ nhân của nền văn minh sông Hằng là người Aryan, có nguồn gốc từ vùng thảo nguyên Trung

Á thiên di xuống Ấn Độ khoảng giữa thiên niên kỷ III tr.CN Ngoài ra, Ấn Độ còn có nhiều tộc người khác đến định cư và sinh sống như người Hy Lạp, Mông Cổ, Hung Nô, Arập v.v…

Trang 6

4.3 Trung Hoa:

Khối cư dân đầu tiên cư trú ở vùng đồng bằng Hoa Bắc (lưu vực sông Hoàng Hà) là người Hoa

hạ Cuối thiên niên kỷ II tr.CN, họ chinh phục người Địch và Nhung ở phía Bắc và phía Tây Đến thời nhà Tần, các khối cư dân này được gọi chung là người Hán - chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa.

1 3.Kinh tế

Có thể nói, kinh tế của hầu hết các quốc gia Phương Đông cổ đại là nền kinh tế tự nhiên, mang tính tự cung tự cấp

4.1 Nông nghiệp:

Là ngành kinh tế chủ đạo, trồng trọt và chăn nuôi chưa tách rời (trong đó trồng trọt là chính, chăn nuôi là phụ)

–Trong trồng trọt, đất canh tác chủ yếu là đất phù sa Quy mô canh tác manh mún, nhỏ lẻ, thường chỉ tiến hành một vụ/năm Sản phẩm chủ yếu là lúa (đại mạch, tiểu mạch, lúa nước), sản lượng không cao, ít sản phẩm thừa

–Chăn nuôi mang tính chất cá thể riêng lẻ, theo mô hình “bầy đàn có chuồng trại” Quy mô chăn nuôi nhỏ nên cung không đủ cầu, chủ yếu sử dụng làm sức kéo và phục vụ cho các dịp lễ, tết, cưới hỏi…

Do vậy, các sản phẩm nông nghiệp không trở thành hàng hóa.

4.2 Thủ công nghiệp

Phát triển mang tính chất cục bộ Quy mô các xưởng thủ công nhỏ, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong công xã, sự trao đổi hàng hóa diễn ra rất ít Tuy nhiên, các ngành nghề tương đối phong phú và

chất lượng khá tinh xảo Lượng hàng hóa làm ra cũng chưa nhiều, do vậy, các sản phẩm thủ công nghiệp cũng không trở thành hàng hóa.

4.3 Thương nghiệp:

Với nền kinh tế tự nhiên và mạng lưới giao thông chưa phát triển nên thương nghiệp chưa thực sự hình thành, mang tính cục bộ, ít giao lưu và ít trao đổi với bên ngoài Đồng tiền với tư cách là vật trung gian để định giá trị hàng hóa hầu như chưa xuất hiện nên phương thức trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng

Có thể nói, kinh tế các quốc gia phương Đông cổ đại chưa phải là nền kinh tế hàng hóa Lực lượng sản xuất chủ yếu là nông dân tự do (trong đó nông dân công xã giữ vai trò chủ đạo), quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa hầu như chưa diễn ra Vì vậy, các thành tựu văn minh thường không phát triển đến đỉnh cao và sớm bị lụi tàn.

1 4.Nhà nước và kết cấu xã hội

4.1 Nhà nước:

Các nhà nước Phương Đông cổ đại đều mang tính chất chuyên chế Tính chất này đã tồn tại dai dẳng, chi phối nhiều mặt đến tiến trình phát triển của các nền văn minh Phương Đông

4.1.1 Nguyên nhân của sự chuyên chế:

–Những yếu tố thuận lợi tạo ra từ điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các con sông đã quần tụtrong các công xã nông thôn các khối cư dân sống phụ thuộc vào nó Tính cộng đồng hình thành làm cho yếu tố cá nhân không được đề cao và luôn bị cộng đồng chi phối Những điều đó làm cho họ dễ bị lệ thuộc vào cộng đồng

–Công việc trị thủy đã liên kết các bộ lạc lại với nhau, tất yếu làm xuất hiện vai trò của một thủ lĩnh tối cao được trao nhiều quyền lực - tiền thân của ông vua chuyên chế Vai trò của tôn giáo, chỗ dựa của nền chuyên chế Phương Đông trong việc thần thánh hóa vua, vì vậy, vua cũng chính là thủ lĩnh tối cao của tôn giáo

–Thái độ khiếp sợ và thần phục tự nhiên, dẫn đến thần thánh hóa tự nhiên Khi một cá nhân lợi dụng được yếu tố này sẽ hợp pháp hóa quyền lực và trở thành kẻ cai trị hợp pháp

–Các nhà nước Phương Đông buổi đầu ra đời trên cơ sở kẻ mạnh chinh phục kẻ yếu, kẻ chiến thắng sẽ trở thành người cai trị, áp đặt ý chí của mình để cai trị

–Buổi đầu, do công cụ lao động và vũ khí còn thô sơ, do vậy cư dân Phương Đông ít có khả năng chống lại các thế lực tự nhiên và kẻ mạnh

4.1.2 Tính chất và tổ chức:

–Tính chất: Vua nắm giữ quyền lực tối cao, nắm cả vương quyền lẫn thần quyền ; vua luôn được thần thánh hóa; tính chất thế tục; vua là người sở hữu toàn bộ đất đai; bộ máy quan lại cồng kềnh, quan liêu

Trang 7

–Tổ chức: Có thể khái quát mô hình chung của các nhà nước Phương Đông cổ đại bao gồm: Vua chuyên chế → Hệ thống quan lại trung ương → hệ thống quan lại địa phương (quản lý, phân chia ruộng đất, thu thuế, hành chính…), công cụ bảo vệ nhà nước và duy trì trật tự xã hội là hệ thống nhà tù, quân đội Các nhà nước Phương Đông cổ đại đại thường có ba chức năng chủ yếu là thu thuế và cai trị dân chúng; trị thủy và xây dựng các công trình công cộng; mở rộng lãnh thổ

4.2 Kết cấu xã hội:

Xã hội Phương Đông cổ đại nói chung tồn tại hai giai cấp chủ yếu: giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Giai cấp bóc lột gồm: vua, quan lại, tăng lữ, quý tộc Giai cấp bị bóc lột gồm: nông dân công xã (chiếm số lượng áp đảo, là lực lượng lao động chính làm ra của cải vật chất của xã hội), thợ thủ công, thương nhân, và nô lệ (chủ yếu phục dịch trong các gia đình chủ nô, việc tham gia vào sản xuất không nhiều)

Từ đó cho thấy rằng, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Phương Đông là chế độ chiếm hữu nô lệ không điển hình hay còn gọi là chế độ nô lệ gia trưởng.

1 5.Các giai đoạn lịch sử

5.1 Ai Cập:

–Thời kỳ Tảo vương quốc ( khoảng 3200 – 3000 tr.CN)

–Thời kỳ Cổ vương quốc (khoảng 3000 – 2200 tr.CN)

–Thời kỳ Trung vương quốc (khoảng 2200 – 1570 tr.CN)

–Thời kỳ Tân vương quốc (khoảng 1570 – 1100 tr.CN)

–Thời kỳ từ thế kỷ X – năm 30 tr.CN)

5.2 Ấn Độ:

–Thời kỳ văn minh sông Ấn (đầu TNK III - giữa TNK II tr.CN)

–Thời kỳ Veda ( giữa TNK II tr.CN - giữa TNK I tr.CN)

–Thời kỳ từ thế kỷ VI tr.CN – XII

–Thời kỳ từ XIII – XIX

5.3 Trung Hoa:

–Thời kỳ cổ đại (khoảng thế kỷ XXI tr.CN – 221 tr.CN)

–Thời kỳ trung đại ( 221 tr.CN – 1840)

Bài 2: NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA CÁC NỀN VĂN MINH AI CẬP, ẤN ĐỘ, TRUNG

HOA

1 1.Ai Cập

1.1 Chữ viết:

Là một trong những lọai chữ viết xuất hiện sớm nhất trong lịch sử, khoảng thiên niên kỷ IV tr.CN Những chữ viết đầu tiên xuất hiện dưới dạng chữ tượng hình Chữ tượng hình không thể diễn đạt hết các khái niệm trừu tượng, nên người Ai Cập tiến lên loại chữ ghi ý, sau đó là sự kết hợp giữa ghi ý với ghi âm Đến những thế kỷ sau Thiên chúa giáng sinh, chữ tượng hình Ai Cập trở thành tử ngữ

Chữ viết của người Ai Cập cổ rất phức tạp nên hầu như chỉ có các tăng lữ và quan lại học và sử dụng được Người Ai Cập cổ đại thường viết trên đá, gỗ, gốm, vải, da thú… nhưng phổ biến là giấy papyrus, mực viết làm từ bồ hóng

1.2 Khoa học tự nhiên:

Khoa học tự nhiên Ai Cập cổ đại hình thành khá sớm do điều kiện tự nhiên, kinh tế nông nghiệp và nhu cầu xây dựng Các lĩnh vực chủ yếu là toán học, thiên văn học, lịch pháp và y học và đã biết ứng dụng vào thực tế

1.2.1 Thiên văn học:

Ngay từ rất sớm, người Ai Cập đã quan sát bầu trời cả ngày lẫn đêm, phát hiện và vẽ được bản đồ một số thiên thể, xác định được 12 cung hoàng đạo (vương triều 14 – Trung vương quốc), biết các hành tinh trong Thái dương hệ, vẽ được chòm sao Bắc cực Đặc biệt họ đã phát minh ra cái nhật khuê để đo thời gian ban ngày và sau đó là đồng hồ nước

1.2.2 Lịch pháp:

Trang 8

Năm của người Ai Cập có 365 ngày (thời gian giữa 2 lần sao Thiên Lang xuất hiện ở đường chân trời vào sáng sớm - thời điểm nước sông Nil lên cao) Người Ai Cập chia 1 năm làm 12 tháng, mỗi tháng

có 30 ngày, 5 ngày cuối năm là ngày tết Tuy nhiên so với lịch mặt trời lịch của người Ai Cập còn thiếu khoảng ¼ ngày (chưa biết đặt ra năm nhuận) Họ cũng chia 1 năm làm 3 mùa: mùa Nước lên (sau tết), mùa Ngũ cốc và mùa Thu hoạch

1.2.3 Toán học:

Vào thiên niên kỷ III tr.CN, người Ai Cập đã hình thành phép đếm theo cơ số 10 tuy nhiên, họ chưa biết đến số 0 (không) nên cách viết khá phức tạp; biết làm các phép tính cộng và trừ, nhân và chia thì hiểu là cộng trừ liên tiếp; họ cũng biết đến khả năng nhân đôi và khả năng lấy hai phần ba của một số

Về đại số học, họ đã biết giải phương trình bậc nhất một ẩn, biết đến cấp số cộng và cơ sở cấp số nhân… Về hình học, họ đã biết tính diện tích một số hình phẳng và thể tích hình khối, tính được số Pi = 3,16

1.2.4 Y học:

Thành tựu lớn nhất của y học Ai Cập cổ đại là thuật ướp xác, xuất phát từ tôn giáo, tín ngưỡng và điều kiện tự nhiên Thông qua việc ướp xác, họ đã tiếp cận với phẫu thuật nên có kiến thức về giải phẫu học từ rất sớm, biết đến nguyên nhân bệnh tật của con người do sự hoạt động không bình thường của mạch máu Họ cũng đã biết sự liên quan giữa tim và mạch máu, khi óc bị tổn hại thì cơ thể sẽ bị bệnh

Từ đó đã hình thành nên một số chuyên khoa như hô hấp, ngoài da, đường ruột… Các thầy thuốc cũng biết dùng phẫu thuật để chữa một số bệnh

1 2.Ấn Độ

2.1 Văn học:

Văn học Ấn Độ cổ đại khá phong phú nhưng chủ yếu tập trung trong hai lĩnh vực, đó là các bộ kinh của các tôn giáo và đặc biệt là sử thi

2.1.1 Các bộ kinh của các tôn giáo:

Nổi bật là bộ kinh Veda (sau thành bộ kinh của đạo Bàlamôn - Hindu) và Tam tạng kinh điển của Phật giáo

–Kinh Veda:

Tác phẩm văn học cổ nhất của Ấn Độ và có thể của cả loài người, xuất hiện nửa sau thiên niên kỷ

II tr.CN Ban đầu là tác phẩm vô danh truyền miệng gồm các bài thơ ca, ca dao… phản ánh thời kỳ xâm nhập Ấn Độ của khối cư dân Aryan, về sau được các tăng lữ cải biến và được ghi lại thành tác phẩm bằng tiếng Phạn cổ và gọi là kinh Veda

Veda (Vid) có nghĩa là hiểu biết gồm 4 tập với khoảng 10.562 câu thơ: Rig Veda - Tụng thi, Sama

Veda – Ca vịnh, Yagiur Veda - Tế tự và Atharva Veda - Thần chú

–Tam tạng kinh điển:

+Kinh Tạng: ghi chép lại những lời dạy của Đức Phật sau khi Ngài viên tịch Kinh Tạng đựoc chia làm 4 Bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng Chi bộ (về sau thêm phần Tiểu Bộ) +Luật Tạng: bao gồm các giới luật và nghi lễ cho nam tu sĩ (Tỳ khưu) và nữ tu sĩ (Tỳ khưu ni), cách thức gia nhập tăng đoàn, truyền giới luật, sinh hoạt tăng chúng, cách hành xử trong các trường hợp

vi phạm giới luật

+Luận Tạng: là tập hợp các bài giảng của Đức Phật về thể tính và sự tướng của vạn pháp, phân giải triết học và tâm lý học

2.1.2 Sử thi:

Trong lĩnh vực này, văn minh Ấn Độ đã sản sinh ra hai viên ngọc quý không chỉ của văn học Ấn Độ

mà của cả thế giới là Mahabharata và Ramayana.

–Mahabharata: Được tôn xưng là Veda thứ năm

Được xem là bộ sử thi vĩ đại nhất thế giới gồm 18 chương với 220.000 câu thơ đơn Nội dung chính đề cập đến những mâu thuẫn và đấu tranh diễn ra giữa hai dòng họ Kaurava và Pandava (dòng dõi của vua Bharata) ở vùng đất phía Tây bắc Ấn Độ về vấn đề ruộng đất Tác phẩm cũng được xem là cuốn đại bách khoa toàn thư về văn hóa truyền thống, thể chế chính trị - xã hội của người Ấn Độ cổ xưa

–Ramayana:

Tương truyền là của Valmiki, bao gồm 7 chương với 48.000 câu thơ đơn (chương 1 và chương 7

được người đời sau thêm vào) Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama

Trang 9

và người vợ chung thủy Sita Đây là bộ sử thi rất được yêu thích ở Ấn Độ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học của nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Lào, Campuchia…

2.2 Tôn giáo:

3.1 Đạo Bàlamôn - Hindu:

Bàlamôn là một tôn giáo không có người sáng lập, không có tổ chức giáo hội chặt chẽ, hình thành trên cơ sở tổng hợp các tín ngưỡng dân gian trước đó Đạo Bàlamôn thờ ba vị thần là Brahma (Sáng tạo), Shiva (Phá hủy) và Vishnu (Bảo tồn), tuy là ba nhưng vốn là một và sùng bái một số động vật: voi,

khỉ, đặc biệt là bò Về mặt xã hội, đạo Bàlamôn là công cụ đắc lực bảo vệ cho chế độ đẳng cấp (Varna)

Trong giai đoạn này, tầng lớp tăng lữ Bàlamôn giữ vai trò chủ đạo thao túng xã hội và nhà nước Kinh Veda là bộ kinh chính thức của tôn giáo này Tôn giáo này phát triển mạnh mẽ ở Ấn Độ, nhưng khi đạo

Phật xuất hiện (thế kỷ VI tr.CN) thì đạo Bàlamôn bị suy yếu trong một thời gian dài

Đến khoảng thế kỷ VII, đạo Phật suy yếu ở Ấn Độ Đạo Bàlamôn đã điều chỉnh, bổ sung thêm

nhiều yếu tố mới vào trong học thuyết Đến khoảng thế kỷ VIII – IX tôn giáo này được gọi là đạo Hindu, vẫn chủ yếu sùng bái Brahma, Shiva và Vishnu cùng một số động vật như rắn, hổ, cá sấu, chim công,

vẹt, chuột, đặc biệt là bò và khỉ Do vậy đạo Hindu đã thu hút nhiều tín đồ, ngày nay chiếm khoảng trên 80% dân số Ấn Độ

3.2 Phật giáo:

– Những tiền đề ra đời:

Phật giáo ra đời khoảng giữa thiên niên kỷ I tr.CN trong một bối cảnh lịch sử Ấn Độ có nhiều nhân

tố mới

– Vài nét về học thuyết của đạo Phật:

Phật giáo ra đời khoảng giữ thiên niên kỷ I tr.CN.CN, thời kỳ phát triển mạnh mẽ của đạo Bàlamôn

Theo truyền thuyết, người sáng lập đạo Phật là Siddharta Gautama (624 – 544 tr.CN), hoàng tử nước

Capilavaxtu, đông bắc Ấn Độ Năm 29 tuổi, hoàng tử xuất gia đi tu Năm 35 tuổi, ông đã nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau và cho rằng đã tìm được con đường cứu vớt, giải thoát Nội dung học thuyết của đạo Phật rất rộng, nhưng nội dung được xem là hòn đá tảng

trong học thuyết của Phật là thuyết Tứ thánh đế (bốn chân lý kỳ diệu), bao gồm: Khổ đế - chân lý về các

nổi khổ; Tập đế - chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ; Diệt đế - chân lý về sự chấm dứt nỗi khổ và Đạo đế - chân lý về con đường diệt khổ, con đường đó gọi là Bát chánh đạo hiểu khái quát là suy nghĩ,

nói năng và hành động đúng đắn Ngoài ra còn có các thuyết quan trọng khác như thuyết duyên khởi, vô tạo giả, vô ngã – vô thường… Tuy Phật chủ trương vô thần, nhưng chung quy vẫn mang tính duy tâm

chủ quan

Phật giáo cho rằng đẳng cấp xã hội và nguồn gốc xuất thân không phải là điều kiện để cứu vớt con người (tư tưởng bình đẳng) Học thuyết Phật giáo nguyên thủy chỉ khuyên con người phải biết từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thần linh hay Thượng đế, do vậy không cần nghi thức cúng bái, hiến sinh và tầng lớp thầy cúng

– Quá trình truyền bá ở Ấn Độ:

Sau khi Phật tịch, các môn đệ đã tập trung để ghi chép lại lời thuyết giảng của Đức Phật thông qua

4 kỳ Đại hội kết tập Có thể nói, quá trình truyền bá Phật giáo ở Ấn Độ gắn liền với 4 kỳ Đại hội này +Đại hội kết tập lần thứ nhất: diễn ra một thời gian ngắn sau khi Đức Phật viên tịch, tập trung các tăng ni nhớ và ghi chép lại lời của Phật và cho ra đời phần Kinh tạng và Luật Tạng

+Đại hội kết tập lần thứ hai: diễn ra khoảng 100 năm sau đại hội lần thứ nhất Lúc này, nội bộ Phật giáo hình thành ra hai nhóm khuynh hướng là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, đồng thời đưa ra chủ trương xây dựng chùa, tháp, tạc tượng Phật, đặt ra các ngày lễ và thờ cúng Phật

+Đại hội kết tập lần thứ ba: diễn ra năm 253 tr.CN được sự bảo trợ của vua Ashoka (Vương quốc Magadha) và cho ra đời phần Luận Tạng Cũng tại thời điểm này, Ashoka đã tuyên bố Phật giáo là quốc giáo, xây dựng nhiều chùa, tháp, khuyến khích việc truyền bá đạo Phật trong nước và cả nước ngoài (Myanmar, Thài Lan, Indonesia, Sri Lanca)

+Đại hội kết tập lần thứ tư: diễn ra khoảng năm 100 tại Kusan dưới sự bảo trợ của vua Kanisha Đại hội đã thông qua giáo lý của Phật giáo cải cách được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái cũ gọi là phái Tiểu thừa Sau Đại hội này, Phật giáo tiếp tục được truyền sang Đông Á, Trung Quốc và trở thành quốc giáo của nhiều nước (Sri Lanca, Thái Lan, Mianmar, Campuchia, Lào

1 3.Trung Hoa:

Trang 10

3.1 Chữ viết:

Theo truyền thuyết, chữ viết Trung Hoa xuất hiện dưới thời Hoàng Đế do Thương Hiệt sáng tạo ra Nhưng thực tế, chữ viết đầu tiên được tìm thấy xuất hiện dưới thời nhà Thương gọi là Giáp cốt văn – là một loại chữ tượng hình Sau đó, chữ viết Trung Hoa phát triển lên các giai đoạn chữ Chung đỉnh, Tiểu triện, Lệ thư, Khải thư, Thảo thư, Hành thư, Giản thể…Nhìn chung, trong quá trình phát triển, chữ viết Trung Hoa chỉ thay đổi về số lượng và cách viết, còn về bản chất và cấu tạo không thay đổi nhiều

3.2 Trào lưu tư tưởng thời Xuân thu - Chiến quốc (770 – 221 tr.CN):

3.2.1 Bối cảnh lịch sử:

Đây là thời kỳ loạn lạc với hàng loạt các cuộc thôn tính giữa các nước chư hầu, hình thành cục

diện Thất bá rồi Ngũ bá Sự suy vi của nhà Đông Chu kéo theo sự băng hoại của lễ nhạc, điển chương

nên xã hội đứng trước câu hỏi phải đi theo con đường nào? Trước tình hình đó, học thuật đã chuyển dịch từ cung đình xuống dân gian làm dẫn đến phong trào mở trường dạy tư, các trường phái tư tưởng

nở rộ (Bách gia tranh minh) Trong đó, các trường phái Nho, Mặc, Đạo và cả Pháp gia đã để lại những

dầu ấn nhất định trong tiến trình trị quốc bình thiên hạ của các nhà hành pháp Trung Quốc

3.2.2 Nho gia:

Người sáng lập trường phái Nho gia là Khổng Tử (551 – 479 tr.CN), người nước Lỗ Ông là người sưu tập, chỉnh lý các tác phẩm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân thu (Nhạc đã bị thất truyền) Trong học thuyết, Khổng Tử đề cập đến nhiều nội dung, nhưng khái quát gồm bốn mặt chủ yếu, đó là triết học, đạo đức, đường lối trị nước và giáo dục Các thế hệ sau đó như Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trình Di, Trình Hạo, …cùng nhiều nhà nho khác đã phát triển học thuyết này làm cho Nho học ngày càng hoàn chỉnh và trở thành hệ tư tưởngchính thống ở Trung Hoa thời trung đại

3.2.3 Pháp gia:

Pháp gia xuất hiện từ thời Xuân thu, là trường phái chủ trương dùng pháp luật để trị nước Người khởi xướng tư tưởng này là Quản Trọng, người nước Tề sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ VII tr.CN Kế thừa ông có nhiều nhà pháp gia sau đó, đặc biệt là Hàn Phi, người đã tập hợp tư tưởng của các nhà

Pháp gia trước đó và viết thành sách Hàn Phi Tử Theo đó, Hàn Phi đã đề xuất một hệ thống chính trị lấy Pháp, Thế và Thuật làm nội dung cơ bản Còn đường lối xây dựng đất nước, theo ông chỉ chú ý vào

sản xuất nông nghiệp và chiến đấu

Áp dụng đường lối Pháp gia, nhà Tần đã củng cố đất nước, phát triển thành một chư hầu giàu mạnh thời Chiến quốc để rồi sau đó thống nhất Trung Hoa Thế nhưng, trường phái này lại quá nhấn mạnh hình pháp, phủ nhận đạo đức, tình cảm, thủ tiêu văn hóa giáo dục – đi ngược lại sự phát triển của văn minh làm cho mâu thuẫn xã hội phát triển Và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nhà Tần sụp đổ nhanh chóng

Bài 3: VĂN MINH ARẬP

1 1.Khái quát lịch sử Arập:

–Là bán đảo lớn nhất trên thế giới, nằm ở Tây Á, ngã 3 của ba châu lục Á, Phi, Âu ¾ đất đai của bán đảo này là sa mạc Đất đai khô cằn cộng với khí hậu sa mạc lục địa nên đến thế kỷ V, bán đảo Arập

có rất ít cư dân sinh sống và hầu như không canh tác được Chỉ có vùng đất phía Tây ven biển Đỏ, phía Nam ven biển Ảrập mới có những đồng bằng nhỏ hẹp chạy xen kẽ với các núi đá Vì thế, nền kinh tế chủ yếu phát triển hai lĩnh vực là chăn nuôi và buôn bán

–Cư dân ở bán đảo Arập nhìn chung chia thành 2 khối cư dân chính: Khối cư dân ở sa mạc trung tâm, đến thế kỷ VI vẫn tồn tại theo bộ lạc, thị tộc, vai trò cao nhất là thủ lĩnh, sống theo nguyên tắc du cư, giữa các thành viên thường có quan hệ huyết thống với nhau Còn khối cư dân ven biển ở phía Tây và Nam đã tiếp xúc với nền văn minh La Mã – Ba Tư bằng con đường buôn bán dẫn đến sự xuất hiện của các thành phố ven biển với tư cách là trung tâm trao đổi hàng hóa Trong các thành phố này, các bộ lạc vẫn giữ nguyên các tập tục, nguyên tắc của mình, họ chỉ liên minh trong lĩnh vực kinh tế Khối cư dân này

ở trình độ phát triển cao hơn đối với khối cư dân ở trung tâm

–Nhà nước Arập ra đời vào năm 630, gắn liền với quá trình hình thành và dựa trên tiêu chí của đạo Hồi (Islam) Mohamed là người sáng lập đạo Hồi và cũng là người đứng đầu nhà nước Arập đầu tiên Sau Mohamed, người đứng đầu nhà nước và tôn giáo ở Arập được gọi là Calipha do quý tộc bầu

ra Năm 661, vương triều Ômayát được thành lập với kinh đô là Đamát, ngôi Calipha trở thành cha

Ngày đăng: 25/12/2017, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w