là một trong những loài cây ăn quả nhiệt đới của khu vực Đông Nam Á, được trồng rải rác quanh vườn nhà hay theo hàng ranh giữa các nông hộ.. Một số giống trồng cultivars được tuyển lựa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
-
THÁI NGUYỄN DIỄM HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁU GIỐNG MÍT
(Artocarpus heterophyllus Lamk.) VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP CANH TÁC CHO MÍT TN1 TẠI PHÚ GIÁO –BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 09/2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
-
THÁI NGUYỄN DIỄM HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁU GIỐNG MÍT
(Artocarpus heterophyllus Lamk.) VÀ MỘT SỐ
BIỆN PHÁP CANH TÁC CHO MÍT TN1
TẠI PHÚ GIÁO –BÌNH DƯƠNG
Trang 3NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁU GIỐNG MÍT (Artocarpus heterophyllus
Lamk.) VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CANH TÁC CHO MÍT TN1
TẠI PHÚ GIÁO – BÌNH DƯƠNG
THÁI NGUYỄN DIỄM HƯƠNG
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: GS TS MAI VĂN QUYỀN
Viện Công nghệ sau thu hoạch
2 Thư ký: TS VÕ THÁI DÂN
3 Phản biện 1: PGS TS PHAN THANH KIẾM
4 Phản biện 2: PGS TRỊNH XUÂN VŨ
Trung tâm Công nghệ sinh học TP HCM
5 Ủy viên: PGS TS NGUYỄN VĂN KẾ
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Thái Nguyễn Diễm Hương, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1983 tại huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Con Ông Thái Hạng và Bà Nguyễn Thị Sinh
Tốt nghiệp Tú tài tại trường Trung học phổ thông Trần Văn Quan, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2001
Tốt nghiệp Đại học ngành Nông học hệ Chính quy tại trường Đại học Nông lâm TP HCM năm 2005
Sau đó làm việc tại bộ môn Cây Lương Thực – Rau – Hoa – Quả, khoa Nông học, trường Đại học Nông lâm TP HCM, chức vụ: giảng viên
Tháng 9 năm 2006, theo học Cao học ngành Trồng trọt tại Đại Học Nông lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: chưa có gia đình
Địa chỉ liên lạc: Khoa Nông học – Đại học Nông lâm TP HCM
Điện thoại: 0908974056
Email: thainguyendiemhuong@gmail.com
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Thái Nguyễn Diễm Hương
Trang 6- Ban Chủ Nhiệm và quý thầy cô Khoa Nông học
- Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại Học trường Đại học Nông lâm Thành phố
Hồ Chí Minh
- Ban Giám Đốc và các cô, chú, anh, chị ở trại giống Trang Nông – Phú Giáo – Bình Dương
- Anh, chị, bạn bè trong và ngoài lớp
Đặc biệt là Ba Má và hai em đã luôn bên cạnh động viên, khuyến khích
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm của sáu giống mít (Artocarpus heterophyllus
Lamk.) và một số biện pháp canh tác cho mít TN1 trồng tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương”
Đề tài được tiến hành tại trại giống Trang Nông thuộc xã Tân Hiệp – huyện Phú Giáo – tỉnh Bình Dương từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2008
Mục tiêu: xác định 2 – 3 giống mít trồng phục vụ cho ăn tươi và chế biến, tìm ra biện pháp tỉa quả và công thức phân N, K thích hợp cho mít TN1 trồng trên nền đất xám tỉnh Bình Dương
Đề tài gồm có 3 thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: “Khảo sát đặc điểm của sáu giống mít trồng tại huyện Phú
Giáo, tỉnh Bình Dương” Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
(CRD), 4 LLL, 6 NT là 6 giống mít: TN1, TN2, M06, M09, 32H, 33H Kết quả cho thấy giống TN1 và TN2 ra hoa sớm (1,5 – 2 năm sau khi trồng), năng suất cao, phẩm chất tốt, có thịt màu vàng đậm, thích hợp để ăn tươi, giống 32H có múi dày, màu vàng nhạt, thích hợp cho chế biến
- Thí nghiệm 2: “ Nghiên cứu một số phương pháp tỉa quả mít TN1” Thí
nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), 4 LLL, 4 NT: A: giữ 2 quả/chùm: đối chứng, B: giữ quả ở thân và 1/3 cành cấp 1 (tính từ gốc cành), C: giữ quả ở 2/3 thân và 2/3 cành cấp 1 (tính từ gốc cành), D: giữ quả ở 2/3 thân và 1/3 cành cấp 1 (tính từ gốc cành) Kết quả cho thấy NT B cho kết quả tốt nhất (năng suất cao (39,98 kg/cây), ít sâu bệnh, giảm nguy cơ gãy cành)
- Thí nghiệm 3: “Ảnh hưởng của N, K đến sinh trưởng và phát triển của mít
TN1” Thí nghiệm được bố trí theo kiểu có lô dải băng (StPD), 2 yếu tố, 3 LLL
Yếu tố A: 3 mức bón N: N1: 200 g N/cây/năm, N2: 400 g N/cây/năm, N3: 600 g N/cây/năm; yếu tố B: 4 mức bón K: K1: 200 g K2O/cây/năm, K2: 400 g
K2O/cây/năm, K3: 600 g K2O/cây/năm, K4: 800 g K2O/cây/năm Kết quả cho thấy
Trang 8SUMMARY
The thesis: “Studies on characteristics of six jackfruit cultivars ((Artocarpus
heterophyllus Lamk.) and some cultural measures for TN1 cultivar grown in Phu
Giao district, Binh Duong province”
The experiments were carried out at the Trang Nong farm located at Tan Hiep village, Phu Giao district, Binh Duong province from January 2007 to December 2008
Objectives: determining 2 – 3 jackfruit cultivars which are suitablefor fresh consumption and processing, finding out the fruit thinning methods and dose of nitrogen and potassium fertilizers for TN1 cultivar grown on grey soil of Binh Duong province
There were three experiments:
- Experiment 1: “Study on characteristics of six jackfruit cultivars grown in Phu Giao district, Binh Duong province” The experiment was arranged by completely randomized design, four replications, six treatments were six cultivars, namely: TN1, TN2, M06, M09, 32H and 33H The results showed that TN1 and TN2 cultivars gave fruit very early (from 1,5 to 2,0 years after planting), high yield, good quality, dark yellow pulps They are suitable for fresh consumption whereas 32H cultivar having thick and light yellow flesh is acceptable to processing
- Experiment 2: “Study on some fruit thinning methods for TN1 jackfruit cultivar” The experiment was completely randomized design, four replications, four treatments, namely: treatment A: kept 2 fruits per cluster (control), treatment B: kept fruits on the trunk and 1/3 length of the primary branches, treatment C: kept fruits on 2/3 length of trunk and 2/3 length of the primary branches, treatment D: kept fruits on 2/3 length of trunk and 1/3 length of the primary branches The results indicated that treatment B was the best (high yield (39,98 kg/tree), the damaged fruits caused by diseases and pest were reduced and the risk of broken limbs were also decreased)
Trang 9- Experiment 3: “Effect of N and K fertilizer dose on growth and development of TN1 jackfruit cultivar”.The experiment was a strip plot design, two factors, three replications Factor A: three levels of N: N1: 200g N tree-1year-1, N2:
400 g N tree-1year-1, N3: 600 g N tree-1year-1; factor B: four levels of K: K1: 200 g
K2O tree-1year-1, K2: 400 g K2O tree-1year-1, K3: 600 g K2O tree-1year-1, K4: 800 g
K2O tree-1year-1 The results showed that N1K2 treatment gave high yield and good quality
Trang 10Danh sách các bảng xii
1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
2.4.1 Thành phần dinh dưỡng 7
2.4.2 Công dụng 8 2.5 Các giống mít trồng trọt 10
2.5.1 Trong nước 10 2.5.2 Ngoài nước 13
Trang 112.6 Đặc điểm thực vật học của cây mít 15
2.7 Điều kiện ngoại cảnh cho sinh trưởng, phát triển của cây mít 17
2.8 Dinh dưỡng của cây trồng 19
2.8.1 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng 19
2.8.2 Phân tích hàm lượng các chất trong lá 22
2.10 Tỉa quả 26
3.1 Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm 31
3.1.1 Địa điểm thí nghiệm 31
3.1.2 Thời gian tiến hành thí nghiệm 31
3.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 31
3.1.3.1 Điều kiện đất đai 31
3.1.3.2 Điều kiện thời tiết 32
3.2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 34
Trang 124.1.6.1 Tăng trưởng quả 54
4.1.6.2 Đặc điểm quả 57
4.1.7 Hạt 64 4.1.8 Sâu bệnh hại 64
4.3.1 Ảnh hưởng của N và K đến sinh trưởng của cây 74
4.3.3 Ảnh hưởng N và K đến quả 81
4.3.3.1 Thời gian nuôi quả 81
4.3.3.2 Năng suất quả thương phẩm (cây 3 tuối) 82
4.3.3.4 Ảnh hưởng của N và K đến phẩm chất quả 83
4.3.4 Ảnh hưởng các mức bón N và K đến hàm lượng N và K trong lá 92
4.3.4.1 Giai đoạn trước ra quả 92
4.3.4.2 Giai đoạn sau nuôi quả 93
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ctv.: cộng tác viên
CRD (Completely Randomized Design): kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
CV (Coefficient of Variation): hệ số biến thiên
NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NPV (Net Present Value): hiện giá thuần
ns: non – significant: không có sự khác biệt về mặt thống kê
NS: năng suất
NT: nghiệm thức
Pquả: trọng lượng quả
p: probability: xác suất thống kê
Trang 14DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của múi mít và hạt mít 7
Bảng 2.2 Đặc điểm của một số nhóm giống mít ta ở miền Đông Nam Bộ 12
Bảng 2.3 Đặc điểm của một số giống mít được tìm thấy ở Hawai 14
Bảng 2.4 Đặc điểm của một số giống mít ở Philippines 15
Bảng 2.5 Các ngưỡng của một số nguyên tố chính ở lá cam 22
Bảng 2.6 Lượng phân bón cho mít/gốc 24
Bảng 2.7 Lượng phân bón khuyến cáo cho mít ở Florida 25
Bảng 2.8 Lượng phân bón cho mít tại Bangladesh hàng năm 26
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại khu thí nghiệm (độ sâu 0 – 50 cm) 32
Bảng 3.2 Các yếu tố khí hậu của huyện Phú Giáo (2007-2008) 33
Bảng 3.3 Kích thước cây được chọn làm thí nghiệm 2 38
Bảng 3.5 Kết quả phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong phân gà 41
Bảng 4.1 Chiều cao và sự tăng trưởng 45
Bảng 4.2 Đường kính tán và sự tăng trưởng 47
Bảng 4.3 Đường kính thân và sự tăng trưởng 49
Bảng 4.4 Đặc điểm bản lá của các giống mít 51
Bảng 4.5 Kích thước phát hoa (cm) khi vừa thoát ra khỏi lá bắc 53
Bảng 4.6 Thời gian nuôi quả của các giống mít khảo sát (ngày) 57
Bảng 4.7 Đặc điểm bên ngoài quả 58
Bảng 4.8 Đặc điểm bên trong quả 59
Bảng 4.9 Các chỉ tiêu hóa học về quả của các giống mít thí nghiệm 60
Bảng 4.10 Kích thước hạt của các giống mít khảo sát 64
Bảng 4.11 Tỉ lệ sâu bệnh hại quả mít năm 2008 65
Bảng 4.12 Năng suất quả thương phẩm của các giống mít khảo sát 66
Bảng 4.13 Ước tính mức thu 3 giống mít trên 1ha sau 5 năm trồng 67
Trang 15Bảng 4.14 Số quả trước và sau khi tỉa của giống TN1 (cây 2 tuổi) 68
Bảng 4.15 Phân bố quả/cây mít TN1 (trước khi tỉa) 69 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của các phương pháp tỉa đến trọng lượng quả 70
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của các phương pháp tỉa đến một số đặc tính vật lý của quả 70
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của các phương pháp tỉa đến tỉ lệ sâu đục quả trên mít TN1 71
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của các phương pháp tỉa đến năng suất mít TN1 thương phẩm 72
Bảng 4.20 Ảnh hưởng của N và K đến mức tăng trưởng tương đối chiều cao
Bảng 4.21 Ảnh hưởng của N và K đến tốc độ tăng trưởng tương đối đường kính tán/năm 78
Bảng 4.22 Ảnh hưởng của N và K đến tốc độ tăng trưởng tương đối đường kính thân/năm 80
Bảng 4.23 Ảnh hưởng của N và K đến số phát hoa cái/cây của mít TN1 81
Bảng 4.24 Ảnh hưởng của N và K đến thời gian nuôi quả 82 Bảng 4.25 Ảnh hưởng của N và K đến năng suất quả thương phẩm 83
Bảng 4.26 Ảnh hưởng của N và K đến tỉ lệ phần ăn được (múi mít) trong quả 84
Bảng 4.27 Ảnh hưởng của N và K đến kích thước múi (Dài x Rộng x Dày) 85
Bảng 4.28 Ảnh hưởng của N và K đến tỉ lệ vỏ và xơ trong quả 86
Bảng 4.29 Ảnh hưởng của N và K đến tỉ lệ hạt (theo trọng lượng) 86
Bảng 4.30 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng nước (%) trong múi mít 87
Bảng 4.31 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng đường tổng số trong quả 88
Bảng 4.32 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng đường khử trong quả 89
Bảng 4.33 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng acid tổng số trong quả 90
Bảng 4.34 Ảnh hưởng của N và K đến tỉ số đường tổng số/acid tổng số trong quả 91
Bảng 4.35 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng vitamin C trong quả 91
Bảng 4.36 Hàm lượng N tổng số trong lá trước thí nghiệm 92 Bảng 4.37 Hàm lượng K tổng số trong lá trước thí nghiệm 93 Bảng 4.38 Hàm lượng N tổng số trong lá sau thí nghiệm bón phân 94
Bảng 4.39 Ảnh hưởng của N và K đến hàm lượng K tổng số trong lá sau bón phân 94
Bảng 4.40 Ảnh hưởng của N và K đến tỉ số N/K trong lá sau thu hoạch 95
Trang 16DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 4.1 Diễn tiến tăng trưởng chiều cao cây của các giống năm 2007 – 2008 46
Hình 4.2 Diễn tiến tăng trưởng đường kính tán của các giống năm 2007 – 2008 48
Hình 4.3 Diễn tiến tăng trưởng đường kính thân của các giống năm 2007 – 2008 50
Hình 4.5 Diễn tiến tăng trưởng chiều dài quả 55
Hình 4.6 Diễn tiến tăng trưởng chu vi quả 56
Hình 4.22 Quả phân bố trên cao dễ gây gãy cành 69
Hình 4.23 Mít bị gãy cành khi có gió to hay bão 69
Hình 4.25 Ảnh hưởng của N đến diễn tiến tăng trưởng chiều cao cây 74
Hình 4.26 Ảnh hưởng của K đến diễn tiến tăng trưởng chiều cao cây 75
Trang 17Hình 4.27 Ảnh hưởng của N đến diễn tiến tăng trưởng đường kính tán 77
Hình 4.28 Ảnh hưởng của K đến diễn tiến tăng trưởng đường kính tán 77
Hình 4.29 Ảnh hưởng của N đến diễn tiến tăng trưởng đường kính thân 79
Hình 4.30 Ảnh hưởng của K đến diễn tiến tăng trưởng đường kính thân 79
Hình 4.31 Hàng cây trong thí nghiệm phân bón cho mít TN1 96
Hình 4.32 Các cây mít trong thí nghiệm phân bón 96
Trang 18Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây mít ta (Artocarpus heterophyllus Lamk.) là một trong những loài cây ăn
quả nhiệt đới của khu vực Đông Nam Á, được trồng rải rác quanh vườn nhà hay theo hàng ranh giữa các nông hộ Mít là cây có giá trị sử dụng cao, ngoài múi mít là phần ăn được chính, gỗ mít khá tốt trong việc chế tạo đồ thủ công mỹ nghệ Mít sấy (chiên chân không) hiện là sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Mít sấy đã trở thành một trong những thức ăn nhanh quen thuộc của người Việt xa xứ và thu hút thị trường ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Mỹ, các nước Trung Đông, Nam Phi, nhiều nước ở khu vực Châu Á Vì vậy, việc mở rộng vùng nguyên liệu mít sấy và tiêu thụ tươi là cần thiết Hiện nay công ty Vinamit đang có
dự án đầu tư vùng nguyên liệu mít tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên gần 10.000 ha (http://www.caygiong.com) Cùng với đà phát triển ấy, ngoài xã hội, nhu cầu mít ăn tươi và bán cho các lò sấy đang tăng cao Trước qui mô diện tích mít ngày càng lớn như vậy, cây mít cần được tuyển chọn giống và nghiên cứu các kỹ thuật chăm sóc một cách hợp lí và khoa học Mặc dù mít là cây dễ trồng, dễ thích nghi nhưng nếu không được chăm sóc và đầu tư đúng mức thì năng suất sẽ không cao và không phát huy hết tiềm năng của cây và như vậy khó trở thành cây “hàng hóa” được
Xuất phát từ những thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm của sáu giống
mít (Artocarpus heterophyllus Lamk.) và một số biện pháp canh tác cho mít
TN1 trồng tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương” được tiến hành
Trang 191.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Xác định được khoảng 2 - 3 giống mít trồng (cultivars) cho ăn tươi và cho chế biến (sấy), cây mau cho quả, có tán nhỏ, có năng suất cao, phẩm chất tốt để giới thiệu cho sản xuất
- Xác định biện pháp tỉa chừa quả để bảo đảm quả to, đều, cây ít bị gãy cành
- Xác định công thức phối hợp N, K cho cây ở thời kỳ lấy quả (trên nền phân chuồng và phân lân cố định) cho đất xám xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để cây có năng suất cao và phẩm chất tốt
1.2.2 Yêu cầu
- Ghi nhận đặc điểm hình thái, theo dõi sự tăng trưởng, phát triển, thời gian
ra hoa và nuôi quả, tình hình sâu bệnh, năng suất và phẩm chất của sáu giống mít
- Theo dõi sự gãy đổ của cây và cành, năng suất và phẩm chất quả với các phương pháp tỉa khác nhau trên giống mít TN1
- Thiết lập một thí nghiệm 2 yếu tố N, K để xác định ảnh hưởng của N, K và
sự tương tác đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất quả của mít TN1
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Cây mít có thời gian sinh trưởng dài trong khi thời gian nghiên cứu lại ngắn (dưới 2 năm), nên đề tài đã phối hợp với công ty Trang Nông trồng trước cả ba thí nghiệm Các thí nghiệm tỉa cành và bón phân N và K cho giống mít TN1 được theo dõi trong 24 tháng (từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2008)
- Do kinh phí ít, thí nghiệm được thực hiện trên nền đất xám bạc màu của xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo – tỉnh Bình Dương, giới hạn theo hợp đồng đã ký
- Đề tài có những nội dung mới, ít tài liệu tham khảo nên không khỏi tránh phải những thiếu sót nhất định
Trang 20(Morton, 1987) Ở Nam bộ có 2 loài trồng chính là mít ta Artocarpus heterophyllus Lamk và mít tố nữ Artocarpus integer (Thumb.) Merr Chúng được phân biệt như
sau:
+ Mít ta (jackfruit): có thân gỗ, to, cao 8-15 m, vỏ ít nứt, mủ trắng, lá đơn, không lông, ở những cây non, lá xẻ thùy Phát hoa đực nhỏ hơn phát hoa cái, thường được gọi là dái đực, có màu vàng vàng, dài 3 – 6 cm, hoa có 1 – 2 tiểu nhụy trong đài nhỏ Phát hoa cái có cuống to hơn, thường được gọi là dái cái, nằm trên thân hay cành lớn, sau sẽ phát triển thành quả Quả kép rất to, hình bầu dục, kích thước (30 – 60) cm x (20 – 30) cm, trọng lượng quả có thể đến vài chục kg, có gai vàng vàng, quả đơn có đài đồng trưởng mập, vàng, thơm, ngọt, quả bì mỏng, bao quanh hạt có 2 tử diệp không bằng nhau, không có phôi nhũ Thịt có thứ ráo có thứ nhão (mít ướt), ngọt, thơm Dựa vào màu sắc múi có màu vàng nghệ hay màu vàng nhạt người ta phân ra thành mít nghệ và mít dừa Một số giống trồng (cultivars) được tuyển lựa để làm mít sấy (chiên chân không) còn phần lớn các giống dùng để
ăn tươi Những năm gần đây đã nhập giống mít có múi màu đỏ và mới được trồng lẻ
tẻ để ăn tươi
Trang 21+ Mít tố nữ (champedak): cây thân gỗ, nhỏ hơn mít ta, cao 5 – 10 m Cành non có nhiều lông Lá bầu dục thon ngược, lá ở cây con có 3 thùy, có lông dài, nhám ở gân và bìa Phát hoa ra trên nhánh và dọc thân cây Quả nhỏ hơn mít ta, dài
20 – 30 cm, rộng 10 cm, trọng lượng từ 400 g đến khoảng 1 kg; múi dính vào cùi và
dễ rời khỏi bì, thịt dày, mềm, nhão, ngọt và có mùi thơm đặc trưng Mít Tố nữ dùng
để ăn tươi Ngoài ra, ở Nam Bộ có mít Mã Lai hạt lép được trồng rải rác, quả to hơn mít tố nữ, nhỏ hơn mít ta, nặng 2 – 3 kg, thịt nhão, ngọt
Chi Artocarpus còn có các loài khác như mít rừng (Artocarpus chaplasha Roxb.), mít Low (Artocarpus lowii King), mít nài (Artocarpus rigida subsp
asperulus (Gagn.) Jarrr (Phạm Hoàng Hộ, 2002)
2.2 Nguồn gốc và phân bố
Theo Reddy và ctv (2004), mít có nguồn gốc ở Ấn Độ, nơi có nhiệt độ và lượng mưa cũng giống như miền Nam Việt Nam Elevitch và Manner (2006) cho rằng mít được trồng từ thời tiền sử và du nhập vào nhiều vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Nam Á – nơi ngày nay có nhiều cây trồng quan trọng như Myanmar, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines Nó cũng được trồng ở nhiều vùng của Châu Phi, Brazil, Surinam, vùng Caribe, Florida và được đưa vào nhiều vùng của quần đảo Thái Bình Dương, kể cả những nơi có độ cao thấp so với mực nước biển Trong một nghiên cứu năm 1985, mít hiện diện từ 10 đến 24% ở các nông trường mía đường miền tây Viti Levu, Fiji (Thaman và Ali, 1993) Ở Hawai, mít thỉnh thoảng được tìm thấy ở các vườn nhà và bán cho những khu chợ nhỏ của nông dân Mít thỉnh thoảng được trồng quanh nhà ở Guam Cũng có nhiều báo cáo chỉ ra rằng có nhiều loài cũng được đưa vào Palau, Yap, Pohnpei, Nauru, Tabiteuea in Kiribati, Samoa và nhiều quần đảo khác (Fosberg và ctv, 1979)
Mít được trồng lâu đời ở vùng đất thấp của rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam
Á (Acedo, 1992; Samaddar, 1985; Soepadmo, 1991) Ở Hội nghị về các cây ăn trái chưa được sử dụng hết tiềm năng ở Đăc-ca, thủ đô Bănglađét năm 1992, mít đã
Trang 22được chọn là cây ăn quả số một cần phải tập trung nghiên cứu để phát triển vì tầm quan trọng về mặt kinh tế xã hội của nó (Vũ Công Hậu, 2000)
Ở miền Nam Ấn Độ, mít là loại quả được ưa chuộng sau xoài và chuối trong tổng số sản phẩm hàng năm Có hơn 100.000 cây trồng trong vườn và trồng để che bóng cho cà phê, tiêu và bạch đậu khấu Chính phủ Ấn Độ đã thúc đẩy việc trồng mít dọc theo xa lộ, đường thủy, đường ray để cung cấp thêm thực phẩm (Morton, 1987) Có hơn 4.452 ha mít trồng ở Ceylon, chủ yếu để lấy gỗ Còn ở Thái Lan người ta trồng để lấy quả, phục vụ cho cả việc ăn tươi và chế biến
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mít
2.3.1 Trên thế giới
Mặc dù có rất ít thông tin về giá trị kinh tế của cây mít nhưng trên thực tế ở một số nước, mít đã trở thành cây chủ lực của quốc gia Ở các nước như Indonesia, Malaysia và Thái Lan, sản lượng luôn vượt quá 1,5 triệu tấn/năm (International Centre for Underutilized Crops, 2003)
Các sản phẩm chế biến từ mít đã và đang tạo được sự chú ý trên thị trường thế giới Đã thấy quả mít tươi được bày bán ở một số nước châu Á và châu Âu Múi mít và cả múi lẫn hạt non đã được Thái Lan đóng hộp xuất khẩu Các sản phẩm mít sấy khô, bao gói bằng túi nilong được xuất sang các nước Canada, Pháp, Mỹ đã được khách hàng ưa chuộng
Theo Vinning và Moody (1997), sản lượng mít xuất khẩu từ năm 1986 –
1995 tăng đáng kể Năm 1995, Malaysia xuất khẩu đến hơn 4000 tấn mít Những quả mít to, nặng thường không thích hợp cho việc xuất khẩu quả tươi nên đa số đều được đóng hộp để xuất khẩu sang Úc và Châu Âu Ở Bănglađét, sản lượng mít hàng năm đạt đến 1,5 triệu tấn (với diện tích trồng là 160.000 ha), trong đó 30% sản lượng quả được trồng thuần Còn ở Ấn Độ, tổng diện tích trồng mít xấp xỉ 26.000
ha, với phương thức trồng xen với những cây trồng có giá trị thương mại của quốc gia Ở Sri Lanka, mít cũng là cây trồng có giá trị thương mại nhưng sản phẩm nhắm đến lại là gỗ mít mặc dù quả vẫn được đánh giá cao
Trang 232.3.2 Trong nước
Ở Việt Nam, cũng như chuối, mít được trồng từ lâu đời Mít hiện diện từ Bắc chí Nam (trừ những vùng núi cao phía Bắc), tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Thời gian qua, khi công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch phát triển, cây mít được trồng đại trà, hình thành các vùng chuyên canh và mít được đưa vào chế biến, trở thành nguồn thu nhập quan trọng của một bộ phận nông dân khu vực phía Nam Nhu cầu ăn tươi của mít ở Việt Nam chỉ khoảng 10% sản lượng thu hoạch, 90% mít thu hoạch dùng chế biến (sấy) tại các công ty thực phẩm Hiện nay, mỗi ngày Công ty Vinamit mua khoảng 60 tấn mít múi, tương đương khoảng 300 tấn quả vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất 11 tháng đầu của năm 2007, Vinamit
đã mua hơn 50.000 tấn mít quả để chế biến thành mít sấy
Ở Đông Nam Bộ, ngay từ năm 1997 diện tích mít đã trên 2.300 ha, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Nai (1.476 ha), Bà Rịa – Vũng Tàu (162 ha), Bình Dương (311 ha), Bình Phước (134 ha) (Nguyễn Minh Châu và ctv, 1997) Các tỉnh trồng mít nhiều nhất bao gồm khu vực Tây Nguyên, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Đăk Lăk với diện tích lớn nhất nước (hiện Đăk Lăk có khoảng 1.000 ha mít trồng trong các nhà vườn) Diện tích trồng mít tập trung và phân tán trong các tỉnh trên trong năm 2007 ước đạt khoảng 50.000 ha (Sài Gòn giải phóng, 2007) Theo thống kê của Sở NN & PTNT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2008), diện tích trồng mít trong khu vực là 210,5 ha, trong đó diện tích mít đã cho thu hoạch là 145,4 ha, chiếm 69,1% tổng diện tích trồng mít trong toàn tỉnh
Riêng ở tỉnh Bình Dương, theo thống kê của Sở NN & PTNT (2008), diện tích trồng mít trong khu vực tỉnh có tăng tuy không đáng kể từ năm 2000 – 2007 Năm 2000, diện tích trồng mít trong khu vực là 342 ha và đến năm 2007, diện tích trồng là 454 ha Tuy nhiên, diện tích cho sản phẩm trong từng năm cũng khác nhau, năm 2000, diện tích mít cho sản phẩm chiếm 64,3% diện tích mít trồng trong tỉnh nhưng đến năm 2005, con số này đã lên đến 91,2% và đến năm 2007 chỉ còn 69,8%
Trang 24Một trong những nguyên nhân có thể là do vườn mít quá cỗi nên nông dân đã chặt
đi và trồng mới lại
2.4 Thành phần dinh dưỡng và công dụng của mít
2.4.1 Thành phần dinh dưỡng
Thành phần dinh dưỡng của mít (múi) và hạt mít trong 100 gam phần ăn
được được thể hiện trong bảng 2.1:
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của múi mít và hạt mít
(trong 100g phần ăn được)
Trang 25Múi mít tương đối nhiều calo, khá nhiều đường, đạm, nhiều chất khoáng cần thiết cho cơ thể như canxi, lân và khá nhiều vitamin B Khi đánh giá chất lượng trái mít, cũng là thiếu sót nếu quên hạt, chiếm một tỷ lệ khá cao trong quả (13%) Bảng 2.1 chỉ rõ hạt mít giàu calo nên có lúc người nghèo trộn hạt mít với gạo nấu cơm và không nên xem thường loại thực phẩm này vì còn chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn
cả cơm thuần
2.4.2 Công dụng
Có thể nói cây mít là cây đa chức năng vì nó có rất nhiều công dụng Người
ta có thể tận dụng tất cả những bộ phận khác nhau trên cây mít, từ múi, xơ, vỏ, hạt đến cả lá và thân cây mít
Mít là cây cao to, sống lâu, chịu hạn và không kén đất; tán lá dày, xanh quanh năm nên thường được dùng làm cây che phủ đất, tạo bóng râm, chóng xói mòn, góp phần cải tạo môi trường và làm đẹp cảnh quan
Bên cạnh đó, cây mít còn góp phần làm tăng thêm thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp thông qua việc khai thác và kinh doanh các sản phẩm thu được từ mít
Theo Vũ Công Hậu (2000), gỗ mít, nhất là tâm gỗ ở các cây to, là một loại gỗ quý, không những dùng trong xây dựng mà còn để làm dụng cụ, chế tạo đồ gỗ mỹ nghệ do có thớ mềm, không nứt Ở những cây mít lão, rễ của chúng là nguyên liệu tốt cho chạm khắc
mỹ nghệ và khung ảnh (International Centre for Underutilized Crops, 2003) Tỉnh Cebu của Philippines còn sử dụng gỗ mít để làm đàn ghita và các dụng cụ âm nhạc khác
(Elevitch và Manner, 2006)
Quả mít ngoài cung cấp cho ăn tươi, nó còn được dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến mít sấy khô, đông lạnh có giá trị xuất khẩu cao Ở Ấn
Độ, mít hộp (múi mít đóng hộp) là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng
Lá mít non ăn sống có vị vừa chua, vừa chát, thường ăn ghém với các loại cá
Lá mít già có thể nấu nước uống hàng ngày Đọt mít (mầm lá) có thể sắc uống chống tiêu chảy do rối loạn tiêu hóa Lá mít tươi hoặc cụm hoa đực (dân gian thường gọi là dái mít) hay quả non có thể kích thích sữa ở những sản phụ ít sữa và
Trang 26đau) Cũng có thể dùng nhựa mít trộn với giấm, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy (Võ Văn Chi, 1999)
Theo tạp chí “Science et vie”, các nhà nghiên cứu ở Montpellier (Pháp) đã tìm thấy trong quả mít nhiệt đới có một chất tự nhiên mà họ đặt tên là Jacaline, giúp bảo vệ tế bào bạch cầu (có chức năng chống lại virus) Công trình này đã công bố
và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm
Hoa mít (dái mít) có vị chát, hơi ngọt, thường được thái mỏng ăn sống Rau hoa mít chấm mắm cái vừa ngon vừa khử được mùi tanh của mắm Đặc biệt, dái mít nấu canh với cá chạch, lươn, cá trê rất ngon
Quả mít được dùng rất đa dạng, sử dụng từ quả non đến quả già Quả non ăn bằng cách thái mỏng thả vào nước để hòa tan nhựa mít Sau khi rửa sạch nhựa, các lát mít non rất trắng, ăn giòn, có vị ngọt không chát Ở nhiều vùng, người ta luộc chín mít non để ăn Còn quả mít già thường ăn luộc Luộc làm mất vị chát, mất nhựa mít Mít luộc ăn mềm và ngon Khi luộc thường luộc cả miếng, sau khi luộc chín mới thái nhỏ để ăn như rau Mít luộc có thể làm nộm với lạc, vừng hoặc trộn dầu
Xơ mít có thể dùng làm rau cho người ăn Nông dân vùng Nghệ Tĩnh dùng
xơ mít để muối dưa, gọi là nhút, nổi tiếng ở địa phương và chất lượng không kém gì dưa muối dùng nguyên liệu là cải, cà và một số rau khác
Tất cả những gì mà con người không ăn đều có thể được dùng làm thức ăn gia súc (heo, bò), kể cả vỏ có gai, lõi trắng giữa trái
Tuy nhiên, chỉ xét riêng về quả, mít cũng có một số nhược điểm như sau :
- Khó xuất khẩu quả tươi vì mùi thơm quá mạnh đối với người chưa quen Vì vậy, có thế biến thành mít sấy hay mít khô để khắc phục một phần nhược điểm này
- Quả rất to (trung bình 5 - 7 kg, có quả 30 kg) không kể mít tố nữ - vận chuyển nặng nề chỉ thuận tiện khi ăn tập thể cho cả một gia đình Người phương Tây không thích do không quen với những quả phải chia lẻ từng suất, và cũng chưa quen với mùi thơm quá mạnh của mít Do vậy, có thể chế biến mít thành sản phẩm đóng hộp để dễ dàng trong việc vận chuyển và làm giảm bớt mùi thơm
Trang 27¾ Mít sấy
Quy trình sản xuất mít sấy được thực hiện trong môi trường chân không Trái cây được “sấy” trong một buồng kín khí, phía dưới là dầu không có cholesterol thật nóng, phía trên là chân không thật lạnh
Hệ thống đưa múi mít lên xuống liên tục giữa hai môi trường này làm xảy ra quá trình đảo nhiệt Nóng rồi lạnh, lạnh rồi nóng, làm cho múi mít giòn, xốp và chỉ chứa một lượng dầu dưới 5%
Sau quá trình xử lý, mít sấy thành hình và có thể giữ được chất lượng rất lâu Tuy nhiên, nó gần như vẫn hoàn toàn tự nhiên
Chưa có tài liệu khoa học cụ thể nào nói về tiêu chuẩn để chọn mít làm nguyên liệu sấy nhưng một số bài báo cho rằng nguyên liệu cho mít sấy phải là những giống mít có múi to, vách múi dày, cấu trúc thịt chắc, độ ngọt vừa Những giống mít múi không có lớp vỏ lụa sẽ dễ bị mất màu khi bảo quản và giảm bớt nồng
độ mùi, khi sấy lên bị đen, cứng và nhạt, không còn hương vị
2.5 Các giống mít trồng trọt (cultivars)
2.5.1 Trong nước
Theo Nguyễn Văn Kế (2000), tại Việt Nam chưa có những đánh giá chính thức về giống mít Do trồng bằng hạt, nên phân tính mạnh, người ta có thể phân ra mít khô và mít ướt (mật) Một số giống mít thường gặp là:
- Nhóm mít ta (Artocarpus heterophyllus): cây mọc khỏe, cao 10 – 20m, lá
to, không lông, phát hoa gồm dái đực màu vàng dài 3 – 6cm, dái cái trên cọng to, gồm nhiều loại như:
+ Mít Nghệ (cơm màu vàng đến màu vàng nghệ): lá dài 15,5cm, rộng 8,7cm,
cuống dài 2,7cm Trái to, múi dài (4 – 5,5cm), cơm dòn, ráo, ngọt đậm Trái nặng từ
3 – 10kg
+ Mít dừa (cơm màu vàng nhạt đến vàng tươi): quả to, nặng từ 5 – 20kg, múi
dài (4- 7,5cm), cơm ráo, dòn, ngọt đậm
Trang 28- Nhóm mít tố nữ (Artocarpus integer): cây nhỏ hơn mít ta, cao 10 – 15m, lá
và nhánh non có lông màu vàng, lông nhiều ở giữa lá và hai bên mép Múi dính vào cùi và dễ tróc khỏi vỏ nên dễ lột Quả nhỏ, nặng từ 400 g – 2 kg
+ Mít tố nữ: lá nhỏ, có lông, dài 13 cm, rộng 6cm, cuống dài 2cm Cây sai
trái, trái nhỏ, nặng 1 – 2 kg, cuống nhỏ, cơm nhão
+ Mít tố tây: trái và cuống to hơn mít tố nữ Lá dài 12,5 cm, rộng 5 cm,
cuống dài 2,2 cm
+ Mít Mã Lai hạt lép: lá dài 15 cm, rộng 8,2 cm, cuống dài 2,7 cm Cơm hơi
nhão hơn mít nghệ, trái nhỏ hơn mít thường, nhưng lớn hơn mít tố nữ Cây sinh trưởng mạnh, mau cho trái và rất sai trái
Năm 2001, Narin (người Thái Lan) và Nguyễn Văn Kế qua công ty giống Trang Nông đã du nhập hai giống mít TN1 của Thái và TN2 của Indonesia vào trồng khảo nghiệm tại Bình Dương
Người tiêu dùng cũng như các nhà máy chế biến mít sấy khô ưa chuộng những loại mít có múi màu vàng nhạt, ngọt, dầy cơm và ráo Vì vậy, mít nghệ và mít dừa được ưa chuộng cho ăn tươi và cả chế biến Do đó, 2 nhóm mít này được chú trọng tuyển chọn Chi tiết được trình bày ở bảng 2.2
Trang 29Bảng 2.2: Đặc điểm của một số nhóm giống mít ta ở miền Đông Nam Bộ
Dài múi (cm)
Rộng múi (cm)
Cấu trúc múi
Độ Brix(%) Mít
dừa 11,4 ± 2,0 1,2 ± 0,15
Vàng nhạt đến vàng tươi 5,6 ± 0,4 4,2 ± 0,2 Ráo, dòn 27,2 ± 0,1Mít
nghệ 8,7 ± 2,4 1,0 ± 0,19
Vàng đến vàng nghệ 4,4 ± 0,3 3,4 ± 0,4 Ráo, dòn 29,0 ± 0,3Mít
ướt 9,1 ± 2,1 1,1 ± 0,12
Vàng nhạt đến vàng 4,3 ± 0,2 3,4 ± 0,2
Nhão, mềm 23,4 ± 0,2
Chú thích: ± khoảng tin cậy ở mức 95%
(Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Cây ăn quả miền Đông Nam Bộ, 2002 – trích Kỷ
yếu Hội thảo khoa học cây mít nghệ cao sản ở Bình Phước, 2003)
Theo kết quả điều tra từ năm 1994 – 1997, Trung tâm Cây ăn quả Long Định
đã ghi nhận được 13 giống/dòng mít hiện đang được trồng tại các tỉnh Nam bộ (Nguyễn Minh Châu và ctv, 1997)
Bùi Xuân Khôi và ctv (2001) đã đưa ra kết luận 5 cá thể cho năng suất cao, phẩm chất tốt: MĐN09H, MĐN06H, MĐN10H, MĐN02H, MĐN26H tại một số tỉnh miền Đông Nam Bộ (Theo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cây ăn quả
2000 – 2001)
Trung Tâm Nghiên Cứu Cây ăn Quả miền Đông Nam Bộ (2003) đã khảo sát
3 nhóm giống mít dừa, mít nghệ và mít ướt, trong đó mít dừa và mít nghệ cho quả
to (từ 8,7 đến 11,4 kg), múi ngọt, màu thịt từ vàng nhạt đến vàng nghệ, thịt ráo và chọn lọc chúng(giống mít ráo phù hợp với việc sấy khô và ăn tươi)
Bùi Xuân Khôi và ctv khảo sát trong 3 năm (2000 – 2002) đã tuyển chọn 50
cá thể tốt để theo dõi, đánh giá và qua hội thi cây mít giống tốt ở miền Đông Nam
Bộ (2001) đã chọn ra 8 cá thể tốt: MĐN06H, MĐN09H, MBRVT32H, MĐN10H, MĐN02H, MLĐ26H, MBRVT31H và MBRVT33H; trong đó, 3 cá thể (cây) MĐN06H, MĐN09H, MBRVT32H (gọi tắt là M06, M09 và 32H) có năng suất cao,
Trang 30đến vàng nghệ, dày, ráo, dòn, vị ngọt đến rất ngọt) và ít bị nhiễm sâu, bệnh hại quan trọng, phẩm chất của các cá thể trên phù hợp cho ăn tươi và chế biến Vì vậy đã được Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận và cho phép khu vực hóa các dòng vô tính ở miền Đông Nam Bộ
Gần đây người ta quảng bá mít nghệ CSM99-1 có năng suất cao, quả to, tỉ lệ múi 40 – 48%, màu vàng tươi, ráo, thích hợp với chế biến và ăn tươi (Vinamit)
Theo Nguyễn Mạnh Hùng (Nông thôn đổi mới, mục 68.43, 2006) ở phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ có trồng giống mít ruột đỏ, có mùi thơm như mùi dầu chuối, độ ngọt thanh, dùng để ăn tươi
2.5.2 Ngoài nước
Tại một số nước như Ấn Độ, Malaysia đã áp dụng thành công nhiều biện pháp kỹ thuật trong chọn giống, thâm canh và phòng trừ sâu bệnh hại cho cây mít đạt năng suất cao
Vì mít là cây giao phấn nên tỉ lệ thụ phấn chéo rất cao, lại nhân giống từ hạt nên mít rất đa dạng về chủng loại, đặc biệt ở vùng Western Ghast, Ấn Độ - trung tâm khởi nguyên của mít, với những đặc tính quả khác nhau Jagadeesh và ctv (2007) đã chọn 95 chủng loại mít để kiểm tra tính đa dạng di truyền của loài Kết quả là các loài được chia thành 4 nhóm với những đặc tính lý hóa khác nhau
Ở Hawai, người ta còn tìm thấy một số giống với những đặc tính được trình bày trong bảng 2.3
Trang 31Bảng 2.3: Đặc điểm của một số giống mít được tìm thấy ở Hawai
Giống Nguồn
gốc
Năng suất (kg/cây)
Trọng lượng quả (kg)
% ăn được
Màu sắc múi
Đặc điểm múi
đậm
Mềm, thơm, ngọtDang Rasimi Thái Lan 75 – 125 8 – 9 32 Cam
đậm
Ráo, ngọt dịu, thơm Gold Nugget Úc 60 – 80 3 – 5,5 41 Cam đậm Mềm, thơm
Honey Gold Úc 35 – 50 4,5 – 5,5 36
Cam đến vàng sậm
Ráo, ngọt, thơm
chanh
Ráo, ngọt, thơm
ngọt
Nguồn: Crane và ctv., 2002
Fairchild Tropical Botanic Garden thu thập, trồng và nhân giống hơn 25 giống (cultivars) mít khác nhau được tuyển lựa từ Ấn Độ, Thái lan, Philippines, Indonesia và Úc Các giống có tán nhỏ (2,5 – 3,5m), quả nặng từ 3,2 đến 8,0 kg, tỉ phần ăn được từ 32 đến 41% màu múi từ vàng đến cam đậm, thịt ráo, ngọt và thơm Tại Thái có giống mít mau cho quả như “Golden Pillow” cho quả sau 2 năm trồng Nhiều giống mít tại Thái và Úc cây được cắt tỉa để duy trì ở độ cao 2,5 – 3,5 m cho
dễ chăm sóc và thu hoạch do mít ra quả trên thân chính và các cành lớn
Tại Philippines có nhiều giống mít khác nhau, hai giống quan trọng nhất được trồng nhiều là giống Sinaba và Tinumbaga Giống Sinaba có thịt dầy và chất lượng ngon, trong khi giống Tinumbaga có thịt mỏng hơn nhưng mùi thơm mạnh hơn và ăn ngọt hơn giống Sinaba (Cục Thông tin Nông Ngư nghiệp thuộc Bộ Nông
Trang 32ACC 4 Burabod của Philippines có một số đặc tính tổng quát được ghi nhận ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Đặc điểm của một số giống mít ở Philippines
Giống Trọng lượng quả (kg) % ăn được TSS (%) Màu thịt
Nguồn: Cục thông tin Nông Ngư nghiệp, Bộ NN Philippines, 2006
Sự đa dạng kiểu di truyền của mít: Shyamalamma và ctv (2008) tại phòng thí nghiệm sinh học phân tử thuộc Bangalore (India) kết hợp với Shandra thuộc đại học Roosevelt (Chicago) đã thu thập 50 mẫu mít, dùng phương pháp AFLP (amplified fragment length polymorphism) đã thăm dò 16 cặp primers, chọn ra được 8 cặp, và sau đó xếp 50 mẫu mít vào 3 nhóm di truyền: nhóm 1 bao gồm các giống có mặt ở điều kiện rất khô hạn; nhóm 2 ở vùng có lượng mưa từ trung bình đến cao; nhóm 3 ở các vùng khí hậu rất thay đổi Các tác giả đã kết luận sự đa dạng kiểu di truyền ở mức vừa phải
2.6 Đặc điểm thực vật học của cây mít
Trang 332.6.2 Lá
Có màu xanh tối, mọc cách, dày, không lông, cứng, to (dài 6 cm), và có dạng hình elip hoặc ovan Lá thường xẻ thuỳ sâu khi cây còn non và có chồi non (Elevitch và Manner, 2006) Chiều dài lá: 9 – 22 cm, chiều rộng lá: 4 – 9cm, cuống
lá: 1,0 – 1,5cm (Đường Hồng Dật, 2000)
2.6.3 Hoa
Mít trồng từ hạt bắt đầu ra hoa khi cây khoảng 4 - 5 tuổi Hoa đơn tính, có phát hoa (hay còn gọi là cụm hoa hay dái mít) đực và cái riêng, mọc trên cùng một cây (đơn tính đồng chu)
Phát hoa đực trên cọng nhỏ có bề mặt mịn, có hình trụ thuôn, dài 3 - 10 cm;
có màu xanh nhạt khi còn non và sậm hơn theo tuổi; hoa đực có 1-2 tiểu nhụy trong đài nhỏ, không có cánh hoa với bao phấn nổi lên trên bề mặt cụm hoa
Phát hoa cái lớn hơn phát hoa đực, có hình elip hoặc hình tròn dài sinh ra trên cọng lớn, thường mọc từng chùm trên thân cây hoặc trên cành to Mỗi phát hoa
có tới vài trăm hoa, mọc sát nhau trên trục phát hoa, bề mặt phát hoa phân ra thành nhiều ô, đó là các hoa đơn trên 1 phát hoa Hoa cái có đài hình ống không có cánh, nhụy chẻ đôi, nổi lên trên mặt phát hoa
Hoa thụ phấn chéo nhờ côn trùng và gió với tỉ lệ cao (Elevitch và Manner, 2006) Hoa đực có nhiệm vụ cung cấp phấn cho hoa cái, sau đó héo tàn Hoa cái to
có đài đồng trưởng sau này thành múi mít Toàn phát hoa sẽ trở thành một quả kép (hợp giả quả) Cây càng già, phát hoa càng đơm trên các cành cao Cũng có khi ở những cây già hoa mít ra cả trên những rễ lớn mọc trồi trên mặt đất Nếu sự thụ phấn tốt quả sẽ phát triển đầy đặn, ngược lại quả sẽ lồi lõm hay đèo
2.6.4 Quả
Hoa thụ phát triển thành quả đơn gồm 1 hột lớn ở bên trong và màng mỏng bọc lấy hột, còn bao hoa (đài đồng trưởng) biến thành múi mít, ngọt, mềm ăn được, các hoa không thụ có đài đồng trưởng biến thành xơ mít, toàn thể phát hoa biến thành một quả kép to (hay hợp giả quả), có hình thù giống cái bị (nên tiếng Anh gọi
Trang 34màu xanh hoặc chuyển sang màu vàng, thịt quả màu vàng, vị ngọt và thơm Quả có nhiều múi, mỗi múi có một hạt Thời gian từ khi ra hoa đến quả chín biến động trong khoảng từ 3 – 8 tháng tùy tình trạng cây, tình hình thời tiết và điều kiện sinh trưởng của cây (Elevitch và Manner, 2006)
2.6.5 Hạt
Hạt có màu nâu sáng đến nâu, hình tròn, dài 2 – 3 cm, đường kính 1,0 – 1,5
cm và có lớp màng mỏng, hơi trắng, bao lấy hạt; 2 tử diệp không bằng nhau, không
có phôi nhũ (Phạm Hoàng Hộ, 2002) Số lượng hạt thay đổi tùy theo mỗi giống và điều kiện chăm sóc Có giống mít hạt khá nhỏ như mít Indo TN2 hạt chỉ nặng khoảng 1 – 2 g so với các giống khác hột thường nặng từ 4 – 5 g
2.7 Điều kiện ngoại cảnh cho sinh trưởng, phát triển của cây mít
2.7.1 Đất đai
Theo Vũ Công Hậu (2000), mít là cây dễ tính về mặt đất đai, đất dù xấu, nhiều sỏi
đá miễn là thoát nước tốt đều có thể trồng mít, nhưng muốn cây to, sản lượng nhiều thì phải trồng ở đất phù sa thoát nước
Mít là cây chịu úng kém, ở các vùng đất thấp khi trồng mít phải lên líp vì mực nước ngầm gần mặt đất, người nông dân đã có sáng kiến bắt rễ đuôi chuột đâm ngang bằng cách kê gạch chặn rễ đuôi chuột lại cho đâm ngang thay vì đâm thẳng xuống, như vậy cây mọc tốt hơn (Nguyễn Văn Kế, 2000)
Nếu trồng mít trong đất ngập nước, mít có thể chết Người ta nói: trồng mít
xa nhà không có trái, hàm ý nói ở nơi đất xấu, ít chăm bón, sản lượng thấp Đã có những thí dụ điển hình như ở nông trường Đông Triều, tỉnh Hải Hưng trồng hàng trăm ha mít, trên đất gò xấu không có sản lượng đáng kể
Về mặt sa cấu, theo Elevitch và Manner (2006), mít thích hợp với sa cấu nhẹ, đất thịt pha cát, đất thịt và đất sét pha thịt là tốt
pH đất thích hợp: 5 – 7,5 (Elevitch và Manner, 2006) Mít cũng chịu được đất hơi bị nhiễm mặn, đất có vôi có laterit và có pH cao
Trang 352.7.2 Khí hậu
- Nhiệt độ: do mít có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới ẩm nên nhiệt độ tốt nhất
cho mít sinh trưởng và phát triển là 24 – 28oC, nhiệt độ tối đa là 350 C, tối thiểu là
160 C Tuy nhiên, mít là cây chịu lạnh giỏi hơn những loài khác trong cùng một chi
Ở miền Bắc nước ta, những năm nào trời lạnh hoa mít sẽ bị thui Mít ta thường chịu lạnh và sương khá hơn mít tố nữ Mít tố nữ có phần ưa nóng hơn nên ít trồng ở độ cao và ở vĩ tuyến cao so với mít thường Mít tố nữ sẽ bị hại nặng khi nhiệt độ < 5oC
Ở 0oC, lá có thể bị chết và ở - 2oC, cành hoặc toàn cây có thể chết Đối với mít ta (mít ráo), nhiệt độ tối thiểu chịu đựng được là -30 – 00 C
Mít là cây của vùng thấp nên chỉ trồng được ở nơi có độ cao 1 – 1.600 m so với mực nước biển (Elevitch và Manner, 2006) (nhưng tốt nhất là dưới 1.000m) Ở
độ cao 1.000m (như huyện Đức Trọng – Lâm Đồng), tuy mít vẫn sinh trưởng, phát dục bình thường nhưng chậm ra quả và thời gian nuôi quả lâu hơn các vùng khác
- Lượng mưa và độ ẩm không khí: Mít có bộ rễ ăn sâu, chống hạn tốt, có thể
chịu đựng sự khô hạn trong 3 – 4 tháng nhưng muốn có sản lượng cao, chỉ nên trồng ở những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000 đến 2.400 mm (Elevitch và Manner, 2006) Nếu đất ẩm quanh năm, hoặc được tưới dặm vào các tháng khô hạn cây sẽ cho năng suất cao Ngược lại, mít chịu úng kém và những năm
bị lụt, trên những đất bị úng, mít là một trong các cây chết trước
Độ ẩm tương đối của không khí: 70 – 75%, chủ yếu tác động vào thời kỳ ra hoa, kết quả của mít
- Ánh sáng: mít là cây ưa sáng hoàn toàn Sự sinh trưởng và phát triển của
cây mít có liên quan mật thiết với độ sáng, độ dài ngày và độ che phủ Ở những vùng mà độ dài ngày ở những ngày và đêm bằng nhau hoặc chênh lệch ít thì thích hợp cho việc trồng mít Cây con phát triển tốt nhất khi cường độ sáng khoảng 30 – 50% ánh sáng mặt trời và chịu được cường độ sáng đến 100% ánh sáng mặt trời khi cây trưởng thành
Địa hình quá cao, sương mù sẽ làm giảm quang năng cần thiết cho quá trình
Trang 362.8 Dinh dưỡng của cây trồng
2.8.1 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng
Theo Loomis và Conner (1992), năng suất của hầu hết các loại cây đều tăng theo lượng phân bón mà chúng hấp thu Tuy nhiên, cây trồng cũng chỉ sử dụng được ít hơn một nửa lượng phân bón vào do bị rửa trôi
Một nguyên tố được xem là thiết yếu của cây trồng khi sự vắng mặt của nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây (Arnon and Stout, 1939) hay có vai trò sinh
lý nhất định trong cây (Epstein, 1999) Các nguyên tố này được chia thành nguyên
tố đa lượng và vi lượng dựa vào hàm lượng của nó trong mô cây
¾ Nguyên tố đa lượng: gồm N, P, K, Ca, Mg Chúng là những nguyên tố di động (trừ Ca) nghĩa là chúng dễ dàng di chuyển qua mạch libe từ lá già đến lá non
và dự trữ ở các cơ quan Vì vậy, triệu chứng thiếu hụt của các nguyên tố này thể hiện đầu tiên chủ yếu ở lá già
- Đạm (N): Theo Viện thổ nhưỡng nông học (1999), sự tương quan giữa N
trong đất với tổng số chất hữu cơ rất chặt chẽ, tỉ lệ C/N thay đổi tùy theo chất lượng chất hữu cơ, mức độ phong hóa và rửa trôi Bình quân N chiếm từ 5 – 10% tổng số chất hữu cơ (tỉ lệ C/N từ 6 – 12) N đóng vai trò trong việc hình thành protein và là thành phần cấu tạo của diệp lục – tác nhân chính hấp thu năng lượng ánh sáng cần thiết cho quang hợp Vì vậy, nếu được cung cấp đầy đủ, hoạt động quang hợp sẽ tăng, cây sinh trưởng mạnh và lá có màu xanh đậm Tuy nhiên, khi thừa N, trong mối quan hệ với các chất dinh dưỡng khác như P, K và S có thể làm chậm sự chín của cây trồng Thiếu N, cây trồng sẽ trở nên cằn cỗi, lá biến vàng do mất protein trong lục lạp, thể hiện đầu tiên ở lá già Các vết úa vàng này bắt đầu ở chóp lá và tiến triển dài theo phần thịt lá cho đến khi toàn bộ lá bị chết Ngoài ra, đối với rau, quả, các sản phẩm chứa nhiều N, nhiều nước rất dễ bị thối, hỏng (Đường Hồng Dật, 2002)
- Lân (P): có nhiệm vụ dự trữ và vận chuyển năng lượng Ngoài ra, P còn là
thành phần cấu trúc quan trọng của nhiều hợp chất sinh hóa như nucleic acid,
Trang 37coenzym, nucleotide, phosphoprotein, phospholipid và đường phosphate Cung cấp đầy đủ và sớm P cho cây trồng là rất quan trọng trong sự phát triển các bộ phận sinh sản của cây Việc cung cấp P đầy đủ còn làm gia tăng sự sinh trưởng của rễ, kích thích rễ ăn sâu và lan rộng, tạo điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã Thiếu P không những làm cho năng suất của cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm Tuy nhiên, khi bón quá nhiều lân cũng làm cho cây bị thiếu một
số các nguyên tố vi lượng, đặc biệt là Zn (Đường Hồng Dật, 2002)
- Kali (K): K có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong quá
trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây K làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động bất lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh K tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét Ngoài ra, K còn làm tăng chất lượng nông sản và góp phần làm tăng năng suất cây K làm tăng hàm lượng đường và vitamin C trong quả, màu sắc quả tươi đẹp, tăng hương vị và khả năng bảo quản quả Trên phương diện khối lượng, cây trồng cần nhiều K hơn N Nhưng nếu bón quá nhiều K có thể gây tác động xấu lên rễ cây, gây teo rễ Bón thừa K trong nhiều năm cũng có thể gây mất cân đối với canxi, magie Vì K có tính di động nên triệu chứng thiếu K thường biểu hiện đầu tiên ở lá già Ở cam, quýt, thiếu K, lá bé lại, nếu bị nặng, thấy xuất hiện các đốm trắng trên bản lá và gân
- Canxi (Ca): là thành phần của tế bào Ca có vai trò quan trọng trong cấu
trúc và tính thấm của màng tế bào Thiếu Ca gây ra sự phá vỡ cấu trúc màng tế bào dẫn đến sự mất khả năng giữ các hợp chất có khả năng khuếch tán trong tế bào Thiếu Ca các mầm trên thân và chóp rễ bị thui chột, làm ngưng sự sinh trưởng của cây Trong cây ăn quả và rau cải, phần lớn các biểu hiện thiếu Ca là sự rối loạn hoạt động của các mô dự trữ Ví dụ các sự rối loạn do thiếu Ca2+ là thối cuống hoa trong hoa cà và bệnh đốm (làm đắng) trên quả táo Vì là nguyên tố không di động nên
Ca2+ được cung cấp cho quả và bộ phận dự trữ rất kém
- Magie (Mg): là thành phần chủ yếu của chất diệp lục Mg kết gắn các khâu
Trang 38trình chuyển hóa và hấp thu đường của cây Mg là nguyên tố di động nên triệu chứng thiếu hụt thường xuất hiện chủ yếu ở những lá già Thiếu Mg, lá có màu vàng, chỉ còn gân lá là có màu xanh Dần dần mô lá trở nên vàng tối đồng nhất, sau
đó nâu và chết
¾ Nguyên tố vi lượng: gồm S, B, Fe, Zn, Mn, Cu, Mo, Cl…Trừ Cl, Zn và
Mo, các nguyên tố còn lại là những nguyên tố không di động nên xuất hiện triệu chứng thiếu hụt chủ yếu ở những lá non
- Sunfua (S): S có vai trò quan trọng đối với cây S là thành phần của acid
amin, giúp cho quá trình trao đổi chất trong cây, làm cho cấu trúc các protein vững chắc giúp cây tổng hợp, tích lũy chất dầu Thiếu S, lá cây chuyển sang màu vàng úa, gân lá biến sang màu vàng, các chồi cây sinh trưởng kém
- Bo (B): B đảm bảo cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn B
xúc tiến quá trình tổng hợp các protein, lignin B xúc tiến quá trình chuyển hóa hidratcabon, thúc đẩy quá trình phân chia tế bào B thúc đẩy việc hút Ca của cây, tăng cường việc hút Ca cho cây và bảo đảm cân đối tỉ lệ K:Ca trong cây Thiếu B, các lá non nhất có màu xanh tối, phần gốc lá bị mất màu nhiều hơn phần chóp lá Các mô ở cuống lá bị vỡ, và nếu còn tiếp tục sinh trưởng được thì các lá bị xoắn lại
Sự ra hoa và hình thành quả cũng bị hạn chế Ngoài ra, khi thiếu B, lá cũng có thể bị
cong queo, khô héo, cuống lá bị dày lên và nứt, hay thối quả hoặc rễ
- Sắt (Fe): giữ vai trò quan trọng trong quang hợp của cây Thiếu Fe, cây
không tổng hợp được chất diệp lục, lá bị hủy hoại, năng suất giảm Triệu chứng đầu tiên của tình trạng thiếu Fe là lá chuyển vàng nhưng gân lá vẫn còn xanh, biểu hiện chủ yếu ở những lá non Trong trường hợp thiếu Fe nghiêm trọng, lá trở nên có màu
trắng hoàn toàn Nặng hơn có thể làm cho cây chết
- Kẽm (Zn): Zn tham gia hình thành các hormon trong cây (Đường Hồng
Dật, 2002) và tham gia rất nhiều hoạt động của các enzym Zn làm tăng khả năng tổng hợp protein, các acid nucleic Zn thúc đẩy quá trình chuyển hóa đạm trong cây Thiếu Zn làm cho lá nhỏ hay lá bị chùn lại ở ngọn của cành cây ăn quả (hiện tượng chùn đọt) hoặc xuất hiện các vùng xanh nhạt, vàng hay trắng giữa các gân lá, đặc
Trang 39biệt là các lá già bên dưới Ngoài ra, thiếu Zn còn làm cho các lóng cây ngắn lại do
giảm sự hình thành hormon tăng trưởng
- Mangan (Mn): thúc đẩy cây nảy mầm sớm, làm cho rễ to khỏe, cây ra
hoa kết quả nhiều Mn còn có tác dụng tăng hiệu lực phân lân, kích thích cây hút nhiều lân Thiếu Mn thể hiện đầu tiên ở những lá non Trên các cây lá rộng, triệu chứng thiếu Mn thường xuất hiện dưới dạng là phần thịt lá bị vàng Nhưng nếu hàm
lượng Mn cao cũng có thể gây tổn thương cho cây
- Đồng (Cu): tham gia vào thành phần cấu tạo của enzym, thúc đẩy chức
năng hô hấp, chuyển hóa của cây Ngoài ra, đồng còn làm tăng hiệu lực của Zn, Mn,
B Các triệu chứng thiếu Cu khác nhau ở các cây
2.8.2 Phân tích hàm lượng các chất trong lá
Đối với cây trồng đa niên việc phân tích hàm lượng các nguyên tố trong lá là cần thiết để xác định sự thiếu hay thừa cho các chất ấy trước khi chúng tác động vào câyint Glennie (1987) đã phân tích gốc lá dứa để xây dựng các chuẩn mực dinh dưỡng cho cây dứa Tương tự ở cam quýt, xoài, chuối người ta cũng đã xây dựng các chuẩn mực để từ đó xác định sự thiếu hay thừa dưỡng liệu
Bảng 2.5 Các ngưỡng của một số nguyên tố chính ở lá cam (ĐV: % chất khô)
Nguồn: Chapman, 1968, trích lại của Barnette et al., 1931
Khi phân tích lá bánh tẻ của cây cam người ta nhận thấy ở ngưỡng thiếu là khi có các biểu hiện trên lá, lúc thiếu hàm lượng P trong lá cam < 0,10%, chỉ bằng
Trang 40Hàm lượng K ở mức đủ cho cây là 0,70 đến 1,30%, K chỉ khoảng 1/3 đến ½ hàm lượng N Sự cân đối giữa các chất làm cho cây tăng trưởng và phát triển tốt, tránh
sự đối kháng
Các nghiên cứu của Zhou Xiuchong và ctv (2001) tại Guangdong (Trung Quốc) cho thấy khi năng suất xoài là 18,7 tấn/ha đã lấy đi 22,4 kg N, 9 kg P2O5, 44,7 kg K2O, 3,2 kg Ca, 3 kg Mg, 2,3 kg S Nhóm tác giả đã đề nghị một công thức theo tỉ lệ N: P2O5 : K2O: Ca: Mg: S là 100: 40: 200: 14: 13: 10 Như vậy N gấp 2,5 lần P2O5; K gấp 5 lần P2O5.
Các nghiên cứu của Smith, Alister và ctv (2006) cho thấy ở các cây xoài khi bón 80 g N/cây so với cây không bón thì diện tích lá có sự khác biệt rất có nghĩa, lá của cây có bón N to hơn, mẫu 30 lá bón N đo diện tích được 80.300 – 88.710 mm2
so với mẫu không bón N là 58.160 – 67.160 mm2 Có thể theo dõi kích thước lá mít theo các lượng phân bón dựa theo kinh nghiệm của các tác giả trên thực hiện cho xoài
Trên thế giới và trong nước, chưa có các phân tích chi tiết về lá mít, nhưng đối với cây ăn quả đa niên thân gỗ tỉ lệ giữa các chất đại lượng có thể tham khảo ở trường hợp cây xoài
2.9 Phân bón cho mít
2.9.1 Trong nước
Nếu không bón phân, mít vẫn sống nhưng mọc chậm, ra hoa quả muộn, ít hoặc không có quả và nếu có thì chất lượng cũng thấp Theo Vũ Công Hậu (2000), trước khi trồng nên bón lót 20 – 30 kg phân chuồng hoai/gốc Liều lượng bón thúc được trình bày ở bảng 2.6