1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn tài chính công ty đa quốc gia chương 19 quản lý vốn lưu động

36 414 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoảng thời gian trong giai đoạn sản xuất hàng tồn kho, từ t1 đến t2, phụ thuộc vào loại sản phẩm off-the-shelf so với custom-to-specification, sự phối hợp trong chuỗi cung ứng của Tride

Trang 2

2

Mục lục

I Chu kỳ hoạt động của Trident Brazil 3

1.1 Giai đoạn báo giá 3

1.2 Giai đoạn nhập đầu vào 4

1.3 Giai đoạn tồn kho 4

1.4 Giai đoạn nợ phải trả 4

1.5 Giai đoạn nợ phải thu 5

II Các quyết định tái định vị của Trident 5

III Các hạn chế liên quan đến tái định vị nguồn ngân quỹ 7

3.1 Các hạn chế về chính trị 7

3.2 Các hạn chế về thuế 7

3.3 Các chi phí giao dịch 8

3.4 Nhu cầu thanh khoản 8

IV Các kênh luân chuyển vốn dựa trên sự phân loại dòng vốn 8

V Lưu chuyển cổ tức quốc tế 10

5.1 Các tác động về thuế 10

5.2 Rủi ro chính trị 11

5.3 Rủi ro ngoại hối 11

5.4 Phân chia và dòng tiền 11

5.5 Các yếu tố liên doanh 12

VI Vốn lưu động thuần 12

6.1 Nợ phải trả so với nợ ngắn hạn 13

6.2 Số ngày vốn lưu động 15

6.3 Vốn lưu động nội bộ 16

6.4 Quản lý khoản phải thu 18

6.5 Quản lý hàng tồn kho 20

6.6 Khu vực Mậu dịch tự do và Khu Công nghiệp Tự do 20

VII Quản lý tiền mặt quốc tế 22

7.1 Động cơ nắm giữ tiền mặt .22

7.2 Các khoản thanh toán và xử lý tiền mặt quốc tế 22

7.3 Điện chuyển khoản 22

7.4 Thu tiền mặt và Kho lưu trữ tập trung 23

7.5 Thanh toán bù trừ đa phương 27

VIII TÀI TRỢ VỐN LƯU ĐỘNG 29

8.1 Ngân hàng nội bộ 29

8.2 Văn phòng ngân hàng thương mại 31

Trang 3

3

CHƯƠNG 19:

QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG

I Chu kỳ hoạt động của Trident Brazil

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hoạt động của Trident Brazil được minh họa trong Phụ lục 19.1 Chu kỳ hoạt động có thể được chia thành 5 khoảng thời gian khác nhau, mỗi giai đoạn đều có liên quan đến kinh doanh, kế toán, và dòng tiền tiềm năng

1.1 Giai đoạn báo giá

Trong Chương 10, khi chúng ta nghiên cứu độ nhạy cảm giao dịch, thời hạn báo giá kéo dài từ thời điểm chào giá t0 đến thời điểm khách hàng đặt lệnh t1 Nếu khách hàng yêu cầu báo giá bằng ngoại tệ, như đồng peso của Chilê, Trident Brazil sẽ có khả năng (nhưng không chắc chắn) thực hiện giao dịch ngoại hối trong thời gian này Bản thân việc báo giá không được liệt kê trong bất kỳ báo cáo tài chính thường niên nào của công ty, mặc dù một công ty như Trident Brazil sẽ luôn giữ một bảng tổng hợp các mức giá và kỳ hạn của chúng

Trang 4

4

1.2 Giai đoạn nhập đầu vào

Một khi báo giá được khách hàng chấp nhận, thì một đơn hàng sẽ được tạo ra tại thời điểm t1 Tại thời điểm này, một hợp đồng được ký giữa người mua và người bán, thể hiện cho việc hàng hoá sẽ được chuyển giao, như: thời gian, điều kiện chuyển giao, giá cả và các điều khoản tài chính Trong thời gian này, Trident Brazil sẽ yêu cầu các nguyên liệu không còn tồn kho cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm Tùy thuộc vào việc bán hàng cá nhân, tiền gửi bằng tiền mặt hoặc thanh toán từ người mua sẽ được thực hiện tại thời điểm này Điều này sẽ tạo thành dòng tiền thực đầu tiên liên quan đến đơn đặt hàng, dòng tiền vào Trident Brazil, và sẽ bắt đầu chu kỳ chuyển đổi tiền tệ cho giao dịch này

1.3 Giai đoạn tồn kho

Khi nhận được nguyên liệu đầu vào, Trident Brazil tiến hành lắp ráp và sản xuất hàng hoá Khoảng thời gian trong giai đoạn sản xuất hàng tồn kho, từ t1 đến t2, phụ thuộc vào loại sản phẩm (off-the-shelf so với custom-to-specification), sự phối hợp trong chuỗi cung ứng của Trident Brazil với các nhà cung cấp trong và ngoài nước, và công nghệ được sử dụng bởi chính Trident

1.4 Giai đoạn nợ phải trả

Khi nguyên liệu đầu vào được đưa đến, chúng được ghi nhận ở phía bên trái của bảng cân đối kế toán của Trident Braxin như là nguyên vật liệu và thành phẩm tồn kho

và chúng đối ứng với khoản mục phải thanh toán ở phía bên phải của bảng cân đối kế toán Nếu hàng hoá đầu vào được lập hoá đơn bằng ngoại tệ, hoặc nhận từ Trident USA (một công ty con), hoặc từ các nhà cung cấp bên ngoài, chúng là các giao dịch ngoại tệ với Trident Brazil

Lưu ý rằng thời hạn nợ phải trả được trình bày trong Phụ lục 19.1 bắt đầu vào cùng thời điểm với thời hạn tồn kho, nhưng có thể kéo dài tới thời điểm t4 sau khi thời hạn tồn kho kết thúc Nếu các nhà cung cấp của Trident Brazil mở rộng tín dụng thương mại, Trident Brazil sẽ có khả năng trì hoãn thanh toán cho hàng tồn kho thêm một thời gian Tất nhiên, nếu Trident Brazil chọn không chấp nhận tín dụng thương mại, họ có thể trả tiền cho số hàng đã chuyển giao Trong trường hợp này, thời hạn nợ

Trang 5

5

phải trả sẽ kết thúc trước khoảng thời hạn tồn kho - giai đoạn sản xuất - kết thúc vào thời điểm t3 Tại bất kỳ thời điểm nào, khi Trident Brazil quyết định thanh toán nợ phải trả của mình, họ phải chịu một khoản chi tiền mặt (dòng tiền ra)

1.5 Giai đoạn nợ phải thu

Khi hàng hoá được hoàn thành và chuyển đi bán, Trident Brazil sẽ ghi nhận nghiệp vụ đó như là một khoản doanh thu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của mình và ghi nhận giao dịch đó trong bảng cân đối kế toán như một khoản phải thu Nếu sử dụng hoá đơn ghi thanh toán bằng đồng ngoại tệ, thì tỷ giá hối đoái tại thời điểm t4 được sử dụng để chuyển sang ghi nhận doanh thu bằng đồng nội tệ Tỷ giá có hiệu lực vào ngày thanh toán tiền mặt (t5) sau đó sẽ được sử dụng để tính toán bất kỳ khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái nào có liên quan đến giao dịch – độ nhạy cảm giao dịch

Khoảng thời gian nợ phải thu phụ thuộc vào thời hạn tín dụng được cung cấp bởi Trident Brazil, người mua có thể chấp nhận tín dụng thương mại hoặc trả bằng tiền mặt và các thông lệ thanh toán theo từng quốc gia và từng ngành cụ thể Khi hoàn thành việc thanh toán, Trident Brazil nhận được dòng tiền (cuối cùng) thanh toán cho hàng hoá đã giao Vào thời điểm t5, nghiệp vụ được ký kết cho nến tất cả các khoản mục kế toán bao gồm: hàng tồn kho, các khoản phải trả và các khoản phải thu đều được giảm trừ

II Các quyết định tái định vị của Trident

Tiếp theo, chúng tôi mô tả các mục tiêu và khó khăn đối với việc tái định vị các ngân quỹ trong tập đoàn Trident Phụ lục 19.2 mô tả về Trident: các công ty trực thuộc, tiền tệ và thuế suất áp dụng cho từng đơn vị, và kết luận hiện tại của ban quản

lý về triển vọng tăng trưởng của mỗi công ty con Ba công ty trược thuộc ở nước ngoài của Trident, mỗi Công ty đều có một mối quan tâm riêng

- Trident Europe: là công ty lâu đời nhất trong số ba công ty trực thuộc tại nước

ngoài, hiện đang hoạt động trong một môi trường có thuế suất tương đối cao (so với Hoa Kỳ) Công ty hoạt động thông qua việc sử dụng đồng tiền tương đối ổn định -

Trang 6

6

đồng euro, và được tự do di chuyển vốn trong và ngoài nước với ít hạn chế Bản thân công ty này đã trưởng thành, với triển vọng tăng trưởng đáng kể trong tương lai gần

- Trident Brazil: là kết quả của việc mua lại gần đây, đang hoạt động trong một

môi trường có thuế suất thấp, nhưng trước đây từng là một môi trường tiền tệ bất ổn Công ty này chỉ có một số hạn chế hiện tại về vốn Trident tin rằng công ty này có triển vọng tăng trưởng rất tốt trong ngắn hạn và trung hạn nếu có thể đầu tư thêm về vốn và chuyên môn quản lý trong việc kinh doanh

- Trident China: là một dự án liên doanh mới với một đối tác địa phương, trước

đây là một đơn vị cũ của chính phủ Trung Quốc, công ty này đang hoạt động trong một môi trường có mức thuế suất tương đối thấp, với tỷ giá cố định (đồng NDT xác định thấp hơn nhiều so với Mỹ đô la) Vấn đề của công ty này là có một số hạn chế về vốn Trong lâu dài, công ty này được cho là có tiềm năng lớn nhất về kinh doanh Trên thực tế, Ban quản trị cấp cao của Trident tại công ty mẹ sẽ quyết định các mục tiêu chiến lược về sự phát triển kinh doanh của mỗi công ty con, sau đó thiết kế một kế hoạch quản lý tài chính để tái định vị lại lợi nhuận, dòng tiền và vốn cho từng công ty con Theo kết quả của kế hoạch này, Trident sẽ cố gắng theo đuổi các mục tiêu tái định vị sau đây tại các công ty con:

- Trident Europe: tái định vị lợi nhuận từ Đức sang Hoa Kỳ trong khi vẫn duy

trì mức tăng trưởng giá trị tại thị trường Châu Âu đối với Trident Corporation

Trang 7

7

- Trident Brazil: tái cấu trúc hoặc bằng cách nào đó quản lý nguồn vốn sao cho

vừa đảm bảo duy trì ở mức ngưỡng an toàn trước rủi ro tỷ giá hối đoái ở Braxin, đồng thời vừa có thể cung cấp vốn đầy đủ, kịp thời cho các dự án có tiềm năng phát triển

- Trident China: tái cấu trúc lại nguồn ngân quỹ ra và vào Trung Quốc để bảo

vệ vốn tồn động (rủi ro do chuyển tiền), trong khi vẫn cân đối được trước các yêu cầu của đối tác liên doanh

III Các hạn chế liên quan đến tái định vị nguồn ngân quỹ

Dòng vốn luân chuyển giữa các đơn vị trong cùng một doanh nghiệp nội địa thường không bị cản trở, nhưng đối với một doanh nghiệp đa quốc gia thì lại khác Một công ty hoạt động trên toàn cầu phải đối mặt với nhiều vấn đề về chính trị, thuế, ngoại hối và thanh khoản, làm hạn chế khả năng chuyển tiền một cách dễ dàng và chưa

kể đến chi phí khi chuyển từ một quốc gia hoặc một đồng tiền này sang một quốc gia hay đồng tiền khác Những khó khăn này là lý do tại sao các nhà quản lý tài chính đa quốc gia phải lên kế hoạch để tái cấu trúc lại nguồn quỹ trong MNE Lập kế hoạch trước là điều cần thiết ngay cả khi những khó khăn không tồn tại, vì có thể vào một ngày nào đó trong tương lai, các sự kiện chính trị có thể dẫn đến các khó khăn không lường trước được

3.1 Các hạn chế về chính trị

Những ràng buộc chính trị có thể cản trở việc chuyển tiền một cách công khai hay bí mật Sự phong toả công khai xảy ra khi một đồng tiền không được chuyển đổi được hoặc phải chịu sự kiểm soát của chính phủ khiến việc chuyển đổi tiền ở mức tỷ giá hối đoái hợp lý không thể thực hiện được Sự phong toả bí mật xảy ra khi cổ tức hoặc các hình thức chuyển tiền khác bị hạn chế, bị đánh thuế cao hoặc bị trì hoãn quá mức bởi sự quan liêu của bộ máy chính quyền

3.2 Các hạn chế về thuế

Những ràng buộc về thuế bắt nguồn từ những cơ chế về thuế giữa chính phủ các nước có sự mâu thuẫn và phức tạp Một công ty không muốn các nguồn quỹ trong quá trình di chuyển giữa các nước bị xói mòn bởi các cấp có thẩm quyền thu thuế của các quốc gia, nơi mà các nguồn quỹ này chảy qua

Trang 8

8

3.3 Các chi phí giao dịch

Chi phí giao dịch hối đoái phát sinh khi 2 đồng tiền được trao đổi với nhau Các chi phí này là thu nhập của các ngân hàng thương mại và các đại lý hoạt động trên thị trường ngoại hối ( các chi phí này được thể hiện dưới dạng phí và/hoặc chênh lệch giữa mức chào giá và mức giá cung cấp) Mặc dù các chi phí này chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ trong số tiền trao đổi, nhưng nó trở nên quan trọng đối với số tiền chuyển nhượng lớn hoặc diễn ra thường xuyên Chi phí giao dịch vừa đủ để đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch tránh được các khoản chuyển nhượng không cần thiết, như việc một công ty con chuyển một khoản chi trả cô tức tiền mặt cho công ty mẹ vào khoảng thời gian mà công ty mẹ trả tiền hàng đã mua của công ty con Gửi ngoại hối đồng thời theo hai hướng rõ ràng là một sự lãng phí cho nguồn lực doanh nghiệp, nhưng thỉnh thoảng nó vẫn xảy ra khi một bên không hợp tác với bên còn lại

3.4 Nhu cầu thanh khoản

Mặc dù có lợi thế về xử lý tiền mặt trên toàn thế giới, nhưng nhu cầu thanh khoản ở từng địa điểm phải được thỏa mãn và vẫn duy trì tốt các mối quan hệ với các ngân hàng địa phương Kích cỡ của sự cân đối hợp lý là một phần quyết định đánh giá không dễ đo lường được Tuy nhiên, nhu cầu như vậy hạn chế tiếp cận tối ưu để định

vị tiền mặt trên toàn thế giới

IV Các kênh luân chuyển vốn dựa trên sự phân loại dòng vốn

Các công ty đa quốc gia thường phân chia việc chuyển tiền thành các dòng tiền riêng biệt phù hợp với từng mục đích cụ thể Các nước sở tại có thể nhận thấy thức rõ rằng một phần của việc chuyển lợi nhuận từ quá trình mua bán sẽ chi phối giá trị toàn cầu và mang lại lợi ích cho chính nước mình Việc phân loại cho phép một công ty đa quốc gia thu hồi vốn từ các công ty con mà không động chạm vào các yếu tố nhạy cảm của các nước chủ nhà liên quan đến các khoản rút về một lượng cổ tức lớn Ví dụ, Trident có thể chuyển tiền từ các công ty con nước ngoài sang công ty mẹ Trident Corporation bởi bất kỳ đường dẫn chuyển nào trong Phụ lục 19.3

Các dòng tiền này có thể tách riêng ra thành các loại trước thuế và sau thuế ở nước sở tại Mặc dù không phải lúc nào cũng là trọng tâm của phong trào trong quỹ

Trang 9

9

đơn vị, mục tiêu thuế thường xuyên làm cho nó là một sự phân biệt quan trọng đối với nhiều cơ cấu tài chính trực thuộc công ty nước ngoài Sự gia tăng dòng tiền (phí) trong bất kỳ khoản mục trước thuế nào sẽ làm giảm lợi nhuận chịu thuế của công ty con ở nước ngoài nếu các cơ quan thuế của nước chủ nhà thừa nhận các phí đó là một khoản chi phí hợp lệ Sự phân biệt trước thuế/sau thuế cũng khá quan trọng đối với công ty

mẹ khi họ thực hiện chuyển tiền về nước theo những biện pháp hiệu quả nhất về thuế, trong khi họ vẫn quản lý mức tín dụng/thặng dư thuế của nước ngoài trong các đơn vị trực thuộc

Việc kết hợp các khoản tiền gửi ở khâu đầu vào, chẳng hạn như tiền bản quyền đối với sở hữu trí tuệ, và lệ phí cho bằng sáng chế và tư vấn, thì hợp lý với nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài Nó cho phép mỗi bên xem xét lý do cho mỗi lần chuyển tiền và chấp nhận điều đó một cách độc lập Nếu các khoản đầu vào từ đầu tư được phân loại, một phần trong số đó là lợi nhuận còn lại có thể trở thành chi phí được khấu trừ thuế, liên quan đến một khoản bán hàng cụ thể Phân loại cũng tạo thuận lợi cho sự phân bổ chi phí công ty mẹ, được gọi là các dịch vụ chia sẻ, cho mỗi công ty con theo một công thức đã xác định trước Việc xác định trước phương pháp phân loại giúp quốc gia đặt trụ sở chính hạn chế được khoản chuyển tiền là không hợp lệ và không phù hợp Cuối cùng, phân loại tạo điều kiện cho việc đưa vốn vào các dự án liên doanh, việc xác định công lao đóng góp của các chủ sở hữu khác nhau không chỉ tính bằng tỷ lệ tiền vốn đầu tư mà còn tính bằng giá trị của các sự đóng góp đa dạng khác

Trang 10

10

V Lưu chuyển cổ tức quốc tế

Việc trả cổ tức là phương pháp truyền thống mà theo đó các công ty chuyển lợi nhuận cho chủ sở hữu, là những cổ đông cá nhân hoặc các công ty mẹ Chính sách chi trả cổ tức quốc tế hiện nay thể hiện cho một sự liên quan mật thiết giữa thuế, rủi ro chính trị và rủi ro hối đoái, cũng như sự ra đời của công nghệ và tư vấn kinh doanh

5.1 Các tác động về thuế

Luật thuế tại nước nhận đầu tư ảnh hưởng đến quyết định chia cổ tức Các quốc gia như Đức có thuế suất đối với lợi nhuận giữ lại chỉ duy trì ở mức một, trong khi thuế đánh trên lợi nhuận đã phân phối ở mức thấp hơn Hầu hết các quốc gia đều đánh thuế đối với cổ tức trả cho các công ty mẹ và nhà đầu tư ở nước ngoài Một lần nữa, phần lớn (nhưng không phải tất cả) các nước chủ đầu tư đánh thuế đối với cổ tức nước ngoài nhận được, nhưng cho phép thực hiện tín dụng thuế đối với các khoản thuế nước ngoài đã trả trên dòng thu nhập đó Điều đó cho thấy rằng, việc chi trả cổ tức vẫn là phương pháp hiệu quả nhất về thuế cho việc chuyển tiền về nước vì chúng được phân phối trên cơ sở sau thuế Điều này có nghĩa là công ty mẹ sẽ phải đối mặt với việc nảy sinh các khoản tín dụng thuế vượt mức trên mỗi cổ tức Việc chuyển trả tiền được cấp phép hoặc phí bản quyền được thực hiện trên cơ sở tính trước thuế của chi nhánh nước

Trang 11

và loại bỏ nhận thức của một số chính phủ nước chủ nhà rằng phân phối cổ tức là do bầu cử quản lý (Lưu ý rằng ngay cả thuật ngữ "tuyên bố một khoản cổ tức" có nghĩa

là quyền quản lý)

5.3 Rủi ro ngoại hối

Nếu có dự đoán về sự sụt giảm tỷ giá hối đoái, một MNE có thể đẩy nhanh việc chuyển tiền ra khỏi đất nước thông qua cổ tức Xu hướng này thường là một phần của một chiến lược để chuyển việc nắm giữ các đồng tiền yếu sang các đồng tiền mạnh, và

có thể bao gồm việc đẩy nhanh việc thanh toán vào các khoản phải thu và phải trả Tuy nhiên, quyết định đẩy mạnh chia cổ tức trước những gì có thể là bình thường phải tính đến sự khác biệt về lãi suất và ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ với nước chủ nhà

5.4 Phân chia và dòng tiền

Cổ tức là khoản thanh toán tiền mặt cho chủ sở hữu Để trả cổ tức, một công ty con cần cả thu nhập trong quá khứ và tiền mặt sẵn có Ngoài thu nhập bằng tiền mặt, các công ty con đôi khi ghi nhận thu nhập tại thời điểm bán hàng với tiền mặt được thanh toán sau (một sự khác biệt điển hình giữa lợi nhuận kế toán và dòng tiền) Lợi nhuận của các công ty con đang tăng trưởng nhanh thường gắn liền với các khoản phải thu và tồn kho không ngừng gia tăng (vốn lưu động) Do đó, các công ty con đang tăng trưởng nhanh ở nước ngoài có thể sẽ thiếu tiền mặt để chi trả cổ tức

Trang 12

5.5 Các yếu tố liên doanh

Sự tồn tại của các đối tác liên doanh hoặc cổ đông địa phương cũng ảnh hưởng đến chính sách cổ tức Việc định vị các quỹ tiền trên bình diện quốc tế không thể gây

áp lực lên những yêu cầu hợp lệ của các đối tác độc lập hoặc các cổ đông địa phương

về cổ tức Người thứ hai không được hưởng lợi từ sự thành công của công ty mẹ, nhưng đứng ở vai trò là một đối tác liên doanh thì họ sẽ trở thành người sở hữu của một phần trong sự thành công đó Các công ty có thể lưỡng lự trong việc giảm cổ tức khi thu nhập không như mong đợi Họ cũng có thể ngần ngại tăng cổ tức khi thu nhập tăng vì có thể xảy ra phản ứng bất lợi làm giảm cổ tức Nhiều doanh nghiệp đa quốc gia khăng khăng yêu cầu 100% quyền sở hữu của các công ty con nhằm tránh xung đột lợi ích với các cổ đông bên ngoài

VI Vốn lưu động thuần

Nếu hoạt động kinh doanh của Trident Brazil tiếp tục mở rộng, nó sẽ liên tục gia tăng tài khoản hàng tồn kho và nợ phải trả (A/P), đồng thời doanh thu bán hàng cũng tăng lên dưới hình thức các khoản phải thu (A/R) Ba thành phần này tạo thành vốn lưu động ròng (NWC) Sự kết hợp này ghi nhận là "ròng" như là kết quả từ khả năng tài trợ của nợ phải trả; các khoản nợ phải trả phải cung cấp một phần tài trợ cho mức tăng của hàng tồn kho và các khoản phải thu

Net Working Capital (NWC) = (A/R + Inventory) - (A/P)

Nợ phải thu và hàng tồn kho là thành phần của tài sản lưu động, nằm phía bên trái của bảng cân đối kế toán, khi có sự gia tăng thì chúng sẽ được tài trợ tương ứng bởi các khoản nợ phải trả ở phía bên tay phải của bảng cân đối kế toán Nợ phải trả có thể là một phần tài trợ kinh phí Phụ lục 19.4 minh họa vốn hoạt lưu động của Trident-

Trang 13

13

Brazil Lưu ý rằng chúng ta không đề cập đến tiền mặt hoặc nợ ngắn hạn như là một phần của vốn lưu động Mặc dù chúng là một phần của tài sản lưu động và nợ ngắn hạn tương ứng, chúng là kết quả của sự thận trọng về quản lý, và không tự động thay đổi với hoạt động Các yếu tố quyết định của chúng sẽ được thảo luận sau trong chương này

Về nguyên tắc, Trident cố gắng duy trì cân bằng của vốn lưu động Nợ phải trả được giảm nếu các khoản phải thu được gia tăng Hàng tồn kho được giảm bớt thông qua giảm tỉ lệ của thành phẩm và sản phẩm dở dang chưa hoàn thành, đồng thời đẩy nhanh tốc độ sản xuất hàng hóa - giảm chu kỳ thời gian Tất cả các biện pháp này phải được cân đối với chi phí khách hàng Bán hàng có thể bị giảm sút nếu hàng tồn kho không có trong tay Ở phía bên kia của bảng cân đối kế toán, chỉ tiêu NWC có thể được giảm bằng cách kéo dài thời gian của nợ phải trả Một lần nữa, nếu không được thực hiện cẩn thận, điều này có thể gây tổn hại đến mối quan hệ của công ty với các nhà cung cấp chính của nó, do đó giảm độ tin cậy và mối quan hệ với đối tác cung ứng

6.1 Nợ phải trả so với nợ ngắn hạn

Phụ lục 19.4 miêu tả một trong những quyết định quản lý quan trọng đối với bất

kỳ công ty con nào: các khoản nợ phải trả nên được trả sớm hơn, để có thể nhận các

Trang 14

“5/10 net 60”, điều này có nghĩa là toàn bộ số tiền R$180,000 của khoản nợ phải trả,

sẽ đến hạn trong 60 ngày tới, nếu Trident Brazil thanh toán trong 10 ngày đầu tiên, sẽ được nhận chiết khấu 5%:

R$180,000 * (1 - 0.05) = R$171,000

Quản lý tài chính của Trident Brazil, Maria Gonzalez, phải quyết định phương án nào có chi phí tài trợ thấp hơn cho chỉ tiêu NWC của cô Nợ ngắn hạn thực tế Brazil có chi phí 24% mỗi năm, do điều kiện lạm phát tương đối cao ở Braxin

Chi phí hàng năm của chiết khấu được cung cấp bởi Paraña Electronics là gì? Trident Braxin được trả 5% tiền trong thời gian 50 ngày kể từ khi tài trợ (60 ngày trừ

kỳ hạn 10 ngày đối với chiết khấu) Giả sử một tính toán 365 ngày để tính lãi

= 7.30

Để tính chi phí lãi vay hàng năm từ nguồn tài trợ của nhà cung cấp, mức giảm 5% trong 50 ngày phải gấp 7.30 lần, mang lại chi phí vận chuyển do Paraña Electronics cung cấp

(1 + 0.05)7.3 = 1.428, hoặc 42.8% mỗi năm

Do đó Paraña Electronics tính phí cho Trident Brazil là 42,8% một năm để tài trợ Ngoài ra, Trident Brazil có thể vay thực tế từ các ngân hàng địa phương ở São Paulo với mức 24% mỗi năm, sử dụng các khoản tiền để trả Paraña Electronics sớm hơn để nhận được chiết khấu Loại thứ hai là lựa chọn hợp lý trong trường hợp này

Sự lựa chọn giữa việc tài trợ từ nhà cung cấp cung cấp và nợ ngắn hạn không phải lúc nào cũng là vấn đề so sánh chi phí lãi suất Ở nhiều quốc gia, các công ty con nước ngoài của MNE nước ngoài có mức tiếp cận hạn chế đối với nợ bằng đồng nội tệ

Trang 15

15

Trong các trường hợp khác, công ty con có thể được cung cấp vốn từ công ty mẹ với

tỷ lệ cạnh tranh Chúng ta sẽ trở lại chủ đề này (ngân hàng nội bộ) trong phần cuối cùng của chương này (Tài trợ vốn lưu động)

6.2 Số ngày vốn lưu động

Một phương pháp phổ biến để so sánh việc quản lý vốn lưu động là tính toán NWC của công ty trên cơ sở "ngày bán hàng" Nếu giá trị của A/R, hàng tồn kho và A/P trên bảng cân đối được chia bởi doanh thu hàng năm (doanh thu hàng năm / 365 ngày), NWC của công ty có thể được tóm tắt trong số ngày bán mà NWC tạo thành Phụ lục 19.5 cung cấp kết quả của một cuộc khảo sát tại Hoa Kỳ và Châu Âu trong năm 2010 đây về hiệu suất vốn lưu động công ty ngoại vi và máy tính Chúng ta phải thận trọng khi xem kết quả khảo sát Bởi vì giá trị bán hàng theo ngày dành cho các công ty hợp nhất (không phải là công ty con ở quốc gia cụ thể) thì các chỉ số trung bình phản ánh cấu trúc vốn lưu động rất khác nhau cho từng công ty con thuộc các công ty được liệt kê

Có một số khác biệt rõ ràng giữa mức trung bình của Hoa Kỳ và Châu Âu Chỉ số trung bình “days working capital” của các công ty Mỹ là 30 ngày ngắn hơn so với các

Trang 16

16

công ty được chọn của châu Âu Xem xét chi tiết hơn bảng phân tích, chỉ ra sự biến động rời rạc đối với hàng tồn kho của các công ty Hoa Kỳ, trung bình là 31 ngày bán hàng Thời gian thu hồi đối với các khoản phải thu trung bình là 46 ngày thấp hơn mức trung bình của Châu Âu là 80 Các khoản phải trả của Mỹ cũng ít hơn đáng kể so với châu Âu, 39 ngày so với 55 ngày Rõ ràng, các công ty thiết bị máy tính châu Âu đang

có một mức vốn lưu động cao hơn trong cơ cấu tài chính của họ để hỗ trợ cùng một mức doanh thu so với các công ty có trụ sở ở Mỹ

Trong số các công ty riêng lẻ, Công ty máy tính Dell là một trong những nhà quản lý vốn lưu động tích cực nhất trong tất cả các ngành Mức vốn lưu động ròng của Dell trong hai ngày tiêu cực cho biết chính xác những gì nó nói – chỉ số A/P vượt quá tổng các khoản phải thu và hàng tồn kho Ngay cả với sự thành công đó, những ngày tồn kho của nó là sáu lần vẫn còn ba lần so với thời gian tồn tại của Apple Computer trong hai ngày

6.3 Vốn lưu động nội bộ

Bản thân MNE đưa ra một số chiến lược trong việc quản lý vốn lưu động Nhiều công ty đa quốc gia sản xuất hàng hoá ở một số quốc gia cụ thể và sau đó vận chuyển các sản phẩm trung gian đến các cơ sở khác trên toàn cầu để hoàn thành và phân phối Các khoản phải trả, khoản phải thu, và mức tồn kho của các đơn vị khác nhau là sự kết hợp giữa công ty nội bộ và liên doanh Các thực tiễn kinh doanh khác nhau được quan sát trên toàn cầu về các điều khoản thanh toán (số ngày và chiết khấu) cho thấy sự không phù hợp trong một số trường hợp

Trang 17

17

Ví dụ, Phụ lục 19.6 minh họa những thách thức trong quản lý vốn lưu động do Trident Brazil phải đối mặt Vì Trident Braxin mua nguyên liệu đầu vào từ Trident U.S sau đó sử dụng nguyên liệu đầu vào bổ sung tại địa phương để hoàn thành sản phẩm phân phối tại địa phương, vì vậy nó phải quản lý hai khoản mục phải trả khác nhau Trident U.S bán theo hình thức nội nộ nên các điều khoản thanh toán thực hiện phổ biển theo Hoa Kỳ, thanh toán trong 30 ngày Tuy nhiên, các nhà cung cấp địa phương ở Braxin sử dụng các điều khoản thanh toán gần với hạn mức 60 ngày của Brazil (mặc dù thực tế vẫn còn khá ngắn tại Brazil, có thể kéo dài đến 180 ngày) Tương tự, vì khách hàng của Trident Brazil là người Brazil, họ mong đợi các điều khoản thanh toán thông thường tương tự là 60 ngày Trident Brazil sau đó phải trả nợ cho Trident U.S nhanh hơn nhiều so với việc trả cho các nhà cung cấp địa phương khác và tất nhiên là trước khi họ nhận được thanh toán tiền mặt từ khách hàng của mình

Công ty mẹ Trident cần thực hiện các hoạt động thanh toán nội bộ mà không làm gánh nặng cho các công ty con ở nước ngoài, vấn đề xác định đồng tiền trên hóa đơn

sẽ rất quan trọng Nếu Trident Brazil chỉ bán ở trong nước, nó không có dòng tiền tự nhiên bằng đô la Mỹ hoặc các loại tiền tệ tiếp tục Nó chỉ kiếm được đồng Brazil thực Nếu Trident U.S lập hóa đơn bán cho Trident Braxin bằng Đô la Mỹ, Trident Brazil sẽ

Trang 18

18

luôn luôn thiếu đôla, đồng thời phải gánh chịu chi phí quản lý tiền tệ Trident Hoa Kỳ nên lập hóa đơn theo đồng tiền thực tế ở Braxin và quản lý tiền tệ một cách thiết yếu

6.4 Quản lý khoản phải thu

Dòng tiền hoạt động của một công ty chủ yếu xuất phát từ các khoản phải thu Các khoản phải thu đa phương được tạo ra bởi hai loại hình giao dịch riêng biệt: bán cho các công ty con có liên quan và bán cho người mua độc lập hoặc không liên quan

Khách hàng độc lập: Quản lý các khoản phải thu từ khách hàng độc lập liên

quan đến hai loại quyết định: giao dịch nên được thực hiện bằng đồng tiền nào, và điều khoản thanh toán là gì? Doanh thu trong nước hầu như luôn luôn bằng đồng nội tệ Vấn đề là liệu việc bán hàng xuất khẩu phải được thực hiện bằng đồng tiền của người xuất khẩu, đồng tiền của người mua hay đồng tiền của một nước thứ ba Sự cạnh tranh hoặc thói quen thường sẽ đưa ra câu trả lời, nhưng nếu có sự đàm phán, người bán thích thực hiện giao dịch bằng đồng tiền mạnh nhất Tuy nhiên, người mua lại thích thanh toán bằng đồng tiền yếu nhất

Điều khoản thanh toán: Điều khoản thanh toán là một yếu tố thương lượng

khác Do đó, các khoản phải thu được thanh toán bằng đồng tiền yếu nên được thu hồi càng sớm càng tốt để giảm thiểu tổn thất về giá trị trao đổi giữa ngày bán và ngày thu Các khoản phải thu được thanh toán bằng đồng tiền mạnh có thể được phép tồn tại lâu hơn Trên thực tế, nếu người bán đang mong đợi đồng nội tệ giảm giá, điều đó khuyến khích họ chậm thu các khoản phải thu bằng đồng tiền mạnh, đặc biệt là nếu chính phủ

sở tại yêu cầu chuyển đổi hoá đơn bằng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ của nước họ Một cách khác, nếu hợp pháp, là người bán chấp nhận để tiền thu được ở nước ngoài thay

vì chuyển chúng về nước

Trong các nền kinh tế lạm phát, nhu cầu tín dụng thường vượt cung Tuy nhiên, một doanh nghiệp lớn (có thể là các công ty đa quốc gia hoặc một mối quan tâm lớn của địa phương) có thể tiếp cận với các khoản tín dụng rẻ có sẵn tại địa phương tốt hơn

so với các doanh nghiệp nhỏ trong nước (các nhà phân phối địa phương, các nhà bán lẻ hoặc các nhà sản xuất nhỏ)

Ngày đăng: 25/12/2017, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w