1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CHIẾT CÀNH VÀ MỘT SỐ KỸ THUẬT CANH TÁC CHO CÂY MẬN AN PHƯỚC (Syzygium semarangense (Bl.) Merr. Perry

134 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

& Perry] là một trong những cây ăn quả đã được trồng từ lâu đời ở nhiều nơi cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam với nhiều chủng loại rất đa dạng và phong phú.. Trong những năm gần đây, yê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

******************

TRẦN THỊ CẨM NHUNG

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CHIẾT CÀNH VÀ MỘT SỐ KỸ THUẬT CANH TÁC CHO CÂY MẬN AN PHƯỚC

[(Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry]

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9 – 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CHIẾT CÀNH VÀ MỘT SỐ

KỸ THUẬT CANH TÁC CHO CÂY MẬN AN PHƯỚC

[Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry]

TRẦN THỊ CẨM NHUNG

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: GS TS MAI VĂN QUYỀN

Viện công nghệ sau thu hoạch

2 Thư ký: TS VÕ THÁI DÂN

Đại học Nông Lâm TP HCM

3 Phản biện 1: PGS TRỊNH XUÂN VŨ

Trung tâm công nghệ sinh học TP HCM

4 Phản biện 2: PGS TS PHAN THANH KIẾM

Đại học Nông Lâm TP HCM

5 Ủy viên: PGS TS NGUYỄN VĂN KẾ

Đại học Nông Lâm TP HCM

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

( Ký tên và ghi rõ họ tên)

Trần Thị Cẩm Nhung

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin gởi lời cảm ơn đến:

PGS.TS Nguyễn Văn Kế, Trưởng bộ môn Cây lương thực Rau – Hoa – Quả khoa Nông Học, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Thầy đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức quý báu và động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như làm luận văn

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cùng quý thầy cô Khoa Nông Học, phòng Sau Đại Học đã nhiệt tình chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Ban giám đốc, anh Nguyễn Văn Hùng, chị Mai Thị Kim Truyện cùng các anh chị cán bộ Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Miền Đông Nam bộ

Ban giám đốc, các cán bộ nhân viên của trại giống cây ăn quả Trang Nông đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài

Gia đình bác Lê Văn Trung và các cô chú đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này

Cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của anh Phạm Bá Tòng – Công ty Map Pacific Việt Nam

Đặc biệt lòng biết ơn sâu sắc xin gởi đến cha mẹ đã sinh thành, dạy dỗ và ủng hộ tinh thần cho con

Cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp, cùng toàn thể các anh chị em đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi

Xin chân thành cảm ơn

Trần Thị Cẩm Nhung

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu biện pháp chiết cành và một số kỹ thuật canh tác cho

cây mận An Phước [Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry]” được tiến

hành ở trại Trang Nông, xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 3

Thí nghiệm 1: “Ảnh hưởng của đường kính cành và nồng độ NAA đến sự ra

rễ của cành chiết cây mận An Phước” Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố, 5 lần lặp lại Yếu tố A: đường kính cành gồm 3 mức độ Yếu

tố B: nồng độ chất kích thích ra rễ NAA gồm 5 nồng độ Kết quả thí nghiệm cho thấy không có sự khác biệt về số rễ, chiều dài rễ của cành chiết giữa các mức đường kính cành Giữa các nồng độ NAA có sự khác biệt rất có nghĩa về số rễ Nghiệm thức A2B1 (2 cm, 250 ppm) có hiệu quả đối với sự ra rễ của cành chiết

Thí nghiệm 2: “Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành và phun hoá chất đến sự

ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của mận An Phước” Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, 4 lần lặp lại, 6 nghiệm thức gồm: nghiệm thức A: khoanh cành; nghiệm thức B: khoanh cành + phun hóa chất H – 2000 (20 ml) và Fofer – X (100 g) trong bình 8 lít; nghiệm thức C: khoanh cành + tưới Paclobutrazol xung quanh gốc (1 g a.i./mét ĐKT); nghiệm thức D: khoanh cành + tưới Paclobutrazol xung quanh gốc (1 g a.i./mét ĐKT), 15 ngày sau phun thiourea (0,4 %) lên lá, nghiệm thức E: khoanh cành + phun Paclobutrazol (700 ppm) lên lá, nghiệm thức G: khoanh cành + phun Paclobutrazol (700 ppm), 15 ngày sau phun thiourea (0,4

Trang 8

%) lên lá Kết quả thí nghiệm cho thấy, nghiệm thức B [khoanh cành + phun hóa chất (H – 2000 và Fofer – X)] cho ra hoa sớm, tập trung, năng suất cao nhất

Thí nghiệm 3: “Ảnh hưởng của mức độ tỉa quả đến năng suất, phẩm chất mận An Phước” Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, 5 lần lặp lại, 4 nghiệm thức tương ứng với 4 cách tỉa quả: để tự nhiên, tỉa còn 1 quả/chùm, tỉa còn 2 quả/chùm, tỉa còn 3 quả/chùm Kết quả cho thấy tỉa quả còn 2 quả/chùm cho quả to, cải thiện phẩm chất quả mặc dù giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt, năng suất không có sự khác biệt so với đối chứng

Thí nghiệm 4: “Ảnh hưởng của các vật liệu bao quả đến năng suất, phẩm chất mận” Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, 4 lần lặp lại, 5 nghiệm thức tương ứng với 5 loại bao bì: giấy báo, giấy bao

bì, nylon màu trắng sữa, nylon màu xanh, nylon màu trắng trong Kết quả thí nghiệm cho thấy, bao quả không ảnh hưởng đến đặc tính quả, giảm sâu bệnh Bao quả bằng nylon trong cho năng suất quả cao nhất

Trang 9

SUMMARY

The thesis “Studies on marcotting method and some cultural measures

for An Phuoc water apple [Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry]” were

carried out at Trang Nong farm, Tan Hiep village, Phu Giao district, Binh Duong province and in Luong Hoa Lac village, Cho Gao district, Tien Giang province from

January 2008 to March 2009

Objectives: Determine the best branch diameters of water apple and NAA doses to multiply by air layering; evaluate the effects of some chemical products and branch girdling measure to induce flowers for An Phuoc water apple; determine fruit thinning measures and wrapping materials to improve yield, quality of An Phươc water apple

Experiment 1: “Effects of branch diameters and NAA doses on the rooting of layers”, a completely randomized two factor experiment was designed Factor A: 3 levels of diameter: A1: 0.8-1.2 cm, A2: 1.8-2.2 cm and A3: 2.8-3.2 cm Factor B: 5 levels of NAA doses: B0: 0 ppm, B1: 250 ppm, B2: 500 ppm, B3: 750 ppm and B4:

1000 ppm The results showed that there were non significant difference of root numbers and length of roots among diameter treatments But, there was highly significant difference of root number among NAA doses Treatment A2B1 was the best

Experiment 2: “Effects of girdling and applied chemicals on the flowering and fruit setting of An Phuoc water apple” This experiment was a single factor, randomized complete block design, 4 replications, 6 treatments: Treatment A: girdling, treatment B: girdling and spraying solution of H-2000 (20 ml) và Fofer-X (100 g) in 8 litters; treatment C: girdling + pour PBZ at the foot trees (1 g a.i per 1 meter of the canopy diameter); treatment D: girdling + pour PBZ at the foot trees (1

g a.i per 1 meter of the canopy diameter), 15 days later spraying thiourea (0,4 %)

on leaves; treatment E: girdling + spraying PBZ solution (700 ppm) on leaves and treatment G: girdling + spraying PBZ solution (700 ppm), 15 days later spraying thiourea (0,4 %) on leaves The results indicated that treatment 2 was the best in term of the treated trees gave flowers earlier and concentratively and highest yield

Trang 10

Experiment 3: “Effects of level fruit thinning measures on yield, quality of An Phươc water apple” This experiment was a single factor, randomized complete block design, 5 replications, 4 treatments: treatment A: control; treatment B: 1 fruit/ cluster; treatment C: 2 fruits/ cluster, and treatment D: 3 fruits/ cluster The results showed that treatment C gave fruit bigger and improved fruit quality, but the yields were non significant difference

Experiment 4: “Effects of wrapping materials on yield and quality of An Phuoc water apple” A randomized complete block experiment was designed with 4 replications, 5 treatments were GB: newspaper material; GBB: thick wrapping paper; NLS: ivory white plastic bag; NLX: blue plastic bags and NLT: transparent plastic bags The result showed that the quality of water apple did not depend on the wrapping materials, but the treatment using transparent plastic bags gave the highest yield

Trang 11

2.5 Giống mận và nhân giống 6

Trang 12

3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện 22

3.2 Phương tiện thí nghiệm 22

3.2.1 Vật liệu 22 3.2.2 Dụng cụ thí nghiệm 23

3.3 Phương pháp thí nghiệm 26

3.3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của đường kính cành và nồng độ

3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành và hoá chất

đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của mận An Phước 28

3.3.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của mức độ tỉa quả đến năng suất,

phẩm chất mận An Phước 30

3.3.4 Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của các loại bao quả đến năng suất,

phẩm chất mận An Phước 31

3.4 Xử lý số liệu 32

4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 33

4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của đường kính cành và nồng độ

4.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành đến số rễ/

cành chiết mận An Phước 33

4.1.2 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành đến

chiều dài rễ/cành chiết mận An Phước 35

4.1.3 Sự tăng trưởng của cành mận chiết sau khi đem giâm 39

4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành và hoá chất

đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất của mận An Phước 42

4.2.2 Ngày bắt đầu ra hoa và tỷ lệ cây ra hoa sau xử lý 43

4.2.3 Số nụ ban đầu trên cây, số quả non trên cây 44

Trang 13

4.2.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 45

4.2.5 Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến đặc tính bên ngoài

và bên trong của quả 48

4.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của mức độ tỉa quả đến năng suất,

4.3.1 Số quả và tỉ lệ đậu trước khi tỉa 52

4.3.2 Số quả và tỉ lệ mận hỏng, thương phẩm sau khi tỉa quả 53

4.3.3 Sự phân bố trọng lượng quả ở 4 mức độ tỉa và tỷ lệ quả >80 g 54

4.4 Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của các loại bao quả đến năng suất,

phẩm chất mận An Phước 59

4.4.1 Số quả đậu - rụng và tỷ lệ quả rụng lúc thu hoạch 59

4.4.2 Số quả bị hại do sâu bệnh và ruồi hại 60

4.4.3 Ảnh hưởng của các loại vật liệu bao quả đến kích thước,

4.4.4 Số quả, tỷ lệ quả và trọng lượng quả thương phẩm/ nghiệm thức 62

Trang 14

NLX : Nylon màu xanh

ns : Non significant: không có ý nghĩa

NSLTTP : Năng suất lý thuyết thương phẩm

NSTP : Năng suất thương phẩm

NSXL : Ngày sau xử lý

NT : Nghiệm thức

PBZ : Paclobutrazol

ppm : part per million = 1/106

SQLTTP : Số quả lý thuyết thương phẩm

SQTP : Số quả thương phẩm

TB : Trung bình

TL : Trọng lượng

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

4.1 Số rễ chính trên cành mận chiết sau 30 ngày 33

4.2 Số rễ chính trên cành mận chiết sau 60 ngày 35

4.3 Chiều dài rễ cành mận chiết sau 30 ngày 36

4.4 Chiều dài rễ cành mận chiết sau 60 ngày 37

4.5 Ngày ra đọt của cành mận chiết sau khi giâm 39

4.6 Tỷ lệ ra đọt của cành mận chiết sau giâm (%) 41

4.7 Thời gian và tỷ lệ cây ra hoa kể từ khi xử lý (%) 43

4.9 Số quả và năng suất quả thu được 46

4.10 Số quả thương phẩm, năng suất thương phẩm và năng suất thu được 47

4.12 Phẩm chất bên trong của quả (được tính cho 100 g thịt quả) 50

4.13 Số quả và tỉ lệ đậu trước khi tỉa quả 53

4.14 Số quả và tỉ lệ mận hỏng, thương phẩm sau khi tỉa quả 53

4.15 Ảnh hưởng các mức độ tỉa đến tỷ lệ quả >80 g 55

4.17 Số quả đậu - rụng và tỷ lệ quả rụng lúc thu hoạch 59

4.18 Quả bị hại do sâu bệnh 60 4.19 Kích thước, trọng lượng và độ Brix quả mận theo nghiệm thức 61

4.20 Số quả, tỷ lệ quả và trọng lượng quả thương phẩm/ nghiệm thức 62

Trang 16

4.1 Cành mận chiết ở 60 ngày theo đường kính cành 38

4.2 Cành mận chiết theo các nồng độ NAA ở 60 ngày sau chiết 38

4.4 Số hoa/ cây của các nghiệm thức theo thời gian 42

4.5 Quả mận An Phước ở các nghiệm thức xử lý ra hoa 49

4.9 Sự phân bố trọng lượng quả ở 4 mức độ tỉa 54

4.10 Quả mận ở các nghiệm thức tỉa 57

4.12 Quả mận ở các nghiệm thức bao quả 64

Trang 17

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây mận (hay cây roi) [Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry] là một

trong những cây ăn quả đã được trồng từ lâu đời ở nhiều nơi cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam với nhiều chủng loại rất đa dạng và phong phú

Tiền Giang đất đai màu mỡ thuận lợi trồng cây ăn quả Trước đây, diện tích mận được trồng nhiều với những giống Hồng Đào Trung Lương, Hồng Đào đá, mận xanh Lương Hoà Lạc Trong những năm gần đây, yêu cầu về năng suất, phẩm chất ngày càng cao đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng, nhà vườn trồng mận đã chú trọng nhiều đến việc tuyển chọn những giống có năng suất cao, phẩm chất tốt nhằm thay thế các giống đã thoái hóa Hiện nay, ngoài những giống trong nước việc nhập những giống nước ngoài, đặc biệt là các giống mận của Thái Lan như là mận xanh Thái, mận Bắc Thảo, mận An Phước để nghiên cứu và sản xuất là việc làm cần thiết

Ngoài ra, trong sản xuất nhà vườn còn gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật như

xử lý mận nghịch vụ, mận ra hoa không đồng loạt, sâu hại quả còn nhiều, phẩm chất

và chất lượng quả còn kém Các nghiên cứu về cây mận còn rất ít vì thế đề tài

“Nghiên cứu biện pháp chiết cành và một số kỹ thuật canh tác cho cây mận An

Phước [Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry]” được tiến hành

1.2 Mục tiêu

Xác định đường kính cành và nồng độ NAA thích hợp để nhân giống mận

An Phước bằng chiết cành đạt hiệu quả nhất

Trang 18

Đánh giá hiệu quả của một số hóa chất và biện pháp khoanh cành để kích thích cây mận An Phước ra hoa

Xác định phương pháp tỉa quả, và xác định vật liệu bao quả đảm bảo năng suất, phẩm chất và chất lượng quả mận cao hơn đối chứng

1.3 Yêu cầu

Để đạt được mục tiêu trên đề tài đã thực hiện:

Lập 1 thí nghiệm 2 yếu tố đường kính cành chiết và nồng độ NAA tại Tiền Giang Làm 1 thí nghiệm xử lý ra hoa tại Tiền Giang: theo dõi hiệu quả của các biện pháp khoanh cành và hóa chất

Thực hiện hai thí nghiệm tỉa quả và bao quả tại Bình Dương để xem xét hiệu quả của các mức độ tỉa và loại túi bao

Trang 19

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Nguồn gốc và phân bố cây mận

Cây mận (miền Bắc gọi là cây roi) có tên khoa học là Syzygium semarangense (Bl.) Merr & Perry Cây thuộc họ Myrtaceae, là cây ăn quả

nhiệt đới Phần lớn mận có nguồn gốc ở châu Á, một số giống gốc châu Mỹ La Tinh (nhất là Brazil) Ở nước ta còn có một số tên gọi khác như đào tiên, điều

Ngày nay, cây mận được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới như Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan, Phillipin, Bangladesh và Ấn Độ với rất nhiều giống mới được lai tạo và tuyển chọn cho năng suất và phẩm chất quả cao Ở Việt Nam, các giống mận Thái Lan phẩm chất ngon như mận An Phước, da xanh được trồng ở vùng Đông Nam Bộ và các tỉnh miền Tây như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ Mận An Phước cũng như các loại mận khác được trồng rải rác, thậm chí trồng xen trong các vườn trồng cây ăn quả Hiện chưa có vùng chuyên canh mận như những cây trồng thanh long, xoài, dứa Vì thế việc sản xuất mận còn mang tính tự phát, bấp bênh, chưa ổn định, chưa được nhà nước quan tâm đúng mức, nên mận chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong nước

Trang 20

2.2 Giá trị dinh dưỡng của mận

Quả mận có giá trị dinh dưỡng không cao như nhiều loại cây ăn quả khác,

hương vị không có gì đặc sắc, ruột quả xốp, nhiều nước, ít ngọt, một số giống rất

chua hoặc hơi chát Cũng có những giống tốt, nếu được chọn lọc cũng không thua

kém những loại quả khác (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006)

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng của mận (100 g phần ăn được)

Giá trị dinh dưỡng trên 100 g của phần ăn được*

*Phân tích tại Philippines (Nguồn: Morton, 1987)

Hiện nay, giống mận An Phước có độ đường cao (12,7 g/ 100 g), giàu

vitamin C (39 mg/100 g), ăn mát miệng, có mùi thơm đặc trưng, quả thuôn dài, đặc

ruột, không có hạt, nặng khoảng 70 – 100 g (Nguyễn Văn Kế và ctv., 2006)

Muốn xuất khẩu các loại mận, nên dùng hình thức mứt, nước trái cây, thạch

hay rượu mùi.Hiện thị trường Trung Quốc có rất ít mận, chất lượng lại kém Do vậy,

nếu những giống mận thơm ngon của Việt Nam được bảo quản, vận chuyển tốt, chắc

chắn có thị trường xuất khẩu quả tươi rộng lớn

2.3 Đặc điểm thực vật học của cây mận

Mận thuộc họ Sim (Myrtaceae) là cây thân gỗ có kích thước trung bình cao

khoảng 5 – 15 m, vỏ thân màu nâu nhạt, nhẵn, cành nhiều và phân bố tự nhiên

tương đối đều, bộ rễ ăn sâu và rộng

Trang 21

Lá đơn mọc đối, khá lớn, dạng thuôn bầu dục, đầu lá thuôn hẹp nhọn, gốc tròn hoặc hơi hình tim, dài 10 – 15 cm, rộng 6 – 12 cm Gân bên mảnh, đều đặn, nhiều, hợp nhau ở mép thành một gân chia thuỳ sát mép lá Cuống lá dài 0,4 – 0,8 cm (Trần Hợp, 2002)

Hoa lưỡng tính, mọc thành chùm 3 – 10 hoa ở kẽ lá, bầu noãn phía dưới, nhiều nhị, hoa tự thụ phấn là chính Cánh hoa màu trắng hoặc vàng nhạt Cánh hoa

có 4 – 5 cánh ở sát nhau thành hình chén, có 4 – 5 lớp cánh hoa khi nở Khi cánh hoa rụng đi sẽ lộ diện quả như cái chuông

Quả nhỏ, hình bầu dục hay hình chuông, là phì quả dài 4 – 6 cm, phần lớn phía cuống hơi nhỏ lại,

trọng lượng từ 50 – 120

g Vỏ rất mỏng, màu

trắng, xanh, hồng hoặc

đỏ tía tùy giống Thịt

quả màu trắng hoặc

hồng hơi xốp Vòi nhụy

và đài hoa còn dính ở

đầu quả đến khi già

Quả phần lớn có một

hạt, đôi khi 2 – 3 hạt,

các giống mận mới hiện

nay chỉ có 1 hạt hầu như

rất nhỏ Hạt hình bầu

dục hơi dẹt, màu nâu

Hạt mận là loại đa phôi

có thể cho 2 – 3 cây

con

Hình 2.1 Cây mận

Trang 22

2.4 Điều kiện sinh thái

Mận thích hợp khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều Nhiệt độ thích hợp khoảng 25 – 350C, lạnh dưới 150C cây ít ra hoa

Mận có thể trồng trên nhiều loại đất Đối với các giống mận có sản lượng và chất lượng cao cần đất tốt Trồng trên đất mặt dày và có nhiều dinh dưỡng Khả năng chịu hạn, chịu úng của mận cũng tương đối khá Độ pH thích hợp 5,5 – 7,0

Theo Morton (1987), mận chỉ phát triển ở độ cao dưới 1200 m ở Ấn Độ Mận phát triển tốt nhất ở một phần của Philippines nơi mà có mùa khô dài

2.5 Giống và nhân giống

2.5.1 Giống mận

Theo Tôn Thất Trình (2000), Phạm Hoàng Hộ (2003), mận có hai nhóm lớn là

Eugenia và Syzygium Nhóm Eugenia là loại mận châu Mỹ, còn các giống mận châu

Á, trong đó có Việt Nam, thì thuộc nhóm Syzygium Rừng Việt Nam có tới 47 loài của nhóm Syzygium, trong đó nhiều loại dùng làm thuốc đông y và thuốc nhuộm

Ở nước ta hiện có trồng nhiều loài mận, dưới đây là các loài trồng phổ biến để ăn quả:

Mận Hồng Đào (Eugenia semarangense) phổ biến ở miền Nam Quả màu đỏ

nhạt, đặc ruột, chắc và ngọt, tương đối lớn, dài 6 – 7 cm

Mận đường hay mận Java (Eugenia javanica) là giống phổ biến nhất ở miền

Nam hiện nay Quả hình quả lê, màu trắng hoặc đỏ hồng, khi chín còn tươi rất hấp dẫn Kích thước quả trung bình mỗi chiều khoảng 6 cm Quả có một hoặc hai hạt, đôi khi hạt nhỏ hoặc không có hạt Chất lượng khá, tương đối ngọt và thơm

Roi tàu (Eugenia jambos, Syzygium jambos L.) còn gọi là đào Huế, Bồ Đào

tên tiếng Anh là Alston Jambos Trồng ở cả Bắc và Nam Cây tương đối nhỏ, tán hình bán cầu Quả tròn, hơi nhỏ (đường kính 5 cm), khi chín màu trắng vàng hoặc

đỏ hồng Thịt quả mỏng, hơi khô, có mùi thơm và ngọt hơn các loại mận khác Diện tích trồng lẻ tẻ, không phát triển do quả nhỏ, sản lượng thấp

Điều đỏ hay mận huyết (Eugenia malaccensis, Syzygium malacense (L.)

Merr.) tên tiếng Anh là Malay Apple, nguồn gốc Malaysia hiện chỉ trồng ở miền

Trang 23

Nam Cây to nhất trong các loài mận, có thể cao tới 15 m Lá to, hoa màu đỏ Quả lớn dài tới 10 cm, ngang 7 cm, màu đỏ hoặc hồng nhạt chạy song song từ cuống đến đáy quả Thịt quả dày, hạt tương đối to, chứa 1 hạt, ruột trắng, hơi chua chất lượng trung bình và thay đổi tùy cây do còn biến dị lớn

Trên đây là các giống mận nhiệt đới, thích ứng điều kiện khí hậu nước ta, hiện đang trồng phổ biến và đã được xác định Cũng còn nhiều giống khác đã trồng nhưng chưa phân loại xác định rõ ràng như các giống mận da xanh, mận Bắc Thảo

Mận Bắc Thảo: chưa rõ thuộc loài Syzygium jambos L hay Syzygium

semarangense, quả hình chóp cụt, da trắng, ruột mềm, nhiều nước, ngọt chua, được

trồng nhiều ở Tiền Giang

Mận Da Xanh Đường: cho năng suất cao, trái hình nấm, vỏ xanh, thịt trái chắc, đặc ruột, ngọt đậm, không có hột, cũng thấy trồng ở Nam Bộ

Mận Trắng Sữa: quả hình chóp dài, màu vỏ trắng sữa, có mặt ở vùng Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long

Hiện nay, ở miền Nam có một số giống mận du nhập từ Thái Lan thuộc loài

Syzygium semarangense (B1.) Merr & Perry Sau đây là một số giống trồng chính

(Nguyễn Văn Kế, 2006):

Mận An Phước, tiếng Thái gọi là “Thắp Thỉm Chăn” cho năng suất và chất luợng cao, tỷ lệ ăn được cao > 90 %, quả hình chuông, vị ngọt, thơm ngon, không hạt, vỏ có màu đỏ Hoa lá có mùi thơm dễ chịu

Mận Da Xanh Thái, tiếng Thái gọi là “Thun Klao” quả hình chuông, màu xanh nhạt, vị ngọt, đặc ruột

Trên đây là những giống mận phổ biến nhất nhưng khả năng nhập nội hoặc khai thác các giống roi khác còn nhiều vì nó thích nghi với khí hậu nhiệt đới ẩm của nước ta

Theo Vũ Công Hậu (2000), Eugenia jampolana (E cumini (L.) Druce) (cây

vối rừng), quả mọc thành chùm, có hốc ở đỉnh như quả roi, ăn được nhưng chất lượng không cao Gỗ trắng, cứng cũng có thể dùng làm các đồ mộc Vỏ để nhuộm

Eugenia dombeyi rất giống quả xơ-ri, không có khía, kích thước cũng vậy

Cuống dài khi chín quả màu đỏ thẫm rất hấp dẫn Đã trồng thử ở đồn điền Tuyên

Trang 24

Quang từ những năm 1940 Không có sâu bệnh nguy hiểm Chất lượng tốt nhưng sản lượng không cao, quả nhỏ, phần ăn được ít nên chưa phổ biến

Mận xanh Lương Hòa Lạc Mận bắc thảo Mận kiến sen

Mận An Phước Mận trắng sữa Mận xanh đường

Hình 2.2 Một số giống mận

Eugenia uniflora gốc ở Brazil và về hình dạng cũng giống quả xơ-ri nên người ta còn gọi là xơri Surinam Không nên lẫn E uniflora với quả xơ-ri trồng ở miền Nam tên khoa học là Malpighia glabra (xơ-ri Barbados) Phân biệt như sau: Eugenia uniflora thuộc họ Sim – lá vò nát có mùi thơm Bầu hạ khi quả chín đỏ, đầu quả còn mang những cánh dài màu xanh Quả có 8 khía, hạt tròn - Malpighia glabra (xơ-ri miền Nam) thuộc họ Malpighiaceae lá vò không có mùi thơm Quả có

Trang 25

3 khía, đầu quả không có cánh dài thường có 3 hạt có góc, chất lượng E uniflora tốt

nhưng sản lượng thấp người ta trồng làm cây cảnh hơn là cây ăn quả

2.5.2.2 Nhân giống bằng ghép cây

Gốc ghép ương từ hạt, sau khi mọc khoảng 1 năm có thể ghép được Hoặc có thể ghép lên cây mận có phẩm chất kém Mắt ghép cũng lấy ở cành 1 năm tuổi Khi lấy mắt ghép nên để lại một lá để bảo vệ mắt ghép Có thể ghép trong cả năm nhưng ghép mùa mưa tỷ lệ sống cao hơn

2.5.2.3 Giâm cành

Chọn cành ra trong vụ Xuân, lớp vỏ còn xanh để giâm cành Cắt đoạn cành dài 15 – 20 cm, ít nhất có một mắt Giâm trong luống ương tơi xốp, tưới ẩm đều Nếu có nhà giâm và phun mù sẽ ra rễ nhanh và nhiều Nhúng cành giâm trong chất kích thích sẽ mau ra rễ hơn Ở miền Bắc giâm vào tháng 9 – 10, ở miền Nam giâm vào tháng 7 – 8, là những khoảng thời gian ấm áp, ẩm độ cao, lượng mưa vừa phải

2.4.2.4 Chiết cành

Chiết cành là một kỹ thuật vườn ươm cổ điển được sử dụng rộng rãi ở Châu

Âu từ thế kỉ 19 đến thế kỉ 20 cho nhân giống cây bụi và cây lâu năm (Hartmann and Kester’s, 2002)

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000), trồng cây ăn quả bằng cách chiết chóng cho thu hoạch quả Cây con mang đầy đủ các đặc tính di truyền của cây mẹ, nếu chăm bón cẩn thận vẫn có thể thu hoạch tới 20 – 30 năm

Chiết cành là biện pháp nhân giống một số cây nhiệt đới, á nhiệt đới và

những cây bụi, bao gồm vải, chanh ta (Citrus aurantifolia)

Trang 26

Đối với những cây khó ra rễ như hồng xiêm, mận, mơ, mít trước khi bó bầu,

xử lý bằng dung dịch α-NAA pha với nồng độ 2.000 – 4.000 ppm, dùng bông nhúng vào dung dịch chất điều tiết sinh trưởng kể trên và bôi vào trên vết cắt khoanh vỏ

Đối với những cây tương đối dễ ra rễ (ổi, roi, bưởi, cam, chanh, quýt, vải thiều) chất điều hòa sinh trưởng nồng độ thấp có tác dụng thúc đẩy cây ra rễ nhanh hơn, có khi gấp hai lần thời gian chiết không có hoá chất, có thể chủ động và kéo dài thời gian chiết trong năm Quan tâm đến vấn đề chiết cành, Nguyễn Châu Niên (2000) xử lý FFC + NAA 1000 ppm trên cây nhãn, chanh bưởi, cam, ổi cho thấy rất

có ý nghĩa đến sự ra rễ cành chiết Lê Thị Thư (1999) xử lý FFC + NAA 500 ppm trên cành chiết mận, bưởi, chanh, nhãn, ổi, sapoche kết quả số lượng rễ, chiều dài tăng so với đối chứng ở mức rất có ý nghĩa Trên cây nhãn, Nguyễn Văn Kế và ctv (1999) kết luận rằng chất điều hòa sinh trưởng rất có ích đối với chiết cành nhãn, NAA (1000 ppm) rút ngắn thời gian ra rễ, làm tăng số lượng rễ, chiều dài rễ và tăng

tỷ lệ sống của cành chiết sau khi cắt rời cây mẹ

Sau khi chiết từ 30 – 60 ngày tuỳ theo mùa vụ và giống loài cây ăn quả, quan sát qua lớp nylon sẽ thấy rễ mọc ra Khi rễ đã chuyển từ màu trắng nõn sang vàng ngà hoặc hơi xanh thì có thể cưa cành chiết giâm vào vườn ươm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)

2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc mận

2.6.1 Thời vụ và khoảng cách trồng

Cây mận dễ trồng có thể trồng quanh năm, song ở miền Bắc nên tránh trồng vào mùa đông, miền Nam tránh trồng vào những tháng 2, 3 trời quá khô nắng Đa

số nông dân hay trồng vào mùa mưa vì cây mau bén rễ

Khoảng cách cây trung bình 4 – 5 m, nếu đất rộng có thể trồng hàng cách nhau 6 m, cây cách cây 3,5 – 4 m để dễ chăm sóc Không nên trồng quá dày cây sẽ thiếu ánh sáng và phát sinh nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất

Trang 27

2.6.2 Kỹ thuật trồng

• Làm đất

Vùng đất thấp cần đắp mô để trồng Mô có đường kính 0,8 – 1,0 m, cao 0,4 – 0,8 m Vùng đất cao đồi gò ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên thì đào hố trồng, kích thước hố mỗi chiều khoảng 0,5 m

Bón phân lót cho mỗi hố hoặc mô từ 5 – 10 kg phân hữu cơ hoai mục + 0,3 – 0,5 kg Super lân (hoặc 1kg NPK 16 – 16 – 8) + 0,3 – 0,5 kg vôi bột + trộn với thuốc chống sâu, kiến, mối (Vibasu 10H) Các loại phân lót trộn đều với đất mặt lắp đầy

hố Nên đào hố và bón phân lót trước khi trồng 1 – 2 tháng

• Cách trồng

Cây mận giống đủ tiêu chuẩn sau giai đoạn vườn ươm được đem ra trồng Xé bầu cây con, đặt cây vào hóc được móc ở giữa hố đã lắp phân Cây con khi trồng cần bảo vệ bộ rễ và không vỡ bầu, lấp đất nhỏ quanh gốc cây, dùng chân nén nhẹ Cắm cọc để giữ cây, tủ rơm rạ, cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm Trồng xong cần tưới nước ngay Vườn trồng cây cần thoát nước tốt trong mùa mưa

2.6.3 Kỹ thuật chăm sóc

• Tưới tiêu

Cung cấp nước thường xuyên cho cây nhất là ở thời kỳ mới trồng và khô hạn kéo dài Cây chuẩn bị ra hoa cần giữ cho gốc cây khô ráo Thời kỳ mang trái cây cần nước để nuôi trái

• Tỉa cành tạo tán

Cần tỉa bỏ các cành vượt, cành già cỗi, cành bị sâu bệnh Nên khống chế chiều cao cây khoảng 3 – 5 m để tiện thu hoạch, chăm sóc Việc tỉa cành tạo tán giúp cây thông thoáng, quang hợp tốt cũng như tránh làm nơi trú ngụ của sâu bệnh

• Bồi đất cho cây

Ở vùng đất thấp, hàng năm nên bồi thêm đất khô hoặc bùn mương một lớp mỏng 2 – 3 cm xung quanh tán cây kết hợp với việc bón phân hữu cơ hay phân hóa học vào đầu mùa khô Ngoài ra, dọn sạch cỏ dại quanh gốc và có thể để một ít cỏ nhưng không rậm rạp quá

Trang 28

Năm thứ hai bón gấp 2 lần lượng phân năm thứ nhất, chia 3-4 lần bón

Năm thứ 3 trở đi từ khi cây cho quả ổn định bón 2-4 kg NPK 16-16-8 hoặc thay bằng 0,2 - 0,5 kg Urê + 0,5 - 0,7 kg Super lân và 0,2 - 0,3 kg KCl Chia bón 3 lần trong năm, vào thời gian sau thu hoạch bón ½ lượng phân cả năm, số còn lại chia bón vào trước khi ra hoa và sau khi đậu quả

Ngoài ra, hàng năm nên bón thêm cho mỗi cây 5 - 10 kg phân hữu cơ hoai Cách bón có thể là hòa nước tưới hoặc đào rãnh nông quanh gốc, cách gốc 0,5 - 1,0 m tùy theo độ lớn tán cây, rải phân, lắp đất rồi mới tưới nước

2.6.4 Phòng trừ sâu bệnh hại cây mận

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2006), cây mận thường bị các loại sâu bệnh như: sâu đục cành, rệp sáp, rệp muội, bọ xít, sâu non, bọ cánh vẩy hại đọt non, bệnh thối quả Chăm sóc, bón phân đồng loạt để chủ động bảo vệ bộ lá, hoa, quả Vệ sinh vườn, quét vôi gốc có tác dụng hạn chế tác hại của sâu bệnh cho

vườn mận Sau đây là một số sâu bệnh hại chính ở mận vào giai đoạn mang quả 2.6.4.1 Sâu hại

a Sâu đục quả (Dudua sp.)

Họ: Tortricidae – Bộ: Lepidoptera

Đặc điểm: sâu trưởng thành là loài bướm nhỏ, thân dài 7-8 mm, sải cánh rộng 13-14 mm Cánh màu tối, có nhiều vết xám đen và nâu Sâu non màu đỏ tím giống màu quả mận, khi sắp hóa nhộng có màu xanh vàng, dài 12-15 mm Sâu non rất linh hoạt, di chuyển nhanh khi bị đụng đến

Sâu non phát sinh gây hại từ khi quả còn non cho đến khi chín Quả nhỏ bị sâu ăn thường rụng sớm Khi quả lớn sâu đục vào trong, ăn thịt quả và làm thối quả, rụng Khi ăn sâu thải đầy phân trong quả

Trang 29

Phòng trừ: bao quả có tác dụng ngăn ngừa sâu và ruồi đục quả rất tốt mà không phải phun thuốc Vào thời gian hoa mới rụng nhụy và quả đang lớn nếu sâu phát sinh gây hại phun các thuốc Fastac, Sherpa, Peran, Silatop, Scout

Ngoài ra, còn có sâu đục quả sọc đỏ trắng và sâu đục quả màu đỏ, chưa

định danh thuộc bộ Lepidoptera Nhóm này gây hại tương tự như Dudua sp

đu đủ, sa bô, mãng cầu xiêm, xoài và thanh long (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002)

Ruồi phá hoại từ khi quả già đến chín, là đối tượng gây hại phổ biến và nặng

nề nhất đối với cây mận

Đặc điểm: ruồi trưởng thành hình dạng giống ruồi nhà nhưng nhỏ hơn một chút, thân dài 5-6 mm, toàn thân màu nâu đỏ Ngực có ba vệt vàng xếp thành hình chữ U, bụng có vệt đen hình chữ T Cuối bụng con cái có ống đẻ trứng dài và nhọn Sâu non dạng dòi, không chân, màu trắng hoặc vàng nhạt, đẫy sức dài 7-8 mm

Ruồi trưởng thành dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ quả, đẻ một chùm 5-7 trứng trong đó Vết chích rất nhỏ, có thể nhận ra nhờ vết mủ khô màu nâu trên mặt

vỏ quả Dòi nở ra, ăn thịt quả làm quả thối và rụng Trong một quả thường có nhiều con dòi cùng phá Khi đẫy sức, dòi chui ra khỏi quả rơi xuống đất hóa nhộng Ruồi đục quả phá hoại nhiều từ khi quả già đến quả chín, quả càng để chín lâu trên cây càng bị hại nhiều Vòng đời 20-30 ngày, trong đó thời gian dòi 10-15 ngày

Phòng trừ: thu hoạch kịp thời, không để quả chín lâu trên cây Thu nhặt tiêu hủy các quả bị rụng Bao quả có tác dụng phòng ngừa ruồi gây hại rất rõ Khi ruồi trưởng thành dùng các thuốc dẫn dụ như Ruvacon, Vizubon-D, Sofri protein Có thể

tự làm bả bẫy ruồi bằng cách dùng một miếng quả chín (cam, quýt, táo, ổi) tẩm thuốc sâu rồi đặt lên cành cây Hiện thị trường có bả methyl eugenol của Taiwan màu vàng rất nhạy

Trang 30

Khi quả già chưa chín dùng thuốc Trigard hoặc các thuốc trừ sâu gốc Cúc tổng hợp hoặc Trichlofon phun lên cây và chùm quả Có thể dùng thuốc sâu dạng hạt rải xuống đất để diệt nhộng

2.6.4.2 Bệnh hại

Bệnh thối quả (nấm Phytophthora sp.)

Triệu chứng bệnh: bệnh thường gây hại những quả khuất nằm trong tán lá và những chùm mang nhiều quả Vết chích do ruồi đục quả tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập làm quả bị thối nhanh Quả thối có mùi hôi chua khó chịu và thường bị rụng Trong điều kiện trời mưa nhiều, ẩm thấp, bệnh lây lan nhanh, có thể làm thối

cả chùm quả trong vài ngày

Phòng trừ: vệ sinh vườn cây thông thoáng Thu gom tiêu hủy các quả bị bệnh Khi quả đã lớn phun phòng bệnh bằng các thuốc Mexyl-MZ, Carbenzim, Dithan-M, Viben-C

2.7 Cơ sở khoa học của việc ra hoa

Các loài cây ăn quả trước lúc ra hoa đều trải qua thời kỳ phân hóa mầm hoa Đó là sự biến đổi từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Trong thực tiễn sản xuất có năm nhận thấy vườn rất xanh tốt song không có hoa, hoặc trên một cây bên này thì ra hoa, còn bên kia chỉ có lá, do những điều kiện bên trong của cây và bên ngoài (nhiệt độ, nước, ánh sáng, dinh dưỡng…) tác động và chi phối Tùy theo giống khác nhau mà thời kỳ phân hóa mầm hoa xảy ra sớm hay muộn Trên cơ sở các vật chất để hình thành mầm hoa đã được tích lũy ở mầm, gặp các điều kiện ngoại cảnh thuận lợi dạng nguyên thủy của hoa tự được phân hóa (Trần Thế Tục, 2000) Các sản phẩm quang hợp, các loại muối khoáng và các sản phẩm chuyển hóa phối hợp của hai loại này bao gồm hydratcacbon, acid amin và protein, vv phải được tích lũy cao hơn so với việc hình thành mầm lá Mắt thường không nhận biết được quá trình phân hóa mầm hoa bên trong cây, mà phương pháp giải phẫu mới thấy được Đây là thời kỳ quan trọng đối với cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng

Trang 31

2.7.1 Vai trò của các chất dinh dưỡng lên sự ra hoa

Chất đạm

Từ những quan sát thực tế cho thấy rằng nếu cây phát triển mạnh thì thường đối lập lại với sự ra hoa Trong khi làm giảm sự sinh trưởng của cây bằng cách xiết nước, tỉa cành hay khấc cành thường thúc đẩy sự ra hoa Do đó, sự bón nhiều phân đạm có thể làm giảm sự ra hoa trên nhiều loại cây

Ngoài hiệu quả điều chỉnh sự tượng hoa trong môi trường thích hợp cho sự

ra hoa, dinh dưỡng khoáng còn có tác dụng biến đổi chất lượng căn bản những đòi

hỏi của sự ra hoa ở một số loài Trên một số cây ngày dài (Sinapis), Deltour (1970)

đã đạt được thành công 100% sự tượng hoa trên đỉnh bằng cách giảm lượng đạm trong sự hiện diện của một lượng đường tối hảo hoặc đối với cây ngày ngắn như

Pharbitis tượng hoa trong điều kiện chiếu sáng liên tục trong tình trạng dinh dưỡng

kém so với cây trong cùng điều kiện nhưng nếu bón phân đầy đủ sẽ không tượng hoa Qua một số trường hợp trình bày trên cho thấy rằng sự tượng hoa, ít nhất trong một số trường hợp, gắn với chất dinh dưỡng mà trong đó, chất đạm dường như là yếu tố quan trọng

Trên cây táo, dạng hoặc thời gian bón chất đạm có ảnh hưởng đến sự ra hoa nhiều hơn lượng phân bón Dạng đạm ammonium có hiệu quả nhiều lên sự kích thích ra hoa hơn đạm dạng nitrate Trên cây cam, hàm lượng tinh bột và đạm dạng ammonium trong lá có liên quan đến cường độ ra hoa trong khi đường glucose, đạm tổng số và đạm dạng nitrate không có liên quan đến sự khởi phát hoa (Lovatt và ctv, 1988)

Chất lân

Theo Narwadkar và Pandey (1988), bón phân lân sớm ở thời kỳ trước khi trái phát triển có thể kích thích cho sinh trưởng trong mùa xuân Hàm lượng chất lân thấp không thúc đẩy sự ra hoa (Singh và Singh, 1973) nhưng hàm lượng chất lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa ở giống xoài Dashehari (Chadha

và Pal, 1986)

Trang 32

Chất kali

Chất kali cũng cho kết quả tương tự như đối với chất lân Mức độ kali trong

lá thấp có liên quan với tỉ lệ hoa cái bất thụ và điều nầy có thể thay thế bằng việc phun CYT (Cytokinine) do ảnh hưởng của kali lên mức độ CYT trong cây

Yếu tố vi lượng (trace elements)

Sự thiếu chất đồng làm cho ngũ cốc không có hạt do việc thiếu chất đồng nghiêm trọng sẽ làm ngăn cản sự hình thành hạt phấn, số hạt phấn trên bao phấn được sản xuất ít hơn và khả năng sống của hạt phấn cũng kém đi làm giảm tỉ lệ đậu trái (Graham, 1975 trích bởi Trần Văn Hâu, 2005)

Chất sắt dường như cần thiết cho sự cảm ứng quang kỳ và không cần thiết cho quá trình ra hoa tiếp theo như trong sự trao đổi chất thông thường Sự thiếu sắt

cũng ngăn cản hoặc làm xáo trộn lớn sự khởi phát hoa trên cây Xanthium trong lúc

các yếu tố khác thì ít cần thiết hơn Tuy nhiên, cách mà nguyên tố sắt can thiệp vào

sự cảm ứng thì chưa được biết (Trần Văn Hâu, 2005)

Molybden cũng ảnh hưởng lên sự sản xuất và khả năng sống của hạt phấn

Bo cũng ảnh hưởng lên sự thụ tinh nhưng chất Bo cần thiết cho sự phát triển của

ống phấn

2.7.2 Biện pháp canh tác

Khắc thân hay khoanh cành

Biện pháp này được Mallik đưa ra từ những năm 1951 dựa trên cơ sở thay đổi tỷ lệ C/N trong lá, cụ thể là sau khi tiến hành khoanh vỏ thì tỷ lệ này trong chồi tăng một cách rõ rệt và nhờ vậy sau 1 tháng cây có thể ra hoa (Nay Meng, 2005)

Việc khoanh cành hay khắc thân gây ra sự tích lũy những sản phẩm trao đổi chất được tạo ra trên chồi (carbohydrate, ABA và auxin) ở phần trên vết khoanh nhưng đồng thời những chất dinh dưỡng hoặc những chất đồng hoá (Cytokinine, Gibberellin và đạm) được cung cấp bởi rễ cũng được tích luỹ ở phần dưới vết khoanh (Meilan, 1997) và những sản phẩm này có thể ảnh hưởng đến sự ra hoa (Zimmerman và ctv., 1985; Hackett, 1985) Việc khoanh cành đã làm phá vỡ tế bào

Trang 33

mô libe nên trực tiếp ảnh hưởng đến sự vận chuyển các sản phẩm đồng hoá (Noel, 1970; Menzel và ctv., 1995)

Theo Nguyễn Văn Kế (1997) trong sản xuất nông dân cần lưu ý khi xử lý

ra hoa bằng cách khoanh vỏ để đạt năng suất cao và ổn định lâu dài không ảnh hưởng đến sự mất sức của cây chỉ khoanh ¾ tổng số cành (thường là cành phát triển trung bình) có bộ lá phát triển khá tốt để nuôi bộ rễ cây Phải chú ý mặt khoanh, không nên khoanh rộng quá làm cây mất sức, nếu hẹp quá làm cây mau liền da không làm cây ra hoa tốt Việc khoanh vỏ cần phải chú ý vào mùa vụ, thời tiết và sức sinh trưởng của cây

Rameshwar (1988) kích thích ra hoa trên hai giống xoài Banganapally và Romani bằng cách khoanh cành rộng 2 cm vào cuối tháng 10 kết quả cho thấy tỉ lệ

số chồi ra hoa lần lượt là 52% và 46% so với đối chứng không xử lý là 30% và 15% Ở Úc, khấc thân cây xoài là một kỹ thuật đã có từ lâu nhằm kiểm soát sự sinh trưởng, sự ra hoa và phát triển trái xoài trong suốt mùa xoài (Noel, 1970), và cũng nhằm làm tăng sự ra hoa (Malik, 1951; Rath và Das, 1979)

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, để mận ra hoa mùa nghịch, vào đầu tháng năm âm lịch dùng cuốc hoặc cào sắt có răng ngắn xới nhẹ xung quanh gốc cho đứt một số rễ rồi bón phân cho cây với công thức bón như sau: cứ 10 kg phân NPK (loại

16 – 16 – 8) trộn đều với 10 kg phân DAP và 8 kg phân Urea, rồi bón khoảng 0,5 – 0,6 kg hỗn hợp phân này cho cây mận (4 – 5 năm tuổi) Bón xong tưới nước giữ ẩm thường xuyên Sau khi bón khoảng 15 – 20 ngày thì tiến hành “xiết gốc” bằng cách dùng cưa tay (xứa) khoanh nhẹ một vòng xung quanh gốc (chỉ cưa đứt phần vỏ của cây, không được cưa phạm vào phần gỗ) Vị trí chỗ cưa cách mặt đất khoảng 2 – 3

cm Chờ 1 – 2 ngày cho chỗ khoanh khô nhựa thì dùng dây kẽm nhỏ (có đường kính khoảng 2 mm) quấn một vòng vào chỗ vết khoanh rồi xoắn chặt lại (mục đích là để chỗ khoanh không bị liền da) Sau khi cưa khoanh vỏ khoảng 25 – 30 ngày cây mận

sẽ ra bông Trong thời gian từ lúc cưa khoanh vỏ cho đến lúc ra bông phải ngưng

tưới nước, thời gian này nếu gặp mưa thì kết qủa ra bông sẽ không cao

Trang 34

Furr và ctv (1945) cho biết rằng cây hấp thu các chất dinh dưỡng bình thường trở lại sau khi khấc 2 tuần

2.7.3 Hóa chất kích thích ra hoa

Cùng với sự phát triển của công nghệ hóa học, ngày nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm hóa học có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển cây trồng theo ý muốn con người Biện pháp cơ giới điều khiển ra hoa cho cây trồng thường hiệu quả thấp, lệ thuộc nhiều vào thời tiết nhưng các sản phẩm hóa học này cho hiệu quả tốt, nhanh chóng và tập trung hơn so với biện pháp cơ giới Trong điều khiển ra hoa, có nhiều hóa chất được sử dụng, dựa vào sự tác dụng của hóa chất ta

có thể chia thành hai nhóm chính: các chất có tác dụng phá trạng thái ngủ, và chất

ức chế sinh trưởng

• Thiourea

Tên hóa học của thiourea là thiocarbamide (CH4N2S) Trong đó C: 15,8%, H: 5,3%, N: 36,8%, S: 42,1%, công thức phân tử H2NCSNH2 Thiourea là tác nhân phá

vỡ trạng thái ngủ của mầm hoa, tức là cũng thúc đẩy sự sản xuất ethylene

Thiourea có thể sử dụng để kích thích ra hoa hay phá trạng thái ngủ để ra chồi đồng loạt Tongumpai và ctv (1997b) cho rằng giống xoài Khiew Savoey sẽ

ra hoa 100 % khi phun thiourea ở nồng độ 0,5 % ở giai đoạn 120 ngày sau khi tưới gốc PBZ với liều lượng 6 g a.i./cây Tuy nhiên, nếu xử lý thiourea trước 75 ngày sau khi tưới gốc PBZ thì cây sẽ ra đọt 100 % Tại Đồng Nai và ĐBSCL nhà vườn trồng bưởi áp dụng biện pháp lặt lá già và phun paclobutrazol kết hợp với thiourea nhận thấy cây ra hoa khá tập trung (Phan Thành Ngọc Vũ, 2008)

Trang 35

trở sự tổng hợp Gibbrellin trong các mô phân sinh Đây là loại hóa chất đã được sử dụng ở nhiều nước và được sử dụng như thuốc diệt cỏ không chọn lọc, tiền nảy mầm, có tác dụng kiềm hãm sinh trưởng cây trồng Paclobutrazol dùng để kiểm soát các loại cỏ lá rộng, dây leo, các loại cây thân mềm, thân gỗ Để sử dụng tính kìm hãm sinh trưởng cây trồng, có thể sử dụng hóa chất paclobutrazol như là một chất kích thích ra hoa cho cây trồng, nhất là cây ăn quả

Hình 2.3 Công thức cấu tạo của Paclobutrazol

PBZ được sản xuất và sử dụng ở một số nơi trồng xoài như Thái Lan, Indonesia, Đài Loan và Pakistan để điều khiển xoài ra hoa chống hiện tượng trái cách niên hoặc ra hoa nghịch vụ, tránh tình trạng quá thừa về sản phẩm trong vụ thu hoạch chính (Nay Meng và Nguyễn Văn Kế, 2005) Zikah và David (1991) nhận thấy PBZ trên cây bơ có thể được hấp thu bởi hầu hết các bộ phận của tán cây, rễ và hai ông cũng cho biết rằng PBZ được chuyển chủ yếu đến cơ quan sinh trưởng dinh dưỡng, nơi mà nó sẽ tác động làm chậm sự sinh trưởng

Trần Văn Hâu (2005) tiến hành thí nghiệm tại đồng bằng sông Cửu Long đã

xử lý trên xoài cát Hòa Lộc ở nồng độ từ 1 đến 2g a.i./mét đường kính tán nhận thấy

tỷ lệ ra hoa trong mùa nghịch lần lượt đạt 65%, 66,6 %, và 76,2% ứng với các liều lượng xử lý là 1, 1,5, và 2 g a.i./m đường kính tán Tỉ lệ ra hoa trong mùa nghịch cao hơn so với đối chứng nhưng không khác biệt giữa các nồng độ

Hiện nay, việc nghiên cứu xử lý ra hoa mận trong và ngoài nước còn rất hạn chế Nguyễn Thị Thùy Dung (2004) thực hiện xử lý ra hoa mận bằng cách tưới paclobutrazol với liều lượng 1 g a.i./mét đường tán vào gốc cho thấy: paclobutrazol làm cây mận ra hoa nhưng chưa rõ nét, hoa ra hai đợt vào 70 và 123 ngày sau xử lý

Trang 36

Đối với chất paclobutrazol có thể xử lý cho sầu riêng ra hoa bằng cách phun lên lá hay tưới vào đất (Voon và ctv, 1992)

2.8 Tỉa quả

Hầu hết cây cho quả nhiều hơn chúng có thể Nếu điều kiện khí hậu tốt, phần lớn hoa trên cây sẽ đậu quả Quả quá nhiều dễ cạnh tranh cacbohydrate lẫn nhau vì vậy quả trở nên nhỏ Sự hút cacbohydrate này, có thể làm cây yếu đi dễ mẫn cảm với côn trùng Quả nhiều dẫn đến sự ra hoa cách năm (Chuck, 2000)

Theo Relf (1997) thì tỉa sớm những hoa hoặc quả non, quả chưa chín vào mùa xuân sẽ gia tăng kích thước quả bằng việc giới hạn số quả thu hoạch Điều này tăng tỷ lệ lá trên quả và loại bỏ những quả nhỏ hơn Tỉa quả Táo, lê châu Á, châu

Âu, mơ, đào, mận, kiwi và quả hồng vàng hầu như luôn được tỉa cho đến khi tỷ lệ lá trên quả phù hợp cho việc phát triển kích cỡ của quả

Tỷ lệ lá trên quả ảnh hưởng đến kích thước quả Giống táo và đào đạt tiêu chuẩn yêu cầu tỷ lệ lá quả giữa 40:1 và 75:1 (40 - 75 lá trên một quả) để đạt kích thước đặc trưng lúc thu hoạch Các giống chín sớm cần tỷ lệ lá lớn hơn quả Những giống táo có cành cụt (cựa gà) cần tỷ lệ lá/quả nhỏ hơn 25:1 Kết quả này dường như liên quan đến sản phẩm quang hợp và sự tồn trữ dinh dưỡng được cất giữ đóng góp cho sự phát triển quả nhiều hơn là liên quan với sinh trưởng sinh thực trong cây

Lợi ích chính của tỉa quả là gia tăng kích thước và chất lượng quả Tỉa quả làm cho quả tăng trưởng đến kích cỡ tối đa và ít giảm sinh trưởng của cây Ngoài ra, khi tỉa quả, quả nhận được nhiều ánh sáng hơn, vì thế màu sắc và hương vị quả được cải thiện

Tỉa quả làm giảm sự ra quả cách năm Chẳng hạn, tỉa quả giúp các giống táo duy trì bình thường sinh sản hàng năm như là giống Golden Delicious, Yellow Transparent, và York Imperial mặc khác có xu hướng cho quả nhiều ở năm kế tiếp

Khi cây ổi sai quả, cành nhánh dễ bị gãy Tỉa quả vào giai đoạn phát triển ban đầu của quả sẽ gia tăng kích thước của quả còn lại, giảm gãy thân cây, và thúc đẩy quá trình sinh sản bình thường Tỉa quả bằng tay là qui trình thông thường cho

ổi khi những tác nhân tỉa qủa bằng hoá học chưa được phát triển (Yadava, 1996)

Trang 37

Một lợi ích khác từ tỉa quả là phun xịt trừ bệnh và côn trùng có hiệu quả hơn

ở Đài Loan Túi bao không đắt và dễ dàng sử dụng, bảo vệ gần như hoàn toàn khỏi ruồi đục quả Điều này thật lý tưởng cho những người trồng trọt quy mô nhỏ mà không sử dụng thuốc trừ sâu (http://w.w.w.spc.int/pacifly/control/bagging1.htm)

Ở Philippines, bao quả xoài được áp dụng từ đầu những năm 1950 (Ortega, 1983 trích dẫn bởi Quintana và ctv, 1984) Quả được bao vào giai đoạn

55 – 60 ngày sau khi hoa nở đầy đủ hoặc sau thời kỳ rụng trái non Giấy báo là vật liệu thường được sử dụng để bao quả và sẽ không bị hư hại cho đến khi quả được thu hoạch (Quintana và ctv, 1984)

Manoto và ctv (1984) đã nhận định rằng bao quả là kỹ thuật có ảnh hưởng và an toàn nhất đối với ruồi đục quả xoài (trích dẫn bởi Bondad, 1984) Tuy nhiên, Bondad (1989) cho rằng giấy báo chỉ cung cấp 46 % sự bảo vệ quả đến khi thu hoạch

Trang 38

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 1/2008- 3/2009

3.2 Phương tiện thí nghiệm

3.2.1 Vật liệu

• Cây mận

Trang 39

- Vườn mận An Phước 4 năm tuổi, mật độ trồng: cây cách cây 3,5 - 4 m, diện tích vườn 2000 m2 được trồng tại xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Cây được chăm sóc trong điều kiện như nhau

- Cây mận An Phước nhập từ Thái Lan bởi công ty Trang Nông trồng năm

2002, vườn có mật độ trồng là cây cách cây 4 - 4,5 m, hàng cách hàng 4 – 5 m, kích thước cây, tuổi cây và điều kiện chăm sóc là như nhau

- Phân bón lá H-2000 (Cơ sở sinh hóa nông Phú Lâm) có thành phần: N: 3 %,

K 2O: 10 %, B: 0,1 %, Mo: 0,005 %, Cu: 0,2 %, Fe: 0,2 %, Zn: 0,2 %, Mn: 0,2 %

- Phân bón lá Fofer-X (Cơ sở phân bón hóa sinh VAC Tiền Giang) có thành phần: N: 10 %, K 2O: 30 %, B: 0,95 %, và α-NAA: 0,05 %

- Chất kích thích sinh trưởng NAA (Axit α – Naphtylaxetic) (dạng bột) được pha sẵn do bộ môn Sinh lý (ĐHNL TPHCM) cung cấp

- Thuốc bảo vệ thực vật

• Vật liệu bao quả

- Giấy báo, trọng lượng 1m2 giấy là 50g

- Giấy bao bì dày màu vàng, trọng lượng 1m2 giấy là 90g

- Túi nylon trong, trọng lượng 1m2 túi là 45g

- Túi nylon màu trắng sữa, trọng lượng 1m2 túi là 55g

- Túi nylon màu xanh, trọng lượng 1m2 túi là 55g

• Vật liệu chiết cành

- Xơ dừa, túi nylon không màu và dây

3.2.2 Dụng cụ thí nghiệm

- Thước đo, thước kẹp đo, Sổ ghi chép, bảng đánh dấu ô thí nghiệm…

- Bình phun xịt, ống dây và nguồn nước tưới, cân để đo trọng lượng

Trang 40

3.2.3 Phân tích quả

Hóa chất, vật liệu do phòng Lab Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả miền Đông Nam Bộ hỗ trợ

3.2.4 Điều kiện thí nghiệm

3.2.4.1 Điều kiện khí hậu

Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết là yếu tố quyết định đối với năng suất và chất lượng của mận Bảng 3.1 trình bày diễn biến các yếu tố khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm

Bảng 3.1 Điều kiện khí hậu khu vực thí nghiệm

mm

Độ ẩm (%)

Số giờ nắng (giờ/tháng) Tối cao Tối thấp Trung bình

Số liệu khí tượng khu vực thí nghiệm tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương

Ngày đăng: 23/12/2017, 05:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w