1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BÃ CẢI TRONG THỨC ĂN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

96 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 12 tuần thí nghiệm cho thấy trong khẩu phần thức ăn, khi sử dụng 5 – 10% bã cải thì các chỉ tiêu như tăng trọng, tỉ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn, thành phần sinh hóa của cá thí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

*****K*J*****

VĂN HỮU NHẬT

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BÃ CẢI

TRONG THỨC ĂN CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 8/2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

*****K*J*****

VĂN HỮU NHẬT

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BÃ CẢI

TRONG THỨC ĂN CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản

Trang 3

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG BÃ CẢI

TRONG THỨC ĂN CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

VĂN HỮU NHẬT

Hội đồng chấm luận văn

Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II

Trường Đại học Nông lâm TP.HCM

Hội chăn nuôi Việt Nam

4 Phản biện 2: TS NGUYỄN NHƯ TRÍ

Trường Đại học Nông lâm TP.HCM

Trường Đại học Nông lâm TP.HCM

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là: Văn Hữu Nhật, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1974 tại thôn Sơn Tùng,

xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế Con ông Văn Hữu Vồ và

Tháng 10 năm 2005 theo học cao học ngành Nuôi Trồng Thủy Sản tại trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: Chưa kết hôn

Địa chỉ liên lạc: Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp.HCM

Điện thoại: 08 38891067 – 0908 559385

Email: vanhuunhat@yahoo.com.vn

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Ký tên

VĂN HỮU NHẬT

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành gởi lời cám ơn đến:

Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp HCM

Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản

Quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tạo mọi điều kiện và tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt khóa học

Xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời chúng tôi xin gởi lời cám ơn đến các bạn đồng nghiệp, các bạn sinh viên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi thực hiện đề tài này

Và lòng biết ơn sâu sắc của con đến Cha Mẹ và gia đình đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian học tập và làm việc

Trang 7

ABSTRACT

The thesis: “Utilization of rape-seed meal in practical diets of tra catfish

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)” was conducted to evaluate the

effects of rape-seed meal supplementation on the growth rate, feed efficiency and digestibility and to determine a maxium replacement proportion of rape-seed meal for soybean meal in practical diets of tra catfish

The study was carried out in the Experimental Farm, Faculty of Fisheries, Nong Lam University from October 2008 to March 2009 The experiment was Randomized Compelete Block Designed with 6 treatments, equal to different inclusion rates of rape-seed meal in the diets: Treatment 0: Control (without rape-seed supplementation); Treatment 5: 5% rape-seed meal; Treatment 10: 10% rape-seed meal; Treatment 20: 20% rape-seed meal; Treatment 30: 30% rape-seed meal and Treatment 40: 40% rape-seed meal

The results showed that there were no significant differences of growth rate, survival rate and feed conversion ratio between the Control and treatments 5 and 10 However, the growth rate was significantly decreased in treatment with 20% - 40% rape-seed meal (treatment 20, 30 and 40), especially with 40% rape-seed supplementation treatment The results showed that if the replacement proportion of rape-seed meal in practical diet of tra catfish exceed ten percent, the HSI (Hemato Somatic Index) of experimental fish was increased, while the ASI (Adipose Somatic Index) was decreased Moreover, the liver color were paler in treatments with 30% - 40% rape-seed meal supplementation

In conclusion, ten percent was the optimal supplementation rate of rape-seed meal in practical diet of tra catfish

Trang 8

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng bã cải trong thức ăn cá tra

(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)’’ được tiến hành nhằm đánh giá

mức độ ảnh hưởng và xác định tỷ lệ bã cải tối đa sử dụng trong thức ăn thông qua tốc

độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng bã cải lên độ tiêu hóa thức ăn

Đề tài được tiến hành tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 03 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối với 6 công thức thức ăn tương ứng với 6 nghiệm thức, gồm NT 0: Nghiệm thức đối chứng (không sử dụng bã cải), NT 5: Nghiệm thức thức ăn có sử dụng bã cải 5%, NT 10: Nghiệm thức thức ăn có sử dụng

bã cải 10%, NT 20: Nghiệm thức thức ăn có sử dụng bã cải 20%, NT 30: Nghiệm thức thức ăn có sử dụng bã cải 30% và NT 40: Nghiệm thức có sử dụng bã cải 40%

Sau 12 tuần thí nghiệm cho thấy trong khẩu phần thức ăn, khi sử dụng 5 – 10% bã cải thì các chỉ tiêu như tăng trọng, tỉ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn, thành phần sinh hóa của cá thí nghiệm ở các nghiệm thức sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng ở mức độ tin cậy 95% (P > 0,05) Trái lại, khi tăng tỷ lệ sử dụng bã cải lên 20 – 40% thì tăng trọng của cá giảm rất đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05), đặc biệt là khẩu phần thức ăn chứa 40% bã cải

Khi phân tích chỉ tiêu về tỉ lệ gan – thể trọng và tỉ lệ mỡ - thể trọng cho thấy khi trong khẩu phần thức ăn của cá tra nếu tỷ lệ thay thế bánh dầu đậu nành bằng bã cải vượt qúa 10% thì làm tăng tỷ lệ gan – thể trọng và giảm khả năng tích lũy mỡ của

cá Ngoài ra, màu sắc gan nhạt hơn ở những nghiệm thức sử dụng tỷ lệ bã cải từ 30% đến 40%

Từ kết quả trên chúng tôi cho rằng có thể bổ sung bã cải vào khẩu phần thức

ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở mức tối đa là 10%

Trang 9

MỤC LỤC

Trang Trang tựa

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Cảm tạ iv

Tóm tắt vi

Mục lục vii

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách các bảng xi

Danh sách các hình xii

Danh sách các sơ đồ và đồ thị xiii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam 3

2.2 Một số đặc điểm sinh học của cá tra 4

2.2.1 Vị trí phân loại và phân bố 4

2.2.2 Phân bố 4

2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý 5

2.2.4 Đặc điểm sinh thái 6

2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 6

2.2.6 Đặc điểm dinh dưỡng 7

2.2.7 Đặc điểm sinh sản 7

2.3 Sự thay đổi xu hướng sử dụng nguồn protein trong thức ăn thủy sản 8

2.4 Bã cải 9

2.5 Các chất kháng dinh dưỡng trong bã cải 11

Trang 10

2.5.1 Erucic acid 11

2.5.2 Glucosinolate 11

2.6 Nghiên cứu sử dụng bã cải trên gia súc và gia cầm 12

2.7 Vài nghiên cứu trên cá 13

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Thời gian và địa điểm 15

3.2 Nội dung nghiên cứu 15

3.3 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 15

3.3.1 Ðối tượng khảo sát 15

3.3.2 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm 16

3.3.3 Chế biến thức ăn 17

3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.4.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bã cải trong thức ăn lên tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá 19

3.4.2 Thí nghiệm 2: Xác định ảnh hưởng của việc thay thế bã đậu nành bằng bã cải lên độ tiêu hóa thức ăn của cá tra 21

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 22

3.5.1 Các chỉ tiêu môi trường 22

3.5.2 Tốc độ tăng trưởng 22

3.5.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn 23

3.5.4 Độ tiêu hóa thức ăn 24

3.5.5 Hiệu quả kinh tế 26

3.6 Phương pháp phân tích số liệu 27

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Một số yếu tố chất lượng nước trong thí nghiệm 28

4.1.1 Nhiệt độ 28

4.1.2 Độ pH 30

4.1.3 Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) 31

4.1.4 Hàm lượng ammonia tổng số 32

Trang 11

4.2 Ảnh hưởng của bã cải lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống 33

4.2.1 Thành phần sinh hóa các nghiệm thức thức ăn 33

4.2.2 Tăng trưởng về trọng lượng 34

4.2.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm 38

4.2.4 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 45

4.2.5 Hệ số gan – thể trọng (HSI) và hệ số mỡ - thể trọng (ASI) của cá 45

4.2.6 Thành phần sinh hóa của cá 50

4.3 Thành phần sinh hóa của thức ăn và phân cá ở thí nghiệm 2 51

4.4 Độ tiêu hóa của cá 51

4.5 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng bã cải thay thế cho bánh dầu đậu nành 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC

Trang 12

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CMC Carboxyl Methyl Cellulose (Chất kết dính)

DCP Dicalcium phosphate (Khoáng chất)

SGR Specific Growth Rate (Tốc độ tăng trưởng đặc biệt)

FCR Feed Conversion Ratio (Hệ số biến đổi thức ăn)

PER Protein Efficiency Ratio (Hiệu quả sử dụng protein)

NPU Net Protein Utilization (Hiệu quả tích lũy protein)

HSI Hepato Somatic Index (Tỷ lệ gan - thể trọng)

ASI Adipose Somatic Index (Chỉ số mỡ - thể trọng)

ADC Apparent Disgestibility Coefficient (Độ tiêu hóa biểu kiến)

ADC pro Apparent Disgestibility Coefficient protein (Độ tiêu hóa protein biểu

kiến)

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Thành phần acid béo của bã cải và bã đậu nành 10

Bảng 2.2 Thành phần phospholipid của bã cải và bã đậu nành 11

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa của các loại nguyên liệu 17

Bảng 3.2 Các thành phần cấu thành thức ăn của 6 nghiệm thức 19

Bảng 3.3 Giá của các nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn thí nghiệm 27

Bảng 4.1 Các yếu tố chất lượng nước trong quá trình thí nghiệm 28

Bảng 4.2 Thành phần sinh hóa, năng lượng thô tính toán và acid amin thiết yếu của các công thức thức ăn thí nghiệm 33

Bảng 4.3 Mức tăng trọng và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 34

Bảng 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm 38

Bảng 4.5 Hệ số gan - thể trọng và mỡ - thể trọng của cá thí nghiệm 45

Bảng 4.6 Thành phần sinh hóa nguyên con của cá sau thí nghiệm (tính theo trọng lượng tươi) 50

Bảng 4.7 Thành phần sinh hóa của thức ăn và phân cá ở các nghiệm thức 52

Bảng 4.8 Độ tiêu hóa protein của cá trong các nghiệm thức 52

Bảng 4.9 Giá thành 1kg thức ăn ở 6 nghiệm thức thí nghiệm 54

Bảng 4.10 Giá thành 1kg cá ở các nghiệm thức khi kết thức thí nghiệm 55

Trang 14

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Trang Hình 2.1 Hình dạng ngoài cá tra 5

Hình 2.2 Cánh đồng trồng cải để lấy dầu 9

Hình 2.3 Cấu trúc hóa học của glucosinolate ………12

Hình 3.1 Máy ép viên thức ăn 17

Hình 3.2 Máy sấy thức ăn 17

Hình 3.3 Các giai nuôi cá thí nghiệm 21

Hình 4.1 Cá tra ở NT 0 khi kết thúc thí nghiệm 42

Hình 4.2 Cá tra ở NT 5 khi kết thúc thí nghiệm 42

Hình 4.3 Cá tra ở NT 10 khi kết thúc thí nghiệm 43

Hình 4.4 Cá tra ở NT 20 khi kết thúc thí nghiệm 43

Hình 4.5 Cá tra ở NT 30 khi kết thúc thí nghiệm 44

Hình 4.6 Cá tra ở NT 40 khi kết thúc thí nghiệm 44

Hình 4.7 Màu sắc gan cá 46

Hình 4.8 Màu sắc mỡ cá ở NT 0 47

Hình 4.9 Màu sắc mỡ cá ở NT 5 47

Hình 4.10 Màu sắc mỡ cá ở NT 10 48

Hình 4.11 Màu sắc mỡ cá ở NT 20 48

Hình 4.12 Màu sắc mỡ cá ở NT 30 49

Hình 4.13 Màu sắc mỡ cá ở NT 40 49

Trang 15

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

SƠ ĐỒ Trang

Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

ĐỒ THỊ Đồ thị 4.1 Biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 29

Đồ thị 4.2 Biến động pH trong quá trình thí nghiệm 30

Đồ thị 4.3 Biến động hàm lượng ôxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm 31

Đồ thị 4.4 Biến động hàm lượng ammonia trong quá trình thí nghiệm 32

Đồ thị 4.5 Trọng lượng trung bình của cá thí nghiệm qua các lần kiểm tra 35

Đồ thị 4.6 Tăng trọng của cá ở các nghiệm thức thí nghiệm 37

Đồ thị 4.7 Tốc độ tăng trọng đặc biệt của cá ở các nghiệm thức thí nghiệm 37

Đồ thị 4.8 Hệ số biến đổi thức ăn (FCR) của cá ở các nghiệm thức thí nghiệm 39

Đồ thị 4.9 Hiệu quả sử dụng protein (PER) của cá ở các nghiệm thức thí nghiệm 40 Đồ thị 4.10 Hiệu quả tích lũy protein (NPU) của cá ở các nghiệm thức thí nghiệm 41

Đồ thị 4.11 Giá thành 1kg cá ở các nghiệm thức sau khi kết thúc thí nghiệm 55

Trang 16

cá trong nước và trên thế giới ngày càng tăng đã tạo ra một tiềm năng mới cho ngành thủy sản Trong khi đó thì sản lượng khai thác từ tự nhiên ngày càng giảm

do việc đánh bắt quá mức, tận thu làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng cạn kiệt, cần phải bổ sung bằng việc nuôi thủy sản Nhờ vậy mà nghề nuôi thủy sản ở nước

ta ngày một phát triển và đã trở thành một ngành thu ngoại tệ chủ lực, đặc biệt là các loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao như cá rô phi, cá basa, cá tra,… trong

đó cá tra được xem là đối tượng được nuôi nhiều nhất, phổ biến nhất, có giá trị kinh tế cao Những năm gần đây cá tra được xuất khẩu nhiều qua các nước châu

Mỹ, châu Âu và một số nước Đông Nam Á, hàng năm thu về hơn 1 tỷ USD Hiệu quả kinh tế lớn từ cá tra mang lại đã tạo nên làn sóng mới trong phát triển thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Trong nuôi thủy sản, protein trong thức ăn đóng vai trò quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển vật nuôi Thông thường, nguồn protein thức ăn dựa vào nguồn cá tạp hay bột cá sẵn có Đối với cá tạp thì nguồn nguyên liệu này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân như thị trường, thời tiết, mùa vụ,… Đối với người nuôi khi tiến hành nuôi thủy sản thì yếu tố lợi nhuận được xem xét hàng đầu.Trong

đó chi phí cho thức ăn là chi phí tốn nhiều nhất trong chi phí sản xuất của người nuôi Từ thập niên 1980, sản lượng khai thác cá và bột cá sản xuất của thế giới hầu như không thay đổi, dao động trong khoảng 6 – 7 triệu tấn/năm, trong khi

Trang 17

sản lượng nuôi trồng thủy sản gia tăng liên tục dẫn đến nhu cầu về bột cá tăng theo

Hệ quả là bột cá không còn là nguồn protein rẻ tiền nữa và chiếm tỷ lệ cao trong chi phí thức ăn Khuynh hướng giảm tỷ lệ sử dụng bột cá là một điều tất yếu, ngoài tác động do giá cả còn do tiến bộ khoa học trong dinh dưỡng đã cho phép thay thế bột

cá bằng protein thực vật sẵn có, rẻ tiền nhưng không làm thay đổi sức tăng trưởng vật nuôi Ở một số vùng người nuôi đã sử dụng bánh dầu đậu nành, bánh dầu đậu phộng để thay thế nguồn protein từ bột cá và cá tạp Trong chế biến thức ăn công nghiệp cho động vật nuôi thủy sản người ta sử dụng phổ biến bột cá và bã đậu nành, đặc biệt là bã đậu nành và tỷ lệ này gia tăng liên tục Hàng năm Việt Nam phải nhập một lượng lớn bã đậu nành dùng trong chăn nuôi và thủy sản nên đã làm cho chi phí thức ăn tăng cao Do đó, để giảm chi phí cho người nuôi chúng tôi sử dụng các nguồn protein thực vật như bã cải để thay thế cho bã đậu nành trong khẩu phần thức

ăn của cá

Trong các nguồn protein thực vật, bã cải là sản phẩm ly trích dầu từ hạt cải

Bã cải chứa hàm lượng protein thấp hơn bánh dầu đậu nành và nó còn chứa một số yếu tố kháng dinh dưỡng như erucic acid, glucosinolate nên việc sử dụng bã cải trong thức ăn còn hạn chế hơn sử dụng bã đậu nành Để đánh giá mức sử dụng bã cải trong thức ăn của cá tra, được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sử

dụng bã cải trong thức ăn cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)”

Trang 18

3

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) là loài cá bản địa

của Việt Nam và một số nước lân cận (Lào, Campuchia và Thái Lan) Nuôi cá tra

ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước, xuất phát từ Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), ban đầu chỉ nuôi ở qui mô nhỏ, cung cấp thực phẩm tại chỗ Các hình thức nuôi chủ yếu là ao hầm, mương vườn và nguồn thức ăn có sẵn Vào những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình nuôi cá tra đã có những bước phát triển mạnh, các doanh nghiệp chế biến đã tìm ra thị trường xuất khẩu, các Viện nghiên cứu, các trường đã thành công trong quy trình sản xuất con giống và nuôi thâm canh đạt năng suất cao

Cá tra được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như nuôi ao hầm, nuôi đăng quầng, và nuôi bè Nuôi cá tra thâm canh tập trung chủ yếu dọc 2 bên sông Tiền, sông Hậu và các cồn nổi trên sông Các vùng điều kiện cấp thoát nước không thuận lợi, nằm xa sông lớn thì nuôi với hình thức thấp hơn, chủ yếu là kết hợp và tận dụng mương vườn sẵn có Các bè nuôi cá tra trên sông rạch đang có xu hướng giảm mạnh trong những năm gần đây và chuyển sang nuôi các đối tượng khác như cá điêu hồng, cá he, cá hú, cá lóc,… do nuôi cá tra bè kém hiệu quả, chi phí sản xuất cao hơn nuôi cá ao hầm

Cá tra là loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn, dễ nuôi, tăng trọng nhanh, không có xương dăm, thịt dai, có vị ngon Bên cạnh đó, cá có hệ số philê sau thành phẩm cao và được nhiều thị trường tiêu thụ trên thế giới ưa chuộng Cá tra có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, trung bình đối với cá tra nuôi một năm đạt 1,5-2,0 kg Nuôi thương phẩm thâm canh trong ao cho năng suất rất cao, đạt 400 – 500 tấn/ha/vụ,

Trang 19

nuôi bè có thể đạt 150 – 200 kg/m3 bè So với các đối tượng nuôi khác thì diện tích nuôi cá tra không lớn, song nhờ năng suất nuôi cao, do đó đóng góp của đối tượng này rất đáng kể trong tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của ĐBSCL Theo số liệu thống kê thì tổng diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL năm 2008 là 6.160 ha, tăng gấp 1,25 lần so với năm 2005, sản lượng đạt 1.128.000 tấn Trong 13 tỉnh vùng ĐBSCL có nuôi cá tra thì Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang là ba tỉnh có diện tích nuôi lớn nhất với 3.990 ha, chiếm 64% tổng diện tích nuôi cá tra của vùng Các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre và Trà Vinh nuôi cá tra có diện tích không đáng kể (Thống kê của Cục NTTS, tháng 03/2009)

Hiện nay, ở Việt Nam cá tra đã và đang phát triển ở nhiều địa phương Không chỉ ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi loài này

2.2 Một số đặc điểm sinh học của cá tra

2.2.1 Vị trí phân loại và phân bố

Trong hệ thống phân loại, cá tra thuộc nhóm cá da trơn, họ cá Tra

(Pangasiidae) có ở hạ lưu sông Mêkông (Cửu Long) địa phận Việt Nam Được xác

định vị trí phân loại như sau:

Ngành: Chordata (có dây sống)

Ngành phụ: Vertebrata (có xương sống)

Lớp: Pisces Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae

Giống: Pangasianodon Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)

Tên tiếng Việt: Cá tra

2.2.2 Phân bố

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) có nguồn gốc từ sông Mêkông và

sông Chao Phraya ở Thái Lan (Robert và Vidthayamon, 1991), thường tập trung nhiều ở những khúc sông rộng thuộc vùng hạ lưu, sống ở vùng nhiệt đới Ở Việt

Trang 20

Trong các loài cá da trơn, cá tra được nuôi phổ biến nhất do khả năng thích nghi tốt của loài cá này Cá tra thuộc loại cá ăn tạp, có sức tăng trưởng nhanh, là đối tượng có giá trị kinh tế cao (Phạm Văn Khánh, 2000)

2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý

Cá tra là loài cá da trơn không vẩy có thân dài, dẹp bên về phía đuôi, đầu và mõm hơi dẹp bằng Mắt nằm hai bên và nửa trước đầu Miệng rộng có hai đôi râu Vây lưng và vây ngực có gai cứng mang răng cưa ở mặt sau, vây mỡ nhỏ, vây đuôi phân thùy nông, mút cuối nhọn và tương đương nhau Thân màu xám nhạt, phần lưng thẫm hơn phần bụng (Phạm Văn Khánh, 2000)

Hình 2.1 Hình dạng ngoài cá tra

Trang 21

2.2.4 Đặc điểm sinh thái

Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho cá tăng trưởng dao động trong khoảng 26 –

320C Cá tra là loài chịu lạnh kém vì chúng là một trong những loài đặc trưng ở vùng nhiệt đới Ở 150C thì cường độ bắt mồi của cá giảm, nhưng cá vẫn sống; ở

390C thì cá sẽ bơi lội không bình thường (Phạm Văn Khánh, 2000)

pH: Cá có khả năng chịu đựng pH từ 5 – 11, nhưng pH thích hợp cho cá phát triển là 6,5 – 7,5 Ở pH = 5, cá có biểu hiện mất nhớt, các đôi râu teo dần, hoạt động chậm chạp Khi pH = 11, Cá sẽ hoạt động lờ đờ và mất nhớt (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

Oxy hòa tan (DO): Cá tra chịu được hàm lượng ôxy hòa tan thấp (0,5 mg/l)

do cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bóng khí và da Do đó, cá có thể nuôi được trong các ao nước tù, nước bẩn, nơi có nhiều chất hữu cơ hay nuôi trong bè mật độ dày (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

Khả năng chịu mặn: Cá tra là loài sống chủ yếu ở nước ngọt, không sống được ở vùng nước mặn Tuy nhiên, cá có khả năng sống trong vùng nước lợ, chịu được độ mặn thấp hơn 10‰ (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá sau khi nở và tiêu hết noãn hoàng có chiều dài từ 1,3 – 1,6 mm Sau

14 ngày ương, cá có thể đạt được chiều dài trung bình từ 2 – 3 cm, trọng lượng trung bình là 1 – 2 gam Sau 2 tháng nuôi cá đạt chiều dài 12 - 14 cm và khối lượng trung bình là 14 – 15g Cá từ khoảng 300 – 400 g/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như trọng lượng Nuôi trong ao 1 năm cá có thể đạt trọng lượng 1,5 kg Những năm kế tiếp cá có thể tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt 5 - 6 kg/cá tùy vào môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng nhanh so với chiều dài cơ thể Cá trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm, trọng lượng 18 kg Trong ao nuôi vỗ, cá bố

mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi (Phạm Văn Khánh, 2000)

Trang 22

7

2.2.6 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài háu ăn, ăn tạp thiên về động vật Khi hết noãn hoàng thì thích

ăn mồi tươi sống, ăn động vật phù du có kích thước vừa cỡ miệng Cá tra bột còn có tính ăn thịt lẫn nhau trong bể ương nuôi Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và

ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng hơn và cũng có thể dễ dàng chuyển đổi loại thức ăn

Ở giai đoạn cá bột và cá hương chúng thích ăn mồi sống nhưng theo quá trình phát triển cá dần thích ăn mồi chết Dạ dày của cá phình to có dạng hình chữ U

và co giãn được Ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của

cá ăn tạp thiên về động vật Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể ăn những loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật (Phạm Văn Khánh, 2000)

Khi nuôi trong ao bè thì cá tra có thể thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein thấp do con người cung cấp như cám vụn, bí đỏ, ngô, thức ăn chế biến, phân lợn, gà, vịt… Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nuôi thương phẩm loài cá này (Phạm Văn Khánh, 2000)

2.2.7 Đặc điểm sinh sản

Việc thành thục cá tra cái được diễn ra vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa Ðối với con đực thì sự sản sinh tinh trùng không cùng với sự thành thục của cá cái (Teresa và ctv, 2005)

Ngoài tự nhiên, vào khoảng tháng 1 – 4, cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mekong sang Campuchia để tìm bãi sinh sản Cá đẻ tự nhiên trên sông ở những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp Cá không đẻ ở phần sông của Việt Nam Ở Campuchia, bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp hai con sông Mekong và Tonlesap, từ Sombor, tỉnh Crachê trở lên (Phạm Văn Khánh, 2000)

Tuổi thành thục của cá khoảng 2 – 3 tuổi, trọng lượng trung bình 3 – 4 kg/con với chiều dài tối thiểu là 60 cm Cá tra có thể tái phát dục 1 – 2 lần trong năm Cá tra cùng tuổi thì cá cái thường có trọng lượng lớn hơn cá đực từ 30 – 40%

Trang 23

Mùa vụ sinh sản của cá tra trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 - 6 dương lịch Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ cây, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột Trong sinh sản nhân tạo, người ta có thể nuôi cá thành thục và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên Cá tra nuôi vỗ trong ao có thể sinh sản gần như quanh năm Cá tra trong tự nhiên không gặp tình trạng tái phát dục Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ nên nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được đực, cái (Phạm Văn Khánh, 2000)

Ðặc điểm của buồng trứng cá: Buồng trứng cá khi thành thục tương đối lớn

Tỷ lệ phần trăm trọng lượng của tuyến sinh dục trên trọng lượng cơ thể gọi là hệ số thành thục (HSTT) Hệ số thành thục của cá đực thấp hơn 1,97%, còn ở cá cái có thể đạt tới 20% Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá tra gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tương đối là số trứng có được của 1 kg cá cái (dao động từ 70 ngàn cho đến 150 ngàn trứng ) Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra có thể

từ 200 ngàn cho đến vài triệu trứng (Phạm Văn Khánh, 2000)

2.3 Sự thay đổi xu hướng sử dụng nguồn protein trong thức ăn thủy sản

Bột cá vốn là thức ăn truyền thống và phổ biến trong thức ăn của các loài

cá ăn động vật (lóc, mú, chẽm…) và một số loài cá ăn tạp (tra, basa…) nhờ chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng gần đây số lượng hạn chế, nguồn cung cấp không ổn định và giá cả thì tăng do nhu cầu tiêu thụ cao (Lê Thanh Hùng, 2000) Trong nuôi thâm canh cá tra hầu hết người nuôi đều dùng thức ăn viên công nghiệp nhưng vẫn còn một số ít dùng thức ăn tự chế (Lê Thanh Hùng và ctv, 2007) Theo Hertramf và ctv (2000), nếu lượng bột cá sử dụng trên thế giới từ năm 1990 đến năm 2000 tăng từ 10% đến 34% thì dự kiến đến năm 2010 sẽ là 60% Điều này thực sự là một trở ngại lớn cho nghề nuôi cá Do đó việc thay thế

cá tạp trong thức ăn thủy sản là khuynh hướng tất yếu Trong sản suất thức ăn, bánh dầu đậu nành được dùng rộng rãi trong nuôi cá nheo ở Mỹ (Hertramf và ctv, 2000), còn theo Lê Thanh Hùng (2007) thì trong khẩu phần ăn của cá tra nên dùng bánh dầu đậu nành để thay thế cho bột cá từ 20 – 35% Trong số các đối tượng được dùng để thay thế bột cá thì các sản phẩm từ thực vật như bã cải, bã đậu nành được chú trọng nhờ có hàm lượng đạm cao (40-50%), các acid amin

Trang 24

9

khá cân đối, đặc biệt là giá thấp hơn so với bột cá vì là phụ phẩm của công nghệ

ép dầu Tuy nhiên, từ năm 2007 giá bã đậu nành trên thế giới liên tục tăng cao nên người ta tìm một nguồn protein thực vật khác thay thế

2.4 Bã dầu cải

Hạt dầu cải (Brassica napus) chứa 40 – 50% chất béo Bã dầu cải là sản

phẩm của công nghiệp ép dầu cải, còn có tên là dầu colza Dầu colza chứa một tỷ lệ cao acid béo erucic (20 – 50% chất béo) Cải được trồng nhiều ở Châu Âu, Canada,

Mỹ, Úc, Trung Quốc và chiếm một phần ba diện tích đất trồng trọt ở Ấn Độ Theo báo cáo của FAO, mùa vụ 2003 – 2004 sản lượng bã cải trên thế giới là 36 triệu tấn nhưng đã đạt đến hơn 46 triệu tấn vào mùa vụ 2004 – 2005 Bã dầu cải chứa hàm lượng dầu cao (từ 40 – 44%) Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ thì bã dầu cải là nguồn cung cấp dầu thực vật đứng hàng thứ ba trên thế giới trong năm 2000 sau dầu nành

và dầu cọ Bã cải chứa 40% hàm lượng protein, là nguồn cung cấp protein đứng hàng thứ 2 trên thế giới Ở Châu Âu bã cải chủ yếu được dùng làm thức ăn cho động vật và gia cầm (chứa lipid cao và hàm lượng protein cũng tương đối, cao trung bình 35 – 39%), sản phẩm dầu của bã cải được dùng làm thực phẩm cho người và sản xuất dầu sinh học

Hình 2.2 Cánh đồng trồng cải để lấy dầu

Trang 25

Trong tự nhiên bã cải chứa 50% erucic acid và được sử dụng như chất phụ gia nếu ta sử dụng một lượng nhỏ trong thức ăn, với liều cao có thể dẫn đến suy tim Ngoài erucic acid có trong dầu thì trong bã cải còn chứa một số chất kháng dinh dưỡng được tìm thấy như tanin, phytic acid (Francis và ctv., 2001) và đặc biệt là độc tố glucosinolate (anionic B–thio–D glucopyrranoside có trong men, hạt, hoa, gốc cây của nhóm thực vật).

Để giảm tác động xấu của erucic acid trong dầu và glucosinolate trong bã cải các nhà di truyền học đã lai tạo và chọn lọc những giống cải mới có tên thương mại

là canola, tên thương mại là bã cải ngọt có nguồn gốc từ các nước Châu Âu và Bắc

Mỹ Trong khi Ấn Độ và Trung Quốc các giống cải chứa lượng erucic acid và glucosinolate rất cao nên hạn chế sử dụng dùng làm thức ăn Canola chứa tỉ lệ rất thấp erucic acid (2%) và glucosinolate (30 mg/kg) (Thacker, 1990; Bell, 1993) Thành phần dinh dưỡng và độ tiêu hóa của bã canola tương tự như bã cải nhưng cải thiện hơn ở độ tiêu hóa thức ăn Ngoài ra, canola còn chứa cả hai acid béo omega-6, omega-3 và thành phần acid béo, phospholipid khác so với bã đậu nành

Bảng 2.1 Thành phần acid béo của bã cải và bã đậu nành

Trang 26

11

Bảng 2.2 Thành phần phospholipid của bã cải và bã đậu nành

Trong bã cải erucic acid chiếm 5 – 8% acid béo no, 60 – 65% acid béo không

no có một nối đôi và 30 – 35% PUFA Acid béo không no có một nối đôi này là tác nhân tích lũy mỡ dẫn đến suy tim ở người, ảnh hưởng đến mang và thận của cá.2.5.2 Glucosinolate

Trong bã cải có chứa hoạt chất glucosinolate với hàm lượng cao hơn 100 mg/kg Glucosinolate là hợp chất hữu cơ chứa sulfur, nitrogen, và nhóm có nguồn gốc từ glucose Tối thiểu có khoảng 120 cấu trúc glucosinolate khác nhau Nó được tổng hợp từ các amino acid: methionine, phenylalanine, tyrosine và tryptophan Ở thực vật có chứa enzyme myrosinase Bản thân glucosinolate không có hại nhưng trong bã cải có men myrosinase sẽ tác động lên glucosinolate khi ép dầu và tạo ra một số độc tố: thiocynate ion, isothiocynates, goitrin, nitrates, SCN-, oxazolidinethione Trong thức ăn tất cả những độc tố được tạo ra từ glucosinolate dưới tác động của men myrosinase này gây nên bệnh bướu cổ ở người Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến chức năng của tuyến giáp ở những động vật có xương sống Những sản phẩm này làm giảm khả năng tổng hợp tri-iodothyronine (T3) và thyroxine (T4) của hormone tuyến giáp, cạnh tranh sự tiêu thụ, vận chuyển iodine đến tuyến giáp và đặc biệt còn ảnh hưởng đến gan, thận, có khi còn gây tử vong Do tác động của các nhân tố kháng dinh dưỡng nên sự sử dụng bã cải có giới hạn Mức

Trang 27

sử dụng bã cải trong khẩu phần thức ăn của cá hồi là 20% (Higgs và ctv., 1982; Hardy và Sullivan, 1983) và ở cá rôphi mức sử dụng bã cải là 15% (Davies và ctv., 1990) Để giảm tác hại của độc tố trong thức ăn của cá chúng ta nên sử dụng khoảng 5 – 10% bã cải trong khẩu phần ăn của cá

Hình 2.3 Cấu trúc hóa học của glucosinolate

2.6 Nghiên cứu sử dụng bã cải trên gia súc và gia cầm

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu trên gà giò Nghiên cứu khả năng thay thế bã đậu nành bằng bã cải với 3 mức thí nghiệm là 0%, 15%, 30% và

bổ sung enzyme trong khẩu phần ăn của gà tương ứng là 0%, 0,025%, 0,05% Kết quả cho thấy lượng ăn, trọng lượng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giữa các nghiệm thức có sự sai khác bắt đầu từ 0 - 21 ngày, 21 - 42 ngày và suốt quá trình nuôi ở các mức độ khác nhau (P < 0,0001) Quá trình kết hợp giữa bã cải và enzyme trong suốt quá trình nuôi cho thấy trọng lượng của gà sai khác rất có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P < 0,0001) Riêng hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) sai khác không có ý nghĩa bởi việc bổ sung enzyme Việc bổ sung bã cải cũng có ý nghĩa làm tăng trọng lượng gan, tuyến dạ dày và mề của gà (Asian Network for Scientific Information, 2006)

Còn khi nghiên cứu trên ngựa, Sutton (1988) khẳng định rằng trong khẩu phần ăn thêm của ngựa khi thay thế các nguyên liệu khác bằng bã cải lên tới 15%

Trang 28

13

thì vẫn không ảnh hưởng đến tăng trọng và tính ăn Còn ở cừu, Mandiki và ctv.(1999) đã tìm thấy trong khẩu phần ăn chứa đến 30% bã cải (6,3 µmoles/g glucosinolate cô đặc) nhưng không ảnh hưởng đến tăng trọng, tính ăn và chất lượng sữa

2.7 Nghiên cứu sử dụng bã cải trên cá

Ngày càng có nhiều nghiên cứu về khả năng sử dụng làm thức ăn cho các loài cá nuôi như cá tra, cá chép, rô phi,… và cả cho tôm Các nhà khoa học đã nghiên cứu ảnh hưởng của bã cải lên sự tăng trưởng, và ảnh hưởng của hàm lượng glucosinolate có trong bã cải đối với tuyến giáp trạng của cá để tìm ra các mức thay thế thích hợp

Ở cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss): Thí nghiệm trên cá hồi với thành phần

bã cải trong thức ăn ở 2 mức là 300 và 500 mg/kg thức ăn so với thức ăn đối chứng

sử dụng bột cá Kết quả cho thấy: Khả năng tiêu hóa của trọng lượng khô, protein, năng lượng và phospho, hiệu quả sử dụng thức ăn bị giảm ở nghiệm thức sử dụng

bã cải Glucosinolate có trong thức ăn làm giảm hiệu quả sử dụng protein và năng lượng Ngoài ra, lượng glucosinolate trong thức ăn cao dẫn đến tăng lượng huyết tương trong máu, glucosinolate khi thủy phân dẫn đến sự giảm hoạt động của deiodinase trong gan, thận, và ở mang ( Bulrel và ctv., 2001)

Trên cá rô phi lai (O.mossambicus x O aureus) khi gia tăng tỉ lệ sử dụng bã

canola để thay thế bã đậu nành cho kết quả tương tự lô đối chứng Khi thí nghiệm ở

trên cá rô phi đen (O mossambicus): Tăng trưởng của cá không bị ảnh hưởng khi sử

dụng đến 50% bã canola thay thế bã đậu nành (Davies và ctv., 1990) Webster và

ctv (1997) cho rằng ở cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) trong khẩu phần thức ăn

chứa tới 36% bã canola không gây ảnh hưởng đến khả năng sử dụng thức ăn cũng như tốc độ tăng trưởng và thành phần cấu tạo cơ thể cá

Còn trong nuôi tôm, Lim và ctv (1998) cho rằng khi thay thế 15% bã canola trong khẩu phần ăn thì tôm vẫn phát triển bình thường nhưng nếu thay thế từ 30 – 45% thì tôm chậm lớn và suy nhược cơ thể nghiêm trọng

Trang 29

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

3.2 Nội dung nghiên cứu

+ Đánh giá mức độ ảnh hưởng và xác định tỉ lệ bã cải tối đa sử dụng trong

thức ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) lên tốc độ tăng

trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn

+ Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng bã cải lên độ tiêu hoá của thức ăn + Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng bã cải thay thế cho bánh dầu đậu nành 3.3 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu

3.3.1 Ðối tượng khảo sát

Cá tra giống mua ở đồng bằng sông Cửu Long, được chuyển về Trại Thực Nghiệm, nuôi thích nghi trong ao đất 1 - 2 tuần Cá được cho ăn thức ăn viên nổi hiệu Greenfeed 6126HF (2mm, 32% đạm), hai lần/ngày sau đó tập cho thức ăn chế biến (viên chìm) để làm quen với thức ăn đến trước khi tiến hành thí nghiệm Chọn

cá có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị dị hình dị tật để tiến hành bố trí thí nghiệm

Trang 30

15

Ở thí nghiệm 1: Cá có trọng lượng trung bình 30g/con

Thí nghiệm 2: Được bố trí sau khi thí nghiệm 1 kết thúc Chọn những cá khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, có trọng lượng trung bình là 350g/con

3.3.2 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm

Dụng cụ thí nghiệm bao gồm:

- 18 giai (1x 1x 1,5 m) được bố trí ở trong ao đất có diện tích 600m2

- Máy xay, máy ép viên, máy sấy thức ăn

- Cân điện tử hai số lẻ

- Máy đo DO (HANNA Instruments HI 9142 Dissolved Oxygen)

- Máy đo pH (MP103)

- Bộ test NH4+/NH3.

- Nhiệt kế thủy ngân 00C Æ 1000C

- Thuốc gây mê (Ethylene glycol monophenyl ether)

- Dao, kéo dùng giải phẫu thu phân cá để xác định độ tiêu hóa

- Thau nhựa, rỗ, vợt vớt cá và các dụng cụ khác có liên quan

- Chromic oxide (Cr2O3) do Trung Quốc sản xuất dùng làm chất đánh dấu bổ sung vào thức ăn để xác định độ tiêu hóa

Nguồn nước được lấy từ Hồ Đất Nước được cấp vào ao thông qua hệ thống máy bơm

Thí nghiệm sử dụng thức ăn được làm từ các nguyên liệu chính là: bột cá (55% đạm), cám gạo, tinh bột khoai mì, bánh dầu đậu nành, bã cải, bột xương thịt, dầu cá Ngoài ra có bổ sung thêm vitamin, premix, khoáng (DCP), lysine, methionine, chất kết dính (CMC) với tỷ lệ 1% nhằm đảm bảo nhu cầu vitamin và khoáng chất cho cá thí nghiệm Riêng thí nghiệm 2 còn bổ sung thêm Cr2O3 (99%) để đo độ tiêu hóa Trước khi tiến hành thí nghiệm, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học các nguyên liệu thức ăn được sử dụng trong phối chế thức ăn cho cá thí nghiệm tại Bộ môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

Trang 31

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa của các loại nguyên liệu

Hàm lượng

(%)

Nguyên liệu Bột cá Bột xương thịt Bã cải Bã đậu nành Cám gạo

*Lập công thức khẩu phần ăn của sáu nghiệm thức

Sử dụng phần mềm Excel để lập công thức thức ăn, sao cho tất cả các khẩu

phần đều cân đối như nhau về hàm lượng đạm, vitamin, acid amin và khoáng chất

Tuy nhiêu mỗi khẩu phần sẽ khác nhau về mức độ thay thế bánh dầu đậu nành bằng

bã cải

* Trộn đều

Trộn đều là khâu quan trọng trong chế biến thức ăn vì nếu trộn không đều thì

tôm cá ăn vào sẽ mất cân đối về chất dinh dưỡng, sự hấp thu dưỡng chất trong thức

ăn không tốt nên làm chúng chậm lớn

* Ép viên

- Ép viên là công đoạn chuyển thức ăn từ dạng bột sang dạng viên cứng bằng

phương pháp ép nén với chất kết dính

- Hơi nước trong quá trình ép viên có tác dụng:

+ Bôi trơn làm cho thức ăn dễ đi qua lỗ nén

+ Làm ướt bề mặt hạt thức ăn và làm mềm thức ăn giúp quá trình nén dễ

thực hiện

+ Làm tăng độ hồ hóa tinh bột (nhiệt cao), làm tăng độ dính và độ bền vững

của thức ăn

Trang 32

17

Hình 3.1 Máy ép viên thức ăn ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản

Hình 3.2 Máy sấy thức ăn ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản

Trang 33

Bảng 3.2 Các thành phần cấu thành thức ăn của 6 nghiệm thức

Trang 34

19

Trước khi bố trí thí nghiệm, thức ăn được phối trộn, ép viên, sấy khô tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM Sau đó được cho vào bao ni lông giữ kín, để nơi mát mẻ, khô ráo và lưu mẫu để phân tích sinh hóa

Sau khi các bước đã chuẩn bị xong, chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm và

sơ đồ bố trí thí nghiệm được thiết kế như sau:

T2.1, T2.2, T2.3: tương ứng với nghiệm thức 2 (NT 5): NT chứa 5% bã cải

T3.1, T3.2, T3.3: tương ứng với nghiệm thức 3 (NT 10): NT chứa 10% bã cải

T4.1, T4.2, T4.3: tương ứng với nghiệm thức 4 (NT 20): NT chứa 20% bã cải

T5.1, T5.2, T5.3: tương ứng với nghiệm thức 5 (NT 30): NT chứa 30% bã cải

T6.1, T6.2, T6.3: tương ứng với nghiệm thức 6 (NT 40): NT chứa 40% bã cải

Thí nghiệm 1 với sáu nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần

Do đó 18 giai được bố trí trong ao đất, thể tích của mỗi giai là 1x1x1,5m và được đặt sâu xuống 1m nước Mỗi giai bố trí 70 con, những cá thể này được chọn tương đối đồng đều về kích cỡ và trọng lượng ban đầu (trung bình 30,3g/cá thể) Khoảng thời gian thí nghiệm là 12 tuần Trong khoảng thời gian này, cá được cho ăn hai lần/ngày (lúc 8.00 giờ và 17.00 giờ) với khẩu phần tối đa Khẩu phần cho ăn được kiểm soát bằng sàng ăn, sau khi cho ăn được hai giờ thì kéo sàng lên kiểm tra để điều chỉnh lượng ăn Nếu cá ăn hết thì hôm sau tăng khẩu phần cho ăn và ngược lại Lượng thức ăn thừa đem sấy hoặc phơi khô, cân lại để tính toán hệ số biến đổi thức

Trang 35

ăn (FCR) và khẩu phần ăn ngày hôm sau Cá ban đầu và cá cuối thí nghiệm được gây mê và cân tổng trọng lượng, sau đó lấy 10 con đem phân tích thành phần sinh hoá Bên cạnh đó cá ở cuối thí nghiệm cũng được bắt ngẫu nhiên 10 con cho mỗi giai, cá được mổ ra lấy gan - mỡ để xác định hệ số gan - thể trọng, mỡ - thể trọng Tuy nhiên, trong quá trình thí nghiệm, sau mỗi lần cân kiểm tra cụ thể là ở tuần thứ

3, 6 và 9 cá được gây mê và cân để xác định quá trình tăng trưởng cũng như điều chỉnh lại lượng ăn Sau đó nhẹ nhàng thả lại, tránh làm cho cá bị stress

Hình 3.3 Các giai nuôi cá bố trí thí nghiệm 3.4.2 Thí nghiệm 2: Xác định ảnh hưởng của việc thay thế bã đậu nành bằng bã cải lên độ tiêu hóa thức ăn của cá tra

Sau khi kết thúc thí nghiệm 1, cá của thí nghiệm được nuôi tiếp và tiến hành thí nghiệm để xác định độ tiêu hoá thức ăn Thí nghiệm 2 chỉ lặp lại hai lần Cá được bắt ngẫu nhiên 20 cá thể ở mỗi nghiệm thức (10 cá thể / 1 lần lặp lại) Trước khi bố trí thí nghiệm, thức ăn được tổng hợp với thành phần tương tự như ở thí nghiệm 1 Tuy nhiên trong đó lấy bớt 1% tinh bột khoai mì và thay thế bằng 1%

Trang 36

21

Cr2O3 để làm chất đánh dấu và được trộn thật đều, ép viên rồi sấy khô Mẫu cũng được lưu giữ để phân tích thành phần hóa học ở Bộ Môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM

Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 8:00 giờ và 17:00 giờ với khẩu phần ăn tối đa Cá được cho ăn trong suốt 10 ngày Ở lần cho ăn cuối cùng, sau khi cho cá

ăn được 2 giờ thì tiến hành bắt cá, gây mê và mổ lấy ruột Phân được thu ở đoạn ruột cuối cùng (3 cm) Sau khi thu xong, đem phân sấy khô ở nhiệt độ 600C, rồi đem phân tích thành phần protein, Cr2O3 và độ ẩm

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi

3.5.1 Các chỉ tiêu môi trường

Trong suốt quá trình thí nghiệm, chúng tôi thường xuyên theo dõi cá và khảo sát các yếu tố thủy lý hóa của nước ao Các yếu tố thủy lý hóa được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm là:

- Nhiệt độ: Đo vào buổi sáng và chiều mỗi tuần hai lần bằng nhiệt kế thủy ngân

- DO, pH, NH3: Đo vào buổi sáng và chiều mỗi tuần hai lần bằng các dụng cụ

W1 : Trọng lượng trung bình tại thời điểm bố trí thí nghiệm

W2: Trọng lượng trung bình tại thời điểm kết thúc thí nghiệm

T2 – T1 khoảng thời gian của thí nghiệm

*Tăng trọng (Weight gain): (%)

WG = (W2 – W1) / W1 x 100

W1: Trọng lượng trung bình tại thời điểm bố trí thí nghiệm

W2: Trọng lượng trung bình tại thời điểm kết thúc thí nghiệm

*Tỉ lệ sống

Trang 37

Tỉ lệ sống được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm ở mỗi nghiệm thức và được tính theo công thức:

3.5.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

*Hệ số biến đổi thức ăn (FCR) (Feed Conversion Ratio)

∑Ft1 2 = Tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong khoảng thời gian bắt đầu (t1) cho đến thời gian kết thúc thí nghiệm (t2)

Wt1: Trọng lượng cá tại thời điểm bố trí thí nghiệm

Wt2: Trọng lượng cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm

*Hiệu quả sử dụng protein (PER) (Protein Efficiency Ratio)

Trong đó

Wt2: Trọng lượng của cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm

Wt1: Trọng lượng của cá tại thời điểm bố trí thí nghiệm

*Hiệu quả tích lũy protein (NPU) ( Net Protein Utilization)

Trong đó

Po : Hàm lượng protein của cá tại thời điểm bố trí thí nghiệm

Pt : Hàm lượng protein của cá tại thời điểm kết thúc thí nghiệm

* Hệ số gan - thể trọng (HSI) (Hepato Somatic Index)

Số lượng cá khi kết thúc thí nghiệm

Tỷ lệ sống của cá sau thí nghiệm (%) = x 100

(P t – P o ) NPU = x 100 Tổng lượng protein trong thức ăn

Trang 38

23

* Hệ số mỡ - thể trọng (ASI) (Adipose Somatic Index)

* Thành phần sinh hoá của cá

- Đạm: Được phân tích theo phương pháp Kjeldahl

- Chất béo: Sử dụng phương pháp Soxhlet

- Tro: Mẫu được nung ở 500 – 550oC trong 6 giờ (AOAC, 1980)

- Hàm lượng chất xơ: Sử dụng phương pháp Henneberg và Stoman

- Độ ẩm: Mẫu được sấy khô ở nhiệt độ từ 100 – 105oC trong thời gian 24 giờ (AOAC, 1980)

3.5.4 Độ tiêu hóa thức ăn

Theo Lê Thanh Hùng (2000), độ tiêu hóa thức ăn là khả năng tiêu hóa và hấp thụ của loại thức ăn đó Các nhà dinh dưỡng học có một định nghĩa về độ tiêu hóa ADC biểu kiến (Apparent Disgestibility Coefficient) Đó là phần trăm lượng thức

ăn được tiêu hóa và hấp thụ:

Trang 39

gián tiếp độ tiêu hóa thông qua việc sử dụng chất đánh dấu (marker) trộn vào thức

ăn được sử dụng phổ biến hơn Nhiều hóa chất được dùng làm chất đánh dấu trong nghiên cứu tiêu hóa cá và động vật thủy sản, nhưng hiện nay chromic oxide (Cr2O3) được dùng phổ biến nhất, với tỷ lệ trộn vào thức ăn là 1 – 2% Chất đánh dấu không được tiêu hóa và hấp thụ nên tỉ lệ nồng độ chất đánh dấu trong phân và trong thức

ăn chính là độ tiêu hóa thức ăn theo định nghĩa trên

Khả năng tiêu hóa biểu kiến được tính theo nguyên tắc của Tawara, 1988: Khẩu phần thức ăn:

Trong phân cá:

Trong đó

a: % chất dinh dưỡng có trong thức ăn

c: % chất dinh dưỡng có trong phân

b: % Cr2O3 có trong thức ăn

d: % Cr2O3 có trong phân

N: Khối lượng thức ăn

M: Khối lượng phân cá

Phương pháp này sử dụng phổ biến nhất, vì chúng ta chỉ cần xác định nồng độ chất đánh dấu trong thức ăn và trong phân là có thể tính được độ tiêu hóa Do đó, độ tiêu hóa biểu kiến (ADC) được tính theo % trọng lượng khô thức ăn theo công thức sau:

N(g) a%

b%

M(g) c%

Chất dinh dưỡng Cr 2 O 3

d%

A – B ADC (%) = x 100

A

Trang 40

25

A: lượng chất dinh dưỡng có trong thức ăn (g) A = a x N / 100

B: lượng chất dinh dưỡng có trong phân (g) B = c x M / 100

Do lượng chromic oxide hoàn toàn không tiêu hóa được nên lượng Cr2O3trong khẩu phần ăn bằng với lượng Cr2O3 trong phân nên ta có:

3.5.5 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế đã được tính bao gồm giá mua các loại nguyên liệu làm thức

ăn theo giá thị trường hiện tại, từ đó tính được giá thành cho mỗi kilogam thức ăn ở mỗi nghiệm thức Giá của các loại nguyên liệu dùng làm thức ăn được thể hiện qua bảng 3.3

c b ADC (%) = 100 x (1 – x )

a d

Ngày đăng: 23/12/2017, 05:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm