MỞ ĐẦUChủ tịch Hồ Chí Minh không có những tác phẩm riêng bàn về triết học. Lịch sử cách mạng Việt Nam không đặt ra yêu cầu này đối với Người. Nhiệm vụ bức thiết đặt ra cho cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là cứu nước, giải phóng dân tộc và tìn con đường phát triển cho đất nước.Trong kho tàng ngôn ngữ của mình, Hồ Chí Minh rất ít hoặc không nói đến những khái niệm thuần túy triết học như duy tâm, duy vật, biện chứng, siêu hình,… Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấy tranh giành độc lập”, thì vấn đề Người quan tâm là nói và ,viết lý luận sao cho hàng chục, hàng triệu người lao động mù chữ và thất học có thể hiểu được, hiểu được để làm được, đó là mục tiêu, là cứu cánh đích thực của lý luận.Là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, được cả nhân loại phương Đông và phương Tây thừa nhận, đương nhiên Hồ Chí Minh có hệ thống tư tưởng của mình. Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, do đó em chọn đề tài “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” làm tiểu luận kết thúc môn học.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2
1 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn – yếu tố cơ bản tạo nên sự thành công trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh 2
2 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - nguyên tắc cơ bản trong họa động cách mạng của Hồ Chí Minh 5
2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về lý luận và vai trò của lý luận 5 2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thực tiễn 7 2.3 Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để khắc phục và ngăn chặn bệnh giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa 9
KẾT LUẬN 19
Trang 2MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh không có những tác phẩm riêng bàn về triết học Lịch sử cách mạng Việt Nam không đặt ra yêu cầu này đối với Người Nhiệm
vụ bức thiết đặt ra cho cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là cứu nước, giải phóng dân tộc và tìn con đường phát triển cho đất nước
Trong kho tàng ngôn ngữ của mình, Hồ Chí Minh rất ít hoặc không nói đến những khái niệm thuần túy triết học như duy tâm, duy vật, biện chứng, siêu hình,… Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấy tranh giành độc lập”, thì vấn đề Người quan tâm là nói và ,viết lý luận sao cho hàng chục, hàng triệu người lao động mù chữ và thất học có thể hiểu được, hiểu được để làm được, đó là mục tiêu, là cứu cánh đích thực của lý luận
Là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, được cả nhân loại phương Đông và phương Tây thừa nhận, đương nhiên Hồ Chí Minh có hệ thống tư tưởng của mình Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, do đó em chọn đề tài “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” làm tiểu luận kết thúc môn học
Trang 3NỘI DUNG
1 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn – yếu tố cơ bản tạo nên sự thành công trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, phong trào yêu nước của nhân dân
ta rất sôi động nhưng lại lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối chính trị Thực tiễn cách mạng nước ta khi ấy đòi hỏi phải có lý luận cách mạng soi sáng Nếu không có lý luận cách mạng thì không không thể tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc Và khi đó, Hồ Chí Minh là người hơn ai hết đã nhận thức sâu sắc vấn đề này Bởi lẽ, nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều nhà cách mạng khi đó, kể cả Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cũng không nhận thức được điều đó Trong hoàn cảnh ấy, Hồ Chí Minh quyết định
ra đi tìm đường cứu nước Người mong muốn tìm ra con đường cách mạng mới để tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc Vì thế, Người đã bôn ba khắp các châu lục, tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức ở nhiều nước khác nhau
Khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã xác định rõ mục đích của mình là: “muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” Điều chúng ta cần lưu ý ở đây là Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh khi
ấy rất quan tâm xem xét các dân tộc khác “làm như thế nào” Muốn vậy, theo Người phải xem xét và sau khi xem xét thì trở về giúp đồng bào Có thể nói rằng, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã được thể hiện rõ nét ngay từ trong việc xác định mục đích ra đi tìm đường cứu nước Phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra lý luận cách mạng, sau đó trở về vận dụng lý luận cách mạng ấy vào cuộc đấu tranh cách mạng ở trong nước
Thực tiễn mà Người trải qua từ năm 1911 đến Đại hội Tua (1920) là thực tiễn đi vào cuộc sống của những lao động ở Pháp và các nước trên thế giới Tiếp đó là thực tiễn hoạt động trong các tổ chức quần chúng, tổ chức
Trang 4chính trị - xã hội khác nhau, đặc biệt là sự tham gia của Đảng xã hội Pháp đã tạo ra bước ngoặt quan trọng về tư tưởng ở Người Đây cũng là nhân tố khách quan quan trọng tạo nên thành công trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin
ở Hồ Chí Minh
Có thể nói chính nhờ những hoạt động thực tiễn cách mạng trong những năm đó, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị được những điều kiện tư tưởng, nhận thức để đến và tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin Tổng kết những điều mắt thấy, tai nghe khi Người bôn ba ở các nước, Hồ Chí Minh đã rút ra được những kết luận quan trọng rất gần với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Để tổng kết được những kết luận như vậy, Hồ Chí Minh phải có vốn hiểu biết sâu sắc, có trình độ lý luận cũng như trình độ tư duy lý luận nhất định Như vậy là bản thân những kết luận do Người tổng kết trước khi gặp chủ nghĩa Mác-Lênin đã hàm chứa sự thống nhất sâu sắc giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng
Hoạt động thực tiễn trong các nước tư bản cũng như ở các nước thuộc địa, với trí tuệ và óc quan sát tinh tế, với trình độ lý luận nhất định và nhất là biết tổng kết những điều mắt thất tai nghe một cách có lý luận nên Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã phát hiện được bộ mặt thật của chủ nghĩa tư bản: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng,…” , “… những lời tuyên bố tự do của các nhà tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trong cậy vào lực lượng của bản thân mình”
Xét về lôgic, có thể thấy đến với chủ nghĩa Mác-Lênin thuần túy từ những nhận thức lý luận hoặc từ hoạt động thực tiễn cách mạng Nhưng chỉ dừng lại ở nhận thức lý luận thôi mà không đưa lý luận được nhận thức bào thực tiễn cách mạng, không bổ sung lý luận ấy bằng những kết luận được rút
ra từ thực tiễn cách mạng sinh động thì nhận thức lý luận ấy cũng không thể
Trang 5bền vững được Ngược lại, nếu chỉ dừng lại ở hoạt động thực tiễn cách mạng thuần túy, không biết dựa vào lý luận cách mạng đã được nhận thức thì không thể tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin một cách đầy đủ, trọn vẹn, hoàn chỉnh được Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở thống nhất giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng Hơn nữa, lý luận cách mạng
ấy lại được Người vận dụng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cách mạng của mình Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ, Người tích cực tham gia hoạt trng các động tổ chức cách mạng, tổ chức chính trị - xã hội nhằm đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào cách mạng Từ tham gia Đảng xã hội Pháp, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Hội Liên hiệp thuộc địa, ra báo Người cùng khổ- cơ quan tuyên truyền
và vận động cách mạng của Hội Liên hiệp thuộc địa Người đã viết nhiều bài nói về phong trào công nhân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc cũng như tố cáo tội ác của bọn đế quốc thực dân đăng trên báo: Nhân đạo, Đời sống công nhân, Người cùng khổ… xuất bản ở Pari Người đã tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế công hội đỏ, Quốc tế phụ nữ, Quốc tế thanh niên, là ủy viên Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam Người đã trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng Cống sản Việt Nam… Đây là cả một quá trình phát triển từ nhận thức lý luận đến việc kết hợp sáng tạo lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn phong trào cách mạng thế giới và thực tiến cách mạng Việt Nam
Rõ ràng là Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ từ nhận thức lý luận mà còn từ hoạt động thực tiễn cách mạng và không chỉ dừng lại ở đó, Người còn đưa lý luận vào thực tiễn cách mạng Nhờ vậy mà Người đã sớm đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin Năm 1920, không phải chỉ
có Hồ Chí Minh mới đọc được Sơ thảo những Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin, nhưng chỉ có Người là duy nhất tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức
Trang 6Như vậy, Hồ Chí Minh đã đến và nhận thức được chủ nghĩa Mác-Lênin không phải trên cơ sở kinh nghiệm chủ nghĩa hay giáo điều sách vở mà trên
cơ sở của sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa lý luận cách mạng và hoạt động thực tiễn cách mạng của Người
2 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - nguyên tắc cơ bản trong họa động cách mạng của Hồ Chí Minh
2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về lý luận và vai trò của lý luận
Hồ Chí Minh quan niệm rất đúng đắn về lý luận Theo Người: “Lý luận
là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức
về tự nhiên, xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” Còn “Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước”
Qua đó chúng ta nhận thấy, quan niệm về lý luận của Hồ Chí Minh đã hàm chứa trong nó yếu tố thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, và thể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn cũng như yếu tố kế thừa của lý luận Bởi lẽ, theo Người, lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của loài người, là sự tổng hợp những tri thức của loài người về tự nhiên, xã hội đã tích lũy trong lịch sử Tất nhiên, sẽ không có được tri thức nếu như không có hoạt động thực tiễn của con người, bao gồm cả thực tiễn lao động sản xuất và thực tiến đấu tranh cách mạng
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã nêu một cách
cụ thể hơn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế” Và theo Người, “đó là lý luận chân chính” Như vậy, lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà thành, nhưng lý luận chân chính là lý luận phải chứng minh với thực tế tức là phải phù hợp với thực tế, phải được vận dụng vào thực tế
Trong các bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh dùng rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về lý luận, nhưng điều cơ bản mà chúng ta bắt gặp là Người muốn
Trang 7nhấn mạnh lý luận là: “Do kinh nghiệm từ trước mà kinh nghiệm hiện nay gom góp, phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó mà thành”
Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của lý luận trong mối quan hệ với thực tiễn: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng
ta trong công việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như người nhắm mắt mà đi” Người còn nói: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng một mắt mờ” Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi
mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp Như vậy, chỉ với những lời gắn gọn, cách so sánh dễ hiểu như vậy nhưng thiết nghĩ, Hồ Chí Minh đã diễn đạt đưc đầy đủ vai trò to lớn của lý luận đối với thực tiễn
Ngay từ năm 1947, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, do “kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” mà nhiều cán bộ, đảng viên của ta mắc phải bệnh chủ quan Cũng vì kém lý luận mà cán bộ ta“gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩa thế nào làm thế ấy Kết quả thường thất bại” Từ đó làm cho bệnh kinh nghiệm chủ quan dễ nảy sinh và phát triển Chính vì vậy, đối với Đảng Cộng sản phải có một lý luận tiền phong Để nhấn mạnh vai trò của lý luận tiền phong đồi với Đảng, Hồ Chí Minh luôn lưu ý cán bộ, đảng viên chỉ dẫn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng; chỉ có một Đảng có lý luận titiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiễn sĩ tiền phong” Người cũng chỉ ra rằng, các Đảng Cộng sản anh em luôn luôn chú trọng đến
lý luận “Vì Đảng nhận rằng lý luận vạch cho Đảng con đường đúng đắn để tiến lên chủ nghĩa cộng sản”
Người cũng luôn lưu ý rằng, lý luận cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin Đây là vũ khí tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin không phải
là những kinh thánh, những bài thuốc chữa bách bệnh, những lý thuyết khô cứng Nó đòi hỏi phải nắm được bản chất cách mạng, khoa học của học thuyết
Trang 8ấy để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và không ngừng
bổ sung phát triển
Qua các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy vai trò của lý luận được thể hiện ở những điểm sau: Nó vũ trang cho chúng ta quan điểm và phương pháp nhận thức đúng sự thật, thấy được bản chất và phát hiện được quy luật của sự vật; nó giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản và trau dồi đạo đức cách mạng, bởi lẽ không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng
2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thực tiễn
Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I của trường Nguyễn Ái Quốc ngày 7/9/1957, khi đề cập về lý luận và thực tiễn cũng như sự thống nhất giữa chúng, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề mà cách mạng đề ra cho ta giải quyết Thực tế bao gồm rất rộng Nó bao gồm những kinh nghiệm công tác và
tư tưởng của cá nhân, chính sách của Đảng, kinh nghiệm lịch sử của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới”
Điều cần lưu ý là trong các bài viết, bài nói chuyện của mình, Hồ Chí Minh đã dùng hai khái niệm thực tiễn và thực tế với cùng một nội hàm như nhau Điều này có thể thấy rõ qua các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh ở những thời điểm khác nhau Chẳng hạn như trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947); “Nói về công tác huấn luyện và học tập” (1950); “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” (1957)…
Đó cũng là một cách nói, một cách diễn đạt Cũng có thể xuất phát từ một chỗ để cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ liên hệ nên Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm thực tế hơn khái niệm thực tiễn Một điều chúng ta cũng cần lưu ý là phần lớn cán bộ, đảng viên ta đều xuất thân từ nông dân, trình độ học vấn nói chung còn hạn chế, lại không quen với lý thuyết sách vở
Trang 9cao xa cùng với những khái niệm chuyên môn khó hiểu Việc dùng khái niệm thực tế chắc chắn là dễ giải thích, dễ tuyên truyền, dễ hiểu hơn là khái niệm thực tiễn - với tư cách là một phạm trù triết học
Xét về thực tế, theo Hồ Chí Minh bao gồm rất rộng như thực tế cách mạng của nước ta, kinh nghiệm công tác tư tưởng của cá nhân, chính sách đường lối của Đảng, kinh nghiệm của Đảng, những vấn đề trong nước và trên thế giới… Thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn Hơn nưa, Hồ Chí Minh luôn quan niệm: muốn tuyên truyền cho quảng đại quần chúng có hiệu quả thì phải học cách nói của quần chúng Trong tác phẩm “Đời sống mới” (1947), Hồ Chí Minh đã phê phán cách tuyên truyền đời sống mới mà sử dụng các khái niệm khách quan, chủ quan, tích cực, tiêu cực, khoa học hóa… làm cho quần chúng nghe có vẻ hay nhưng không hiểu
gì cả
Qua các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy khi đề cập đến sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin thì bao giờ Hồ Chí Minh cũng dùng khái niệm thực tiễn nhưng khi đề cập đến việc áp dụng lý luận và thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn khi giải thích nguyên tắc này, Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn Cho nên, trong cùng một bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh vẫn dùng cả hai khái niệm thực tiễn và thực tế
Như vậy xét về bản chất, hai khái niệm thực tiễn và thực tế được Hồ Chí Minh sử dụng với nội hàm như nhau, nhưng khi dùng khái niệm thực tế thì Người có nhã ý để quần chúng nhân dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Chính vì vậy, hai khái niệm này cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau và không thay thế cho nhau Vì thế, Hồ Chí Minh không bao giờ viết “thống nhất giữa lý luận và thực tế”, mà Người viết “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”
Xuất phát từ việc hiểu thực tế rất rộng, bao gồm toàn bộ thực tiễn của Đảng ta, cả kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, đường lối, chính sách… Cho nên, Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên rằng: khi liên hệ lý luận với
Trang 10thực tế cần tránh sự lệch lạc không hiểu rõ vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết mọi vấn đề thực tế ngay một lúc, vì thực tế là cả một quá trình lâu dài của toàn Đảng, toàn dân
2.3 Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để khắc phục
và ngăn chặn bệnh giáo điều cũng như bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa
Hồ Chí Minh thường dùng nhiều cách nói khác nhau như: “lý luận đi đôi với thực tiễn” ; “Lý luận phải gắn liền với thực tế” ; “lý luận và thực hành phải luôn đi đôi với nhau” ; “phải gắn liền lý luận với công tác thực tế” Dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “liên hệ”… nhưng điều cốt lõi nhất Người muốn nhấn mạnh: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”
Lý luận mà xa rời thực tiễn sớm muộn sẽ dẫn tới bệnh giáo điều, sách
vở hay nói theo cách nói của Hồ Chí Minh là lý luận suông, thực tiễn mà không được hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức và tổng kết bằng lý luận, thì dễ trở thành mảnh đất mầu mỡ cho bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa nảy sinh, tồn tại và phát triển, thực tiễn đó sẽ là thực tiễn mù quáng Ở đâu có lý luận đích thực thì ở đó bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa cũng như bệnh giáo điều không có chỗ đứng Nhưng lý luận đích thực tự nó bao giờ cũng gắn liền với thực tiễn Vì xét đến cùng nó được xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Tất nhiên,
nó lại đóng vai trò định hướng, chỉ đạo, tổ chức thực tiễn Thực tiễn càng phát triển thì càng đòi hỏi lý luận phải phát triển Ngược lại, thực tiễn phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tồng kết bằng lý luận thì thực tiễn mới không bị mất phương hướng
Theo Hồ Chí Minh, để quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh coi kinh lý luận, bệnh
lý luận suông trong cán bộ, đảng viên Bởi vì, kém lý luận, coi khinh lý luận,
lý luận suông nên chúng ta dễ mắc phải cả bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa cũng như cả bệnh giáo điều, sách vở Tuy nhiên, có lý luận khoa học rồi lại phải kết