1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở việt nam

101 264 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những quy định, điều chỉnh các mối quan hệ trong lao động đối với đối tượng là người lao động nước ngoài nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LIỄU THÙY TRANG

PH¸P LUËT VÒ QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG DI TRó

Lµ NG¦êI N¦íC NGOµI ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LIỄU THÙY TRANG

PH¸P LUËT VÒ QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG DI TRó

Lµ NG¦êI N¦íC NGOµI ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG HÙNG HẢI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Liễu Thùy Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 8

1.1 Cơ sở lý luận về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam 8

1.2 Sự cần thiết, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người lao động di trú là người nước ngoài bằng pháp luật 18

1.3 Cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam 21

1.4 Nghĩa vụ quốc gia đối với các điều ước quốc tế có quy định về quyền của người lao động di trú 28

Tiểu kết Chương 1 37

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 38

2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài 38

2.2 Hạn chế của pháp luật Việt Nam về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài 63

Tiểu kết Chương 2 75

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI TRÚ LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 76

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài 76

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam 80

Tiểu kết Chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of

South East Asian Nations)

ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

(International Covenant on Civil and Political Rights) ICESCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn

hóa (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)

ICRMW Công ước quốc tế về bảo về quyền của tất cả người lao

động di trú và các thành viên trong gia đình họ (International Convention on the Protection of the Rights

of All Migrant Workers and Member of their Families) ILO Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization) LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội

UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Universal

Declaration of Human Rights) WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề lao động di trú (hay còn gọi là lao động di trú là người nước ngoài hoặc lao động nước ngoài) ngày càng phổ biến và nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Sự dịch chuyển lao động di trú có tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Cùng với các quốc gia khác, Việt Nam không nằm ngoài những tác động từ toàn cầu hóa kinh tế và dịch chuyển lao động đang trở thành một xu thế phát triển

Việt Nam đang là một quốc gia đang phát triển và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (viết tắt WTO - World Trade Organization) vào năm 2007 đã đánh dấu bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc mở cửa thị trường, hợp tác quốc tế, Việt Nam đang tích cực, chủ động trong đàm phán và

ký kết các hiệp định thương mại tự do mới với các quốc gia khác Tính đến tháng 4/2016, Việt Nam đã tham gia thiết lập 12 hiệp định thương mại tự do (viết tắt FTA - Free Trade Agreemen) với 56 quốc gia và nền kinh tế trên thế giới [40], trong đó gần đây nhất, Việt Nam đã tiến hành kí kết hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (viết tắt TPP - Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) vào ngày 06/02/2016 Đồng thời, Việt Nam cùng các nước trong khu vực ASEAN tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (viết tắt ACE - ASEAN Economic Community) vào ngày 31/12/2015 Việc mở cửa thị trường, tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế, Việt Nam mong muốn cùng các quốc gia trong khu vực và các quốc gia trên thế giới hướng tới một thị trường chung, qua đó gỡ bỏ các

Trang 7

rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư đặc biệt, vấn đề dịch chuyển lao động, lao động kỹ năng và các tiêu chuẩn lao động quốc tế được các quốc gia quan tâm và chú trọng

Từng bước chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang là điểm đến thu hút rất nhiều dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (viết tắt FDI - Foreign Direct Investment) Tính đến tháng 3/2017 cả nước có 23.071 dự án còn hiệu lực đến từ 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 54 tỷ USD (chiếm 17,9% tổng vốn đầu tư) Nhật Bản đứng thứ hai với 42,49 tỷ USD (chiếm 14,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore Đài Loan và Hồng Kông tập trung vào các ngành sản xuất, y tế và dược phẩm, xây dựng

và bất động sản, năng lượng và khai thác tài nguyên thiên nhiên [1] Cùng với việc thu hút được nhiều dự án FDI, nhiều ngành nghề mới đòi hỏi kĩ thuật, công nghệ cao từ các nhà đầu tư nước ngoài và xuất phát từ nhu cầu sử dụng nguồn lao động chất lượng cao nhằm phù hợp với quá trình sản xuất công nghiệp phát triển Trong bối cảnh lao động trong nước tỉ lệ thất nghiệp còn ở mức cao, năm 2016 nước ta có hơn 1,11 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp [2] Việt Nam được biết đến là một quốc gia dồi dào về nguồn nhân lực, tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam được đánh giá

có chất lượng thấp nhất trong khu vực ASEAN Nguồn nhân lực hiện có ở Việt Nam chưa đáp ứng được với những đòi hỏi cao về tay nghề, trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ các nhà đầu tư Vì thế, Đảng, Nhà nước ta đã chủ động khuyến khích, thu hút lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao vào Việt Nam làm việc nhằm bù đắp những thiếu hút nguồn lao động chất lượng cao Đồng thời, tạo ra những yếu tố kích thích sự phát triển của lực lượng lao động trong nước sớm đáp ứng được những đòi hỏi cao của kỹ thuật

và công nghệ tiên tiến, tạo điều kiện cho người lao động trong nước học hỏi

Trang 8

những kỹ năng, tác phong làm việc khoa học trong môi trường lao động sản xuất chuyên nghiệp Do đó, người lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng nhanh Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, trong thời gian 5 năm, từ 2012-2016 lao động nước ngoài tăng từ 70.362 người lên 83.046 người [3], tăng 12.684 người Dòng lao động nước ngoài vào Việt Nam đến từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ rất đa dạng về trình độ, lứa tuổi, tôn giáo, nghề nghiệp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, mở rộng hợp tác như hiện nay, Việt Nam sẽ tiếp tục là một thị trường tiềm năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với dòng vốn lưu chuyển vào trong nước với con số lớn Do đó, nhu cầu

sử dụng nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao theo đó cũng tăng lên

và người lao động có kỹ năng được tự do dịch chuyển trong khu vực ASEAN bắt đầu phát triển Vì vậy, nhằm thực hiện tối ưu hóa chính sách thu hút lao động nước ngoài có tay nghề, các chính sách pháp luật nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích của người lao động nước ngoài và gia đình của họ đến Việt Nam sinh sống và làm việc là điều đáng được Đảng và Nhà nước quan tâm

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những quy định, điều chỉnh các mối quan hệ trong lao động đối với đối tượng là người lao động nước ngoài nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động từ các quốc gia khác đến Việt Nam làm việc Bộ Luật lao động 2012 và Nghị định 11/2016/ NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam là hai văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp các quyền về lao động của người lao động nước ngoài, bên cạnh đó, một số quyền về lao động của người lao động được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành như Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc, Luật Bảo hiểm y – tế bắt buộc Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 được ban hành, đồng thời, trong quá trình thực hiện pháp luật, pháp luật lao động

về quyền của người lao động nước ngoài bộc lộ những quy định không còn

Trang 9

phù hợp với thực tế hoặc chưa tương thích với pháp luật quốc tế về lao động

di trú Mặt khác, trong trường hợp Hiệp định TPP có hiệu lực, Hiệp định yêu cầu các quốc gia thành viên hoàn thiện pháp luật lao động quốc gia theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực về lao động tại nơi làm việc theo Tuyên bố 1998 của ILO Vì vậy, pháp luật lao động Việt Nam đòi hỏi cần sửa đổi, bổ sung toàn diện được định hướng bởi các tiêu chuẩn lao động quốc tế nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích cơ bản, tạo mọi điều kiện để người lao động nước ngoài có thể tiếp cận và hưởng thụ các quyền và lợi ích đó Đồng thời, với những nhận thức mới tại Hiến pháp 2013, việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người cơ bản sẽ là nền tảng cốt lõi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền của người lao động nước ngoài Do đó, việc nghiên cứu và nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động

di trú là người nước ngoài ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết

Vì những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài “Pháp luật về quyền

của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam” làm luận văn

thạc sỹ của mình với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam

2 Tổng quan tinh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài là một đề tài mới Đã có một số công trình nghiên cứu nghiên cứu về vấn đề này:

Luận văn thạc sỹ luật học (2011), “Pháp luật về sử dụng lao động nước

ngoài ở Việt Nam”, Trần Thu Hiền, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế,

Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sỹ luật học (2014), “Hoàn thiện pháp luật về quyền của

người lao động di trú”, Bùi Thị Hòa, học viên chuyên ngành pháp luật về

quyền con người, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 10

Luận văn thạc sỹ luật học (2015), “Pháp luật về quản lý lao động nước

ngoài tại Việt Nam”, Phạm Thị Hương Giang, học viên chuyên ngành Luật

Kinh tế, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2011

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhưng kiến thức về lao động di trú trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam dưới góc độ pháp lý và thực tiễn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài Vì vậy, kế thừa những thành tựu của những người đi trước, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn hệ thống pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam trong tình hình mới

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý quốc tế liên quan đến quyền của người lao động di trú trong hệ thống pháp luật quốc gia về quyền của lao động di trú

là người nước ngoài ở Việt Nam Qua đó, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau:

Luận văn luận giải, làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài

Luận văn phân tích và làm rõ thực trạng các quy định về quyền của người lao động di trú trong pháp luật quốc gia và xét tính tương thích trong các quy định về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài với các tiêu chuẩn, chuẩn mức quốc tế về lao động Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập và hạn chế trong pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 11

Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam được định hướng bởi các tiêu chuẩn, chuẩn mức quốc tế về lao động

5 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung pháp luật về quyền của người lao động tri trú là người nước ngoài trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu pháp luật Việt Nam về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài với tư cách là người lao động, không nghiên cứu quyền của người sử dụng lao động

Về phạm vi thời gian, luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật

về quyền của người lao động nước ngoài trong các văn bản pháp luật kể từ thời điểm BLLĐ năm 2012 được Quốc Hội thông qua vào ngày 18/06/2012 cho đến thời điểm hoàn thiện luận văn vào ngày 30/09/2017

7 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về nhà nước, pháp luật về quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế về quyền con người

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, cụ thể là: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp luật học so sánh làm nền tảng cơ bản cho quá trình nghiên cứu

8 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những chuẩn mực quốc tế về lao động Đồng thời, phân tích và làm rõ những ưu điểm trong việc ghi nhận các quyền lợi của người lao động di trú và những khó khăn, hạn chế trong việc đảm bảo quyền về lao động của người lao động di trú trong pháp luật lao động Việt

Trang 12

Nam Từ đó, luận văn đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người lao động di trú ở Việt Nam

Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đào tạo về pháp luật về quyền con người và xây dựng và hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền của người lao động di trú ở Việt Nam

9 Bố cục luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về quyền của người lao động di trú là

người nước ngoài ở Việt Nam

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quyền của người lao động di trú là

người nước ngoài

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của

người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

DI TRÚ LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm người lao động di trú là người nước ngoài

Từ đầu thế kỷ XXI, tình trạng người lao động từ nước này sang nước khác làm việc đã thực sự nổi lên như là một trong những xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa Vấn đề quản lý lao động di trú nói chung, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di trú nói riêng đang là một vấn đề được các quốc gia quan tâm trong đó có Việt Nam

Dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người của trung tâm nghiên cứu quyền con người- quyền công dân của Khoa luật- Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định:

Đi kèm với quá trình toàn cầu hóa là vấn đề di cư lao động quốc tế Nhiều nghiên cứu cho thấy, chưa có thời kỳ nào trong lịch

sử nhân loại, tình trạng di cư lao động quốc tế lại phổ biến như hiện nay [16] và Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, dự đoán vấn đề lao động di trú sẽ trở nên hết sức phổ biến trong thế kỷ XXI và là một đặc trưng chủ yếu của thế kỷ này [15]

Ở góc độ của nhà quản lý, TS Nguyễn Thị Hải Vân, Cục trưởng Cục việc làm, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đã đưa ra

nhận định: “Trong xu thế mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt

Nam, lao động là người nước ngoài vào nước ta làm việc cũng là một xu thế tất yếu” [28] Đồng quan điểm với Bà Nguyễn Thị Hải Vân, TS Lưu

Bình Nhưỡng cũng có quan điểm: “Người nước ngoài vào Việt Nam làm

Trang 14

việc là xu thế tất yếu do quá trình toàn cầu hóa quan hệ xã hội và hội nhập kinh tế” [25]

Với một nội dung như nhau, các tác giả sử dụng các thuật ngữ pháp lý

có sự khác nhau như “lao động di trú”, “lao động nước ngoài”, “di cư lao động” Qua đó, có thể nhận thấy nội hàm của các thuật ngữ pháp lý này có sự tương đồng

Thuật ngữ “Migrant worker” khi được dịch sang tiếng việt có hai các dịch khác nhau Theo Tổ chức di cư quốc tế ở Việt Nam “Migrant worker” được dịch là lao động di cư, bên cạnh đó theo nhiều tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ này được dịch là lao động di trú Nhìn chung, thuật ngữ “lao động

di trú” được hiểu là người lao động tạm thời di chuyển từ vùng này sang vùng khác để tìm việc Có thể là di chuyển từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi biên giới của một quốc gia hoặc là di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác [12]

Trên thế giới, thuật ngữ này cũng có nhiều định nghĩa khác nhau: Tổ chức Lao động quốc tế - ILO thông qua Công ước số 97 về di trú tìm việc làm (sửa đổi 1949) và đến năm 1975 thông qua Công ước số 143 về di trú trong những điều kiện bị lạm dụng và về xúc tiến bình đẳng cơ may và đối

xử đối với người lao động di trú Theo hai công ước này, ILO định nghĩa lao động di trú là khái niệm chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác để làm việc vì lợi ích của chính mình và bao gồm bất kỳ người nào đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú (Điều 11 Công ước

số 97 và Điều 11 Công ước số 143) Dấu hiệu nhận biết lao động di trú ở đây dựa trên những khác biệt về lãnh thổ, biên giới quốc gia, là việc di chuyển của người lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác Nói cách khác, trên cơ sở quốc tịch của công dân, dấu hiệu nhận biết lao động di trú

là sự di chuyển của người lao động từ nước mà người đó mang quốc tịch

Trang 15

sang nước khác mà người đó không mang quốc tịch Mặt khác, khái niệm

lao động di trú của ILO chỉ sử dụng cho người lao động “đã được thường

xuyên thừa nhận là lao động di trú” [36, Điều 11] tức là những người lao

động di cư hợp pháp, được chấp nhận của nước đến

Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và gia đình của

họ (ICRMW) được coi là điều ước quốc tế trực tiếp nhất và toàn diện nhất về quyền của người lao động di trú Công ước xác định khái niệm người di trú rộng và bảo vệ cả quyền của người lao động di trú và thành viên của gia đình họ ICRMW dựa trên việc xác định một người là công dân của một quốc gia hay không, tức là ICRMW căn cứ vào quốc tịch của người đó để xác định rằng người đó có phải là người lao động di trú hay không ICRMW

giải thích: Khái niệm “lao động di trú” để chỉ “một người đã, đang và sẽ làm

một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [21, Khoản 1, Điều 2] Đây là một khái niệm được đánh giá là toàn

diện và làm rõ các đặc trưng cơ bản của người lao động di trú, đó là người nước ngoài đối với nước sở tại và người đó đã, đang, hoặc sẽ làm một công việc có thu nhập do người sử dụng lao động chi trả Vì thế, việc xác định một người có phải là công dân của một nước ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của người đó tại nước sở tại Đặc biệt, trong lĩnh vực lao động di trú, mỗi quốc gia có thể đưa người lao động trong nước ra nước ngoài làm việc, đồng thời chấp nhận, cho phép người lao động nước ngoài vào trong nước làm việc như một hiện thực khách quan

Ở Việt Nam, thuật ngữ “người lao động di trú là người nước ngoài” không được sử dụng phổ biến Thay vào đó, trong giới học thuật và nghiên cứu chủ yếu sử dụng thuật ngữ “lao động di trú”, “lao động di cư”, trong pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “lao động nước ngoài” thường được sử dụng phổ biến Theo BLLĐ năm 2012, người lao động nước ngoài muốn vào Việt Nam

Trang 16

làm việc phải là công dân nước ngoài và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam, xác định các hình thức làm việc của người

nước ngoài ở Việt Nam như sau: “Lao động là công dân nước ngoài vào làm

việc ở Việt Nam (sau đây gọi là người lao động nước ngoài) theo các hình thức sau đây: …” [7] Như vậy, BLLĐ năm 2012 và Nghị định số 11/2016/NĐ-CP

không đưa ra khái niệm về “người lao động di trú là người nước ngoài” mà khái niệm người lao động nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất

cả các công dân nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam

Dựa trên những phân tích đã nêu và căn cứ vào Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của

Bộ Luật lao động về người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam, khái

niệm “Lao động di trú là người nước ngoài” được hiểu là người lao động

không có quốc tịch Việt Nam và đến Việt Nam làm việc theo hình thức hợp đồng lao động và các hình thức khác

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thuật ngữ “người lao động di trú là người nước ngoài”, “lao động di trú”, “lao động nước ngoài” được sử dụng đồng nhất và là khái niệm dùng để chỉ người lao động là công dân nước ngoài đến Việt Nam làm việc dưới các hình thức nhất định

1.1.2 Khái niệm “quyền của người lao động di trú là nước ngoài” ở Việt Nam

Khái niệm quyền của người lao động di trú là người nước ngoài có thể được tiếp cận và được luận giải dưới nhiều góc độ, theo từng ngành nghiên cứu Với cách tiếp cận dựa trên quyền con người, khái niệm quyền của người lao động di trú là người nước ngoài được giải thích trên nền tảng các quyền con người cơ bản từ đó làm rõ các quyền lao động của người lao động di trú

Trang 17

là người nước ngoài và các khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm đảm bảo các quyền của nhóm người này

Trên phương diện quốc tế, có rất nhiều khái niệm quyền con người được công bố, theo định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp quốc thường

xuyên được trích dẫn: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu

có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc

sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [20] Có thể hiểu quyền con người được cấu thành bởi hai yếu

tố: (i) Quyền con người cơ bản là những quyền tự nhiên, vốn có của con người,

mà chỉ con người mới có (ii) Các quyền tự nhiên vốn có đó được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh và bảo vệ Quyền con người cần có sự thống nhất bởi hai yếu tố này trong pháp luật quốc tế và pháp luật của từng quốc gia [26]

Bản thân người lao động di trú là người nước ngoài với tư cách là một con người, họ có quyền được hưởng những quyền con người mà bất kì một con người nào trên thế giới đều được hưởng trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền này được pháp luật quốc tế ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp lý như: Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về dân sự, chính trị

và công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966

Về cơ bản, quyền được lao động cũng là một quyền con người Nói cách khác, quyền con người trong lao động là những quyền con người liên quan đến các điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động bao gồm các quyền việc làm, quyền được hưởng lương, các quyền trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, an sinh xã hội hay hoạt động công đoàn Bên cạnh các quyền lao động cơ bản của con người, quyền lao động của người lao động

di trú mang đặc điểm của nhóm người dễ bị tổn thương và dễ bị xâm hại Để đảm bảo các quyền lao động của người lao động di trú, pháp luật quốc tế đã

Trang 18

xây dựng một khuôn khổ pháp lý bao gồm những tiêu chuẩn, chuẩn mực chung về quyền lao động của người lao động di trú, đòi hỏi các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng, thực hiện và thúc đẩy quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động di trú Khuôn khổ pháp lý về quyền của người lao động di trú được xây dựng trên nền tảng các văn kiện quốc tế ghi nhận các quyền về lao động cơ bản của lao động di trú bao gồm:

Các quyền về lao động trong lĩnh vực lao động di trú được ghi nhận và bảo vệ trong các văn kiện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ILO đã xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế nhằm quy định và bảo vệ quyền của người lao động thông qua việc ban hành nhiều Công ước và khuyến nghị Đến nay, ILO đã thông qua 189 công ước và 203 khuyến nghị liên quan đến lao động, việc làm cho người lao động Đây chính là những công cụ pháp lý chủ yếu và quan trọng nhằm bảo đảm các quyền cho người lao động nói chung và người lao động di trú nói riêng

Công ước quốc tế về lao động di trú và thành viên gia đình họ được Liên Hợp Quốc thông qua Đây là công ước trực tiếp và toàn diện nhất nhằm bảo vệ quyền của người lao động di trú (hợp pháp hoặc bất hợp pháp) và các thành viên gia đình họ khi họ làm việc ngoài quốc gia của mình Công ước đã xây dựng chuẩn mực bắt buộc về đối xử, công việc, quyền của những người lao động di trú nhằm chấm dứt tình trạng vi phạm quyền của họ vẫn thường xảy ra Ngoài ra, Công ước cũng đề cập đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, lao động, kinh tế, xã hội, văn hóa, cho đến các quyền mang tính chất đặc trưng của người lao động di trú Đồng thời, quyền của người lao động di trú cũng được ghi nhận thông qua các công ước quốc tế khác của Liên Hợp Quốc như ICCPR, ICESCR

Ở phương diện quốc gia, quyền của người lao động di trú được hiểu là quy chế pháp lý của quốc gia tiếp nhận lao động được ghi nhận trong hệ

Trang 19

thống pháp luật áp dụng cho những người lao động từ các quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận lao động đó làm việc Đối với những quốc gia là thành viên của các Công ước quốc tế về lao động di trú, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện các cam kết được ghi nhận trong các Công ước quốc tế đó Khi đó, quốc gia là thành viên của các Công ước quốc tế về lao động di trú có nghĩa vụ nội luật hóa Công ước quốc tế về lao động di trú vào pháp luật quốc gia, trong đó, ghi nhận các quyền về lao động của người lao động di trú phù hợp với điều kiện, kinh tế - xã hội, pháp luật của quốc gia thành viên đó Nói cách khác, trong khuôn khổ các quốc gia thành viên của các Công ước quốc tế

về lao động di trú, quốc gia thành viên là quốc gia tiếp nhận lao động từ một quốc gia khác đến làm việc phải đáp ứng cho người lao động di trú các quyền lợi cơ bản, bao gồm các quyền con người cơ bản và các quyền về lao động của người lao động di trú thông qua việc ghi nhận, điều chỉnh, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của người lao động di trú trong hệ thống pháp luật quốc gia

Với cách tiếp cận trên nền tảng các quyền con người cơ bản, Quyền của

người lao động di trú là người nước ngoài có thể hiểu là những đảm bảo pháp lý (bao gồm các quyền con người cơ bản và các quyền về lao động) của của quốc gia sở tại áp dụng đối với người nước ngoài đến sinh sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia sở tại đó

1.1.3 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quyền của người lao động

di trú là người nước ngoài ở Việt Nam

Pháp luật về quyền của người lao động di trú được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự, mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích cơ bản của người nước ngoài vào nước sở tại để sinh sống và làm việc Nói cách khác, pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài là một bộ phận nằm trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể những đảm bảo pháp lý

Trang 20

được Nhà nước quy định dành cho đối tượng là người lao động là công dân nước ngoài làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, nhằm điều chỉnh các mối quan

hệ trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam cần được xây dựng trên các nguyên tắc nền tảng từ đó tạo nên một hành lang pháp lý nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài Pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam được xây dựng trên một số nguyên tắc cơ bản:

Thứ nhất, tôn trọng các quyền con người

Tôn trọng các quyền con người là nguyên tắc cốt lõi trong quá trình xây dựng khuôn khổ pháp luật quốc tế và được các quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện Pháp luật về quyền của người lao động di trú trong hệ thống pháp luật Việt Nam luôn đặt quyền con người vào vị trí trung tâm Mặc dù, người lao động di trú không có quốc tịch Việt Nam nhưng người lao động di trú là một chủ thể hưởng thụ quyền, cụ thể là các quyền con người cơ bản Do

đó, người lao động di trú vào Việt Nam làm việc theo con đường hợp pháp hay bất hợp pháp đều được pháp luật Việt Nam tôn trọng, bảo đảm các quyền con người cơ bản Mặt khác, trên nền tảng các quyền con người cơ bản, các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện nhằm tạo mọi điều diện toàn diện nhất để người lao động di trú hưởng thụ và thực hiện các quyền lợi hợp pháp và chính đáng Vì thế, khi xây dựng pháp luật về quyền của người lao động di trú cần dựa trên nguyên tắc công nhận,

tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo thực hiện và thúc đẩy các quyền con người cơ bản

Thứ hai, đảm bảo phát triển kinh tế và bảo vệ việc làm cho người lao động trong nước

Trong bối cảnh đang từng bước hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài

Trang 21

nhằm phát triển kinh tế Số lượng lớn lao động nước ngoài tăng nhanh trong

xã hội, tạo điều kiện cho người sử dụng lao động có cơ hội lựa chọn người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật phù hợp với quá trình sản xuất và thúc đẩy cạnh tranh, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế Tuy nhiên, số lượng lao động nước ngoài tăng nhanh khiến cơ hội tìm kiếm việc làm cho người lao động trong nước chủ yếu là lao động phổ thông bị sụt giảm, các vấn đề xã hội gia tăng gây áp lực lên việc hoạch định các chính sách của nhà nước Vì vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật về người lao động di trú là người nước ngoài, pháp luật lao động Việt Nam cần có những quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút được nguồn lao động nước ngoài chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được quỹ việc làm dành cho người lao

động trong nước

Thứ ba, đảm bảo an ninh chính trị - quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Người lao động di trú vào Việt Nam làm việc tăng nhanh trong những năm qua và mang lại những tác động tích cực trong quá trình phát triển kinh

tế Tuy vây, người lao động di trú vào Việt Nam cũng đem đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng:

Về văn hóa - xã hội: Trong thị trường lao động Việt Nam hiện nay, rất nhiều lao động nước ngoài làm việc không có giấy phép lao động Họ vào Việt Nam theo rất nhiều hình thức như thông qua hình thức du lịch và ở lại Việt Nam làm việc hoặc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không qua quản lý Việc nhập cư trái phép của người lao động nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam không chỉ gây nên tình trạng bất ổn về trật tự an ninh, các loại tội phạm xuyên quốc gia có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng như tội phạm về buôn bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia, mại dâm, tội buôn bán phụ nữ và trẻ em với các hình thức phạm tội đa dạng và tinh vi hơn Tính chất, mức độ nguy hiểm cao, do tội phạm lợi dụng những kẽ hở của pháp luật về quản lý lao động nhập

Trang 22

cư Mặt khác, lao động di trú đến từ rất nhiều quốc gia khác nhau vào Việt Nam làm việc, những lối sống, tư tưởng, văn hóa ngoại lai không phù hợp với truyền thống, văn hóa, thuần phong mỹ tục của người Việt theo đó du nhập vào Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực tới bản sắc văn hóa dân tộc

Về an ninh chính trị và quốc phòng: Với những bất đồng, khác biệt về ngôn ngữ, tôn giáo, lối sống, quan điểm cá nhân đặc biệt là sự khác biệt về chế độ chính trị là những nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột và bất ổn giữa người lao động nước ngoài và người lao động bản địa trong

xã hội Trong bối cảnh đó, nhiều thế lực thù địch lợi dụng những mâu thuẫn trong xã hội, về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo chống phá các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước gây bất ổn xã hội, đe dọa tới an ninh chính trị và quốc phòng Do đó, đảm bảo an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng pháp luật về quyền của người lao động di trú Bởi, pháp luật cần tính đến những ảnh hưởng tiêu cực của người lao động di trú đối với các vấn đề văn hóa, xã hội, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội nhằm xây dưng cơ chế quản lý có hiệu quả lao động nước ngoài trên nền tảng các quyền cơ bản

của người lao động nước ngoài vẫn được đảm bảo bằng pháp luật

Thứ tư, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài

Là hệ quả tất yếu của nguyên tắc tôn trọng quyền con người, nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật về quyền của người lao động di trú là người nước ngoài không phân biệt đối xử, đảm bảo bình đẳng giữa người lao động nước ngoài và người lao động trong nước, giữa người lao động nước ngoài là công dân của các quốc gia khác nhau đang làm việc ở Việt Nam Nói cách khác, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài phải được tôn trọng, thực hiện và đảm bảo giống như quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong nước [11]

Trang 23

Như vậy, pháp luật về quyền của người lao động di trú bao gồm tổng thể các quy tắc xử sự, mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích cơ bản của người nước ngoài vào nước sở tại để sinh sống và làm việc được xây dựng trên các nguyên tắc tôn trọng các quyền con người cơ bản, đảm bảo an ninh chính trị - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo phát triển kinh tế và bảo vệ quỹ việc làm cho người lao động trong nước trên tinh thần tôn trọng các quyền và lợi ích cơ bản của người lao động nước ngoài

1.2 Sự cần thiết, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người lao động

di trú là người nước ngoài bằng pháp luật

Cùng với quá trình toàn cầu hóa là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,

di cư vì việc làm là không tránh khỏi Người lao động di trú là đối tượng rất

cần được bảo vệ bằng pháp luật của mỗi quốc gia bởi một số lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ đặc trưng của người lao động di trú, theo pháp

luật về quốc tế quyền con người, người lao đông di trú là một trong số nhóm người dễ bị tổn thương được pháp luật quốc tế bảo vệ Các quyền và lợi ích của người lao động đi trú được bảo vệ bằng pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhóm lao động này Người lao động di trú tuy cũng là một chủ thể được hưởng quyền giống như tất cả mọi người nhưng họ là người mang quốc tịch của một quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận lao động để làm việc,

vì thế, các quyền và lợi ích của họ không được đảm bảo tối đa bằng pháp luật của quốc gia họ mang quốc tịch mà phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động Do đó, người lao động di trú dễ bị phân biệt đối

xử, các quyền và lợi ích của họ dễ bị vi phạm bởi các cơ quan công quyền hoặc cản trở, gây khó khăn cho người lao động di trú trong việc hưởng thụ các quyền cơ bản Vì vậy, nhằm hạn chế những bất lợi mà người lao động di trú gặp phải từ các chủ thể khác, quyền của người lao động di trú rất cần được

Trang 24

ghi nhận và bảo về bằng pháp luật mỗi quốc gia dựa trên nguyền tắc bình

đẳng và không phân biệt đối xử

Thứ hai, lao động di trú đến quốc gia tiếp nhận lao động từ rất nhiều

quốc gia khác nhau,với nhiều nền văn hóa, dân tộc khác nhau, kéo theo nhiều bất đồng về ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống nên việc xuất hiện các vấn đề về xung đột, mâu thuẫn với người bản địa là điều không thể tránh khỏi Pháp luật sẽ là công cụ điều tiết và đảm bảo lợi ích giữa các bên trong các mối quan hệ Từ đó, các xung đột, mâu thuẫn sẽ có hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi của các cá nhân (lao động nước ngoài với lao động trong nước

và giữa lao động là công dân của các quốc gia khác nhau) trong quá trình tham gia vào các mối quan hệ tránh gây ảnh hưởng hoặc có hành vi xâm phạm đến quyền lợi của các chủ thể khác trong xã hội

Đối với đối tượng người lao động di trú là người lao động làm việc bất hợp pháp theo quy định của quốc gia tiếp cận lao động, thông thường, pháp luật các quốc gia sẽ áp dụng hình thức trục xuất người lao động làm việc bất hợp pháp ra khỏi quốc gia tiếp nhận lao động Trong quá trình làm việc, người lao động làm việc bất hợp pháp không được pháp luật quốc gia tiếp nhận lao động công nhận và luôn trong tình trạng có thể bị trục xuất bất cứ lúc nào bởi cơ quan nhà nước Đồng thời, do bối cảnh đặc thù là sống và làm việc ở xa quê hương, đất nước, họ phải đối mặt với hàng loạt khó khăn khác như bị bóc lột sức lao động, bất đồng ngôn ngữ, tình trạng thiếu nhà ở, thiếu các dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục Vì thế, thực tiễn đặt ra nhu cầu cần phải xây dựng các quy định pháp lý nhằm điều chỉnh, đảm bảo các quyền cơ bản cho nhóm lao động di trú bất hợp pháp và tạo điều kiện đưa nhóm lao động

này quay trở về với quốc gia, quê hương của họ

Thứ ba, lao động di trú có tác động hai chiều đối với quốc gia tiếp nhận

lao động

Đối với nhóm lao động không có tay nghề hoặc trình độ kém, họ có vai

Trang 25

trò bù đắp sự thiếu hụt lao động ở các nước tiếp nhận lao động là các nước phát triển Đối với các nước đang phát triển, số lượng lớn người lao động trong xã hội chủ yếu là người lao động thiếu kĩ năng làm việc, không có trình

độ chuyên môn và chủ yếu là lao động phổ thông Nhìn chung, đối với các nước đang phát triển tiếp nhận luồng lao động không có tay nghề hoặc trình

độ càng tạo áp lực, gánh nặng cho nền kinh tế, làm dư thừa nguồn lao động phổ thông trong nước, đó là thách thức lớn cho các nước đang phát triển tiếp nhận luồng lao động này

Đối với luồng lao động có tay nghề có trình độ cao, họ góp phần đưa nhanh các tiến bộ của khoa học công nghệ và quản lý tiên tiến vào sản xuất, nâng cao chất lượng, góp phần đẩy mạnh đầu tư, mở rộng thị trường Tất cả các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đều muốn thu hút luồng lao động này

Dưới những tác động của người lao động di trú, các quốc gia tiếp nhận lao động cần có những quy định pháp luật trên cơ sở xác định nhu cầu sử dụng lao động di trú phù hợp với tình hình phát triển của quốc gia, nhằm bảo

vệ quyền lợi của người lao động di trú toàn diện nhất

Thứ tư, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di trú

bằng pháp luật là một trong những nghĩa vụ mang tính chất bắt buộc chung

mà các quốc gia cam kết thực hiện khi là thành viên của các công ước quốc tế

về lao động di trú

Thứ năm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di

trú bằng pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, kí kết các hiệp định song phương hoặc đa phương trong lĩnh vực lao động di trú

Từ tất cả các khía cạnh về xu thế phát triển, thực trạng, những tác động

và đặc điểm của người lao động di trú, có thể thấy việc xác lập khuôn khổ pháp lý đảm bảo quản lý di cư lao động và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp

Trang 26

của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ là rất cần thiết nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả và hạn chế các tác động tiêu cực của lực lượng lao động này đem lại

1.3 Cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền của người lao động di trú là người nước ngoài ở Việt Nam

1.3.1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ

Mặc dù trong hệ thống các điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú bao gồm nhiều văn kiện, cho đến nay, Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ vẫn được coi là điều ước trực tiếp và toàn diện nhất về vấn đề này [19]

Công ước đã ghi nhận một hệ thống quyền con người của người lao động di trú khá toàn diện và cụ thể, đóng vai trò nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động di trú trên thực tế Mặt khác, Công ước cũng đã tính đến những hoàn cảnh và nhu cầu đặc thù của nhóm Những đặc thù này chỉ có thể áp dụng với người lao động di trú mà không thể

áp dụng với bất kì nhóm nào khác Nội dung chính của công ước bao gồm:

Các quyền con người cơ bản được đề cập trong Phần III (từ Điều 8 - 32) của ICRMW Tại phần III này, công ước tái khẳng định các quyền dân sự, chính trị được ICCPR ghi nhận và được áp dụng dành cho tất cả mọi người lao động di trú kể cả lao động hợp pháp, lao động bất hợp pháp và gia đình của họ, bao gồm các quyền: quyền sống (Điều 9), quyền không bị tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (Điều 10), quyền tự do ngôn luận (Điều 13) Các quyền cơ bản trong Phần III của Công ước nhằm bảo đảm cho mọi người lao động di trú, kể cả những người lao động di trú không có giấy tờ hợp pháp, trong mọi trường hợp đều không bị phân biệt đối xử, được tôn trọng và được hưởng các quyền con người cơ bản

mà bất kì một thành viên nào trong cộng đồng nhân loại đều được hưởng thụ

Trang 27

Ngoài các quyền chung áp dụng cho mọi người lao động di trú, những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ có giấy tờ hợp pháp được hưởng các quyền khác nêu trong Phần IV Công ước (từ Điều 36-56), bao gồm các nhóm quyền liên quan đến bình đẳng, không phân biệt đối xử, hỗ trợ tiếp cận đối với các dịch vụ về giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm giống như công dân của quốc gia mà người lao động di trú đến làm việc Các quy định trong phần IV của Công ước là những đảm bảo pháp lý chắc chắn hơn dành cho những người lao động di trú và gia đình của họ khi có giấy tờ hợp pháp Bởi,

họ là người lao động di trú được pháp luật quốc tế công nhận, các quyền lợi của họ sẽ được quốc gia tiếp nhận lao động tôn trọng, đảm bảo không phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng như công dân của nước tiếp nhận lao động

1.3.2 Công ước về lao động của Tổ chức Lao Động Thế giới (ILO)

Tổ chức lao động thế giới (ILO) được thành lập vào năm 1919 và đến nay, đã có 186 thành viên tham gia tổ chức quốc tế này Là tổ chức tiên phong trong vấn đề pháp điển hóa các quy định quốc tế về di cư lao động, ILO đã thông qua nhiều văn kiện đề cập đến việc bảo vệ người lao động di trú, dưới hai hình thức chủ yếu là các Công ước và Khuyến nghị Trong quá trình hoạt động, ILO đã thông qua 189 công ước, 6 nghị định thư và 203 khuyến nghị về đảm bảo các quyền về lao động của con người [10], nhằm thúc đẩy việc làm cho tất cả mọi người, mọi người lao động đều được làm việc trong điều kiện

tự do, công bằng, bảo đảm và tôn trọng nhân phẩm

Hiện nay, ILO xác định bốn mục tiêu chiến lược trong mọi hoạt động,

đó là:(i) Thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn, các nguyên tắc và các quyền

cơ bản của người lao động tại nơi làm việc;(ii) Tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới có việc làm và thu nhập bền vững; (iii) Mở rộng đối tượng thụ hưởng và hiệu quả của chính sách an sinh xã hội cho tất cả mọi người; (iv) Tăng cường đối thoại xã hội và cơ chế ba bên trong lĩnh vực lao động

Trang 28

Nhằm mục đích xây dựng những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế tại nơi làm việc dành cho người lao động, ILO đã thông qua Tuyên bố 1998 và đưa ra 8 Công ước cơ bản thể hiện quan điểm của các quốc gia thành viên của ILO về những chuẩn mực cơ bản về lao động tại nơi làm việc mà các quốc gia thành viên của ILO cần tuân thủ đó là:

 Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và

người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 về “Tự do hiệp hội và bảo vệ

quyền được tổ chức” và Công ước số 98 về “Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể” của ILO);

 Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số

29 về “Lao động cưỡng bức và bắt buộc” và Công ước số 105 về “Xóa bỏ lao

động cưỡng bức” của ILO);

 Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em

tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 về “Tuổi tối thiểu được đi làm việc” và Công ước số 182 về “Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” của ILO);

 Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp

(theo Công ước số 100 về “Trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho

một công việc có giá trị ngang nhau” và Công ước số 111 về “Chống phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp” của ILO)

Trên nền tảng của những chuẩn mực chung về lao động, ILO cũng đã

bảo vệ quyền của người lao động di trú thông qua Công ước số 97 về “Lao

động di trú về việc làm” (sửa đổi năm 1949) và Công ước số 143 về “Lao động di trú trong hoàn cảnh bị lạm dụng và về việc thúc đẩy cơ hội và đối xử bình đẳng với người lao động di trú” (các quy định bổ sung) Công ước số 97

và Công ước số 143 được coi là hai Công ước ước nền tảng của ILO về lao động di trú, nội dung chính của hai Công ước đề cập đến tất cả các vấn đề

Trang 29

phát sinh trong toàn bộ quá trình di trú lao động, kể từ khi người lao động ở quốc gia gốc, trong quá trình làm việc tại nước nhận lao động và cho tới khi kết thúc quá trình làm việc trở về nước

Quyền về lao động của người lao động di trú được đảm bảo thông qua các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản, bởi các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO là các quyền cơ bản của người lao động nói chung tại nơi làm việc, những quyền này gắn chặt với quyền con người được thừa nhận rộng rãi trên phạm vi toàn cầu.Với các tiêu chuẩn lao động chung được công đồng quốc tế ghi nhận, vai trò của người lao động này càng được các quốc gia coi trong trên cơ sở cách tiếp cận họ là những người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Vì thế, người lao động nói chung là người phải được hưởng các quyền lợi đầu tiên nhất Trên cơ sở cách tiếp cận này, việc đảm bảo các quyền lợi của người lao động di trú thông qua các quyền lợi cơ bản của người lao động tại nơi làm việc là một trong những nội dung cơ bản về lao động buộc các quốc gia thành viên cam kết thực hiện không chỉ trong phạm vi thực hiện nghĩa vụ quốc gia đối với Công ước mà còn là nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia khi tham gia các hiệp định thương mai tự do thế hệ mới trên thế giới hiện này

1.3.3 Quyền của người lao động di trú trong các điều ước quốc tế về quyền con người khác của Liên hợp quốc

Kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập, các quyền con người đã được ghi nhận bởi pháp luật quốc tế Liên Hợp Quốc khẳng định việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người là một trong những mục tiêu hoạt động của Liên Hợp Quốc trong quá trình duy trì hòa bình và an ninh thế giới.Trong hệ thống các văn kiện về quyền con người của Liên Hợp Quốc, các quyền về lao động của người lao động di trú được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các

quyền con người ở một số các văn kiện của Liên Hợp Quốc có thể kể đến:

Trang 30

Hiến chương Liên Hợp Quốc

Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định: Việc nâng cao mức sống, đảm bảo cho mọi người đều có công ăn việc làm và những điều kiện tiến bộ

và phát triển trong lĩnh vực kinh tế, xã hội trên tinh thần tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và các tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo Với mục đích nhằm tạo những điều kiện ổn định và những điều kiện đem lại hạnh phúc cần thiết để duy trì những quan hệ hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc, là điều

mà Liên hợp quốc luôn khuyến khích Bằng việc khẳng định quyền lao động trên nền tảng quyền con người trong Hiến chương Liên Hợp Quốc đã tạo cơ

sở pháp lý cho việc thiết lập các tiêu chuẩn và cơ chế quốc tế về quyền con người trong đó có các quyền về lao động của con người Thông qua Hiến chương, quyền lao động của con người được thừa nhận dựa trên sự tôn trọng

và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người Đây là một trong các

nguyên tắc quan trong trong các hoạt động của Liên Hợp Quốc

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (viết tắt UDHR- Universai Declaration of Human Rights), năm 1948

UDHR là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên tập trung, xác định một tập hợp những quyền và tự do cụ thể, cơ bản của con người trên tất cả mọi phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Các quyền về lao động của con người được UDHR ghi nhận bao quát và toàn diện: Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp; Quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử; Quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và

Trang 31

hợp lý, được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện pháp bảo trợ xã hội; các quyền an sinh xã hội; Quyền được nghỉ ngơi và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có hưởng lương; Quyền thành lập, gia nhập công đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình [21] Các quyền về lao động của con người trong UDHR được coi là khuôn mẫu chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc hướng tới, đặt nền tảng pháp lý cho việc hình thành hai công ước quốc tế của Liên Hợp

Quốc về quyền con người sau này

Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị (viết tắt ICCPR - International Covenant on Civil and Political Rights), năm 1966

ICCPR là công ước cụ thể hóa các quy định trong UDHR đề cập đến các chuẩn mực quốc tế về quyền dân sự, chính trị - một trong hai nhóm quyền chính cấu thành các quyền tự do cơ bản của con người Trong ICCPR quyền của người lao động được đề cập thông qua quyền được bảo vệ khỏi bị bắt làm

nô lệ, nô dịch ICCPR nêu rõ: Không ai bị bắt làm nô lệ; mọi hình thức nô lệ

và buôn bán nô lệ đều bị cấm; Không ai bị bắt làm nô dịch; Không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức [22, Điều 8] Tại đây, mọi người đều có quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch và không bị đe dọa, ép buộc làm việc dưới mọi hình thức (ngoài trừ khoản 3 điều 8 ICCPR) hoặc bản thân người lao động không tự nguyện làm Nhằm ngăn chặn và xóa

bỏ chế độ nô lệ, những thể thức tương tự như chế độ nô lệ và việc cưỡng bức lao động, Liên Hợp Quốc và ILO đã thông qua rất nhiều công ước đề cập đến các biện pháp toàn diện mà các quốc gia thành viên phải tiến hành được quy định trong Công ước bổ sung của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ chế độ nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể chế, tập tục khác tương tự chế độ nô lệ năm 1965, Công ước về lao động cưỡng bức năm 1930 (Công ước số 29 của ILO); Công ước về xóa bỏ lao động cưỡng bức năm 1957 (Công ước số 105 của ILO)

Quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ, nô dịch là một quyền quan

Trang 32

trọng trong các quyền và tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị, qua

đó đảm bảo cho mọi người không bị cưỡng bức lao động dưới bất kì một hình thức nào Quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ, nô dịch là một trong số các quyền tuyệt đối, không bị giới hạn trong bất kỳ bối cảnh nào, kể cả vì lý

do an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng được pháp luật quốc tế về quyền con người thừa nhận Những tiêu chuẩn quốc

tế về lĩnh vực này có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả quốc gia trên thế giới

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (viết tắt ICESCR - International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights),năm 1966

ICESCR là công ước cụ thể hóa các quyền lao động của con người trong UDHR Các quyền về lao động của con người được ghi nhận tại các điều 6,7, 8

và 9 của ICESCR Tại đây, các quốc gia thành viên công ước thừa nhận:

Quyền làm việc của tất cả mọi người, trong đó bao gồm quyền của tất

cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ chấp nhận hoặc tự do lựa chọn

Quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi trong việc đảm bảo: (i)Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ nữ phải được đảm bảo những điều kiện làm việc không kém hơn đàn ông, được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau Đồng thời đảm bảo một cuộc sống tương đối đầy đủ cho người lao động và gia đình họ; (ii) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; (iii) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; (iv) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ

Trang 33

Quyền được thành lập và gia nhập công đoàn do mình lựa chọn, theo quy chế của tổ chức đó, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình Quyền này là một thành tố không thể thiếu để đảm bảo quyền làm việc

và quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi Cùng với quyền này

là quyền đình công với điều kiện là phải được thực hiện phù hợp với pháp luật của mỗi quốc gia

Quyền được hưởng an sinh xã hội bao gồm quyền tiếp cận và duy trì những lợi ích bằng tiền hoặc hiện vật mà không có sự phân biệt đối xử, để bảo

vệ con người trong những hoàn cảnh: a) Thiếu thu nhập từ việc làm do bệnh tật, khuyết tật, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già hoặc do cái chết của một thành viên trong gia đình; b) Không có khả năng chi trả cho các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe; c) Không đủ khả năng hỗ trợ gia đình, đặc biệt là với trẻ em và những người lớn sống phụ thuộc [23]

Các quyền về lao động được ghi nhận trong ICESCR đã góp phần thiết lập các chuẩn mực quốc tế chung về quyền lao động của con người Là nền tảng vững chắc bảo vệ các quyền lao động của con người trong khuôn khổ pháp luật quốc tế về quyền con người nói chung

1.4 Nghĩa vụ quốc gia đối với các điều ước quốc tế có quy định về quyền của người lao động di trú

1.4.1 Cơ sở pháp lý quốc tế về nghĩa vụ quốc gia

Là một thành viên tích cực tham gia vào các điều ước quốc tế, Việt Nam đã, đang và luôn luôn nỗ lực mở rộng hợp tác cùng các quốc gia trên thế giới hoàn thành trách nhiệm của quốc gia thành viên trước cộng đồng quốc tế trong việc đảm bảo và tạo mọi điều kiện thận lợi nhất cho tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia mình được thực hiện các quyền về lao động con người trên thế giới Tổ chức Liên Hợp Quốc và ILO là hai tổ chức

đa phương quan trọng bậc nhất thế giới bảo vệ các quyền con người nói

Trang 34

chung trong đó có các quyền của người lao động di trú Là thành viên của Liên Hợp Quốc và ILO, Việt Nam đã tham gia vào các điều ước quốc tế về lao động của hai tổ chức này, bao gồm:

Đầu tiên, ngày 20/9/1977 Việt Nam được chính thức được công nhận là thành viên thứ 149 của tổ chức Liên Hợp Quốc Trong quá trình hơn 40 năm

là thành viên của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã tham gia kí kết nhiều công ước quốc tế về quyền lao động của con người, tiêu biểu:

Ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập hai Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị Hai công ước này là hai công ước quốc tế đầu tiên Việt Nam tham gia ghi nhận các quyền của người lao động di trú thông qua các quyền lao động của con người ICCPR và ICESCR là hai Công ước quốc tế được đánh giá là quan trọng nhất ghi nhận toàn diện các quyền con người, hai công ước quốc tế có hiệu lực bắt buộc chung đối với tất cả các quốc gia thành viên công ước Tại

đó, các quốc gia thành viên của công ước có nghĩa vụ đảm bảo quyền (nghĩa

vụ quốc gia) của người lao động di trú thông qua việc đảm bảo các quyền con

người cơ bản được ghi nhận trong công ước bằng ba hình thức như sau:

Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (“obligation to respect”): Đối với nghĩa vụ

này, khoản 1 Điều 2, ICCPR và khoản 2 Điều 2, ICESCR ghi nhận: Các quốc

gia thành viên Công ước “cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong

phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước ” ICCPR và ICESCR yêu cầu các quốc gia thành viên

phải ghi nhân, tôn trọng các quyền được công nhận trong Công ước bằng cách kiềm chế không xâm phạm, không can thiệp trực tiếp hoặc giãn tiếp vào việc thụ hưởng các quyền con người nói chung và các quyền về lao động của con người nói riêng [17] Nói cách khác, các quốc gia thành viên cần tôn trọng và ghi nhận các quyền về lao động của con người trong phạm vi công ước vào hệ

Trang 35

thống pháp luật quốc gia (nội luật hóa) Việc ghi nhận quyền vào hệ thống pháp luật thể hiện sự tôn trọng, cam kết của nhà nước trong việc đảm bảo không can

thiệp vào việc hưởng thụ quyền về lao động của người lao động nói chung

Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (“obligation to protect”): Đối với nghĩa vụ này,

ICCPR ghi nhận tại Điều 3 các quốc gia thành viên Công ước cam kết rằng:

a) Bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và

tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành

vi của những người thừa hành công vụ gây ra;

b) Bảo đảm rằng bất kỳ người nào có yêu cầu về các biện pháp khắc phục sẽ được các cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp có thẩm quyền hoặc bất kỳ cơ quan nào khác có thẩm quyền

do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền lợi cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp

Với tính chất đặc thù khác so với ICCPR, ICESCR ghi nhận:

Mỗi quốc gia thành viên Công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện pháp, một cách riêng rẽ và thông qua sự hợp tác giúp đỡ quốc

tế, đặc biệt là các biện pháp kinh tế và kỹ thuật, sử dụng tới mức tối

đa các tài nguyên sẵn có của mình, nhằm đạt được việc bảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền được thừa nhận trong Công ước này bằng mọi biện pháp thích hợp, đặc biệt kể cả việc thông qua những biện pháp lập pháp [23, Điều 2, Khoản 1]

Nghĩa vụ bảo vệ yêu cầu các quốc gia thành viên thực thi các biện pháp

để không cho bên thứ ba ngăn cản hoặc xâm phạm các quyền lợi hợp pháp của người lao động Để ngăn chăn sự vi phạm quyền của người lao động của bên thứ ba, các nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp, xây dựng cơ

Trang 36

Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện còn gọi là nghĩa vụ tạo điều kiện và khuyến khích hoặc nghĩa vụ hỗ trợ và thúc đẩy (“obligation to fulfil”): Đối với nghĩa

vụ này, tại điểm c, Điều 2, ICCPR yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết:

“Đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thi hành các biện pháp khắc phục đã được đề ra” hay thông qua các cụm từ được ghi nhận, ICESCR yêu

cầu: “Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu

trong Công ước này sẽ được thực hiện ”, “Mỗi quốc gia thành viên Công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện pháp ” Nghĩa vụ thực hiện yêu cầu

các quốc gia thành viên thực thi các biện pháp phù hợp về lập pháp, hành chính, ngân sách, hành pháp và các biện pháp khác nhằm đảm bảo, tổ chức thực hiện, tạo điều kiện và hỗ trợ người lao động thực hiện hưởng thụ đầy đủ các quyền con người, các quyền về lao động của con người

Trên cơ sở nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiên, với tính chất đặc thù của ICESCR, Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo các

tiêu chí đặc thù như: tính “sẵn có”, tính “tiếp cận được”, tính “chấp nhận

được hoặc chất lượng” trong việc đảm bảo các quyền về lao động của con

người được Ủy ban công ước giải thích trong Bình luận chung số 18 về quyền làm việc Các tiêu chí này mang tính chất định hướng cho việc xác lập các khung chính sách và những biện pháp thực thi các quyền về lao động được

ghi nhận trong Công ước của các quốc gia thành viên

Tính “sẵn có” yêu cầu các quốc gia đảm bảo sự tồn tại về mặt pháp lý,

tức là sự công nhận trong pháp luật với một lợi ích được thụ hưởng và sự tồn tại trong thực tế của lợi ích được thụ hưởng ấy Tính sẵn có của công việc: Yếu tố này yêu cầu các nhà nước phải ghi nhận quyền làm việc của con người vào hệ thống pháp luật và các nhà nước cần phải xây dựng cơ chế, chính sách

nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ người lao động xác định và tìm kiếm việc làm

Tính “tiếp cận được” có nền tảng là nguyên tắc không phân biệt đối xử

Trang 37

(mọi người đều có khả năng tiếp cận) được Ủy ban diễn giải qua bốn yếu tố liên kết với nhau: i) không phân biệt đối xử; ii) tiếp cận được về mặt thể chất; iii) tiếp cận được về mặt tài chính (mọi người đều có khả năng chi trả); iv) tiếp cận được về mặt thông tin (mọi người đều có thể tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin về quyền được thụ hưởng đó) Tính tiếp cận được với công việc người lao động được đảm bảo các khía cạnh: i) Không phân biệt đối

xử trong tiếp cận việc làm dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia và dân tộc, tình trạng tài sản, thể chất hay sức khỏe hoặc các tình trạng khác; ii) Tiếp cận được về thể chất bao gồm các dịch vụ cơ bản, cơ sở vật chất, trang thiết bị lao động và các chương trình thực hiện cần phải phù hợp về mặt thể chất với mọi người, đặc biệt là với các nhóm dễ bị tổn thương iii) Tiếp cận được về thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, thu nhập và phổ biến thông tin để có được tiếp

cận việc làm thông qua các cơ sở dữ liệu về thị trường lao động

Tính “chấp nhận được hoặc chất lượng” được đề cập trong từng

quyền cụ thể với các mức độ hoặc hình thức khác nhau Tính chấp nhận được hoặc chất lượng của việc làm được đảm bảo thông qua việc bảo vệ nhiều yếu tố của quyền làm việc, đặc biệt là với việc đảm bảo điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi cũng như đảm bảo các quyền về điều kiện làm việc an toàn, quyền thành lập, gia nhập công đoàn, quyền tự do lựa chọn và chấp nhận công việc [19]

Như vậy, đối với các nghĩa vụ quốc gia thành viên của ICCPR và ICESCR, các quốc gia thành viên cần cam kết tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền về lao động của người lao động thông qua nguyên tắc bình đẳng giữa nam, nữ và bình đẳng giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài trên tinh thần không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác

Trang 38

Sau khi là thành viên của Liên Hợp Quốc, năm 1992 Việt Nam quay lại

và tham gia là thành viên chính thức của Tổ chức ILO, cho đến nay Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước và khuyến nghị của tổ chức này trong đó Việt Nam đã phê chuẩn 05 trong số 08 công ước cơ bản về tiêu chuẩn lao động, đó là:

 Công ước số 100 về “Trả lương bình đẳng” (phê chuẩn năm 1997);

 Công ước số 111 về “Phân biệt đối xử trong làm việc và nghề

nghiệp” (phê chuẩn năm 1997);

 Công ước số 138 về “Tuổi lao động tối thiểu” (phê chuẩn năm 2003);

 Công ước số 182 về “Xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ

nhất” (phê chuẩn năm 2000);

 Công ước số 29 về “Xóa bỏ lao động cưỡng bức” (phê chuẩn

năm 2007);

Với 05 Công ước của ILO mà Việt Nam phê chuẩn không có những quy định trực tiếp về quyền của người lao động di trú mà thông qua 05 công ước này các quyền của người lao động di trú được đảm bảo giãn tiếp thông qua các tiêu chuẩn quốc tế cơ bản về lao động tại nơi làm việc Mỗi công ước, điều chỉnh một vấn đề cụ thể trong quan hệ lao động, đồng thời ghi nhận nghĩa vụ quốc gia đối với vấn đề mà Công ước ghi nhận

Tuy nhiên, nhằm khái quát hóa nghĩa vụ quốc gia khi tham gia là thành viên của ILO, ILO đã thông qua Tuyên bố 1998 về các tiêu chuẩn lao động quốc tế Trong đó, Điều 2 của Tuyên bố đã khẳng định rằng là các quốc gia thành viên của ILO, dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn 08 công ước đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hóa một cách có thành ý 08 công ước cơ bản về tiêu chuẩn lao động tại nơi làm việc [37]

Như vậy, quyền của người lao động di trú ở Việt Nam sẽ được đảm bảo thông qua việc Việt Nam cam kết thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên của ILO Tức là, khi tham gia là thành viên của ILO, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ

Trang 39

quốc gia được ghi nhận tại 05 công ước mà Việt Nam đã phê duyệt về tiêu

chuẩn lao động quốc tế, Việt Nam có nghĩa vụ phải “tôn trọng, thúc đẩy và

hiện thực hóa một cách có thành ý” đối với 03 công ước cơ bản của ILO mà

Việt Nam chưa phê chuẩn Vì vậy, với 08 công ước cơ bản được nêu trong Tuyên bố 1998 của ILO, Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các nguyên tắc về lao động và các tiêu chuẩn cơ bản của người lao động tại nơi làm việc, trong đó có các quyền cơ bản về lao động của người lao động di trú

1.4.2 Nghĩa vụ đối với các điều ước quốc tế có quy định về quyền của người lao động di trú mà Việt Nam là thành viên

Pháp luật quốc tế rất chú trọng đến việc thực hiện các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc nỗ lực bảo vệ quyền của người lao động di trú Trên cơ sở là một quốc gia thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, Việt

Nam khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ

Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là thành viên ” [30, Điều 12] Là quốc gia thành viên hai

công ước ICCPR, ICESCI và các công ước về tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO, Việt Nam luôn nỗ lực trong việc thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ của một quốc gia thành viên trong việc đảm bảo các quyền lợi chính đáng của người lao động di trú Mặt khác, Việt Nam không ngừng xây dưng và hoàn thiện pháp luật quốc gia về các quyền lao động nhằm mục tiêu hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền của người lao động trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ

Công ước quốc tế yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ, nghĩa vụ hỗ trợ và thúc đẩy các quyền về lao động được ghi nhận trong công ước Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ quốc

gia đã cam kết về quyền lao động của người lao động di trú như sau:

Nghĩa vụ tôn trọng trong các điều ước quốc tế về quyền của người lao

Trang 40

động di trú mà Việt Nam là thành viên Nghĩa vụ tôn trọng trong việc thực hiện

cam kết quốc tế của Việt Nam được thể hiện nổi bật qua bản Hiến Pháp 2013

ghi nhận:“Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế,

văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [30, Điều 14] Như vậy, tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ

Việt Nam sẽ được nhà nước Việt Nam công nhân, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Ngoài ra, các quyền về lao động cũng được Hiến pháp 2013 ghi nhận:

1 Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; 2 Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng , an toàn; được hưởng lương , chế đô ̣ nghỉ ngơi; 3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu [30, Điều 35]

Cùng với việc ghi nhận các quyền về lao động trong Hiến pháp, nhà nước Việt Nam cam kết luôn tôn trọng và không can thiệp vào việc hưởng thụ các quyền về lao động của mọi người dân và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi

để cho tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện không chỉ các quyền về lao động mà còn được hưởng thụ các quyền con

người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa

Nghĩa vụ bảo vệ, nghĩa vụ hỗ trợ trong các điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú mà Việt Nam là thành viên Trong quá trình thực

hiện cam kết quốc tế về nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ hỗ trợ trong các điều ước quốc tế có quy định về quyền lao động của người lao động di trú mà Việt Nam là thành viên, thông qua việc nội luật hóa các quy định của các điều ước quốc tế vào hệ thống pháp luật Việt Nam, BLLĐ năm 2012 kết hợp với các luật chuyên ngành khác tạo nên khuôn khổ pháp lý về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam, các quyền và lợi ích cơ bản của người lao

Ngày đăng: 25/12/2017, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ kế hoạch và đầu tư, Cục đầu tư nước ngoài (2017), Báo cáo quý I/2017 về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quý I/2017 về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư, Cục đầu tư nước ngoài
Năm: 2017
2. Bộ Lao động thương binh - xã hội (2016), Báo cáo thị trường lao động trong nước năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thị trường lao động trong nước năm 2016
Tác giả: Bộ Lao động thương binh - xã hội
Năm: 2016
3. Bộ Lao động thương binh - xã hội (2016), Báo cáo tình hình lao động nước ngoài giai đoạn 2012-2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình lao động nước ngoài giai đoạn 2012-2016
Tác giả: Bộ Lao động thương binh - xã hội
Năm: 2016
4. Bộ Lao động thương binh - xã hội (2017), Báo cáo đầu năm về lao động nước ngoài ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đầu năm về lao động nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động thương binh - xã hội
Năm: 2017
5. Bộ Lao động thương binh - xã hội (2017), Báo cáo đầu năm về lao động nước ngoài ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đầu năm về lao động nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động thương binh - xã hội
Năm: 2017
6. Bộ Y tế và Bộ Tài chính (2009), Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT- BYT-BTC về hướng dẫn thực hiện Luật bảo hiểm y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC về hướng dẫn thực hiện Luật bảo hiểm y tế
Tác giả: Bộ Y tế và Bộ Tài chính
Năm: 2009
7. Chính phủ (2016), Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
8. Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF) (2016), Báo cáo Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2016, Hà Nội, tr.189-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2016
Tác giả: Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF)
Năm: 2016
9. Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF) (2016), Báo cáo Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2016, Hà Nội, tr.189-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên năm 2016
Tác giả: Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF)
Năm: 2016
10. Trần Ngọc Đường (2016), “ Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Báo Lao động, (Thứ 7, 02/01/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, "Báo Lao động
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2016
11. Phạm Thị Hương Giang (2015), Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hương Giang
Năm: 2015
12. Bùi Thị Hòa (2014), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật Học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động di trú ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hòa
Năm: 2014
15. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền của người lao động di trú (Công ước của Liên Hợp Quốc và các văn kiện quan trọng của ASEAN), Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người lao động di trú (Công ước của Liên Hợp Quốc và các văn kiện quan trọng của ASEAN)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2010
16. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2011
17. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966), Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
18. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR,1966), Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR,1966)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
19. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Giáo trình Pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
21. Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 22. Liên Hợp Quốc (1966), Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 22. " Liên Hợp Quốc
Tác giả: Liên Hợp Quốc (1948), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 22. Liên Hợp Quốc
Năm: 1966
23. Liên Hợp Quốc (1966), Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên Hợp Quốc
Tác giả: Liên Hợp Quốc
Năm: 1966

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w