1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON CỦA RỪNG THÔNG BA LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon) TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG

145 304 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc cung cấp số liệu về khả năng tích tụ carbon của kiểu rừng thông ba lá tự nhiên ở Lâm Đồng trên diện tích nghiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

[ \

TÔN THIỆN AN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON CỦA RỪNG

THÔNG BA LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon)

TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9/2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

-

TÔN THIỆN AN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON CỦA

RỪNG THÔNG BA LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon)

TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG

Trang 3

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CARBON CỦA RỪNG

THÔNG BA LÁ (Pinus kesiya Royle ex Gordon)

TỰ NHIÊN TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG,

TỈNH LÂM ĐỒNG TÔN THIỆN AN

Hội đồng chấm luận văn:

Trang 4

Tình trạng gia đình: Hiện đang sống độc thân

Địa chỉ liên lạc: Số 5 B Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Điện thoại: 0988.580258

Email: Tonthienan_dl@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu thu thập, xử lý, tính toán và kết quả nêu trong

luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người viết cam đoan

Tôn Thiện An

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Với những kết quả có được ngày hôm nay, tôi vô cùng biết ơn công sinh thành và dưỡng dục của bố mẹ, ơn giảng dạy của thầy cô Trường Đại học Nông Lâm và sự quan tâm sự giúp đỡ của những người thân trong gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn thầy Lương Văn Nhuận, thầy Viên Ngọc Nam đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng đào tạo sau Đại học, Khoa Lâm nghiệp cảm ơn quí thầy, cô Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng

đã tạo điều kiện thuận lợi và đã có những ý kiến đóng góp cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và cán bộ nhân viên Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học

Chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và cán bộ nhân viên trạm Quản lý bảo vệ rừng Đa Nhim, Đa Sar thuộc ban Quản lý rừng Đầu nguồn Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và thu thập số liệu ngoài hiện trường

Cảm ơn các bạn và tập thể lớp Cao học Lâm nghiệp 2007, đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn này

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 11 năm 2009

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của rừng thông ba lá (Pinus

kesiya Royle ex Gordon) tự nhiên tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” Nhằm

cung cấp số liệu ban đầu về lượng carbon tích lũy và hấp thụ CO2 từ rừng Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 01 đến tháng 9 năm 2009 Số liệu được thu thập với 37 cây cá thể và 44 ô tiêu chuẩn trên tổng diện tích là 6.925,62 ha

Đề tài đã thực hiện theo phương pháp điều tra và tính toán của chương trình Winrock International đồng thời kết hợp phương pháp truyền thống trong Lâm nghiệp

Qua thời gian xử lý và phân tích, đề tài đã đạt được kết quả về quan hệ giữa các nhân tố điều tra rừng:

Hvn = 1,2396 * D1,30,767795 và V = 0,000062 * D1,3 1,85683 * Hvn1,02455

Về sinh khối tươi trung bình của cây cá thể đạt 1.323,34 kg Trong đó: thân

là 786,05 kg, cành là 229,39 kg, lá là 57,53 kg và rễ là 250,37 kg Sinh khối khô của cây cá thể sẽ bằng 47,84% của sinh khối tươi Sinh khối tươi quần thể là 454,32 tấn/ha Sinh khối khô bình quân của quần thể từ 19,71 tấn/ha đến 231,61 tấn/ha Sinh khối bộ phận thân 129,93 ± 11,02 tấn/ha chiếm 56,11%, sinh khối bộ phận cành 41,11 ± 3,49 tấn/ha chiếm 17,75%, sinh khối lá 14,44 ± 1,59 tấn/ha chiếm 6,22% và sinh khối trong bộ phận rễ 46,13 ± 3,92 tấn/ha chiếm 19,91%

Lượng carbon tích lũy trong cây là 50,12% sinh khối khô của cây Khả năng hấp thụ CO2 theo cấp độ cao 1 là 276,80 tấn/ha, độ cao cấp 2 trung bình là 442,82 tấn/ha, độ cao cấp 3 là 482,28 tấn/ha Với tổng diện tích rừng trong khu vực nghiên cứu là 6.495,62 ha, lượng carbon tính lũy là 321,458 tấn hay năng lực hấp thụ CO2

của tổng diện tích nghiên cứu là 1.201,88 tấn Tổng giá trị tính đến thời điểm nghiên cứu của khu vực được lượng giá bằng tiền là 1.114.934.235.897 đồng (tương đương 41.226.814 Euro)

Trang 8

SUMMARY

The thesis “Study on the ability of CO 2 absorting of natural Pinus kesiya

Royle ex Gordon in Lac Duong district, Lam Dong province” carried out in Da

Nhim Forest Protection Board, Lac Duong district, Lam Dong province From Juanarly to October, 2009 The data was collected from 37 individual trees and 44 plots in 6.925,62 ha

The method of investigation and calculation of the thesis is based on Winrock International program while combining traditional methods in forestry today

Over time processing and analysis, the thesis has achieved results on the relationship between the factors investigated forest: Hvn = 1,2396 * D1,30,767795 and

V = D1,3 1,85683 * Hvn1,02455

The average fresh biomass of individual trees reached 1.323,34 kg of which trunk is 786,05 kg, 229,39 kg of branch, leave is 57,53 kg and root is 250,37 kg Dry biomass of individual tree equals to 47,84% of fresh biomass Fresh biomass of population is 454,32 tonnes/ha The average dry biomass of the population is from 19,71 tons/ha to 231,61 tonnes/ha Trunk biomass is 129,93 ± 11,02 tons/ha accounting for 56,11%, branch biomass is 41,11 ± 3,49 tonnes/ha accounting for 17,75%, leaf biomass is 14,44 ± 1,59 tons/ha, occupies 6,22% and root biomass in section is 46,13 ± 3,92 tonnes/ha accounting for 19,91%

Ability to absorb CO2 by topography class 1 is 276,80 tonnes/ha, of class 2

is 442,82 tons/ha, level 3 is 482,28 tonnes/ha The total research forest area is 6.495,62 ha, carbon absorbing is 321,458 tons or CO2 absorption capacity of the research area is 1.201,88 tons The total value of the study area in cash is 1.114.934.235.897 VND (equivalent to 41.226.814 Euros) at the time study

Trang 9

MỤC LỤC

Trang chuẩn y i

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Summary vi

Mục lục vii

Danh sách các chữ viết tắt xi

Danh sách các bảng xiii

Danh sách các hình xiv

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.4 Phạm vi và giới hạn vấn đề nghiên cứu 3

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Tình hình nghiên cứu khả năng tích tụ carbon cây rừng 4

2.1.1 Khái niệm chung về khả năng tích tụ carbon của cây rừng 4

2.1.2 Nghiên cứu về khả năng tích tụ carbon trên thế giới 6

2.1.3 Nghiên cứu về khả năng tích tụ carbon trong nước 10

2.2 Tình hình nghiên cứu sinh khối 12

2.2.1 Những nghiên cứu về sinh khối trong nước 16

2.2.2 Những nghiên cứu về sinh khối trên thế giới 18

2.3 Tình hình nghiên cứu về thông ba lá……… … 19

Trang 10

2.3.2 Tình hình nghiên cứu thông ba lá trong nước 20

Chương 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24

3.1.1 Tương quan giữa các chỉ tiêu điều tra 24

3.1.2 Xác định sinh khối ở các bộ phận của rừng thông ba lá 23

3.1.3 Xác định lượng carbon tích lũy trong các bộ phận của rừng thông ba

lá 24

3.1.4 Tương quan giữa lượng carbon tích lũy trên toàn khu vực nghiên cứu với một số nhân tố điều tra (N, D1,3, Hvn, G và M) của rừng thông ba lá 25

3.1.5 Biểu tra tích tụ carbon cho rừng thông ba lá tự nhiên 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu……….……… 24

3.2.1 Phương pháp luận 25

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25

3.2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập và đo đếm số liệu ngoài thực địa 25

3.2.2.2 Tính toán sinh khối ở các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất 29

3.2.2.3 Phương pháp xác định lượng carbon tích lũy trong các bộ phận của cây 30

3.2.2.4 Tương quan giữa lượng carbon tích lũy trên toàn khu vực nghiên cứu với các chỉ tiêu điều tra (N, D1,3, Hvn, V và M) 30

3.2.2.5 Lập biểu tra cho rừng thông ba lá tự nhiên 31

3.3 Đối tượng và địa điểm khu vực nghiên cứu 31

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.3.2 Đặc điểm phân bố thông ba lá 31

3.3.3 Hình thái và đặc điểm sinh trưởng 32

3.3.4 Đặc tính sinh thái 32

3.3.5 Công dụng và ý nghĩa kinh tế 33

3.4 Khu vực nghiên cứu 33

3.5 Địa điểm nghiên cứu 34

Trang 11

3.5.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.5.1.1.Vị trí địa lý 34

3.5.1.2 Địa hình 34

3.5.1.3 Thổ nhưỡng 35

3.5.1.4 Điều kiện khí hậu và thời tiết 35

3.5.1.5 Hệ thống sông suối, thuỷ văn 36

3.5.2 Hiện trạng đất đai và tài nguyên 36

3.5.2.1 Hiện trạng đất đai theo cơ cấu, trạng thái và chức năng 36

3.5.2.2 Tài nguyên rừng 37

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tương quan giữa các chỉ tiêu điều tra cây cá thể 39

4.1.1 Tương quan giữa chiều cao (Hvn) và đường kính (D1,3) 39

4.1.2 Tương quan giữa thể tích cây cá thể (V m3) với chiều cao (Hvn) và đường kính (D1,3) 41

4.2 Sinh khối cây cá thể 41

4.2.1 Cấu trúc sinh khối tươi cây cá thể 41

4.2.2 Tương quan giữa sinh khối tươi với các bộ phận của cây cá thể 43

4.2.2.1 Tương quan giữa tổng sinh khối tươi và D1,3 43

4.2.2.2 Tương quan giữa tổng sinh khối tươi với thể tích 44

4.2.2.3 Tương quan giữa sinh khối tươi các bộ phận với đường kính 45

4.2.3 Cấu trúc sinh khối khô cây cá thể 46

4.2.3.1 Tương quan giữa tổng sinh khối khô và đường kính 49

4.2.3.2 Tương quan giữa tổng sinh khối khô với thể tích 49

4.2.3.3 Tương quan giữa sinh khối khô các bộ phận với đường kính D1,3 50

4.2.4 Tương quan giữa sinh khối khô và sinh khối tươi 51

4.2.5 Kiểm tra khả năng ứng dụng của các phương trình tương quan của cây cá thể thông qua các cây đối chứng và các chỉ tiêu tính toán 52

4.3 Sinh khối quần thể 54

4.3.1 Sinh khối tươi quần thể 55

Trang 12

4.3.1.1 Kết cấu sinh khối tươi của quần thể 55

4.4.1.2 Sinh khối tươi của quần thể thông ba lá 57

4.3.1.3 Kết cấu sinh khối khô của quần thể 57

4.3.1.4 Sinh khối khô quần thể 59

4.3.2 Kiểm tra và so sánh khả năng vận dụng các phương trình tương quan 59

4.4 Khả năng tích tụ carbon của loài thông ba lá 60

4.4.1 Khả năng tích tụ carbon của cây cá thể 60

4.4.1.1 Tương quan giữa lượng carbon tích lũy với D1,3 60

4.4.1.2 Tương quan giữa carbon tích lũy với thể tích (V/m3) 63

4.4.1.3 Tương quan giữa lượng carbon tích lũy với sinh khối khô của cây cá thể 64

4.4.2 Khả năng tích tụ carbon của quần thể 65

4.4.2.1 Kết cấu carbon và cấu trúc CO2 các bộ phận của quần thể 65

4.4.2.2 Đánh giá lượng C và CO2 của quần thể theo cấp độ cao 67

4.4.2.3 Tương quan giữa carbon quần thể với các nhân tố điều tra 68

4.4.2.4 Tương quan giữa carbon các bộ phận của quần thể với các nhân tố điều tra 70

4.4.2.5 Tương quan giữa carbon quần thể với tiết diện ngang 71

4.4.2.6 Tương quan giữa carbon quần thể với trữ lượng 73

4.5 Bảng tra sinh khối, carbon và CO2 của cây thông ba lá 74

4.6 Hướng dẫn sử dụng bảng tra sinh khối để xác định khả năng tích tụ carbon của lâm phần 74

4.7 Lượng giá năng lực hấp thụ CO2 bằng tiền của quần thể 75

4.8 Đề xuất một số biện pháp lâm sinh cho đơn vị kinh doanh rừng 76

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC a

Trang 13

CDM Clean Development Mechanism - Cơ chế phát triển sạch

CER Carbon Credit - Tín chỉ carbon

DEM Digital Elevation Map - Mô hình số độ cao

FAO Food and agriculture organization - Tổ chức lương thực nông nghiệp

thế giới

Gt Giga ton

GIS Geographical Information System - Hệ thống thông tin địa lý toàn cầu GPS Global Position System - Hệ thống định vị toàn cầu

GHG Green House Gar - Khí gây hiệu ứng nhà kính

N2O Nitrous Oxide Gar

IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change - Ban Liên chính phủ về

biến đổi khí hậu IUCN International Conservation Union - Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên

Quốc tế LULUCF Land use, land use change and forestry - Sử dụng đất, thay đổi

sử dụng đất và lâm nghiệp

CH4 Mê tan

PES Payment Environment Service - Chi trả dịch vụ môi trường

Trang 14

Wtth Sinh khối thân tươi cây cá thể

Wtca Sinh khối cành tươi cây cá thể

Wtla Sinh khối lá tươi cây cá thể

Wtre Sinh khối rễ tươi cây cá thể

Wtt Tổng sinh khối tươi cây cá thể

Wkth Sinh khối thân khô cây cá thể

Wkca Sinh khối cành khô cây cá thể

Wkla Sinh khối lá khô cây cá thể

Wtk Tổng sinh khối khô cây cá thể

Wttqth Tổng sinh khối tươi của quần thể

Wtkqth Tổng sinh khối khô của quần thể

Wkthqth Sinh khối thân khô của quần thể

Wkcaqth Sinh khối cành khô của quần thể

Wklaqth Sinh khối lá khô của quần thể

Wkreqth Sinh khối rễ khô của quần thể

Wtkt Tổng sinh khối khô trên mặt đất

Wtkd Tổng sinh khối khô dưới mặt đất

Ylt Sinh khối lý thuyết

Ytn Sinh khối thực nghiệm

UNFCCC United Nations Frame Convention on Climate Change - Công ước

khung của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNEP United Nations Enviromental Programme - Chương trình Môi trường

Liên Hợp Quốc REDD Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation -

Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng

∆% Sai số tương đối

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng dự trữ carbon toàn cầu trong thực vật và các bể carbon của đất tới

độ sâu 1 m (IPCC, 2000) 4

Bảng 3.1: Tổng diện tích khu vực chia theo cấp độ cao 26

Bảng 3.2: Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất (Đơn vị tính: ha) 36

Bảng 4.1: Phương trình tương quan giữa Hvn và D1,3 39

Bảng 4.2: Phương trình tương quan giữa tổng sinh khối tươi với đường kính 44

Bảng 4.3: Phương trình tương quan giữa tổng tươi với thể tích 45

Bảng 4.4: Phương trình tương quan giữa sinh khối tươi và đường kính 45

Bảng 4.5: Tương quan giữa sinh khối khô các bộ phận với đường kính 50

Bảng 4.6: Kiểm tra sai số tương đối phương tình sinh khối khô cây cá thể 53

Bảng 4.7: Kết cấu sinh khối tươi của các quần thể 56

Bảng 4.8: Kết cấu sinh khối khô quần thể 58

Bảng 4.9: Kiểm tra và so sánh đối chứng 59

Bảng 4.10: Phương trình tương quan giữa carbon tổng với D1,3 61

Bảng 4.11: Phương trình tương quan giữa carbon các bộ phận với D1,3 62

Bảng 4.12: Phương trình tương quan giữa carbon cây cá thể với thể tích 63

Bảng 4.13: Tương quan carbon giữa các bộ phận với sinh khối khô các bộ phận 65

Bảng 4.14: Lượng CO2 hấp thụ trong các bộ phận của quần thể 66

Bảng 4.15: Quan hệ giữa khả năng tích tụ carbon quần thể và nhân tố điều tra 69

Bảng 4.16: Kết quả phân tích ANOVA mối quan hệ giữa carbon 70

của quần thể với các nhân tố điều tra 70

Bảng 4.17: Tương quan carbon quần thể các bộ phận với tiết diện ngang (m2/ha) 72 Bảng 4.18: Tương quan carbon quần thể với trữ lượng (m3) 73

Bảng 4.19: Lượng giá khu vực nghiên cứu 75

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Chu trình carbon toàn cầu 8

Hình 3.1: Bản đồ địa hình DEM phân chia cấp độ cao 26

Hình 3.2: Bảng tính dung lượng mẫu trong Excel của Winrock 27

Hình 3.3: Kích thước diện tích ô và kích cỡ cây đo đếm trong ô tiêu chuẩn 27

Hình 3.4: Địa điểm và vị trí khu vực nghiên cứu 38

Hình 4.1: Đồ thị tương quan Hvn - D1,3 40

Hình 4.2: Tỷ lệ sinh khối tươi bộ phận của cây cá thể 43

Hình 4.3: Đồ thị sinh khối tươi các bộ phận của cây cá thể 46

Hình 4.4: Tỷ lệ sinh khối khô của các bộ phận của cây cá thể 47

Hình 4.5: Đồ thị tương quan giữa tổng sinh khối trên và dưới mặt đất 48

Hình 4.6: Đồ thị sinh khối khô của các bộ phận với D1,3 của cây cá thể 51

Hình 4.7: Đồ thị tỷ lệ % sinh khối khô và tươi 52

Hình 4.8: Đồ thị so sánh sinh khối với các nghiên cứu của các tác giả khác 54

Hình 4.9: Tương quan giữa Ct và D1,3 62

Hình 4.10: Đồ thị tương quan giữa carbon bộ phận với đường kính 63

Hình 4.11: Lượng CO2 tích lũy của các bộ phận cây theo cấp độ cao 68

Hình 4.12: Bảng tra sinh khối, carbon và CO2 trong phần mềm Excel 75

Trang 17

DANH SÁCH CÁC HÌNH PHỤ LỤC

Hình 1: Rừng thông 3 lá tự nhiên XVI

Hình 2: Lựa chọn cây tiêu chuẩn XVI

Hình 3: Dùng phương tiện cơ giới XVI

Hình 4: Đo chỉ tiêu của cây ngã XVI

Hình 5: Tách mẫu từng bộ phận XVI Hình 6: Tách mẫu từng bộ phận cây XVI

Hình 7: Đào cây phần gốc và rễ XVI I

Hình 8: Cân các bộ phận cây XVII

Hình 9: Giải tích cây ngã XVII Hình 10: Cân sinh khối thân cây XVII

Hình 11: Kết hợp với máy đào gốc cây XVII Hình 12: Cân bộ phận rễ cây XVII

Hình 13: Thu mẫu phân tích XVIII

Hình 14: Cân và thu mẫu gốc XVIII

Hình 15: Thu mẫu về phân tích XVIII

Hình 16: Cân mẫu trước khi phân tích XVIII

Hình 17: Cân bộ phận mẫu XVIII

Hình 18: Ký hiệu trước khi phân tích XVIII

Trang 18

mô thực vật có thể thành một phần của chất hữu cơ trong đất, phục vụ như là một

bể chứa carbon vĩnh viễn Tuy nhiên, khi một khu rừng nào đó bị khai phá hay chuyển sang các mục đích khác thì tất cả lượng carbon được chứa trong những cây

gỗ và đất được phóng thích vào khí quyển Vai trò "cố định" carbon này của thảm thực vật, đặc biệt là rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm giảm phát thải khí CO2 và giảm nhẹ các nguy cơ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu Bằng những phương pháp khác nhau chúng ta sẽ tăng lượng carbon dự trữ dưới dạng cây xanh, chất hữu cơ trong đất và trong sản phẩm từ gỗ, đồng thời làm giảm đáng kể lượng khí CO2 trong khí quyển Chính vì vậy tích lũy carbon dần dần trở thành một trong những nhiệm vụ cơ bản của ngành Lâm nghiệp nói riêng, ngành Môi trường nói chung và những ngành liên quan Cho đến nay, còn rất nhiều vấn đề xung quanh sự thay đổi của khí hậu, một hệ quả của sự nóng lên toàn cầu, vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng Đặc biệt là những ảnh hưởng của sự thay đổi đó lên những vùng, khu môi trường sinh thái nhạy cảm Đã có nhiều cuộc hội thảo về biến đổi khí hậu, đặc biệt là thuế carbon, có những nhận định rằng: “Thuế carbon sẽ là cơ sở để nhanh chóng đạt được một hiệp ước quốc tế có hiệu lực trên toàn cầu về cắt giảm khí thải CO2” và đây là cách duy nhất để giữ trái đất được trong lành

Trang 19

Toàn bộ lượng carbon dự trữ được tạo bởi kết quả của sự hấp thụ khí CO2 từ khí quyển và chuyển hóa về dạng chất hữu cơ thực vật và trong đất Điều này cho thấy rằng nếu tăng lượng carbon dự trữ trong môi trường sinh thái sẽ có khả năng giảm lượng khí CO2 trong khí quyển Giữ và tăng lượng carbon dự trữ có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp, như bảo vệ và trồng thêm rừng, chống xói mòn đất,

sử dụng gỗ ván trong xây dựng…hạn chế đốt và xử lý các phế phẩm lâm sản bằng các chất hóa học Khi đó nguồn carbon dự trữ sẽ tồn tại dưới dạng tích lũy Cây xanh hấp thụ CO2 từ khí quyển chuyển thành gỗ và các sản phẩm lâm sản được sử dụng trong nhiều mục đích khác nhau Bằng những phương pháp khác nhau chúng

ta sẽ làm tăng được lượng carbon dự trữ dưới dạng cây xanh, chất hữu cơ trong đất

và trong sản phẩm từ gỗ, từ đó làm giảm đáng kể lượng khí CO2 trong khí quyển…

Chính vì vậy, việc tính toán khả năng tích tụ carbon dần dần trở thành một trong những nhiệm vụ cơ bản của ngành lâm nghiệp nói riêng, ngành môi trường nói chung và những ngành liên quan Đây là vấn đề quan tâm không chỉ của một hay vài nước mà là vấn đề toàn cầu Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto nhưng vấn

đề về môi trường hiện đang còn bỏ ngỏ, thiếu các thông tin cũng như phương pháp tính toán, dự báo lượng CO2 hấp thụ bởi thảm thực vật trong những diện tích rừng hiện có Thời gian gần đây tại Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến vấn đề môi trường sau khi phát hiện hàng loạt các vụ vi phạm môi trường nghiêm trọng

Do đó việc nghiên cứu về khả năng tích tụ carbon trong rừng là việc làm cần thiết để làm cơ sở tính toán những giá trị kinh tế mà rừng mang lại, đồng thời làm cơ

sở cho việc tính toán chi phí chi trả dịch vụ môi trường (PES) và giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD) Xuất phát từ những lý do này, chúng tôi thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của rừng thông ba lá (Pinus kesiya

Royle ex Gordon) tự nhiên tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” Đề tài này

được thực hiện với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc cung cấp số liệu về khả năng tích tụ carbon của kiểu rừng thông ba lá tự nhiên ở Lâm Đồng trên diện tích nghiên cứu lớn, từ đó làm cơ sở tính toán về giá trị chi trả môi trường, một động lực rất lớn cho các chủ rừng và cộng đồng sống gần rừng trong việc lựa chọn những cách thức quản lý rừng hoặc lựa chọn các phương thức sản xuất khác

Trang 20

1.2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu khả năng tích tụ carbon rừng thông ba lá Lâm Đồng làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng, giá trị thương mại của carbon Góp phần ứng dụng và phát triển phương pháp định lượng khả năng tích tụ carbon của rừng, từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý, nhằm năng cao khả năng tích tụ carbon, hấp thụ CO2 từ rừng và phát triển rừng bền vững tại Ban Quản lý rừng Phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim nói riêng, tỉnh Lâm Đồng nói chung

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Tính toán khả năng tích tụ carbon và qua đó tính toán khả năng hấp thụ

CO2 của rừng thông ba lá tự nhiên

- Cơ sở để tính toán dịch vụ chi trả môi trường và tham gia vào thị trường carbon

1.4 Phạm vi và giới hạn vấn đề nghiên cứu

Do giới hạn về nguồn lực, thời gian, kinh phí nên luận văn chỉ tập trung trên đối tượng rừng thông ba lá tự nhiên thuần loại thuộc diện tích rừng phòng hộ của Ban Quản lý rừng Phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim Chỉ tập trung trên đối tượng rừng thông ba lá tự nhiên thuộc các tiểu khu: 118, 119, 121, 132, 133, 134

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chỉ xác định lượng carbon tích lũy trong các bộ phận trên mặt đất (thân, lá và cành) và dưới mặt đất (rễ có đường kính lớn hơn 2 mm), 5 cm < D1,3 < 75 cm của cây thông ba lá tự nhiên trong thời điểm hiện tại Chỉ xác định khả năng tích tụ carbon trong sinh khối của cây gỗ, chưa có điều kiện xác định sự cố định carbon của thực vật hạ tầng và carbon trong chất hữu cơ của đất Không nghiên cứu về trạng thái của rừng thông ba lá

Nghiên cứu tổng diện tích của khu vực theo 3 cấp độ cao

- Cấp độ cao 1: Từ 1.000 m - 1.299 m

- Cấp độ cao 2: Từ 1.300 m - 1.499 m

- Cấp độ cao 3: Trên 1.500 m

Trang 21

Chương 2

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình nghiên cứu khả năng tích tụ carbon cây rừng

2.1.1 Khái niệm chung về khả năng tích tụ carbon của cây rừng

Tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro, cộng đồng quốc tế đã

thỏa thuận và ban hành Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

(UNFCCC, 1992) Các ước lượng về dự trữ carbon bởi Ủy ban Quốc tế về biến đổi

khí hậu (IPCC, 2000) được liệt kê trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Bảng dự trữ carbon toàn cầu trong thực vật và các bể carbon

của đất tới độ sâu 1 m (IPCC, 2000) Phân loại 10

9 ha (Gt)

Thực vật (Gt)

Đất (Gt)

Tổng (Gt)

nhất, trong khi rừng phương bắc thì lượng dự trữ carbon trong đất là lớn nhất Các

savan chứa khoảng một phần ba lượng carbon trong thực vật so với dự trữ của rừng

Trang 22

các đồng cỏ ôn đới (1 Gt = 109 tấn = 1015g )

Trong Điều 2 của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhấn mạnh rằng, mục đích tối ưu của nó là nhằm đạt được: “Sự ổn định về nồng độ của các khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) trong khí quyển ở một mức có thể ngăn ngừa những tác động đối với hệ thống khí hậu nguy hiểm cho con người Mức này cần đạt được trong một phạm vi thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích ứng một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, để đảm bảo rằng sản xuất lương thực thực phẩm không bị đe dọa và cho phép phát triển kinh tế được tiến hành một cách bền vững”

Vì tầm quan trọng của rừng trong việc làm giảm phát thải khí nhà kính, các nhà khoa học bắt đầu đồng ý rằng rừng phải được bảo tồn hay cần được tái lập Sự cố định carbon trên lâm nghiệp dựa trên hai cách tiếp cận: tích tụ carbon trong hoạt động trồng rừng mới và bảo tồn carbon trong thảm thực vật hiện có Cách tiếp cận thứ nhất bao gồm mọi hoạt động, thu hút việc trồng những cây gỗ mới như: tạo rừng (trồng rừng mới), tái tạo rừng (trồng lại rừng), nông lâm kết hợp hay làm tăng sự sinh trưởng của rừng hiện có bằng cách áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp Cách tiếp cận thứ hai bao gồm ngăn ngừa sự phóng thích của carbon dự trữ hiện có qua ngăn ngừa hay giảm thiểu sự mất rừng, thay đổi sử dụng đất hay giảm thiểu thiệt hại cho rừng Điều này có thể bao gồm bảo tồn rừng hay các phương pháp gián tiếp nhằm tăng hiệu quả sản xuất của canh tác nương rẫy Các phương thức khai thác gỗ hợp lý và phòng chống lửa rừng là ví dụ khác của các hành động nhằm bảo vệ lượng carbon dự trữ hiện có (Florencia và Carl, 2005)

Theo IPCC (2000) thì CO2 chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng 28% từ 288 ppm lên 366 ppm trong giai đoạn 1850 - 1998 (Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006) Trong giai đoạn này,

có tới 270 ± 30 Gt carbon xâm nhập vào bầu khí quyển trái đất do kết quả của đốt nhiên liệu và sản xuất xi măng, 136 ± 55 Gt carbon tạo thành từ việc thay đổi mục đích sử dụng đất, cụ thể là cày xới đất và sử dụng đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp Mặc dù không phải toàn bộ khối lượng khổng lồ carbon đó đọng lại trong

Trang 23

bầu khí quyển của chúng ta, mà một phần rất lớn (2/3) được hấp thụ bởi đại dương

và môi trường sinh thái trên bề mặt trái đất Tuy nhiên số còn lại (1/3, tương ứng là

176 Gt carbon) còn đọng lại trong khí quyển Đây là lượng bổ sung đáng kể, nó làm tăng lượng carbon trong khí quyển lên 20% (Mỹ Nhẫn, 2005)

Trước xu hướng gia tăng phát thải các chất khí gây "hiệu ứng nhà kính" như: mêtan (CH4), nitrous oxide gar (N2O) và đặc biệt là khí cacbonic (CO2), việc nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của các hệ sinh thái là một vấn đề mà hiện đang được rất nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm Qua khả năng tích tụ carbon, có thể

kỳ vọng làm giảm sự tích lũy của carbon dioxid Tuy nhiên, khả năng tích tụ carbon của các khu rừng tự nhiên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, điều này có thể “dẫn sự sai lệch trong các đánh giá về giá trị kinh tế và ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách” (Phạm Vũ Quỳnh Hoa, 2008)

2.1.2 Nghiên cứu về khả năng tích tụ carbon trên thế giới

Palm và ctv (1986) đã cho rằng lượng carbon trung bình trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới Châu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25 - 300 tấn/ha Kết quả nghiên cứu của Brown (1991) cho thấy rừng nhiệt đới ở Đông Nam

Á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50 - 430 tấn/ha (tương đương 25 - 215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350 - 400 tấn/ha (tương đương 175 - 200 tấn C/ha)

Brown và Pearce (1994) đã đưa ra các số liệu đánh giá lượng carbon và tỷ lệ thất thoát đối với rừng nhiệt đới Theo đó một khu rừng nguyên sinh có thể tích tụ được 280 tấn carbon/ha và sẽ giải phóng 200 tấn carbon/ha nếu bị chuyển thành du canh du cư và sẽ giải phóng carbon nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp Rừng trồng có thể tích lũy khoảng 115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp

Tiếp đến, theo Brown (1997) thì rừng là bể chứa carbon khổng lồ của trái đất Tổng lượng tích tụ carbon dự trữ của rừng trên toàn thế giới khoảng 830 Pg carbon, trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần carbon dự trữ trong thảm thực vật

Trang 24

Loveland và Belward (1997) đã khẳng định do các vấn đề về lấy mẫu và

đo lường bằng công nghệ viễn thám, nên các số đo về carbon dự trữ chưa được chính xác Trong 20 năm qua, các nhà khoa học đã cố gắng tính toán lượng dự trữ carbon toàn cầu của rừng nhiệt đới, cũng như sự thay đổi trong sử dụng đất Gần đây các dữ liệu vệ tinh và viễn thám đã được sử dụng trong khoảng thời gian dài để xác định độ che phủ, cung cấp các ước lượng chính xác hơn về sự thay đổi trong thực vật mỗi năm

Khi tiến hành nghiên cứu tại Philippines, Lasco (1999) cho biết ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86 - 201 tấn carbon/ha trong phần sinh khối trên mặt đất Ở rừng già con số đó là 185 - 260 tấn carbon/ha (tương đương 370 - 520 tấn sinh khối/ha, lượng carbon ước chiếm 50% sinh khối)

Ngoài ra, theo Dixon (1995) trong một số quốc gia nhiệt đới khác, thì động

cơ kinh tế được cung cấp cho sự thiết lập các hệ thống nông lâm kết hợp dưới dạng tín chỉ carbon Ví dụ: chính phủ Hà Lan đã cam kết cung cấp 25 năm tài chính cho các dự án trồng tái tạo rừng bao phủ 2.500 km2ở Nam Mỹ, để bù đắp phát thải từ các trạm năng lượng đốt bằng than ở Hà Lan (Myers, 1996) Khi khái niệm “tín chỉ carbon” (CER) được những người phát thải qua sử dụng nhiên liệu hóa thạch chi trả cho các dự án cố định hay giảm xuất lượng carbon trở thành phổ biến hơn, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế sẽ tìm kiếm những cách thức sáng tạo để tăng cường sự cố định carbon (Watson và ctv, 2000)

Tại Indonesia Noordwijk (2000) đã nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của các rừng thứ sinh, các hệ nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm Kết quả cho thấy lượng carbon tích lũy trung bình là 2,5 tấn/ha/năm

Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng carbon tích lũy của rừng được thực hiện bởi McKenzie (2001) và Ilic (2000) Theo McKenzie và ctv (2001) thì lượng carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính như: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng

Khí CO2 của khí quyển tăng tuyến tính từ năm 1850 đến 1960, nhưng từ đó

Trang 25

đến nay nó đã tăng theo lũy thừa Vấn đề này chỉ mới được thảo luận rộng rãi và quan tâm cách đây ít năm, sự ấm lên của trái đất hiện được nhìn nhận thực tế là nguy hiểm (Bishop và Landell - Mills, 2002)

Brown và ctv (1980) đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng carbon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu Á là 144 tấn carbon/ha trong phần sinh khối và 148 tấn carbon/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1 m, tương đương 42 - 43 tỷ tấn carbon trong toàn châu lục Houghton (1991) đã chứng minh lượng carbon trong rừng nhiệt đới Châu Á là 40 - 250 tấn carbon/ha, trong đó 50 - 120 tấn carbon/ha ở phần thực vật và đất (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005)

Hình 2.1: Chu trình carbon toàn cầu (dẫn theo Ciais và ctv, 2000)

Trong chu trình carbon toàn cầu được thể hiện qua hình 2.1 cho thấy phần dự trữ carbon lớn nhất của hành tinh chúng ta là trong các đại dương, chúng chứa 39 trong số

48 Tt C (1 tera ton = 1012 t = 1018 g) Phần dự trữ carbon lớn thứ hai là carbon hóa

Trang 26

của thế giới chỉ chiếm 2,5 Tt, trong khi khí quyển chỉ chỉ chứa 0,8 Tt (Kurniatun và ctv, 2001)

Chu trình carbon toàn cầu cho thấy carbon được dự trữ trong các phần khác nhau (tính bằng Gt Trong đó: 1 giga ton = 109 tấn = 1015 g ) và các dòng carbon (tính bằng Gt yr-1) có liên quan đến các nhiễu loạn do con người gây ra, trung bình hằng năm trong thập niên 1989 - 1998

Theo Pregitzer và Euskirchen (2004) đối với rừng nhiệt đới thì có tới 50% lượng carbon dự trữ trong thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất Vai trò "cố định" carbon này của thảm thực vật, đặc biệt là rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm giảm phát thải khí CO2 và giảm nhẹ các nguy cơ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Tiếp đến là công trình nghiên cứu của Lasco (2003) lượng sinh khối và carbon của rừng nhiệt đới Châu Á bị giảm khoảng 22 - 67% sau khai thác Tại Philippines, ngay sau khi khai thác lượng carbon bị mất là 50% so với rừng thành thục trước khai thác, ở Indonesia là 38 - 75% Tại Indonesia, các đồn điền cọ dầu

và cà phê có lượng carbon thấp hơn rừng tự nhiên từ 6% - 31% (Sitompul và ctv, 2000) và các hệ canh tác nông lâm kết hợp và rừng trồng mức chênh lệch này là 4 - 27% (Hairiah và ctv, 2000) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005)

ADB dự kiến sẽ thành lập Quỹ carbon trong tương lai cho đến khi Nghị định Kyoto kết thúc với số tiền tối thiểu là 200.000.000 USD (ADB, 2009)

Theo Reuters (2009) hiện nay Cambodia đã tính toán đuợc lượng carbon tích tụ trong 60.000 ha rừng qua dạng tín chỉ carbon là 8.500.000 tấn carbon trong thời gian là 30 năm Họ sử dụng số tiền bán được nhằm nâng cao đời sống và sinh

kế cho người dân sống trong 50 làng nghề truyền thống trong khu vực

Tổ chức thương mại Carbon Conservation cũng đã ký với quỹ đầu tư Merril Lynch để bán US$ 9 triệu tín dụng carbon qua đề án sự bảo tồn 750 ngàn hecta rừng Ulu Masen ở bắc Aceh (Sumatra, Indonesia) cùng với chính phủ tỉnh Aceh và

tổ chức phi chính phủ FFI

Tổ chức New Forest đang có công trình bảo hộ 200 ngàn hecta rừng cùng với chính phủ Papua New Guinea nhằm tránh các khu rừng này bị phá để trồng

Trang 27

cây dầu palm, qua đó tín dụng sẽ được bán vào cuối năm 2009 với số lượng khoảng 20 triệu tấn carbon trong 20 năm giữ rừng trên thị trường tình nguyện (voluntary market) như thị trường của Ngân hàng Thế giới Lợi nhuận từ tín dụng bán được một phần sẽ được bỏ vào quỹ chung cho cộng đồng địa phương,

số còn lại dùng để điều hành công trình, trả tiền phí cho chính quyền địa phương

và lợi nhuận cho các nhà đầu tư (Watson, 2009)

2.1.3 Nghiên cứu về khả năng tích tụ carbon trong nước

Việt Nam đã sớm nhận thức được mối nguy hiểm của việc nóng lên toàn cầu nên đã sớm tham gia vào Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

đó là Nghị định thư Kyoto năm 1997

Bên cạnh việc tham gia vào Công ước, thì đã có các công trình nghiên cứu

về khí thải như: Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (1992) đã sử dụng công thức tổng quát của quá trình quang hợp để tính ra hệ số chuyển đổi từ sinh khối khô sang CO2 đã hấp thụ là 1.630/1 Căn cứ vào biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối các tác giả đã tính được 1 ha rừng thông 60 tuổi ở cấp đất III chứa đựng 707,75 tấn CO2

Ngoài ra, Việt Nam là một trong số những quốc gia trong khu vực Châu

Á Thái Bình Dương tham gia tích cực nhất vào những hoạt động nhằm giảm nhẹ những tác động của biến đổi khí hậu do Liên Hợp Quốc đề xuất Tính đến tháng

03 năm 2003, thời điểm Việt Nam thành lập cơ quan có thẩm quyền quốc gia về CDM và Việt Nam đã đạt được cả 3 điều kiện để tham gia vào các dự án CDM quốc tế Đó là:

1 Tham gia hoàn toàn tự nguyện

2 Phê chuẩn công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và ký kết nghị định thư Kyoto

3 Thành lập CDM của quốc gia

Từ đó đến nay, các nhà khoa học của Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu nhằm ngăn ngừa các hoạt động có hại của con người đến hệ khí hậu trên trái đất Khả năng hấp thụ CO2 và C tích lũy được nghiên cứu nhiều như:

Trang 28

Nguyễn Văn Dũng (2005) đã nghiên cứu tại Núi Luốt cho thấy rừng thông

mã vĩ thuần loài 20 tuổi thì lượng carbon tích lũy là 80,7 - 122 tấn/ha và giá trị tích lũy carbon ước tính đạt 25,8 - 39,0 triệu VNĐ/ha Rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng carbon tích lũy là 62,5 - 103,1 tấn/ha, giá trị tích lũy carbon ước tính đạt 20 - 33 triệu VNĐ/ha

Theo Ngô Đình Quế và ctv (2006) với tổng diện tích là 123,95 ha sau khi trồng keo lai 3 tuổi, quế 17 tuổi, thông 3 lá 15 tuổi, keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng carbon của đường cơ sở, lượng carbon thực tế thu được qua việc trồng rừng theo dự án CDM là 7.553,60 tấn C hoặc 27.721,90 tấn CO2

Vũ Tấn Phương (2006) đã tính toán trữ lượng carbon trong sinh khối thảm tươi cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa là 20 tấn/ha với lau lách, 14 tấn/ha với cây bụi cao 2 - 3 m, khoảng 10 tấn/ha với cây bụi dưới 2 m và tế guột, 6,6 tấn/ha với cỏ

lá tre, 4,9 tấn/ha với cỏ tranh, cỏ chỉ/cỏ lông lợn là 3,9 tấn/ha Đây là một kết quả nghiên cứu rất quan trọng không những chỉ đóng góp cho phương pháp luận nghiên cứu sinh khối cây bụi thảm tươi mà còn là căn cứ khoa học để xây dựng kịch bản đường cơ sở cho các dự án trồng rừng CDM sau này

Nguyễn Thị Hà (2007) đã nghiên cứu sinh khối, làm cơ sở xác định khả năng hấp thụ CO2 của rừng keo lai trồng tại Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh Khả năng hấp thụ CO2 trung bình hằng năm của rừng keo lai 7 tuổi đạt 18,56 tấn/ha/năm, đạt 18,77 tấn/ha/năm đối với rừng 5 tuổi và 14,50 tấn/ha/năm đối với rừng 3 tuổi Có giá trị bằng tiền thu nhập từ 3 - 5 triệu/năm

Nhận định chung: Hiện nay ở Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/2008/QĐ - TTg ngày 10/04/2008 về việc chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng và đã tham gia vào dự án REDD Đây là

dự án nhằm làm giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ký kết tham gia Dự án này đã được Liên Hợp Quốc và Chính phủ Na Uy tài trợ với tổng số tiền là 4.380.000 USD, được thực hiện thí điểm tại tỉnh Lâm Đồng Việc thực hiện REDD và hy vọng sẽ tạo nguồn tài chính mới, bền vững là động lực mạnh mẽ khuyến khích người dân và mọi

Trang 29

thành phần kinh tế tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn

2.2 Tình hình nghiên cứu sinh khối

Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng hấp thụ CO2

và tích lũy lại ở dạng carbon trong sinh khối Do vậy, việc nghiên cứu về sinh khối trong lâm nghiệp là rất cần thiết, đây là căn cứ xác định lượng CO2 mà cây rừng hấp thụ, góp phần vào việc đánh giá chất lượng rừng, giúp công tác quản lý và kinh doanh rừng có hiệu quả Đồng thời, là cơ sở để tham gia vào thị trường hạn ngạch khí thải giữa các quốc gia Từ những kết quả có được, đề xuất biện pháp lâm sinh nhằm gia tăng khả năng hấp thụ CO2 góp phần hạn chế những thay đổi bất lợi của khí hậu hiện nay Ở Việt Nam, từ lâu sinh khối rừng được xem như một chỉ tiêu để đánh giá sức sản xuất của rừng và là một chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh học của rừng Hiện nay, khi rừng không còn được biết đến như là nguồn tài nguyên chỉ chuyên cung cấp gỗ, thì chỉ tiêu sinh khối được quan tâm hơn bao giờ hết

Sinh khối được xác định là tất cả chất hữu cơ ở dạng sống và chết (còn ở trên cây) ở trên hoặc dưới mặt đất (Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006)

Các phương pháp xác định sinh khối và tích tụ carbon trên mặt đất gồm:

- Phương pháp dựa trên mật độ sinh khối rừng

Theo phương pháp này, tổng lượng sinh khối trên bề mặt đất có thể được tính bằng cách nhân diện tích của một lâm phần với mật độ sinh khối tương ứng Việc chuyển đổi carbon bằng cách nhân hệ số chuyển đổi là cố định 0,5 Hệ số chuyển đổi có vai trò rất quan trọng cho tính chính xác của phương pháp này

- Phương pháp dựa trên điều tra rừng thông thường

Để điều tra sinh khối và tích tụ carbon của rừng, phương pháp đo đếm trực tiếp truyền thống trên một số lượng ô tiêu chuẩn đủ lớn của các đối tượng rừng khác nhau cho kết quả đáng tin cậy Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn kém Ngoài ra, khi tiến hành điều tra, các cây không có giá trị thương mại hoặc cây nhỏ thường không được đo đếm

- Phương pháp dựa trên điều tra thể tích

Trang 30

Phương pháp dựa trên điều tra thể tích là sử dụng hệ số chuyển đổi để tính tổng sinh khối trên mặt đất từ sinh khối thân cây Đặc điểm cơ bản của phương pháp này bao gồm ba bước:

1 Tính thể tích gỗ thân cây từ số liệu điều tra

2 Chuyển đổi từ thể tích gỗ thân cây thành sinh khối và carbon của cây bằng cách nhân với tỷ trọng gỗ và hàm lượng carbon tích lũy trong gỗ

- Phương pháp dựa trên các nhân tố điều tra lâm phần

Các nhân tố điều tra lâm phần như sinh khối, tổng tiết diện ngang, mật độ, tuổi, chiều cao tầng trội và thậm chí các các yếu tố khí hậu và đất đai có mối liên hệ với nhau và được mô phỏng bằng các phương trình quan hệ Các phương trình này được sử dụng để xác định sinh khối và tích tụ carbon cho lâm phần

Hạn chế của phương pháp này là yêu cầu phải thu thập một số lượng nhất định số liệu các nhân tố điều tra của lâm phần để có thể xây dựng được phương trình Tổng tiết diện ngang, mật độ là những nhân tố điều tra dễ đo đếm Tuổi rừng cũng có thể xác định ở những lâm phần được quản lý tốt hoặc có thể ước lượng từ chiều cao tầng trội Tuy nhiên, những giá trị này thông thường không được chỉ ra ở các nghiên cứu sinh khối Các biến khí hậu và tính chất đất cũng

có thể được sử dụng để xây dựng các phương trình tương quan cho lâm phần, nhưng rất khó khăn để thu thập được những số liệu này

- Phương pháp dựa trên số liệu cây cá lẻ

Hầu hết các nghiên cứu từ trước cho đến nay về sinh khối và tích tụ carbon là dựa trên kết quả nghiên cứu của cây cá lẻ, trong đó có hàm lượng carbon trong các

bộ phận của cây Theo phương pháp này, sinh khối cây cá lẻ được xác định từ mối quan hệ của nó với các nhân tố điều tra khác của cây cá lẻ như chiều cao, đường kính ngang ngực, tiết diện ngang, thể tích hoặc tổ hợp của các nhân tố này của cây

Y (sinh khối, tích tụ carbon) = f (nhân tố điều tra cây cá lẻ)

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh khối được thực hiện theo phương pháp này, vì thế kết hợp được những thông tin có sẵn này để xây dựng các mối quan hệ tổng thể cho lâm phần từ đó xác định khả năng tích tụ carbon của rừng

Trang 31

là rất quan trọng

- Phương pháp dựa trên vật liệu khai thác

Lượng các bon mất đi từ rừng từ khai thác kinh tế được tính bằng công thức:

C = H E D (2.1) Trong đó H là thể tích gỗ tròn khai thác được, D là tỷ trọng gỗ và E là hệ số chuyển đổi từ tổng sinh khối khai thác từ rừng Từ đó tính được sinh khối, lượng carbon và động thái quá trình này, đặc biệt sau khai thác Phương pháp này thường được sử dụng để ước lượng lượng carbon bị mất do khai thác gỗ thương mại Vì thế

nó giúp cho việc tính tổng lượng carbon của rừng và động thái của biến đổi carbon trong rừng

- Phương pháp dựa trên mô hình sinh trưởng

Mô hình sinh trưởng từ những biểu đồ đơn giản nhất cho đến những phần mềm máy tính phức tạp đã và đang là những công cụ quan trọng trong quản lý rừng Sinh khối và tích tụ carbon có thể được xác định bằng mô hình sinh trưởng Trên thế giới đã có rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm hiểu được phương pháp cụ thể của mỗi mô hình Vì vậy, cần phải xác định được những điểm chung để phân loại mô hình Rất nhiều tác giả đã cố gắng phân loại mô hình theo các nhóm khác nhau với những tiêu chuẩn khác nhau Được chia thành các dạng chính sau đây:

1 Mô hình thực nghiệm/thống kê dựa trên những đo đếm của sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến các quá trình sinh lý học

2 Mô hình động thái/mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế hóa sinh,

lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật

3 Mô hình hỗn hợp/kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp

Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều mô hình động thái hay mô hình hỗn hợp được xây dựng để mô phỏng quá trình phát triển của hệ sinh thái rừng như BIOMASS, ProMod, 3 PG, Gen WTO, CO2Fix, CENTURY…

Trang 32

Mô hình CO2Fix có khả năng áp dụng cho các nước đang phát triển chưa có điều kiện thực hiện và thu thập số liệu trên các thí nghiệm, ô định vị lâu năm Mô hình này đã được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các mô hình khác để điều tra tích

tụ carbon và động thái qui mô lâm phần cho đến qui mô quốc gia như các nước Châu

Âu, Australia, Indonesia, Costa Rica …Vì vậy, có thể sử dụng mô hình này vào điều tra carbon, động thái quá trình này ở hệ sinh thái rừng ở Việt Nam

- Phương pháp dựa trên công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý Phương pháp này sử dụng các công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) với các công cụ như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị toàn cầu (GPS)…để đo đếm lượng carbon trong hệ sinh thái và biến đổi của chúng

Phương pháp này thường được áp dụng cho các điều tra ở phạm vi quốc gia hoặc vùng và cũng rất phù hợp cho việc kiểm tra, giám sát của các dự án sử dụng đất, chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) Tuy nhiên, với qui mô dự

án, đặc biệt là dự án CDM qui mô nhỏ thường có ở các nước đang phát triển, diện tích đất của các chủ rừng không lớn, phương pháp này không thích hợp lắm vì sai

số lớn và không dễ thực hiện do đòi hỏi các nguồn lực đầu vào như thiết bị xử lý, nhân lực trình độ cao

Quá trình biến đổi carbon trong hệ sinh thái được xác định từ cân bằng carbon gồm: carbon đi vào hệ thống qua quang hợp và tiếp thu carbon các chất hữu

cơ khác và carbon mất đi từ quá trình hô hấp của thực vật và động vật, lửa, khai thác, sinh vật chết cũng như những quá trình khác Phương pháp điều tra carbon và các động thái biến đổi carbon trong rừng có thể được tóm tắt thành 4 nhóm dưới đây (Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006)

- Phương pháp dựa trên đo đếm các bể carbon

- Phương pháp dựa trên đo đếm các dòng luân chuyển carbon

- Phương pháp dựa trên công nghệ viễn thám

- Mô hình hóa

Cho đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều công trình của nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu về sinh khối ở trong nước, cũng như trên thế giới

Trang 33

2.2.1 Những nghiên cứu về sinh khối trong nước

Viên Ngọc Nam (2003) với công trình “Nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ

cấp quần thể mắm trắng (Avicennia alba BL.) tự nhiên tại Cần Giờ, Tp Hồ Chí

Minh” đã tìm ra tổng sinh khối, lượng tăng trưởng sinh khối, năng suất vật rụng cũng như năng suất quần thể mắm trắng Tác giả cho rằng để xác định sinh khối cây rừng, các tác giả thường dùng phương trình hồi quy tương quan giữa đường kính hoặc chu

vi thân cây ở vị trí 1,3 m với tổng sinh khối hay sinh khối bộ phận của cây Tác giả

đã mô tả mối tương quan giữa sinh khối các bộ phận với đường kính của cây bằng dạng phương trình logW = a + blogD1,3 và lập bảng tra sinh khối cây cá thể loài mắm trắng Theo tác giả, sinh khối tươi của thân cây trong quần thể mắm trắng trung bình

là 70,64% biến động từ 69,16% - 73,64%, cành chiếm 15,04% - 22,92% và lá chiếm 7,92% - 11,33% Tỉ lệ sinh khối tươi trung bình của thân và cành chiếm 91,10% trong quần thể, tỉ lệ sinh khối của lá giảm dần theo tuổi, ngược lại sinh khối thân + cành và cành tăng dần theo tuổi Sinh khối khô trung bình của quần thể mắm trắng là 118,29 tấn/ha dao động từ 79,21 - 137,18 tấn/ha

Nguyễn Văn Dũng (2005) đã khẳng định rừng trồng thông mã vĩ thuần loài

20 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 321,7 - 495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn Rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và trong vật rơi rụng) là 251,1 - 433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là 132,2 - 223,4 tấn/ha

Theo Vũ Tấn Phương (2006) khi nghiên cứu về năm dạng cỏ (cỏ chỉ và cỏ lông lợn, cỏ lá tre, cỏ tranh, lau lách, tế guột) và hai dạng cây bụi (cây bụi cao dưới

2 m và cây bụi cao từ 2m đến 3 m) tại các vùng đất không có rừng thuộc các huyện Cao Phong và Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), Hà Trung, Thạch Thành và Ngọc Lạc (tỉnh Thanh Hóa) tác giả thấy rằng sinh khối tươi của chúng biến động rất khác nhau Lau lách có sinh khối tươi cao nhất khoảng 104 tấn/ha, kế đến là trảng cây bụi cao

2 m - 3 m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha Trảng cây bụi cao dưới 2 m và tế guột có sinh khối khá gần nhau, khoảng 44 - 45 tấn/ha Các loại cỏ lá tre, cỏ tranh

và cỏ chỉ có sinh khối khoảng 22 - 31 tấn/ha Theo tác giả, sinh khối của từng bộ

Trang 34

phận cũng rất khác nhau, tập trung chủ yếu vào thân, cành và rễ Sinh khối trên mặt đất chiếm tỷ lệ đáng kể so với tổng sinh khối của chúng Trong các đối tượng nghiên cứu thì lau lách có sinh khối khô cao nhất, khoảng 40 tấn/ha và thấp nhất là

cỏ chỉ và cỏ lông lợn khoảng 8 tấn/ha Sinh khối khô rễ chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng sinh khối, đạt 30 - 60% với hầu hết các dạng thảm tươi cây bụi nghiên cứu, riêng cỏ lá tre chỉ đạt khoảng 10% Xét tổng thể, hàm lượng nước trong sinh khối thảm tươi và cây bụi chiếm tỷ trọng khá lớn khoảng 54 - 67% Tỷ lệ sinh khối khô

so với tươi dao động từ 33 - 46%

Nguyễn Thị Hà (2007) khi nghiên cứu sinh khối loài keo lai tuổi 3, 5 và 7 tại

Tp Hồ Chí Minh đã chia cây thành 5 phần có chiều dài bằng nhau, để riêng các bộ phận thân, cành và lá để xác định sinh khối tươi và lấy mẫu Kết quả cho thấy sinh khối tươi cây cá thể biến động từ 5,8 - 445,0 kg/cây, trong đó thân chiếm 79,6%, cành 12,2% và lá 8,2% Sinh khối khô cây cá thể đạt 3,12 - 245,00 kg/cây, trong đó thân chiếm 78,64%, cành chiếm 15,85% và lá 5,51%

Phạm Tuấn Anh (2007) khi nghiên cứu về rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đak Nông thấy rằng dạng hàm mũ mô phỏng tốt nhất quan hệ giữa lượng carbon tích lũy với sinh khối khô của cây, kết quả thu được lượng carbon chiếm 40,1% trọng lượng sinh khối khô và chiếm 18,2% trong sinh khối tươi Đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu trên ô mẫu của theo phương pháp lập ô tiêu chuẩn đại diện cho các trạng thái rừng (Kurniatun và ctv 2007): Ô mẫu có kích thước 20 x 100 m, số ô tùy thuộc vào tính đại diện, biến động và diện tích trạng thái nghiên cứu, được phân chia thành các ô phụ để điều tra sinh khối thực vật có đường kính khác nhau:

- Ô mẫu: 20 x 100 m: Điều tra sinh khối cây gỗ có D1,3 > 30 cm

- Ô mẫu phụ: 5 x 40 m (1 ô trong ô chính): Điều tra sinh khối cây gỗ có 5

Trang 35

phân bố số cây theo cấp kính (N/D)

Võ Thị Bích Liễu (2007) đã tiến hành nghiên cứu sinh khối quần thể dà vôi tại Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy sinh khối tươi cây cá thể đạt 5,75 - 77,23 kg/cây, trong đó thân chiếm 40,04 ± 2,20%, cành 33,06 ± 1,67% và lá chiếm 26,91 ± 3,81% Sinh khối khô cây cá thể đạt 3,06 - 42,66 kg/cây, trong đó thân chiếm 43,22 ± 0,89%, cành 34,99 ± 1,78% và lá chiếm 21,79 ± 1,67% Sinh khối tươi trung bình của quần thể 10 tuổi đạt 237,85 tấn/ha,

12 tuổi 191,94 tấn/ha, 14 tuổi đạt 206,04 tấn/ha

2.2.2 Những nghiên cứu về sinh khối trên thế giới

Việc xác định sinh khối rễ dưới mặt đất gồm:

- Tỷ lệ rễ (quan hệ giữa sinh khối rễ và các nhân tố điều tra trên mặt đất) Brown (1997) nghiên cứu sinh khối thông ở vùng ẩm có lượng mưa từ 1.500

- 4.000 mm thì: Sinh khối = exp(-2,289 + 2,649 x lnD1,3 – 0,021 x lnD1,32)

Công trình “Hướng dẫn theo dõi tích lũy carbon ở các dự án trồng rừng và

hệ thống nông lâm kết hợp” do MacDicken (1997) thực hiện Phương pháp này mô

tả một hệ thống nông lâm kết hợp với mức chi phí thấp để theo dõi sư tích lũy carbon ở với 3 kiểu sử dụng đất: rừng trồng, rừng tự nhiên và hệ thống nông lâm kết hợp Đã đánh giá được sự thay đổi carbon trong bốn bể chứa chính, đó là: sinh khối trên mặt đất, sinh khối dưới mặt đất, đất và lớp vật rụng

Michael và ctv (1998) đã nghiên cứu sinh khối và năng suất trên mặt đất của các quần thể rừng ngập mặn ở Vườn Quốc gia Biscayne, Florida, Mỹ từ sau cơn bão Andrew (1992) đã chỉ ra rằng chức năng quan trọng của cấu trúc tự nhiên của quần thể trong việc chống bão của hệ thống rừng ngập mặn Theo đó, đặc biệt kích thước và sự phân bố của các bộ phận cấu thành sinh khối có vai trò rất lớn đến khả năng chống bão của rừng

Akira và ctv (2000) đã nghiên cứu sinh khối và kích thước rễ dưới mặt đất

của dà vôi (Ceriops tagal) ở Nam Thái Lan với tổng sinh khối là 137,5 tấn/ha và tỉ

lệ sinh khối trên mặt đất và rễ là 1,05 Trong đó: sinh khối thân được 53,35 tấn/ha,

lá được 13,29, rễ được 1,99 tấn/ha và dưới mặt đất được 87,51 tấn/ha

Trang 36

Nghiên cứu vai trò của rừng ngập mặn trong tích tụ carbon ở tỉnh Trat, Thái Lan với phương pháp phân tích hàm lượng carbon chứa trong sinh khối khô của cây Wanthongchai và Somsak (2006) đưa ra kết luận cho thấy lượng carbon trung

bình chứa trong ba loài nghiên cứu (Rhizophora mucronata, R apiculata, B

cylindrica) chiếm 47,77% trọng lượng khô và ở rừng nhiều tuổi thì tích tụ lượng

carbon nhiều hơn rừng ít tuổi Lượng carbon cao nhất là loài R apiculata 11 tuổi với 74,75 tấn/ha, Rhizophora mucronata với 65,50 tấn/ha trong khi cũng tuổi đó B

cylindrica chỉ có 1,47 tấn/ha bởi vì hai loài trên sinh trưởng tốt hơn

Việc nghiên cứu sinh khối đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Những kết quả đạt được đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của ngành Lâm nghiệp Khi cần nghiên cứu và điều tra cụ thể ngoài thực địa thì cần có sự kiểm chứng và so sánh để đạt được hiệu quả cao nhất về số liệu, công sức và thời gian

2.3 Tình hình nghiên cứu về thông ba lá

2.3.1 Tình hình nghiên cứu thông ba lá trên thế giới

Cây lá kim là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới Các kiểu rừng cây lá kim rộng lớn của Bắc bán cầu là lọc khí carbon giúp làm điều hòa khí hậu thế giới Rất nhiều dãy núi trên thế giới gồm các loài cây lá kim chiếm ưu thế đóng một vai trò quyết định đối với việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính

Theo Pilger (1926) thì các loài cây lá kim trước đây thường được chia thành 7 họ Việt Nam có tổng số 33 loài của 19 chi và đại diện của 6 trên tổng

số 7 họ của cây lá kim Các loài thông bị đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc tế chiếm một nửa (16/33 loài) hệ thông của Việt Nam Khi tính cả các loài cây bị

đe dọa tuyệt chủng ở mức quốc gia thì tỉ lệ này được nâng lên trên 90% (31/33 loài) Theo Alder (1978) độ dốc có ảnh hưởng tới sinh trưởng chiều cao của cây ở tuổi non và độ ẩm không khí ảnh hưởng tới sinh trưởng chiều cao thông

ba lá, khi tác giả tiến hành nghiên cứu các chỉ tiêu này tại Lâm Đồng Theo Norbert Kolhstock (1980 - 1984) rừng thông ba lá ở Lâm Đồng là rừng tái sinh

tự nhiên, từ trước tới nay chỉ mới khai thác lợi dụng rừng với phương thức

Trang 37

khai thác không hợp lý đã làm cho rừng ngày càng giảm về số lượng và chất lượng (Theo đề án Quản lý, sử dụng và phát triển bền vững rừng thông ba lá tại Lâm Đồng đến năm 2010 - 2008)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu thông ba lá trong nước

Từ trước cho đến nay, thông ba lá chỉ mới tập trung nghiên cứu về các vấn đề khác như: trồng rừng, phòng cháy chữa cháy, xác định khu phân bố, phân loại cấp đất và lập địa, ảnh hưởng của khí hậu đến tăng trưởng thông ba lá

Nguyễn Ngọc Lung và Trương Hồ Tố (1986) đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng thông ba lá ở Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở rừng thuần loại đều tuổi, các phân bố có dạng một đỉnh lệch trái Ông đã xây dựng được các quy luật phân bố một đỉnh của hàm Pearson cho số cây theo cấp kính Với kiểu rừng kín thường xanh có kết cấu phức tạp như: thảm thực vật có cấu trúc về loài phong phú và phân bố nhiều tầng Ngoài hai hay ba tầng gỗ lớn, còn có những tầng cây bụi thấp gồm những cây mọc rãi rác, trong đó có những cây con, cây mạ và những loại cây chịu bóng dưới tán rừng Nhận định rằng không có sự khác biệt nào đáng kể về sinh trưởng chiều cao ở hai vùng sinh thái khác nhau là Đà Lạt và Bảo Lộc, sự khác nhau về tăng trưởng đường kính cây thông ba lá theo từng tháng trong năm là rất lớn

Trương Hồ Tố (1995) sau khi nghiên cứu và nhận xét rằng: Thông ba lá sinh trưởng trên đất dạng tốt có mật độ thấp hơn thông sinh trưởng trên đất dạng xấu ở cùng cấp tuổi, nhưng năng suất sinh trưởng cao hơn thông sinh trưởng trên đất hạng xấu ở cùng cấp tuổi Tương quan giữa mật độ, cấp tuổi và hạng đất: trên mỗi hạng đất, ở mỗi cấp tuổi thì thông ba lá có mật độ và cấp sinh trưởng tương ứng

Phó Đức Đỉnh (1996) nghiên cứu về khả năng tái sinh của rừng tự nhiên thông ba lá tại Lâm Đồng Kết quả cho thấy tỷ lệ tái sinh là rất cao ở những nơi được tác động

Lê Hồng Phúc (1996) tiến hành nghiên cứu đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối năng suất rừng trồng thông ba lá vùng Đà lạt, tỉnh Lâm Đồng

Tác giả thông qua biểu thể tích, biểu sinh khối với các phương trình tương

Trang 38

quan được áp dụng cho thông ba lá

Tính toán thể tích toàn cây:

- V= -0,0030967 + 0,0008951*H + 0,3350833 * D2*H/104 với: r = 0,9979

- Vov = - 0,002698 + 0,843283 * Vcv r = 0,9975 Tính toán sinh khối thân cây tươi và khô:

- LnP = -2,85269 + 1,108032 * LnH + 1,764403 * LnD r = 0,9940

- Ln(Rtk) = - 1,07415 + 1,03954 * ln(Ptt) r = 0,9960 Tính toán tổng sinh khối cây tươi và khô:

- LnP = -2,11461 + 0,95456 * lnH + 1,834061 * lnD r = 0,9910

- Ln(Pk) = -1,038557 + 1,0343552 * ln(pt) r = 0,9978 Kết luận: Sinh khối thân cây chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cây là 57%, sinh khối cành là 17%; rễ là 15%; lá là 9%

Kế tiếp là công trình điều tra rừng thông ba lá Việt Nam làm cơ sở cho tổ chức kinh doanh rừng, qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra nhận xét: hàm Gompertz

và một số hàm sinh trưởng lý thuyết khác có điểm xuất phát không phải tại gốc tọa

độ Tác giả cho rằng, đối với loài cây mọc chậm thì trong 5 đến 10 năm đầu không quan trọng, nhưng ngược lại với loài cây mọc nhanh Hàm Schumacher có ưu điểm tuyệt đối vì nó xuất phát từ gốc tọa độ, cuối cùng tác giả đề nghị dùng phương trình Schumacher để mô tả quy luật sinh trưởng cho một số đại lượng D, H, V của rừng thông ba lá tại Lâm Đồng (Nguyễn Ngọc Lung và ctv, 1999)

Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) đã tính toán sinh khối của cây thông ba lá ở Việt Nam bằng mô hình hệ thống các phương trình kinh nghiệm

dự báo khối lượng khô, dựa vào từng bộ phận cây cá lẻ thông ba lá:

Wi = b0 + b1*D1,3 + b2*Hvn + b3*D1,3*Hvn + Toàn cây: Wi = - 5,44 + 9,844*D1,3 – 9,589*Hvn + 0,02906*D1,3*Hvn + Thân cây cả vỏ: Wi = - 3,58 + 4,283*D1,3 – 5,029*Hvn + 0,02228*D1,3*Hvn

+ Lá: Wi = - 1,34 + 0,803*D1,3 + 0,356*Hvn + 0,00019*D1,3*Hvn+ Cành nhánh: Wi = 0,69 + 3,162*D1,3 – 3,415*Hvn + 0,00185*D1,3*Hvn

Mối quan hệ giữa một số nhân tố của rừng thông ba lá tại tỉnh Lâm Đồng

Trang 39

như sinh trưởng và chiều cao Hvn, Hvn theo D1,3 của loài thông ba lá tại Lâm Đồng (dẫn theo Giang Văn Thắng, 2003)

- Phạm Trọng Nhân (2003) đã nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đến tăng trưởng của thông ba lá trên cơ sở phương pháp niên đại thực vật (Dendrochronology)

và khí hậu thực vật (Dendroclimate) Khẳng định những tháng có nhiệt độ cao, nhiều nắng hoặc những tháng có mưa lớn đều có khuynh hướng làm giảm chỉ số tăng trưởng đường kính Điều đó chứng tỏ thông ba lá đòi hệ thủy nhiệt thấp

Nhìn chung ở nước ta trong những năm qua đã có những nghiên cứu về rừng trồng thông ba lá Tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu của diện tích rừng tự nhiên và về khả năng hấp thụ CO2 và C tích lũy tại tỉnh Lâm Đồng hầu như chưa được thực hiện Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề này tại khu vực trên là rất cần thiết, kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng và triển khai rộng rãi cho các đơn vị quản lý trong tỉnh và có thể áp dụng cho một số nơi có diện tích thông ba

lá tự nhiên, có điều kiện tương tự như tại khu vực Lâm Đồng Kết quả đạt được của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xác định chi phí chi trả cho các bên liên quan trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

Thảo luận chung: Tình hình nghiên cứu khả năng tích tụ carbon và hấp thụ

CO2 ở nước ta đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Tuy nhiên, tùy theo đối tượng mà có thể sử dụng những phương pháp thu thập

và xử lý số liệu khác nhau Đối với Lâm Đồng là một tỉnh có diện tích rừng thông

ba lá tự nhiên lớn nhất cả nước, đây chính là nguồn tài nguyên có khả năng tích tụ carbon và hấp thụ CO2 không nhỏ nếu biết quản lý và bảo vệ tốt Theo tác giả hiện nay việc định lượng carbon ở nước ta vẫn kế thừa các hệ số chuyển đổi có sẵn và được dùng cho tất cả các loài cây Vì vậy, hướng nghiên cứu xác định khả năng tích tụ carbon và hấp thụ CO2 cho một số loài hay nhiều loài theo hệ số chuyển đổi rừng vốn là vấn đề cần đặt ra trong nghiên cứu, bên cạnh đó tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra theo chương trình Winrock International để tính toán và định lượng được chính xác hơn Phương pháp điều tra thu thập số liệu theo phương pháp nghiên cứu của chương trình Winrock International để tính khả năng tích tụ carbon

Trang 40

mà tác giả đã sử dụng trong đề tài này là mang tính chất ứng dụng và được dùng để

so sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trước đây với mong muốn là góp phần để cho việc nghiên cứu ngày càng hoàn thiện hơn

Ngày đăng: 23/12/2017, 05:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm