1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

lý luận giá trị của w petty, a smith, d ricardo và sự kế thừa, phê phán, phát triển trong lý luận giá trị của c mác tiểu luận

31 5,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 54,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ BÀI Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Nghiên cứu về lịch sử các học thuyết kinh tế luôn là một trong những công việc đầu tiên đối với những ai muốn tìm hiểu về kinh tế học bởi nó là sự hệ thống hoá toàn bộ tinh hoa tư tưởng kinh tế nhân loại theo dòng chảy của lịch sử. Có thể nói, trong lịch sử các học thuyết kinh tế, hệ thống tư tưởng kinh tế cốt lõi, xuyên suốt là hệ thống những tư tưởng về lý luận giá trị. Giá trị là phạm trù cơ sở của mọi lý thuyết kinh tế học nói chung và kinh tế chính trị học nói riêng. Trải qua thời gian lịch sử lâu dài, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lý luận về giá trị vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống lý luận của kinh tế học. Vì vậy, mọi sự phân tích kinh tế nếu chưa quy được về vận động của giá trị thì chưa có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về hiện tượng kinh tế đang xét. Do đó, lý luận giá trị có ý nghĩa thực tiễn lớn lao trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong hệ thống các lý luận về giá trị, không thể không ghi công đóng góp to lớn của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, lý luận giá trị của họ là những tiền đề cơ bản cho những nhà kinh tế học sau này, đặc biệt là C.Mác (18181883). Song, học thuyết của họ cũng còn có những hạn chế nhất định. Để nhận thức rõ ý nghĩa của vấn đề trong việc nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế, nên tôi đã lựa chọn đề tài: “ Lý luận giá trị của W.Petty, A.Smith, D.Ricardo và sự kế thừa, phê phán, phát triển trong lý luận giá trị của C.Mác.” để nghiên cứu viết tiểu luận môn Lịch sử các học thuyết kinh tế. Trong quá trình làm bài, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn, tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 1

MỞ BÀI

Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứuquá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thốngquan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hộikhác nhau Nghiên cứu về lịch sử các học thuyết kinh tế luôn là một trongnhững công việc đầu tiên đối với những ai muốn tìm hiểu về kinh tế học bởi nó

là sự hệ thống hoá toàn bộ tinh hoa tư tưởng kinh tế nhân loại theo dòng chảycủa lịch sử

Có thể nói, trong lịch sử các học thuyết kinh tế, hệ thống tư tưởng kinh

tế cốt lõi, xuyên suốt là hệ thống những tư tưởng về lý luận giá trị Giá trị làphạm trù cơ sở của mọi lý thuyết kinh tế học nói chung và kinh tế chính trị họcnói riêng Trải qua thời gian lịch sử lâu dài, trong nền kinh tế thị trường hiệnnay, lý luận về giá trị vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống

lý luận của kinh tế học Vì vậy, mọi sự phân tích kinh tế nếu chưa quy được

về vận động của giá trị thì chưa có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về hiện tượngkinh tế đang xét

Do đó, lý luận giá trị có ý nghĩa thực tiễn lớn lao trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Trong hệ thống các

lý luận về giá trị, không thể không ghi công đóng góp to lớn của các nhà kinh

tế học tư sản cổ điển, lý luận giá trị của họ là những tiền đề cơ bản cho nhữngnhà kinh tế học sau này, đặc biệt là C.Mác (1818-1883) Song, học thuyết của

họ cũng còn có những hạn chế nhất định

Để nhận thức rõ ý nghĩa của vấn đề trong việc nghiên cứu Lịch sử các

học thuyết kinh tế, nên tôi đã lựa chọn đề tài: “ Lý luận giá trị của W.Petty, A.Smith, D.Ricardo và sự kế thừa, phê phán, phát triển trong lý luận giá trị của C.Mác.” để nghiên cứu viết tiểu luận môn Lịch sử các học thuyết kinh tế.

Trong quá trình làm bài, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không tránh khỏinhững hạn chế, thiếu xót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp củathầy cô và các bạn, tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

NỘI DUNG I/ Lý luận giá trị của William Petty, Adam Smith và David Ricardo 1.1.Lý luận giá trị của William Petty (1623-1687).

Giai đoạn ra đời của kinh tế học tư sản cổ điển gắn với tên tuổi của cácnhà kinh tế học tiêu biểu như William Petty, Boisguillebert, F.Quesney,…Trong đó, lý luận giá trị của W.Petty được coi là điểm khởi đầu cho họcthuyết giá trị - lao động, học thuyết xuyên suốt của kinh tế học tư sản cổ điển.W.Petty (1623-1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyếtkinh tế cổ điển ở Anh Ông sinh trưởng trong một gia đình thợ thủ công ởnước Anh nhưng được học hành có hệ thống Ông uyên bác trong nhiều lĩnhvực: Vật lý, cơ khí, âm nhạc, y học,… Ông cũng đồng thời là một chủ đất,một nhà công nghiệp thành đạt W.Petty sống trong thời kỳ tích luỹ nguyênthuỷ tư bản và tham gia vào quá trình đó với việc viết hàng loạt các tác phẩmbiện hộ cho lập trường kinh tế của nước Anh : "Điều ước về thuế và thu thuế"(1662), "Số học chính trị" (1676), "Bàn về tiền tệ" (1862)

W.Petty có công lao trong việc nêu ra nguyên lý giá trị - lao động Ông

đã đưa ra ba phạm trù về giá cả hàng hoá trong tác phẩm "Bàn về thuế khoá

và lệ phí", đó là giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo và giá cả chính trị

Thế nào là giá cả tự nhiên? Ông xác định giá cả tự nhiên của hàng hoá

bằng cách so sánh lượng lao động hao phí để tạo ra vàng hoặc bạc Ông viết:

"Một người nào đó, trong thời gian lao động khai thác được 1 ounce bạc vàcùng thời gian đó sản xuất được 1 barrel lúa mì, thì 1 ounce là giá cả tự nhiêncủa 1 barrel lúa mì Nếu nhờ những mỏ mới giàu quặng hơn, thì cùng mộtthời gian lao động đó, bây giờ khai thác được 2 ounce bạc thì 2 ounce bạc làgiá cả tự nhiên của 1 barrel lúa mì"

Như vậy, theo C.Mác, về thực chất W.Petty đã xác định giá trị hàng hoábằng số lượng lao động hao phí Theo quan niệm này, giá cả tự nhiên chính làgiá trị của hàng hoá do lao động sản xuất ra và được đo lường qua lao độngcủa lĩnh vực khai thác bạc

Trang 3

W.Petty cũng đã thấy được giá trị phụ thuộc vào năng suất lao động khiông so sánh khối lượng lao động hao phí để sản xuất ra bạc với số lượng laođộng hao phí để sản xuất ra lúa mì, nếu năng suất lao động sản xuất ra bạctăng lên thì giá trị của nó giảm xuống Điều đó có nghĩa là lượng của giá cả tựnhiên, hay giá trị tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác bạc.

Nếu như giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá thì giá cả nhân tạo là giá cảthị trường của hàng hoá Ông viết: "Tỷ lệ giữa lúa mì và bạc chỉ là giá cả nhântạo chứ không phải là giá cả tự nhiên" Theo ông, giá cả nhân tạo thay đổi phụthuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung - cầu của hàng hoá trên thị trường

Về giá cả chính trị, W.Petty cho rằng nó là một loại đặc biệt của giá cả tựnhiên Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, nhưng trong điềukiện chính trị không thuận lợi Vì vậy, chi phí lao động trong giá cả chính trịthường cao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường Cóthể nói, đối với W.Petty, người đương thời của cách mạng tư sản và chiếntranh vệ quốc, thì việc phân biệt giá cả tự nhiên, tức là chi phí lao động trongđiều kiện bình thường, với giá cả chính trị - là lao động chi phí trong điềukiện chính trị không thuận lợi, là điều có ý nghĩa to lớn

Việc phân biệt ba loại giá cả nói trên thể hiện cố gắng của W.Petty tìmhiểu bản chất và nguồn gốc thật sự của giá trị hàng hoá ở lao động sản xuất ra

nó mà các hình thức thể hiện bên ngoài thường che lấp đi

Ngoài ra, W.Petty còn đặt vấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và laođộng phức tạp, so sánh các loại lao động với nhau nhờ vào phương pháp đánhgiá năng suất lao động trung bình trong nhiều năm, loại trừ tình trạng ngẫunhiên Đây là đóng góp to lớn của W.Petty, tuy nhiên W.Petty đã dừng lại ở

đó, không phát triển luận điểm đó nữa

Và bên cạnh đó, ông đã đưa ra luận điểm nổi tiếng cho rằng: "Việc đánh giátất cả các vật phải được quy về hai mẫu số tự nhiên tức là thành đất đai và laođộng, nghĩa là chúng ta phải nói: giá trị của một chiếc thuyền hay một cái áo làngang với giá trị của một số đất đai bao nhiêu đó, cộng với một lượng là bao

Trang 4

nhiêu đó Bởi vì cả hai vật thuyền và áo đều do đất đai và lao động của conngười tạo ra", do đó ông đã so sánh: "Lao động là cha và là nhân tố tích cực củacủa cải, còn đất đai là mẹ của nó " Quan niệm này của ông thường được coi làchỉ đúng một nửa song lại rất có ý nghĩa khi khẳng định được lao động là nguồngốc tạo ra mọi giá trị Sở dĩ nó chỉ đúng một nửa vì ở đây nếu W.Petty coi đó làhai yếu tố của quá trình lao động sản xuất thì hoàn toàn đúng đắn, nhưng nếuông coi đó là hai yếu tố hình thành giá trị thì lại sai lầm Ta có thể nhận rõ tínhchưa đầy đủ trong quan điểm này của W.Petty, đó là nếu chỉ có lao động và đấtđai mà thiếu đi công cụ lao động thì kết quả lao động không đạt được giá trị thựccủa nó.

Ngoài những thành tựu đã đạt được, W.Petty còn gặp hạn chế khi xácđịnh "lao động và đất đai là cơ sở tự nhiên của giá cả mọi sản phẩm" Ông đãtìm thước đo thống nhất của giá trị - thước đo chung đối với tự nhiên và laođộng, đưa ra luận điểm "thước đo thông thường của giá trị là thức ăn trungbình hàng ngày của một người lớn, chứ không phải lao động hàng ngày củangười đó" Ông xác định giá trị của một mái nhà tranh ở Ireland là bằng sốlượng những khẩu phần hàng ngày mà những người thợ đã tiêu dùng khi dựnglên ngôi nhà đó Những lập luận trên đây của ông chứng tỏ ông chưa phânbiệt rõ giá trị sử dụng với giá trị trao đổi, chưa biết đến tính chất xã hội củagiá trị, chưa phân biệt được lao động cụ thể với lao động trừu tượng

Lý luận về giá trị của W.Petty còn hạn chế do chịu ảnh hưởng của chủnghĩa trọng thương khi ông cho rằng lao động trong thương nghiệp có năngsuất cao hơn lao động trong nông nghiệp Theo ông thì thương nghiệp có lợihơn công nghiệp, công nghiệp có lợi hơn nông nghiệp, W.Petty cho rằng chỉ

có lao động trong ngành sản xuất vàng và bạc mới tạo ra giá trị, còn lao độngtrong các ngành khác chỉ tạo ra giá trị trong mức độ nó so sánh với lao độngtạo ra tiền Từ đó, ông cho rằng giá trị của hàng hoá là sự phản ánh giá trị củatiền, giống như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời

Trang 5

Như vậy, tuy có những hạn chế nhưng có thể nói W.Petty là người khai sinhkinh tế học tư sản cổ điển W.Petty đã có những nhận xét đúng đắn vạch rõ vaitrò của lao động trong việc tạo ra giá trị, tức là tìm ra nguồn gốc thực sự của củacải.

1.2.Lý luận giá trị của Adam Smith.

Vào cuối những năm 20 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệpAnh kết thúc và đạt được những thành công vô cùng rực rỡ, nước Anh trởthành "công xưởng của thế giới", các nhà tư bản có thể làm giàu nhanh chóngvới quy mô lớn chưa từng có Tuy nhiên trong xã hội tư bản đó, những mâuthuẫn cơ bản ngày càng gay gắt Thế nhưng, các nhà tư tưởng của giai cấp tưsản đã tin tưởng tuyệt đối vào tính ưu việt của nó, tin rằng chủ nghĩa tư bản sẽtồn tại vĩnh viễn Về mặt tư tưởng, xã hội đòi hỏi phải có những tư tưởng mớiphù hợp với thời đại, giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn mớinảy sinh Vì vậy, lý luận giá trị của các nhà tư sản cổ điển cũng cần phải pháttriển cho phù hợp với xu thế chung, đáp ứng yêu cầu của thực tế Thời kỳ nàyđánh dấu sự phát triển lý luận giá trị - lao động của đại bểu xuất sắc -A.Smith, người được coi là "nhà tiên tiến của giai cấp tư sản" (nhận xét củaLênin), là "nhà kinh tế học tổng hợp của thời kỳ công trường thủ công" (nhậnxét của C.Mác)

A.Smith (1723-1790) là một nhà kinh tế học xuất sắc của nước Anh Ôngnổi tiếng với lý thuyết "Bàn tay vô hình" - đề cao các quy luật kinh tế kháchquan tự phát hoạt động, chi phối hành động của con người Bên cạnh đó, têntuổi ông còn đi vào lịch sử kinh tế học với tác phẩm xuất sắc "Nghiên cứu vềbản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc" (1776) Có thể nói, từA.Smith trở đi mới có lịch sử chân chính của lý luận khoa học về giá trị Lầnđầu tiên trong lịch sử tư tưởng kinh tế, học thuyết giá trị được đặt là cơ sở của

hệ thống kinh tế chính trị

Nếu như, W.Petty và những người trọng nông còn thể hiện sự phiến diệntrong lý luận giá trị thì A.Smith đã đưa lý luận này đến một sự phát triển mới

Trang 6

trên cơ sở kế thừa, phát huy những thành tựu và phê phán những sai lầm trong

lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế học đi trước

A.Smith luôn khẳng định giá trị là do lao động làm ra, lao động là nguồngốc và cũng là thước đo cuối cùng của giá trị Quan điểm này của A.Smith làđúng đắn bởi lao động là hành động có mục đích, có ý thức của con ngườinhằm biến những cái tự nhiên thành sản phẩm để thoả mãn nhu cầu, và đồngthời giúp con người tạo ra giá trị

Công lao to lớn của A.Smith trong việc nghiên cứu lý luận giá trị là ở chỗông dứt khoát xác định giá trị bằng lao động chi phí trong việc sản xuất hànghoá, rằng việc trao đổi hàng hoá nhất thiết phải tương ứng với lượng lao độngchứa đựng trong nó Qua phân tích, A.Smith đã chỉ rõ giá trị hàng hoá có hai loạithước đo là lao động và tiền tệ Theo ông, lao động là thước đo bên trong, là

"thước đo duy nhất chính xác của giá trị", còn tiền tệ chỉ có thể làm thước đochính xác của giá trị trong một thời gian nhất định mà thôi Tiền tệ là thước đobên ngoài của giá trị

Hơn tất cả các nhà nghiên cứu trước đó, A.Smith phân biệt một cách rõràng và tỉ mỉ hai thuộc tính của hàng hoá: Giá trị sử dụng và giá trị Ông cũngnêu lên một nhận xét là người ta hay nhầm lẫn khi dùng phạm trù giá trị đểchỉ công dụng của một loại hàng hoá nào đó Ông viết: "Giá trị của một vật cóhai nghĩa: Đôi lúc chỉ công dụng của một vật nào đó, nhưng đôi lúc cũng chỉkhả năng có được một vật khác do việc chiếm hữu vật nói trên đem lại" Ông

đề nghị gọi nghĩa thứ nhất là giá trị sử dụng, nghĩa thứ hai là giá trị trao đổi.A.Smith khẳng định nguồn gốc tạo ra giá trị trao đổi là lao động vật hoácủa công nhân và chỉ có lao động mới tạo ra khả năng trao đổi cho một vật Vàcũng theo ông, giá trị sử dụng của một vật không quyết định giá trị trao đổi củavật, vì có những vật có giá trị sử dụng rất lớn nhưng giá trị trao đổi lại ít vàngược lại Để chứng minh cho điều này, A.Smith đưa ra ví dụ nói rằng: "Không

có gì hữu ích bằng nước nhưng với nó hầu như không thể mua được gì cả" Như

Trang 7

vậy, ông đã bác bỏ quan điểm cho rằng tính ích lợi quyết định giá trị trao đổi màA.R.J.Turgot ủng hộ.

Xuất phát từ việc khẳng định giá trị là do lao động làm ra, A.Smith đãhiểu, về thực chất, giá trị bằng số lượng lao động đã chi phí chứa đựng tronghàng hoá Như vậy, lao động là giá cả đầu tiên, là tổng số tiền đầu tiên đã trảcho tất cảc các vật phẩm không phải vàng hoặc bạc mà chính lao động đượcdùng để đổi lấy tất cả của cải trên thế giới, đó là khái niệm đúng đắn về giá trị.Nhưng A.Smith không dừng lại ở điều khẳng định chung đó, Ông bác bỏquan niệm của cả những người trọng thương lẫn những người trọng nông quy

sự sáng tạo giá trị về một loại lao động cụ thể, riêng biệt Trái lại, A.Smithkhẳng định rằng mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giátrị Như thế là ông đã đi xa hơn các nhà tiền bối trong vấn đề xác định giá trịbằng lao động, tiến thêm một bước trên con đường trừu tường hoá khoa học khiphân tích giá trị Sự tiến bộ này được C.Mác đánh giá rất cao trong quá trình đitới phát minh vĩ đại về thuộc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.Khi nghiên cứu vấn đề lượng của giá trị, A.Smith đã đạt thêm một thànhtựu quan trọng khác Ông xác định lượng giá trị là lượng lao động xã hộitrung bình chứ không phải lượng lao động chi phí để sản xuất hàng hoá Vậy,lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất

ra hàng hoá đó Lượng lao động tiêu hao ấy được tính bằng thời gian lao độngtrung bình, nhưng nếu như vậy thì người ta có thể lầm tưởng rằng, người sảnxuất ra hàng hoá càng lười biếng hay vụng về bao nhiêu thì lượng giá trị hànghoá của anh ta lại càng lớn bấy nhiêu, vì anh ta phải sử dụng nhiều thời gianhơn để sản xuất hàng hoá đó Ở đây, lao động tạo thành thực thể của giá trị làthứ lao động giống nhau của con người, là chi phí của cùng một sức lao độngcủa con người, nó có tính chất của một sức lao động xã hội trung bình Do đó,

để sản xuất ra một hàng hoá nhất định, nó chỉ dùng một thời gian lao độngtrung bình cần thiết Điều đó cũng có nghĩa là, trong thực tế có nhiều ngườicùng sản xuất một loại hàng hoá, nhưng những điều kiện sản xuất, trình độ tay

Trang 8

nghề, năng suất lao động khác nhau, nên thời gian lao động hao phí để sảnxuất ra hàng hoá đó là khác nhau Và lượng giá trị của hàng hoá không phải là

do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quyết định mà

nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hộicần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó trong điềukiện sản xuất bình thường của xã hội với một trang thiết bị trung bình, vớimột trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong

xã hội đó

Như vậy, A.Smith bằng cách trừu tượng hoá tất cả các dạng lao động cụthể, cũng trừu tượng luôn cả những chi phí lao động cá biệt, cụ thể để xem xétgiá trị lao động tạo ra như là một đại lượng xác định mang tính chất xã hội.Với quan điểm này, A.Smith đã xoá bỏ được bao điều khó hiểu và mâu thuẫn

mà những người khác thường không giải thích được

Một thành tựu khác của A.Smith là sự phân chia lao động thành lao độngphức tạp lành nghề và lao động giản đơn không lành nghề

"Lao động phức tạp lành nghề" là lao động của người lao động được đàotạo về mặt chuyên môn nhất định

"Lao động giản đơn không lành nghề" là lao động của người lao độngkhông đòi hỏi phải được đào tạo về mặt chuyên môn

Trong hai loại lao động trên, A.Smith cho rằng lao động phức tạp lànhnghề trong cùng một thời gian tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giảnđơn không lành nghề Đó là một đóng góp rõ ràng, không thể phủ nhận đượccủa A.Smith cho lý luận giá trị

Cuối cùng, tiếp tục phát triển những quan điểm khoa học của mình vềvấn đề giá trị, A.Smith còn có công phát hiện ra sự không ăn khớp giữa giá trị

và giá cả hàng hoá Ông đã dành khá nhiều sự chú ý cho việc nghiên cứu vấn

đề này và ông còn đi xa hơn khi phát hiện hàng loạt vấn đề có tính chất quyluật khác Chẳng hạn, A.Smith khẳng định giá trị là cơ sở của giá cả Giá cảđược ông chia làm hai loại, "giá cả tự nhiên" và "giá cả thị trường"

Trang 9

Trước đó, khi đề cập đến "giá cả tự nhiên", W.Petty cho rằng, "giá cả tựnhiên" là giá trị của hàng hoá do lao động sản xuất ra và được đo lường qualao động của lĩnh vực khai thác vàng, bạc Và đến A.Smith, ông khẳng định

"giá cả tự nhiên" thực ra là giá trị được biểu hiện bằng tiền, nó giống như mộttrung tâm mà giá cả của mọi hàng hoá - tức là các giá cả thị trường đều xoayquanh Những hoàn cảnh ngẫu nhiên khác nhau, A.Smith viết: "Có thể đôi khigiữ cho các giá cả này ở mức cao hay thấp hơn giá cả tự nhiên nhưng mặc chotất cả những trở ngại làm sai lệch giá cả so với trung tâm vững chắc này,chúng vẫn thường xuyên xoay quanh nó"

Yếu tố ảnh hưởng tới giá cả thị trường, làm cho nó chênh lệch với giá cảtrung tâm - giá cả tự nhiên và những biến đổi cung - cầu Giá cả tự nhiên cũngthay đổi khi tỷ suất lợi nhuận của mỗi bộ phận cấu thành nó thay đổi Sự thayđổi này lại phụ thuộc sự giàu có, hay nghèo nàn của xã hội và phụ thuộc mốiquan hệ cung - cầu

A.Smith có nêu một giả thiết là trong điều kiện cạnh tranh tự do, ở vào mộtthời điểm là cung và cầu hoàn toàn ăn khớp với nhau, thì giá cả thị trường sẽtrùng khít với giá cả tự nhiên Song, ông cũng chỉ rõ, trên thực tế xét trong mộtthời gian dài luôn luôn có sự chênh lệch giữa hai loại giá cả này Có rất nhiềunhân tố dẫn đến sự chênh lệch đó và trong số các nhân tố đó, A.Smith đã sớmnhận thấy một nhân tố quan trọng bậc nhất - đó là sự tồn tại của các độc quyền

tư bản

Với lý luận giá cả tự nhiên, A.Smith đã tiến thêm một bước trong sự pháttriển hoàn chỉnh lý luận giá trị Trong lý luận kinh tế của mình, C.Mác cũngcho rằng: "Giá cả và giá trị thường không ăn khớp với nhau, chúng điều tiếtlên xuống theo một quy luật chung gọi là quy luật cung - cầu, trong đó lấy giátrị làm trục trung tâm, thì giá cả luôn biến động xoay quanh trục giá trị Tuynhiên, tổng số giá cả luôn bằng tổng số giá trị" Điều này chứng tỏ A.Smith đã

có cái nhìn khá tiến bộ và sâu sắc về vấn đề này, đó cũng trở thành những hạtnhân tiến bộ trong lý luận giá trị và mối quan hệ giá trị - giá cả của C.Mác

Trang 10

Về thực tiễn, thành tựu này của A.Smith cũng có ý nghĩa lớn Trong cơchế thị trường, cung cầu luôn thể hiện mối quan hệ giá cả - giá trị:

+ Nếu cung bằng cầu thì: Giá cả bằng giá trị

+ Nếu cung nhỏ hơn cầu thì: Giá cả lớn hơn giá trị

+ Nếu cung lớn hơn cầu thì: Giá cả nhỏ hơn giá trị

Như vậy, là giá cả luôn có sự điều tiết đưa cung và cầu trở về xu hướngcân bằng nhau nhằm đạt tới giá trị của hàng hoá Chẳng hạn như khi cung nhỏhơn cầu, giá cả sẽ tăng lên, khi giá cả tăng lên thì cầu sẽ giảm dần đi và ngượclại, như vậy cung cầu lại trở về thế cân bằng, giá cả tiến dần tới và đạt bằnggiá trị, tạo nên cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hoá quốc gia

Trong giai đoạn hiện nay, kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hướngkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó cũng có nghĩa là nềnkinh tế vận động theo các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cung - cầu Sựkhông ăn khớp nhau giữa giá cả và giá trị hàng hoá đòi hỏi thị trường phảiđiều tiết một cách khéo léo để tạo nên thế cân bằng Tuy nhiên nước ta là mộtnước Xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặt hạnh phúc của con người chứ không phảiđồng tiền là mục đích hướng tới, do vậy trong quá trình áp dụng cơ chế thịtrường, Nhà nước ta phải đặc biệt lưu tâm đến vấn đề này Trong việc vậndụng giá cả để hạch toán hao phí lao động, cũng như tác động vào các quátrình kinh tế, Nhà nước phải chú ý góp một tay cùng thị trường điều tiết sựchênh lệch một cách có ý thức giữa giá cả và giá trị hàng hoá, coi đó như mộtcông cụ, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước Nhà nước có vai trò lớntrong sự điều tiết giữa cung và cầu, tạo điều kiện hình thành các cơ cấu sảnxuất và tiêu dùng tối ưu

Bên cạnh những thành tựu và đóng góp to lớn, A.Smith cũng bộc lộnhiều hạn chế và mâu thuẫn trong lý luận giá trị của mình

Trước tiên, đó là việc ông không phân biệt được lao động tạo ra giá trịmới và lao động chuyển giá trị cũ trong hàng hoá, tức là không đi sâu đượcvào bản chất cuối cùng của giá trị - lao động Sự nghiên cứu của ông vẫn tập

Trang 11

trung chủ yếu vào giá trị trao đổi và lượng giá trị biểu hiện trong trao đổi làgiá cả Đó là một vật cản lớn trên con đường giải quyết triệt để vấn đề bảnchất của giá trị mà chỉ có C.Mác sau này mới vượt qua được khi Ông phátminh ra thuộc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.

Mặt khác, dù cho A.Smith có một quan điểm khoa học trong lý luận giátrị, Ông vẫn tỏ ra không nhất quán trong việc định nghĩa giá trị hàng hoá

Định nghĩa thứ nhất, theo ông giá trị do hao phí sức lao động để sản xuất

ra hàng hoá quyết định Định nghĩa này gần với cơ sở lý thuyết giá trị - laođộng Tuy nhiên

Định nghĩa thứ hai, ông cho rằng giá trị là do lao động mà người ta có

thể mua được bằng hàng hoá này Ở đây, A.Smith không phân biệt được sảnxuất hàng hoá giản đơn với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa khi mà ngườisản xuất đã trở thành người làm thuê cho nhà tư bản và chỉ được trả côngbằng một giá trị thấp hơn so với giá trị mà anh ta tạo ra Trên thực tế, ông đãlấy tiền công làm thước đo giá trị của các hàng hoá Ông cho rằng đối vớingười công nhân thì lúc nào và ở đâu những lượng giá trị lao động như nhaubao giờ cũng có giá trị giống nhau Trong cách hiểu thứ hai về giá trị, rõ ràngA.Smith đã nhầm lẫn giữa lao động sống và lao động quá khứ, giữa số lượnglao động và giá trị lao động Ông đã đem những khái niệm giá trị đó áp dụngvào để giải thích việc trao đổi giữa tư bản và lao động và thấy không cònđúng nữa Vì vậy ông đã tuyên bố, chỉ trong xã hội nguyên thuỷ và ít pháttriển, tồn tại trước khi có sự tích luỹ tư bản thì hàng hoá mới được trao đổitheo chi phí lao động đã làm ra chúng Trong điều kiện lao động đã đối lậpvới công nhân làm thuê, thì thời gian lao động không còn là thước đo nội tạiđiều tiết giá trị trao đổi của hàng hoá nữa Như vậy, có nghĩa A.Smith phủnhận quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản

Nhưng trong chủ nghĩa tư bản, cái gì quyết định giá trị hàng hoá?

A.Smith đã có một sự khẳng định không khoa học là trong điều kiện sảnxuất tư bản chủ nghĩa, giá trị là sự kết hợp của tiền công, lợi nhuận và địa tô

Trang 12

(trong trường hợp không có sự thuê đất thì nó chỉ bao gồm tiền công của côngnhân và lợi nhuận của nhà tư bản) Ông kết luận rằng "tiền công, lợi nhuận vàđịa tô là ba nguồn gốc ban đầu của mọi thu nhập và mọi giá trị trao đổi cũngbằng đúng như vậy" Thế là từ chỗ xác định lao động là nguồn gốc của mọigiá trị, A.Smith lại đi đến phủ nhận điều đó, coi cả giá trị đã vật hoá kháccũng bình đẳng với lao động trong việc tạo ra giá trị Đây là một mâu thuẫnchủ yếu dẫn đến một loạt sai lầm khác của ông.

Đặc biệt, ông đã sai lầm khi đem đồng nhất thu nhập quốc dân với toàn

bộ sản xuất xã hội, bằng việc loại bỏ phần giá trị của tư bản bất biến ra khỏigiá trị sản phẩm xã hội Lập luận của ông như sau:

Ba bộ phận của hàng hoá bao gồm:

C: Giá trị tư bản bất biến dùng để mua tư liệu sản xuất

V: Giá trị tư bản khả biến dùng để mua sức lao động

M: Giá trị thặng dư mà nhà tư bản bóc lột của công nhân làm thuê

Ba bộ phận này chỉ được thừa nhận trên một sản phẩm riêng biệt

Xét trên phạm vi toàn xã hội thì C không còn nữa, nó bị phân giải chỉ cònlại V+M của những người sản xuất ra bộ phận C đó Mà thực chất giá trị mớicủa sản phẩm và lao động chuyển giá trị cũ trong hàng hoá hàng hoá khôngđồng nhất mà có sự khác biệt Chính giá trị mới được tạo ra mới thực sự đượcphân giải thành V và M Trong khi đó giá trị thì bao gồm cả giá trị mới và tưbản bất biến Sai lầm này cũng chính là vật cản nữa trên con đường giải quyếtvấn đề bản chất của giá trị mà sau này chỉ có C.Mác mới vượt qua được

Các sai lầm và hạn chế của A.Smith xét cho đến cùng xuất phát từphương pháp của ông Mác viết: "Chính bản thân A.Smith đã ngây thơ rơi vàomột mâu thuẫn thường xuyên Một mặt, ông quan sát mối liên hệ bên trong cácphạm trù kinh tế hay cơ cấu bị che lấp của hệ thống kinh tế tư sản Mặt khác,ông lại đặt mối liên hệ đó như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng cạnh tranh và

do đó, ông xa lạ với khoa học" Hai phương pháp nhận thức đó của A.Smith

Trang 13

không những sống yên ổn bên nhau mà còn xoắn xuýt lấy nhau và thường xuyênmâu thuẫn với nhau.

Có thể nói chính từ những mâu thuẫn và hạn chế của A.Smith mà cácnhà lý luận tư sản đã sử dụng để bác bỏ quan điểm của Ông về lý luận giá trị.Tuy nhiên, bên cạnh những hạn chế, những thành tựu mà A.Smith đãđóng góp trong lý luận của mình là không thể phủ định Cùng với những lýluận khác thì lý luận giá trị của A.Smith đã nâng ông lên tầm một học giả xuấtsắc - "linh hồn" thật sự của kinh tế học tư sản cổ điển Ông xứng đáng làngười thực hiện bước ngoặt trong lịch sử kinh tế của loài người Đúng nhưC.Mác đã nói : "Ở A.Smith kinh tế chính trị đã phát triển thành một hệ thốngtương đối hoàn chỉnh, lĩnh vực mà nó bao quát đã có được những hình dángdứt khoát tới một chừng mực nhất định"

Chính vì vậy, những lập luận của ông trong lý luận giá trị đã có ảnhhưởng rất to lớn trong lý luận của các nhà kinh tế học sau đó, đặc biệt làDavid Ricardo - người học trò xuất sắc của A.Smith, người đã đưa kinh tế học

tư sản cổ điển lên tới đỉnh cao rực rỡ nhất

1.3.Lý luận giá trị của David Ricardo ( 1772-1823).

D.Ricardo là một nhà kinh tế học kiệt xuất nhất của kinh tế chính trị tưsản cổ điển, ông cũng là một trong những người kết thúc kinh tế chính trị cổđiển Nếu như A.Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triểnmạnh mẽ thì D.Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, đó là điềukiện khách quan cho việc nghiên cứu của ông vượt qua được ngưỡng giới hạn

mà A.Smith dừng lại Ông là người kế tục xuất sắc của A.Smith Theo C.Mác,A.Smith là nhà kinh tế của thời đại công trường thủ công, còn D.Ricardo lànhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp

D.Ricardo được mệnh danh là nhà lý luận về giá trị - lao động Điều đókhông có nghĩa là Ông đã phát triển lý luận về giá trị - lao động đến mức hoànthiện mà ở chỗ ông đã có học thuyết về giá trị - lao động là học thuyết trungtâm trong các học thuyết kinh tế của Ông

Trang 14

Thông qua những công trình khoa học nổi tiếng như các tác phẩm:

"Những nguyên lý của kinh tế chính trị học về vấn đề thuế khoá", hay

"Nghiên cứu về ảnh hưởng của giá cả thấp đối với lợi nhuận của tư sản", lýluận của D.Ricardo đã được phân tích và bóc tách rõ ràng

Công lao của D.Ricardo là ở chỗ ông đã rà soát lại toàn bộ lý luận giá trịcủa A.Smith, phê phán những điểm sai, gạt bỏ những mâu thuẫn trong sự giảithích nước đôi của A.Smith đồng thời phát triển thêm những nguyên lý đúngđắn, khoa học của A.Smith

Trước hết, Ông phân biệt rõ ràng và dứt khoát hơn hai thuộc tính của hànghoá

Giá trị sử dụng được ông gọi là tính có ích của hàng hoá, là điều kiện cầnđối với giá trị trao đổi, song không thể là thước đo của giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi của đại đa số hàng hoá (ở đây D.Ricardo loại trừ nhữnghàng hoá không mang tính chất sản xuất mà giá trị của chúng chỉ do sự hiếm cóquy định như tranh cổ, hoặc rượu vang quý lâu năm) được D.Ricardo xác địnhbằng chi phí lao động sản xuất ra chúng Giá trị trao đổi chịu ảnh hưởng của hainhân tố: Số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng và tính chất hiếm cócủa chúng

Song D.Ricardo còn đi xa hơn nữa trong lý luận của mình Ông coi giátrị trao đổi là một lượng tương đối biểu hiện ở khối lượng hàng hoá khác(hoặc tiền) Do đó, trong hàng hoá tồn tại một giá trị tuyệt đối Giá trị tuyệtđối này chính là kết tinh giá trị, chứa đựng một khối lượng nhất định Giá trịtrao đổi là một hình thái cần thiết và duy nhất có thể biểu hiện giá trị tuyệt đốicủa hàng hoá Tư tưởng này của D.Ricardo là rất sâu sắc và sau này đượcC.Mác phát triển

Bên cạnh đó, D.Ricardo còn phê phán A.Smith không nhất quán khi địnhnghĩa về giá trị Một mặt A.Smith cho rằng giá trị là do hao phí lao độngquyết định, mặt khác ông lại cho giá trị do lao động mà người ta có thể muađược bằng tiền lương quyết định D.Ricardo đã khẳng định nghĩa thứ hai của

Trang 15

A.Smith là sai, cần phải loại bỏ Ông cho rằng khi nói về sự quy định giá trịcủa hàng hoá chỉ cần nói giá trị là do lao động đã hao phí vào việc sản xuất rahàng hoá tạo ra Điều kiện sản xuất quyết định tỷ lệ trao đổi giữa các hàng

hoá Nhưng đó là điều kiện nào? Ông cho đó là lao động cần thiết trong điều

kiện xấu nhất Đây là một hạn chế của ông, điểm này sẽ được xem xét ở phầnsau D.Ricardo cũng chỉ ra lao động có chất lượng khác nhau được trả tiềnmột cách khác nhau Nhưng điều đó không phải là nguyên nhân làm thay đổigiá trị tương đối của hàng hoá Dù sao cũng chỉ có lao động làm cơ sở củamọi giá trị và lượng tương đối của lao động quyết định lượng tương đối củagiá trị hàng hoá

Trước đó, khi nghiên cứu đến cơ cấu giá trị, A.Smith đã đưa ra cái giáođiều của mình là: tiền công, lợi nhuận, địa tô là nguồn gốc đầu tiên của mọithu nhập cũng như mọi giá trị trao đổi D.Ricardo vạch rõ, A.Smith đã nhầmlẫn giữa quá trình hình thành giá trị và quá trình phân phối giá trị Việc phânphối giá trị không ảnh hưởng gì đến việc hình thành giá trị "Giá trị hàng hoá -như Ông viết - hay là khối lượng một hàng hoá khác nào đó mà hàng hoá nàytrao đổi với nó - phụ thuộc vào khối lượng tương đối cần thiết để sản xuất ra

nó chứ không phải việc thưởng công ít hay nhiều cho lao động này" Ôngcũng chứng minh rằng nếu nâng cao tiền lương mà không có sự thay đổi gì vềnăng suất lao động thì giá trị hàng hoá sẽ không thay đổi Điều này không làmảnh hưởng đến giá cả được bán mà chỉ làm thay đổi tỷ lệ giữa tiền lương vàlợi nhuận trong giá cả hàng hoá Do đó, ông đi đến một kết luận là trong điềukiện tự do cạnh tranh các nhà tư bản không thể ngừng việc tăng lương màphải hy sinh một phần lợi nhuận của mình

Bên cạnh đó, khi nói về các bộ phận cấu thành giá trị của hàng hoá,D.Ricardo đã khẳng định một cách đúng đắn rằng, giá trị được quyết địnhkhông chỉ bởi chi phí lao động mà còn được quy định bởi những chi phí củalao động quá khứ Giá trị hàng hoá phải bao gồm cả ba bộ phận: C+V+M chứkhông thể loại C ra khỏi sản phẩm như A.Smith đã làm (trong đó: C là giá trị

Ngày đăng: 23/12/2017, 22:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w