Mô hình chính quyền lưỡng đầu chế dưới thời lê trịnh ở đàng ngoài thế kỷ XVI khái niệm nguyên nhân hình thành..................................................................................... cơ cấu tổ chức................................................................................................. phân tích............................................................................................................. đánh giá................................................................................................
Trang 1Mô hình chính quyền lưỡng dầu chế dưới thời lê trịnh ở đàng ngoài thế kỷ
XVI- XVIII
I Cơ sở hình thành
1 Khái niệm
- Mô hình nhà nước lưỡng đầu chế là chế độ chính trị trong đó có hai người cùng nắm quyền cai trị đất nước
- Chính quyền Lê -Trịnh là thể chế lưỡng đầu hai dòng họ,giữa vua và chúa, giữa đế và vương
2 Bối cảnh lịch sử
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê Cung Hoàng rồi sáng lập nhà Mạc Mạc Đăng Dung gành được ngôi vua nhưng lực lượng ủng hộ của nhà Lê vẫn còn rất mạnh Trong khi nhà Mạc đang phải đối phó với các cuộc nổi dậy chống đối trong nước thì Nguyễn Kim dưới sự giúp đỡ của vua Ai Lao đã xây xựng dược lực lượng tương dối lớn mạnh ở Sầm Châu ( Sầm Nưa- Lào ngày nay)
Năm 1533 Nguyễn Kim tìm được con của vua Chiêu Tông là Lê Duy Ninh Nguyễn Kim cho đón Lê Duy Ninh sang Ai Lao, tôn nên làm vua, lập lại triều
Lê Sau khi có danh nghiã chính thống, Nguyễn Kim đã quy tụ được hầu hết các lực lượng cựu thần nhà Lê Thế lực của Nguyễn Kim cũng ngày càng mạnh lên
Từ năm 1539 đến 1543 quân nhà Lê từ Ai Lao đã mở các cuộc tấn công về Nghệ an và Thanh Hóa làm quân nhầ Mạc thất bại liên tiếp Cuối năm 1943 nhà
Lê chiếm được Tây Đô, Thanh Hóa, nghệ An Từ thời điểm đó trên đất nước tồn tại hai vương triều song song là Mạc- Lê Về danh nghĩa, triều Lê đã được phục hồi, nhưng ngay từ ngày đầu người năm thực quyền điều hành mọi công vệc là Thái sư Nguyễn Kim
1
Trang 2Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất- một viên tướng cũ nhà Mạc đầu độc chết Nguyễn Kim mất, con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm đã thu hết quyền hành về mình Trịnh Kiểm được phong làm thái sư nắm toàn thể quân đội
=> Manh nha của chính quyền vua Lê - chúa Trịnh bắt đầu xuất hiện kể từ đây Sau đời Trịnh Kiểm, họ trịnh kế tục nhau nắm quyền chi phối triều Lê Năm
1592, Trịnh Tùng xưng vương và xây dựng Vương phủ( Phủ chúa) bên cạnh triều đình nhà Lê Và cũng từ đây, chính sự trong nước do chúa Trịnh Tùng quyết định, của cải, thuế khóa và quân lính tất cả đều dồn vào phủ chúa Từ đó chính thức hình thành cục diện một chế độ với hai chính quyền -chính quyền lưỡng đầu chế Vua Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn mọi điều hành trong nước hầu hết đều do Chúa Trịnh quyết định
Các đời vua Lê chúa Trịnh thế ký XVI-XVIII
Trang 43 Nguyên nhân hình lưỡng đàu chế
Việc thiết lập và duy trì mô hình nhà nước lưỡng đầu chế thời này khá tế nhị Chúa Trịnh đã nhiều lần muốn cướp ngôi vua nhưng không dám thực hiện Năm
1556, vua Lê Trung Tôn băng hà nhưng không có con nối dõi, Trịnh Kiểm mật bàn với những người thân tín việc tự xưng làm vua Trong lúc lưỡng lự, Trịnh Kiểm đã hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm – Một người am hiểu thời cuộc với những quyết định sáng suốt Tương truyền, Nguyễn Bỉnh Khiêm gián tiếp trả lời bằng cách bảo người nhà: “ Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ ! “ và răn chú tiểu dọn chùa là : “ Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản ! “ Ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm là muốn Trịnh Kiểm tìm con cháu nhà Lê dựng lên làm vua để có danh nghĩa thu phục lòng người
Các chúa Trịnh kế tiếp không dám phế bỏ nhà Lê, bởi theo kinh nghiệm lịch sử
và hoàn cảnh thực tế đương thời, hành động đoạt ngôi vua không có lợi cho việc thống trị của họ Trịnh Họ Trịnh chưa có cơ sở xã hội vững chắc, không được toàn dân ủng hộ, lại đang phải đối đầu với kẻ thù hùng mạnh ở phía bắc là nhà Mạc lẫn phái nam là họ Nguyễn Trong hoàn cảnh ấy, họ Trịnh quyết định duy trì ngôi vua Lê, mang danh nghĩa nhà Lê – một vương triều thiết lập trên nền tảng chiến thắng oanh liệt chống ngoại xâm và ít nhiều còn uy tín với nhân dân, trấn áp các lực lượng đối lập, chiêu dụ dân chúng Nắm giữ quyền cao nhất nhưng không lên làm vua là giải pháp chính trị tối ưu cho họ Trịnh Điều này lý giải tại sao mô hình lưỡng đầu chế “vua Lê chúa Trịnh” kỳ dị bậc nhất trong lịch sử lại tồn tại lâu như vậy ( 250 năm ) đến tận lúc họ Trịnh bị quân Tây Sơn diệt ( 7 / 1786 )
II Mô hình chính quyền lưỡng đầu chế thời Lê – Trịnh.
1 Một số đổi mới về cách xưng hô và lễ nghi
Trang 5Tại Đàng Ngoài, sau khi kế tục sự nghiệp của cha là Lạng Quốc công Trịnh Kiểm và tiêu diệt xong họ Mạc, năm 1599, Bình An vương Trịnh Tùng bắt đầu gầy dựng nghiệp chúa Tước vương thuộc về các chúa Trịnh kể từ đó, và cũng
từ đây, những đổi mới trong cách xưng hô ở triều đình xuấtt hin:
Vua chết gọi là băng; Chúa chết gọi là tốt; đình thần tâu với vua gọi là tấu; trình với chúa gọi là khải; nơi ở và làm việc của vua là cung điện; nơi ở và làm việc của chúa là phủ liêu; con trai của vua gọi là hoàng tử; con trai của chúa gọi là vương tử; con trai vua được chọn để kế vị gọi là thái tử; con trai chúa được chọn để kế nghiệp gọi là thế tử … Khi thiết triều, trong lúc bá quan văn võ đứng thành hai hàng bên sân chầu, vua Lê mặc áo bào vàng ngồi trên ngai, thì chúa Trịnh mặc áo bào màu tía ngồi trên sập, chếch về phía trước ngai vàng Càng về sau, mọi việc đều do một tay chúa Trịnh quyết định Khi vị thế tử con chúa đủ
18 tuổi, sẽ được phong tước Công, lập Tiết chế phủ, điều hành công việc thường nhật ở triều đình, chúa chỉ can thiệp vào những vấn đề quốc gia đại sự
2 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước trong thời Lê-Trịnh
a Tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương Giai đoạn
1533-1599
Về cơ bản, bộ máy hành chính giai đoạn này dựa theo thời Lê Thánh Tông
Đầu não là Đại Tư đồ, Đại Tư mã, Đại tư không, Tam thái (Thái sư, thái
úy, thái bảo), Tam thiếu (Thiếu sư, thiếu úy, thiếu bảo)
Trong triều đình vẫn có tổ chức Lục bộ là Lại Bộ, Lễ Bộ, Hộ Bộ, Binh
Bộ, Hình Bộ, Công bộ Mỗi bộ có một viên Thượng thư và 2 Tả bộ thị lang và cơ quan thường trực là Vụ tư sảnh đứng đầu
Giám sát Lục bộ là Lục khoa tương ứng Giúp việc cho Lục bộ là lục tự, gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự
5
Trang 6 Về ban võ, quân lính chia làm 5 phủ gồm đô đốc phủ: trung quân, bắc quân, nam quân, tây quân, đông quân Mỗi phủ có chức Tả, Hữu đô đốc, Đồng tri và Thiêm sự
b Tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương giai đoạn
1600-1664
Năm 1600, Trịnh Tùng được phong vương, chính thức trở thành chúa Họ Trịnh được hưởng thế tập ngôi chúa Từ đây họ Trịnh lập ra hệ thống tổ chức chính quyền ở phủ chúa tương ứng với chính quyền có sẵn bên cung vua
Trước tiên, Trịnh Tùng bãi bỏ chức Tả, Hữu thừa tướng và Bình chương của thời trước, đặt ra chức Tham tụng làm việc Tể tướng Quyền lực của Tham tụng rất lớn, đều do chúa Trịnh tiến cử từ các viên Thượng thư (tương đương với Bộ trưởng) hoặc Thị lang lên
Năm 1601, Trịnh Tùng đặt thêm chức Bồi tụng đảm đương trọng trách trong phủ Chúa Dưới Tham tụng và Bồi tụng, chúa Trịnh đặt thêm các Phiên, tương đương với các Bộ bên cung vua Ban đầu chỉ có 3 Phiên là Bộ phiên, Binh phiên và Thủy sư phiên nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị của chúa Trịnh trong thời kỳ đầu Tham tụng và Bồi tụng được gọi là quan Phủ liêu
c Tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương giai đoạn
1664-1718
- Số Thượng thư Lục bộ trong hơn 100 năm đầu thời Lê trung hưng còn thiếu, đến năm 1664, Trịnh Tạc mới đặt đủ Thượng thư (tương đương Bộ trưởng) cho cả sáu bộ
- Năm 1675, chúa Trịnh Tạc quy định lại một số chức năng của Lục bộ như sau:
Trang 7 Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng, xét hạch và thăng giáng quan tước
Lễ Bộ: Trông coi việc nghi lễ, tế tự, mừng tiệc yến; học hành thi cử, đúc ấn tín; các chi tiết về mũ áo, chương tấu, việc đi cống, đi sứ, vào chầu Kiêm coi việc thiên văn, y, bốc (bói toán), sư sãi, giáo phường, đồng văn, nhã nhạc
Hộ Bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và ruộng lộc, thuế muối, sắt
Binh Bộ: Trông coi việc binh nhung, cấm vệ, xe ngựa nghi trượng, khí giới, dịch trạm; đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu có dân tộc thiểu số và ứng phó các việc khẩn cấp;
Hình Bộ: Trông coi việc thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc
tù, ngục, kiện cáo;
Công bộ: Trông coi việc xây dựng thành trì, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền; quản lý núi rừng, sông đầm, vườn tược
Về ban võ, Trịnh Tạc đặt ra chức Chưởng phủ sự, Thự phủ sự và Quyền phủ sự đứng đầu, gọi là quan Ngũ phủ Họ có nhiệm vụ bàn định các việc trong phủ và tra xét các tờ khải tâu lên Những người đảm nhận chức vụ này đều là công thần hoặc thân thuộc
d Tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương từ 1718 về sau
Năm 1718, chúa Trịnh Cương lập ra đủ Lục phiên ở phủ chúa: Ngoài Binh phiên và Hộ phiên đặt từ trước, tới lúc đó đặt thêm Lại phiên, Lễ phiên, Hình phiên, Công phiên, tương đương 6 Bộ của triều đình vua Lê (Thủy sư phiên thuộc về Binh phiên) Kể từ lúc này, toàn bộ việc tiền tài, thuế khóa, việc quân, việc dân đều thuộc cả về các phiên ty
7
Trang 8Việc thuế khóa trước kia do 46 hiệu đứng ra thu thì Trịnh Cương gộp cả vào trong 6 cung trực thuộc 6 phiên: Cung tả trưng, Cung hữu trưng, Cung Đông, Cung Nam, Cung Đoài, Cung Bắc
Đứng đầu các Phiên là Tri phiên (tương đương với Thượng thư bên Lục bộ), Phó tri phiên (tương đương Thị lang), Thiêm tri phiên, Nội sai và Lại phiên cùng thuộc lại tất cả 60 người Phẩm hàm của các quan lại bên Phiên thì Tri phiên tương đương Thượng thư, Phó tri phiên tương đương Thị Lang, còn các chức khác tương đương đều kém bên Lục bộ 1-2 bậc
Như vậy, quá trình lập ra Ngũ phủ (ban võ) và Phủ liêu (ban văn) cùng các
cơ quan giúp việc (Lục phiên) là một quá trình thâu tóm quyền hành từ cung vua về phủ chúa Triều đình vua Lê cuối cùng chỉ còn vài chức quan
hư hàm làm nhiệm vụ nghi thức Về danh nghĩa, chúa Trịnh chỉ xưng vương và đứng đầu Ngũ phủ, Phủ liêu nhưng trên thực tế lại nắm hết quyền điều hành việc nước
e Tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương
Hệ thống chính quyền địa phương chủ yếu vẫn như thời Lê Thánh Tông: trong nước chia thành các trấn, phủ, huyện, châu và xã
Cơ quan cấp trấn:
- Đứng đầu các trấn là các cơ quan Trấn ty, Thừa ty và Hiến ty
- Đứng đầu cơ quan Trấn ty là quan Trấn thủ, Đốc trấn và Lưu thủ Các trấn gần thì đặt chức Trấn thủ nhưng các trấn xa thì đặt chức Đốc trấn; với Thanh Hoa là đất căn bản thì đặt chức Lưu thủ Tuy tên gọi khác nhau nhưng thực chất nhiệm vụ thì như nhau Chức quan trấn thủ ở địa phương
là quan trọng nhất nên các Chúa Trịnh chỉ dùng người thân thích và tin cậy vào chức vụ này
Trang 9- Sang thời Trịnh Cương đặt thêm chức Tuần thủ ở các trấn để đi tuần phòng
- Đến thời Trịnh Giang đổi gọi các chức Lưu thủ, Trấn thủ, Đốc
trấn thành Đốc phủ Ngoài ra tại các trấn còn có chức Đốc đồng (coi việc kiện cáo); tại trấn lớn như Nghệ An đặt thêm chức Đốc thị coi việc biên cương, lấy cả quan văn vào làm
Cơ quan cấp xã
- Các chúa Trịnh có quan tâm củng cố chút ít bộ máy cấp xã, nhưng thực chất vẫn lỏng lẻo không quản lý được sát sao như thời Lê Sơ
- Sang thời Lê Huyền Tông (1663-1672), chúa Trịnh Tạc đề ra quy định khảo xét Xã trưởng 3 năm 1 lần; những ai có thành tích được thăng làm quan huyện
- Sau khi Trịnh Cương mất (1729), chính sự thời Trịnh Giang suy đồi, phép khảo xét định kỳ đối với Xã trưởng không thực hiện Bộ máy cấp xã dần dần thêm lỏng lẻo, chức Xã trưởng cũng không được coi trọng
- Sang thời Lê Thuần Tông (1732 – 1735), Trịnh Giang để cho nhân dân địa phương hoàn toàn tự quyết việc lập Xã trưởng Chính quyền càng ngày càng không quản lý nổi địa bàn cấp xã, thôn
Như vậy, ở chính quyền địa phương, trên danh nghĩa, phụ thuộc vào cả vua
và chúa nhưng thực tế, do chúa có quyền tuyển bổ, thăng giáng quan lại từ
tứ phẩm trở xuống nên các quan và chính quyền địa phương hầu như chỉ chịu sự sai khiến của chúa
3 Sự phân quyền thời Lê- Trịnh
Sự phân định quyền hạn giữa vua Lê và Chúa Trịnh trở thành một đặc điểm quan trọng và chi phối tất cả các đặc điểm khác của thể chế lưỡng đầu này.Đặc
9
Trang 10điểm này được thể hiện rất rõ qua vai trò, địa vị, quyền lực của vua và chúa, của Lục Bộ và Lục Phiên như sau:
Trên danh nghĩa pháp lý, chỉ có vua Lê mới được coi là vị vua độc tôn duy nhất trên toàn cõi Đại Việt và chỉ có vua Lê mới có niên hiệu, còn Trịnh vương chỉ là bầy tôi nhưng là bầy tôi vượt trên tất cả các bầy tôi khác Quyền lực của chúa tuy được coi là phái sinh từ đế quyền của vua song thực tế lại lấn át hết cả quyền của vua, bao trùm lên hầu hết mọi lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp, tài chính thuế khoá, quân sự…
- Về lập pháp:
không chỉ vua Lê mà cả chúa Trịnh cũng có quyền lập pháp.Trên danh nghĩa vua ban hành các văn bản có tính chất chung chung, còn chúa ban hành các văn bản mang tính tính ứng dụng nêu rõ những trường hợp, đối tượng và công việc
áp dụng Tuy nhiên sự phân định này cũng không rõ ràng, trên thực tế hầu hết các dụ, sắc dụ, hay chỉ, chiếu do vua ban hành đều do phủ chúa chuẩn bị và đưa sang; hoặc những việc xét bên điện vua đều phải chuyển sang phủ chúa để chúa cùng xét
- Về hành pháp:
vua Lê nắm quyền tuyển bổ, thăng, giáng, ban phẩm hàm cho các chức quan từ tam phẩm trở lên; những chức từ tứ phẩm trở xuống do chúa định đoạt Về nghi thức, nhà vua là người ra sắc dụ hay chiếu chỉ phê chuẩn tất cả các quyết định,
kể cả quyết định của chúa Trịnh Nhưng trong thực tế, với chức Tổng quốc chính do vua Lê phong, chúa Trịnh tự mình tuyển bổ, thăng giáng, ra lệnh cho các quan mà không thông qua nhà vua Ngay cả với các chức quan cao cấp thuộc quyền tuyển bổ, thăng giáng của nhà vua cũng vẫn nằm trong vòng kiểm soát của chúa Trịnh
- Về tư pháp:
Trang 11Các vụ án đã được xét xử ở địa phương nhưng còn chống án thì Ngự sử đài của triều đình xét phúc thẩm Nếu đương sự còn thấy oan ức thì có thể kêu sang phủ chúa – là cấp chung thẩm Như vậy, về tư pháp, chúa Trịnh mới thực sự có quyền tài phán cao nhất, vua Lê chỉ có chức năng ban bố lệnh đại xá, đặc xá
- Về quân sự:
Với chức Đại nguyên soái, chúa Trịnh được vua Lê chính thức công nhận là người đứng đầu quân đội, là tổng chỉ huy quân đội, nắm toàn quyền về việc điều động tướng sĩ, ấn định chính sách quốc phòng Hầu hết những mệnh lệnh liên quan đến công việc quốc phòng đều do Chỉ dụ của chúa ban hành Vua Lê chỉ đóng vai trò chủ toạ nghi lễ cho thêm phần trang trọng nhằm động viên tinh thần quân sĩ khi xuất trận hoặc phong tước cho các tướng tá
- Về tài chính – thuế khoá:
chúa Trịnh ngày càng nắm trọn quyền về tài chính, thuế khoá, vua Lê không còn chút quyền gì về phương diện này Thậm chí chi tiêu của triều đình còn bị Phủ liêu kiểm soát Chúa quy định cho vua Lê chỉ có 5000 quân túc vệ, 20 chiếc thuyền rồng, 7 con voi và được hưởng thuế của 1000 xã Qua đây ta có thể thấy phạm vi quyền hạn của vua bị thu hẹp lại đến mức nào Đâu còn là người đứng đầu thiên hạ với uy quyền tối cao: dưới gầm trời này đâu cũng là đất của vua, ai
ai cũng là thần dân của vua; vậy mà thực tế chỉ nắm trong tay có 1000 xã
Vương quyền của chúa đã lấn át hết cả đế quyền của vua
Tuy thâu tóm hầu hết mọi quyền hành chúa Trịnh vẫn để vua nắm một số quyền mang nặng tính nghi lễ và không ảnh hưởng đến thực quyền của chúa như:
- Về ngoại giao:
Chỉ vua Lê mới có quyền tiếp sứ giả nước ngoài và đứng tên trong các văn thư ngoại giao Và thực tế quyền hạn của vua cũng chỉ bó gọn trong mấy công việc
11