Mục tiêu của đề tài là xác định ảnh hưởng giữa gốc ghép và ngọn ghép dưa hấu đến tỉ lệ sống cây ghép, tính chống chịu bệnh héo rũ và năng suất dưa hấu.. Thí nghiệm 3: so sánh năng suất,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀTÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG GIỮA GỐC GHÉP VÀ CÀNH GHÉP DƯA HẤU
(Citrullus lanatus (Thunb.) Mats & Nak.) VÀO MÙA MƯA TẠI
TỈNH TRÀ VINH
PHẠM THANH TUẤN
Hội đồng chấm luận văn
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là: Phạm Thanh Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm 1972 tại khóm 10, Thị trấn Càng Long, tỉnh Trà Vinh Con ông Phạm Văn Khoa và bà Lê Thị Hường Tốt nghiệp tú tài tại trường cấp 2-3 Càng Long, tỉnh Trà Vinh, năm 1992
Tốt nghiệp đại học ngành Trồng trọt, hệ chính quy tại Đại học cần Thơ, tỉnh Cần Thơ, năm 2001
Từ năm 2002 đến nay làm việc tại trường Cao đẳng cộng đồng Trà Vinh nay là trường Đại học Trà Vinh, chức vụ giảng viên
Tháng 9 năm 2005 theo học Cao học ngành Kỹ thuật Trồng trọt tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: Vợ là Huỳnh Kim Hường, kết hôn vào năm 2002, đã có con là: Phạm Huỳnh Kim Ngân sinh năm 2005
Địa chỉ liên lạc: Khóm 4, phường 9, TXTV, tỉnh Trà Vinh
Điện thoại: 0743855692
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Phạm Thanh Tuấn
Trang 6CẢM TẠ
- Xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu, Khoa Nông học, Quý Thầy Cô giảng dạy, Phòng sau đại học trường Đại học Nông Lâm TpHCM đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập
- Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Văn Kế đã hướng dẫn chu đáo, tận tâm giúp tác giả hoàn thành báo cáo này
- Xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám Hiệu; Các bạn động nghiệp Bộ môn Trồng trọt – Phát triển nông thôn; Khoa Nông nghiệp thủy sản Trường Đại học Trà Vinh
- Phòng Nông nghiệp Huyện Trà Cú
- Phòng Nông nghiệp Huyện Châu Thành
Đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Điều tra hiện trạng sản xuất và tìm hiểu ảnh hưởng giữa gốc ghép và
cành ghép dưa hấu (Citrullus lanatus (Thunb.) Mast & Nak.) vào mùa mưa tại tỉnh Trà
Vinh” được tiến hành tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, từ tháng 3 đến tháng 9 năm
2009 Nội dung của đề tài gồm 1 cuộc điều tra và 4 thí nghiệm ngoài đồng Mục tiêu của đề tài là xác định ảnh hưởng giữa gốc ghép và ngọn ghép dưa hấu đến tỉ lệ sống cây ghép, tính chống chịu bệnh héo rũ và năng suất dưa hấu
Kết quả điều tra cho thấy cây dưa hấu bị bệnh héo rũ cao vào mùa mưa, chi phí sản xuất cao, năng suất thấp và ít trồng dưa ghép
Bốn thí nghiệm được tiến hành vào mùa mưa
Thí nghiệm 1: nghiên cứu sự nẩy mầm và tăng trưởng của các giống làm gốc ghép
Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỉ lệ sống của dưa hấu ghép
Thí nghiệm 3: so sánh năng suất, phẩm chất và tính chống chịu của cây dưa ghép Thành Long lên các gốc ghép khác nhau
Thí nghiệm 4: so sánh sự sinh trưởng phát triển của các giống làm cành ghép khác nhau trên gốc ghép bầu B2
Thí nghiệm 1 và 2 được bố trí trong nhà lưới theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) Thí nghiệm 3 và 4 được bố trí ngoài đồng theo thể thức khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD)
Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy tỉ lệ nẩy mầm của các nghiệm thức cao Nghiệm thức 2 có sức sinh trưởng mạnh nhất
Kết quả thí nghiệm 2 cho thấy rằng ở nghiệm thức gốc dưa gang có tỉ lệ cây sống thấp nhất Các nghiệm thức còn lại không có sự khác biệt về tỉ lệ sống của cây con sau ghép
Trang 8Thí nghiệm 3, tác dụng của các gốc ghép khác nhau đến sự phát triển cây dưa hấu, trái cây và chất lượng đã được nghiên cứu bằng cách so sánh cây ghép với cây không ghép Các nghiệm thức cây ghép đã ảnh hưởng đáng kể đến phát triển của cây như chiều dài thân, đường kính thân, số chồi bên, thời gian ra hoa, thời gian thu hoạch, năng suất trái và tỉ lệ bệnh héo rũ Không có sự khác biệt giữa các loại gốc ghép về kháng bệnh héo rũ
Các tác động có hại không quyết định chất lượng trái như chỉ số độ dày vỏ và chất rắn hoà tan (Brix) ở hai nghiệm thức bầu địa phương và bầu B2 Kết quả này cho thấy việc sử dụng gốc ghép là một thay thế thuận lợi trong sản xuất dưa hấu Ghép cây trồng cải thiện tăng trưởng và năng suất mà không có bất kỳ tác hại về chất lượng trái
Thí nghiệm 4: trong nghiên cứu này, 5 giống dưa hấu khác nhau được ghép lên gốc bầu B2 Các so sánh về sức sinh trưởng và năng suất cũng như tính chống chịu bệnh héo rũ được tiến hành Kết quả cho thấy cả năm giống dưa ghép lên bầu B2 đều chống chịu tốt bệnh héo rũ và không khác biệt Nghiệm thức Thành Long ghép bầu B2 (TLGBB2) (NT5) cho năng suất cao nhất
Trang 9ABSTRACT
Title of the thesis “Studies on the production and the effects of Rootstocks and scions of water melon in the rainy season of Tra Vinh province”
The thesis included a survey and four experiments
The objective was to determine the effects of Rootstocks and scions of water melon on the survival rate, the resistant ability to Fusarium wilt disease and the yield of grafted water melon plants
The survey results showed that in the rainy season the plants infected by wilt disease were too high The costs were high, but the low yield There were only few farmers using the grafting method in Tra Vinh province Four experiments carried out
in rainy season were:
1) Study on the germination and the growth of some rootstocks
2) Effects of rootstocks on the survival rate of scions
3) Comparison the yield, the quality and the resistant ability of Thanh Long cultivar on some rootstocks
4) Comparison the growth and the development of scions on the B2 gourd rootstock
The first experiment and the second experiment were arranged by Completely Randomized Design (CRD) in the net house The third experiment and the fourth experiment were arranged by Randomized Completely Block Design (RCBD) in the field
The results of the first experiment showed that the germination rate of all treatment were high Plants of the second treatment had the highest growth
Trang 10The results of the second experiment indicated that using the melon rootstock (the third treatment) had the lowest survival rate Other treatments were non significant different from survival rate of grafted plants
The results of the third experiment revealed that all the grafted plants had the stronger growth, higher yield, but the resistant ability to Fusarium wilt disease was non significant difference
The results of the fourth experiment indicated that five scion cultivars on the B2 gourd rootstocks were resistant to wilt disease Thanh Long cultivar scion on B2 gourd rootstock gave the highest yield
Trang 11TLGBDP: Thành Long ghép bầu địa phương
TLGBRDP: Thành Long ghép bí rợ địa phương
TLGBB2: Thành Long ghép bầu B2
TMNGBB2: Thanh Mỹ Nhân ghép bầu B2
HMNNHGB B2: Hắc Mỹ Nhân Nông Hữu ghép bầu B2
HMNTNGBB2: Hắc Mỹ Nhân Trang Nông ghép bầu B2
BLGBB2: Bảo Long ghép bầu B2
Trang 12MỤC LỤC CHƯƠNG MỤC …… TRANG
Mục lục vii Danh sách các chữ viết tắt ix
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nguồn gốc phân bố, giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây dưa hấu 3
2.1.1 Nguồn gốc phân bố 3
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây dưa hấu 5
2.1.3 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và trong nước 5
Trang 132.3 Các thời kỳ sinh trưởng 7
2.3.1 Thời kỳ tăng trưởng 7
2.4 Điều kiện ngoại cảnh 7
2.4.1 Nhiệt độ 7
2.4.3 Nước 8 2.4.4 Ẩm độ 8 2.4.5 Đất và chất dinh dưỡng 9
Trang 143.1.2 Nội dung 2: Thí nghiệm 18
3.2.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất dưa hấu 18
3.2.2 Nội dung 2: Thí nghiệm ghép dưa 19
3.2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỉ lệ sống của dưa hấu
ghép 20 3.2.2.3 Thí nghiệm 3: So sánh năng suất, phẩm chất và tính chống chịu của cây dưa
ghép Thành Long trên các gốc ghép khác nhau 21
3.2.2.4 Thí nghiệm 4: So sánh sự sinh trưởng phát triển của các giống làm cành
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Điều tra hiện trạng trồng dưa hấu tại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh 27
4.1.1 Qui mô trồng dưa hấu tại các hộ điều tra 27
4.1.2 Phân bố giống dưa 27
4.1.3 Kỹ thuật trồng dưa tại địa phương 28
4.1.3.1 Mật độ và khoảng cách trồng 28
4.1.3.2 Mùa vụ 28
4.1.3.3 Kỹ thuật trồng 29
4.1.3.4 Sâu bệnh hại dưa 30
4.1.3.7 Lợi nhuận 33
4.2 Thí nghiệm ảnh hưởng giữa gốc ghép và cành ghép dưa hấu 35
4.2.1 Thí Nghiệm 1: Nghiên cứu sự nẩy mầm và tăng trưởng của các giống làm gốc
ghép 35 4.2.1.1 Tỉ lệ nẩy mầm 35
Trang 154.2.1.2 Các chỉ tiêu về tăng trưởng 35
4.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỉ lệ sống của dưa hấu
ghép 36 4.2.3 Thí nghiệm 3: So sánh năng suất, phẩm chất và tính chống chịu của cây dưa
ghép Thành Long trên các gốc ghép khác nhau 37
4.2.3.1 Các chỉ số tăng trưởng 37
4.2.3.3 Thời gian thu hoạch 38
4.2.3.4 Các chỉ số về chất lượng qủa 39
4.2.3.5 Diễn biến các sâu bệnh chính trong thời gian thí nghiệm 40
4.2.3.6 Các chỉ tiêu năng suất quả 44
4.2.4 Thí nghiệm 4: So sánh sự sinh trưởng phát triển của các giống làm cành ghép
4.2.4.1 Các chỉ tiêu tăng trưởng 45
PHỤ LỤC 53
Trang 16DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Một số yếu tố khí hậu tại Trà Vinh năm 2009 25
Bảng 4.1: Tỉ lệ diện tích canh tác dưa hấu tại các hộ điều tra (%) 27
Bảng 4.3: Kết quả điều tra về mùa vụ trồng dưa hấu 29
Bảng 4.7: Những sâu hại chính trên ruộng dưa 31
Bảng 4.8: Những bệnh hại chính trên ruộng dưa 32
Bảng 4.12: Số cây sống 36
Bảng 4.20: Các chỉ tiêu về chất lượng 47
Trang 17DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.3: Tỉ lệ số hạt nẩy mầm/số hạt quan sát ở các nghiệm thức (%) 35
Hình 4.4: Thời gian thu hoạch ở các nghiệm thức (ngày) 38
Hình 4.5: Tỉ lệ dưa bệnh thán thán thư 41 Hình 4.6: Tỉ lệ dưa bệnh nứt thân chảy nhựa 42
Hình 4.8: Tỉ lệ cây dưa bị bọ rầy dưa gây hại 43 Hình 4.9: Tỉ lệ cây dưa bị sâu ăn lá gây hại 43 Hình 4.10: Tỉ lệ cây dưa bị sâu ăn tạp gây hại 44
Trang 18Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Dưa hấu là cây hằng năm, có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau Hiện nay, dưa hấu được trồng quanh năm Quả dưa hấu được nhiều người ưa chuộng
và là loại quả không thể thiếu trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc ta
Trong những năm qua, đặc biệt ở giai đoạn 1998 đến 2000 khi hạt dưa F1 được nhiều công ty nước ngoài đưa vào Việt Nam, nhiều hộ nông dân Tiền Giang trồng giống dưa mới này cho thu nhập rất cao 70 - 80 triệu đồng/ha Hiện nay, tuy việc trồng dưa hấu không còn mang lại lợi nhuận cao như trước đây nhưng diện tích trồng dưa không ngừng được mở rộng
Trong định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm phá thế độc canh cây lúa, nhiều địa phương trong đó có Trà Vinh chọn trồng cây dưa hấu luân canh với cây lúa, màu vì thời gian từ trồng đến thu hoạch ngắn (2 tháng); giá trị kinh tế cao, thị trường khá ổn định; lợi nhuận cao
Tuy nhiên, trong quá trình trồng dưa nhiều năm qua, một số địa phương gặp phải khó khăn nhất định do trồng nhiều vụ dưa hấu trên cùng nền đất trong năm dẫn đến dịch bọ trĩ ở Gò Công gây hại nghiêm trọng đến năng suất dưa Việc trồng dưa trên cùng nền đất còn bị thiệt hại do bệnh héo rũ do nấm Fusarium gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất dưa hấu
Ở huyện Cầu Kè và một phần diện tích đất giồng cát ở huyện Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh những nơi chuyên canh trồng dưa hấu thường xuyên xuất hiện bệnh héo rũ, bệnh xuất hiện ở giai đoạn mới đậu trái, có lúc ở giai đoạn trái gần thu hoạch làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng dưa hấu
Hiện nay, trong nước phần lớn gốc ghép dưa hấu là gốc bầu, chỉ một số ít dùng gốc bí ở phòng thí nghiệm Bí, dưa gang là 2 cây cùng họ với dưa hấu có sức sinh trưởng rất mạnh Đặc biệt là dưa gang có khả năng mang đến 5 trái/dây, ít tưới
Trang 19nước và không bị héo rũ, bầu B2 được Viện Khoa học Kỹ thuật Miền Nam nhập nội
từ Viện Rau đậu châu A cũng được cho là gốc ghép tốt trên dưa hấu Tuy nhiên đến nay chưa có những nghiên cứu chi tiết về tác động qua lại giữa gốc ghép và cành ghép dưa hấu Chính vì thế, đề tài “Điều tra hiện trạng sản xuất và tìm hiểu ảnh
hưởng giữa gốc ghép và cành ghép dưa hấu (Citrullus lanatus (Thunb.) Mats &
Nak.) vào mùa mưa tại huyện Châu thành tỉnh Trà Vinh” được thực hiện
1.2 Mục tiêu - Yêu cầu của đề tài
- Xác định cành ghép tốt của các giống dưa hấu trên gốc bầu B2 để chọn tổ
hợp dưa ghép có năng suất cao,kháng bệnh và phẩm chất chấp nhận được 1.2.2 Yêu cầu
- Thu thập các số liệu điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, địa hình tỉnh Trà Vinh, so sánh các điều kiện này với yêu cầu sinh thái của cây dưa hấu
- Tìm hiểu hiện trạng kỹ thuật trồng chăm sóc cây dưa hấu tại Trà Vinh
- Xác định tỉ lệ sống và sự tăng trưởng của cây dưa hấu ghép trên các gốc
ghép
- Các đóng góp mới của đề tài:
Xác định được gốc ghép mới cho dưa hấu, đồng thời đánh giá tác động giữa gốc ghép và một số giống dưa trồng phổ biến làm cành ghép dưa hấu
1.3 Phạm vi của đề tài
Chỉ điều tra nghiên cứu ở một số huyện trọng điểm và đánh giá ảnh hưởng của các gốc ghép thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất dưa hấu ở mùa mưa Chưa có điều kiện nghiên cứu về mùa vụ khác, sâu, bệnh và các biện pháp phòng trừ, chế độ phân bón, liều lượng phân ảnh hưởng đến dưa ghép để dưa có phẩm chất ngon
Trang 20Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc phân bố, giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây dưa hấu
2.1.1 Nguồn gốc phân bố
Dưa hấu xuất xứ từ vùng nhiệt đới Trung Phi, một phần phía Bắc sa mạc Sahara Dưa hấu được người châu Âu trồng phổ biến từ thế kỷ thứ VI (Mai Thi
Phương Anh và ctv., 1996) Dưa hấu được đưa từ Ấn Độ sang Trung Quốc cách nay
2.500 năm Ngày nay nó được trồng hầu hết các nước trên thế giới (Gao Mu Giang, 1993) Theo Phạm Hồng Cúc dưa hấu có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và khô của Châu Phi và được canh tác rộng rãi trong vùng Địa Trung Hải cách nay hơn
3000 năm Nguyễn Sỹ Lâm trích dẫn tài liệu của Ito dưa hấu có nguồn gốc Nam châu Phi và được đưa vào Trung Quốc năm 1.600
Ở Việt Nam dưa hấu được trồng từ thời vua Hùng vương thứ 18, dưa hấu được xem là loại trái không thể thiếu vào ngày tết cổ truyền của nhân dân ta Các vùng trồng dưa hấu cổ truyền như Hải Hưng, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tiền Giang, Long An thường cung cấp lượng hàng lớn để tiêu dùng nội địa (Mai
Thị Phương Anh và ctv., 1996) Riêng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) trong
vài năm trở lại đây dưa hấu được trồng quanh năm Dưa hấu trồng nhiều nhất ở Tiền Giang, Long An chiếm hàng nghìn ha Nơi có truyền thống trồng dưa hấu tết, dưa xuân hè là Đồng Tháp và Cần Thơ (Trần Thị Ba, 1993)
Cây dưa hấu thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) đến năm 1963 được đặt tên
chính xác là Citrullus lanatus (Thunb.) Mast Có 4 loài Citrullus, Viz C vulgaris
Schrad bây giờ gọi là:
Citrullus lanatus (Thunb.) Mansf
Citrullus colocynthis (L.) Schrad
Citrullus ecirrhosus Cogn
Trang 21Citrullus naudinianus (Sond.) Hook
Tạ Thu Cúc (2005), trích dẫn tài liệu từ Shimotsuma đã mô tả các loài đó như sau:
- C lanatus (Thunb.) Mansf là cây hằng năm, nguồn gốc ở miền Nam Châu Phi
Loài này được cung cấp rộng rãi ở Ai Cập, miền Nam và miền Tây trung Á
Lá lớn chia thuỳ 3 - 5 cánh, đôi khi thùy đơn giản Hoa trung bình, đơn tính cùng gốc Quả từ trung bình tới lớn, vỏ quả dày, thịt quả có nhiều nước Màu sắc thịt quả
có thể là đỏ, vàng hoặc trắng
Hạt hình ovan, thuôn chữ nhật, màu sắc vỏ hạt trắng hoặc nâu
- C colocynthis (L.) Schrad là cây lưu niên, có nguồn gốc ở bắc Phi, loài này khác với C.vulgaris chủ yếu là hình thái của bộ phận trên cây
Lá nhỏ, thùy lá hẹp, lông phủ trên thân lá màu xám Hoa sinh trưởng cùng gốc, hoa nhỏ, nở vào mùa thu đồng thời sinh trưởng dinh dưỡng Hạt nhỏ, màu nâu Quả nhỏ đường kính không quá 3 in Vỏ và thịt quả mềm, xốp và đắng
C.naudinianus (Sond.) Hook và C ecirrhosus Cogn cả hai đều có nguồn gốc từ
vùng sa mạc Nam Phi và Tây Phi Đặc điểm sinh trưởng dinh dưỡng của
C.naudinianus (Sond.) Hook khác với các loài trên ở lá hình chân vịt, xẻ thùy sâu,
phủ đầy lông Tua cuống đơn giản, kéo dài hoặc mãnh mai, yếu, đầu nút uốn cong Hoa đơn tính cùng gốc, ra hoa ở năm thứ hai Quả hình elip, độ lớn trung bình, vỏ
và thịt quả xốp nhiều nước Hạt màu trắng, không nảy mầm trong điều kiện tự nhiên
Đặc điểm của C ecirrhosus Cogn giống với C naudinianus (Sond.) Hook
nhưng lá xẻ thuỳ sâu hơn, phủ lông dày, lá có gờ và uốn cong, không có tua cuốn
Ra hoa vào năm thứ hai Quả gần hình cầu, thịt quả màu trắng có vị đắng như C colocynthis (L.) Schrad
Tất cả bốn loài có thể thụ phấn chéo lẫn nhau Hạt của chúng nẩy mầm tốt, cây con F1 sinh trưởng tốt
Tất cả các loài trên có số nhiễm sắc thể 2n = 22 (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 222.1.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây dưa hấu
Theo Tạ Thu Cúc (2005), dưa hấu là loại rau ăn quả có thành phần dinh dưỡng phong phú, tuy khối lượng của mỗi chất không nhiều Trong thịt quả chín có provitamin A, vitamin C, các axit amin như: thiamin, riboflavin và niacin ngoài ra còn có các chất khoáng như: Ca, P, Fe và kali
Dưa hấu là loài thực phẩm rất được ưa chuộng trên thế giới Cách sử dụng rất phong phú và đa dạng Hầu hết các nước dùng dưa hấu như quả tươi, để tráng miệng hoặc giải khát Người Nga dùng dưa hấu để sản xuất bia, sirô Ở vùng Địa Trung Hải dưa hấu là thực phẩm cho cả người và gia súc Vùng cận nhiệt đới châu Phi, dưa hấu được xem là thực phẩm cơ bản và là nguồn thức uống Ở nước ta, dưa hấu được sử dụng rộng rãi từ Bắc tới Nam được dùng làm quả tươi giải khác là chủ yếu Có nơi người dân dùng quả non để nấu canh chua Người dân Phan Rang, Phan
Rí có tập quán trồng dưa lấy hạt (Tạ Thu Cúc, 2005)
2.1.3 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và trong nước
Sản lượng dưa hấu hàng năm trên thế giới khoảng 30 triệu tấn với diện tích khoảng 2 triệu ha Trong đó, 50% diện tích sản xuất thuộc vùng Đông Nam châu Á (Phạm Hồng Cúc) Hai nước sản xuất dưa lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ Ở Việt Nam, từ 1995 - 2003 diện tích trồng dưa hấu tăng 8,1% tương ứng với năng suất tăng 25,7% và sản lượng tăng 36,5% Còn trên thế giới thì từ
1995 - 2003 diện tích trồng dưa hấu tăng 4,2%, năng suất tăng 25,6% và sản lượng tăng 9,9% Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng về diện tích canh tác, năng suất và sản lượng dưa hấu trên thế giới cao hơn Việt Nam
2.2 Đặc điểm thực vật học
Cây thuộc dạng leo bò (thân nho), là cây hằng năm thân thảo, gần đây đã xuất hiện dạng cây bụi dùng để tạo những giống trồng trọt sinh trưởng hữu hạn Đường kín tán cây bụi khoảng 0,6 m Những giống trồng trọt có tập tính bò lan, đường kính có thể đạt tới trên 9 m (Tạ Thu Cúc, 2005)
2.1.1 Hệ rễ
Bộ rễ phát triển mạnh, rễ có khả năng ăn sâu 0,6 - 1 m nên khả năng chịu hạn tốt Rễ phụ ăn lan lên mặt đất, phân bố ở chiều sâu 20 - 30 cm cách mặt đất ở giai
Trang 23đoạn phát triển tối đa rễ phụ ăn rộng cả liếp bán kín trung bình 50 - 60 cm (Trần Thị
Ba, 1999) Theo Tạ Thu Cúc hệ rễ dưa hấu phát triển rất rộng nhưng nông bao gồm
cả rễ phụ ăn sâu vào tầng đất trên 0,6 m, có khả năng chịu khô hạn Khi rễ bị đứt (nhổ lên trồng) có thể thu được năng suất cao hơn
2.2.2 Thân, lá
Thân có dạng bụi ít khả năng leo bò, những cành đó chiếm diện tích xung quanh và ra qủa tập trung Các giống trồng trọt chủ yếu là bò lan, thân thảo hằng năm, thân có kía cạnh Ở thời kỳ đầu thân chính sinh trưởng là chủ yếu, sau khi chiều dài trên 1 m, lúc đó cành cấp 1 mới sinh trưởng và duy trùy trong thời gian tiếp theo (Tạ Thu Cúc, 2005) Theo (Trần Thị Ba, 1993) dưa hấu có thân thảo hàng niên, thân chính dài 1 - 6 cm, có nhiều mắt, mỗi mắt mang 1 lá, 1 chồi nách và 1 vòi bám có phân nhánh Nhánh có khả năng phát triển mạnh như thân chính Thân có nhiều lông tơ dài, màu trắng, lông nhiều hay ít tùy theo tuổi cây
Lá mầm lớn, hình trứng, lá thật là lá đơn, mọc xen, hình chân vịt, xẻ thùy sâu
2.2.3 Hoa
Theo Trần Thị Ba (1993), hoa dưa hấu đơn tính, đồng chu, hoa nhỏ, có kích thước 2,5 – 3 cm, nằm ở nách lá, 5 lá dài nhỏ màu xanh và 5 cánh dính màu vàng, thụ phấn được nhờ côn trùng Số lượng hoa đực và hoa cái không cân đối, thường hoa đực xuất hiện sớm, sau 3 - 5 hoa đực mới có 1 hoa cái mọc xen kẻ trên thân Hoa đực có 3 - 5 tiểu nhị, chỉ ngắn bao phấn hợp thành khối Hoa cái có vòi nhụy ngắn, nướm nhụy phân 3 thùy
2.2.4 Quả, hạt
Quả của các giống trồng trọt rất phong phú và đa dạng về khối lượng, kích
cỡ, hình dạng và màu sắc Khối lượng quả từ 1 - 2 kg đến 5 - 10 kg Hình dạng dài, trụ, gần hình cầu Màu sắc vỏ quả từ trắng đến xanh, hầu hết các giống có màu xanh nhạt, xanh đen, xanh có đường sọc, đường vằn hoăc những vết đốm Hạt dưa hấu nhỏ, vỏ dày màu hạt trắng, nâu đôi khi có vân
Trang 242.3 Các thời kỳ sinh trưởng
2.3.1 Thời kỳ tăng trưởng
Thời kỳ này được tính từ khi gieo hạt đến khi cây bắt đầu ra hoa, trong thời
kỳ này dưa bắt đầu tăng trưởng chậm, ra lóng ngắn, thân mọc thẳng, tốc độ ra lá chậm, tốc độ ra rễ cũng chậm
2.3.2 Thời kỳ ra hoa kết trái
Sau 21 ngày dưa ngã ngọn bò, lúc này tăng trưởng rất nhanh, thân chuyển sang dạng bò, vòi bám hình thành, mỗi ngày chiều dài tăng từ 7 - 10 cm ra 0,6 – 0,8
lá (Nhâm Thanh Tòng, 1997) Nhánh phụ phát triển và cây bắt đầu có hoa, cây chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực hai thời kỳ này phát triển song song nhau (Đào Mạnh Khuyến, 1986) Những hoa đầu tiên thường là hoa đực, kích thước nhỏ, hạt phấn ít Khi dưa có 15 - 16 lá, hoa đực và hoa cái tập trung trên dây chánh cũng như dây nhánh lúc này hoa có kích thước to và bầu noãn phát triển tròn đầy, thụ tinh dễ dàng cho trái sau này
2.3.3 Thời kỳ phát triển trái
Hoa sau thụ phấn phát triển thành trái rất nhanh nhất là 20 ngày đầu và sau đó chậm lại dần đến khi trái bắt đầu chín Thời kỳ này quyết định đến năng suất, lúc này dưa cần nhiều nước và chất dinh dưỡng tập trung nuôi trái (Trần Khắc Thi, 1996)
Ở giai đoạn cuối của sự phát triển là thời kỳ chín, ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất và tồn trữ trái, có sự biến đổi sinh hóa quan trọng đến phẩm chất trái, đó
là sự biến đổi đường từ dạng glucose sang fructose làm trái trở nên ngọt và sự thành lập sắc tố đỏ bên trong thịt trái, dưa càng đỏ càng ngọt (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 1995) Tùy vào vị trí mang trái trên dây mà thời gian chín khác nhau, sinh trưởng thân lá giảm nhanh lúc thu hoạch (70NSKG) thân dài 3 - 3,3 m có 41 lá đối với giống Sugar baby (Nhâm Thanh Tòng, 1997)
2.4 Điều kiện ngoại cảnh
2.4.1 Nhiệt độ
Dưa hấu là loại cây trồng ưa thích nhiệt độ cao, có khả năng chịu nóng nhưng mẫn cảm với lạnh và băng giá, yêu cầu không khí khô trong thời gian dài để sinh trưởng (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trang 25Theo Trần Thị Ba dưa hấu thích nhiệt độ cao, hạt nẩy mầm tốt ở 35 - 40 oC,
do đó cần phải ủ trước khi gieo Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của dưa là là
25 - 30 oC Vì vậy dưa phát triển tốt ở vùng ĐBSCL Nhiệt độ dưới 20 và trên 35 oC ảnh hưởng xấu đến sự ra hoa đậu trái của dưa Nhiệt độ dưới 150 C cây ngừng sinh trưởng và phát triển, tỉ lệ đậu trái thấp và trái lớn rất chậm làm ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996)
2.4.2 Ánh sáng
Cây dưa hấu ưa sánh sáng, cần nhiều ánh sáng ngay từ khi xuất hiện lá mầm cho đến khi kết thúc sinh trưởng Độ dài ngày có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây, số giờ chiếu sáng trong ngày 8 - 10 giờ sẽ làm cây ra hoa sớm hơn
và lượng hoa cái nhiều hơn Số giờ chiếu sáng tối thiểu cần thiết cho dưa hấu là 600
giờ/vụ (Phạm Hồng Cúc, 1999) Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996 nắng nhiều
cùng nhiệt độ thích hợp là hai yếu tố ngoại cảnh thích hợp làm tăng năng suất và chất lượng trái
2.4.3 Nước
Theo Trần Thị Ba dưa hấu thuộc nhóm cây chịu hạn, khả năng chịu hạn cao nhất khi cây đã ra hoa trái, rễ chính sâu trung bình 1 m và rễ ngang ăn 1 m đường kính, dưa chịu úng kém nhất là giai đoạn cây con Tuy nhiên hệ số thoát hơi nước cao, cây yêu cầu nước nhiều và hút nước mạnh nhất vào thời kỳ phát triển trái nên cần giữ ẩm đất thường xuyên, thiếu nước trong thời gian này trái nhỏ nhưng sau đó tưới nhiều hoặc mưa đột ngột dễ gây nứt trái, ảnh hưởng nghiêm trọng trên năng suất nên cung cấp nước đều đặn Theo Tạ Thu Cúc dưa hấu có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, khô nên cây có khả năng chịu hạn Nhưng do lượng thân lá lớn, quả có nhiều nước nên đất phải có sức giữ ẩm tốt, có hệ thống tưới tiêu tốt Hạt dưa hấu yêu cầu độ ẩm đất cao để nảy mầm Độ ẩm đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của dưa hấu trong phạm vi 70 – 80%
2.4.4 Ẩm độ
Khí hậu khô ráo là điều kiện tốt cho trồng dưa hấu, mặt đất khô cũng thuận lợi cho dưa sinh trưởng Mưa nhiều làm mặt đất ẩm ướt sinh ra nhiều rễ bất định trên thân và hấp thu nhiều dinh dưỡng làm dây lá sum xuê ảnh hưởng ra hoa kết
Trang 26trái Ẩm độ không khí cao, lá và trái dễ bệnh thán thư, thân cũng dễ nứt (Phạm Hồng Cúc, 2002) Mai Thị Phương Anh cho rằng hệ số thoát nước của dưa hấu lớn nên nhu cầu giữ ẩm đất cho cây thường xuyên là cần thiết nhất là ở giai đoạn đầu
2.4.5 Đất và chất dinh dưỡng
Dưa yêu cầu đất không nghiêm khắc lắm, thích đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha, tầng canh tác sâu, pH từ 5,5 - 7 là thích hợp (Trần Thị Ba, 1993) Cây dưa hấu ưa thích đất nhẹ, đất cát pha, độ pH từ 6 - 7 là rất phù hợp với dưa hấu Tuy vậy, dưa hấu có thể sinh trưởng trên đất thịt trung bình nhưng cần bón phân hữu cơ để cải tạo đất (Tạ Thu Cúc, 2005)
Theo Trần Khắc Thi (1996) và (Tạ Thị Thu Cúc, 1979), sự cân bằng 3 yếu tố đạm, lân, kali là yêu cầu quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, sản lượng và chất lượng trái dưa hấu
2.4.5.1 Đạm (N)
Là thành phần nhiều nhất trong cây sau cacbon, hydro và oxy, là tác nhân giới hạn sự tăng trưởng của cây nhiều nhất Nồng độ N trong lá non cao hơn lá già, nồng độ N trong rễ thấp hơn các bộ phận trên mặt đất N trong lá biến thiên từ 2,5 - 5% Giai đoạn tăng trưởng cây cần cung cấp nhiều N, phân N làm tăng sự phân chia
tế bào và tăng kích thước tế bào, kết quả là lá lớn hơn và trái lớn hơn, dẫn đến trái cũng chín chậm hơn Phân chuồng là nguồn đạm tuyệt vời, tăng khả năng giữ nước của đất và tăng tầng canh tác (William, 1993)
Khi thiếu hay thừa N đều dẫn đến giảm tích lũy carbohydrate, sự thành lập trái giảm, cuối cùng năng suất thấp (Công Doãn Sắt, 1995; Gao Mu Quang, 1995) cần bón thúc N khi cây bắt đầu vươn ngọn, cây nở hoa và sau khi hình thành trái (De Gues, 1984) Nhưng bón quá nhiều đạm làm tăng bệnh cháy lá đốm nhựa thân
và giảm phẩm chất dưa hấu tháp bầu ở Xã Phú Tân, huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng (Dương Văn Hưởng, 1990) Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (1995) lượng N tăng quá nhu cầu sẽ làm tăng số hoa đực trên cây và tăng tích lũy nitrat trong lá và trái Theo Bùi Huy Đáp (1957); tùy từng thời kỳ sinh trưởng mà sự cần thiết của loại và lượng phân N khác nhau Lúc cây sinh trưởng rễ, thân, lá cần sử dụng nhiều NH 4+ nhiều hơn Ngoài ra họ dưa bầu bí khi sử dụng đạm NO3- cây
Trang 27tăng trưởng tốt và khả năng chịu đựng độc tố Mn hơn dùng NH 4+ (Elamin, O.M và G.E Wilcox, 1986) Nhu cầu N thay đổi từ 65 đến 185 kg / ha tùy từng loại đất và thời gian sinh trưởng của cây (William, 1993)
từ 110 đến 180 kg/ ha tùy loại đất (William, 1993)
2.4.5.3 Kali (K)
Theo Trần Khắc Thi (1996), K có tác dụng tăng khả năng chín sớm của cây Ngoài ra, hỗn hợp kali và lân có tác dụng tốt tới chất lượng trái, tăng lượng đường trong thịt trái
Kali ở dưa hấu biến động từ 2 - 6% chất khô và hiện diện trên cây non nhiều hơn cây trưởng thành Kali di động trong cây và di chuyển từ mô lá vào trái, khi cây dưa hấu thiếu kali thì kali di chuyển từ lá già đến lá non và làm cây tăng trưởng chậm, chóp lá bị mất diệp lục tố và bị hoại tử, trái phát triển không bình thường, đồng thời gia tăng sự phát triển một số bệnh (William, 1993)
Kết quả nghiên cứu phân bón trên dưa hấu trong hai năm ở một số tỉnh ĐBSCL của Trần Thị Ba (1998) cho thấy năng suất trái cao nhất ở nghiệm thức bón
150 - 120 - 60 NPK/ ha Tạ Thu Cúc cho rằng lượng phân bón trên 1 ha như sau: đạm nguyên chất từ 90 - 120 kg, P2O5 từ 60 - 90 kg, K2O từ 90 - 120 kg
2.5 Kỹ thuật canh tác
2.5.1 Thời vụ trồng
Theo Trần Thị Ba dưa hấu thích nghi tốt với điều kiện thời tiết nên có thể mở rộng thời vụ gieo trồng quanh năm Có ba vụ dưa sau:
Trang 28Vụ sớm: gieo từ ngày 20 tháng 9 đến ngày 10 tháng10 và thu hoạch vào dịp Noel Mùa này nên trồng trên đất nhẹ thoát nước tốt
Vụ chính: Gieo hạt ngày 5 đến ngày 15 tháng 11 thu hoạch vào dịp tết Nguyên Đán Vụ này thời tiết mát mẽ khô ráo thuận lợi cho sự ra hoa, đậu trái Tuy nhiên, khi dưa ra hoa gặp tiết lập đông khó thụ phấn, cần áp dụng thụ phấn nhân tạo
để tăng tỉ lệ đậu trái
Vụ xuân hè: Gieo sau tết tùy theo từng vùng mà thời vụ gieo trồng khác nhau Chủ yếu trồng trên đất ruộng sau vụ lúa Nhờ phát triển trong điều kiện khô ráo dưa
dễ đậu trái, nếu bón đủ phân, nước và chăm sóc tốt dưa cũng to ngọt hơn vụ chính
2.5.2 Gieo hạt ương cây con
2.5.2.3 Ghép
Theo Trần Thị Ba,1993 ghép là phương pháp tốt nhất và kinh tế nhất để có thể trồng dưa hấu liên tục nhiều năm trên một nền đất mà không bị bệnh héo rũ chết
do nấm Fusarium Phương pháp này phổ biến ở các nước tiên tiến Ở nước ta, huyện
Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng đã áp dụng trong sản xuất đại trà hơn 20 năm qua
Chọn gốc ghép: Theo kinh nghiệm của trung tâm khuyến nông tỉnh Lạng Sơn hạt bầu (có thể dùng các loại bầu sao, bầu dài, bầu eo, hoặc bí ngô) gieo làm gốc ghép vì chúng sinh trưởng khỏe, phòng ngừa bệnh chết héo do nấm tốt hơn dưa hấu không ghép ( www.thangbinh.gov.vn )
Trang 29Theo Trần Thị Ba (1993), hạt bầu thường được chọn làm gốc ghép vì khả năng tăng trưởng mạnh thích nghi rộng rãi với điều kiện thời tiết, đất đai và để giống dễ dàng Lâm Ngọc Phương, Nguyễn Bảo Vệ khi nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp ghép chồi dưa hấu tam bội trên gốc cây bầu và cây bí, kết luận: Chồi dưa hấu tam bội cấy mô ghép trên gốc bầu bằng phương pháp chẽ ngọn cho tỉ lệ cây sống cao trên 90%, cây sinh trưởng bình thường có chiều cao và số lá nhiều nhất (www.vst.vista.gov.vn)
Hạt bầu ngâm trong nước ấm pha tỉ lệ 3 sôi 2 lạnh 10 - 12 giờ, gieo trong bọc nylon kích thước 8 x 12 cm, đặt nơi có nhiều ánh sáng để cây con lên đều, khỏe mạnh Khi cây bầu mọc đều, có hai lá mầm vừa nở là chuẩn bị ủ hạt dưa
Hạt dưa ngâm nước ấm 5 - 7 giờ, gieo trong nia Chọn trấu mới ngâm nước, nhồi cho hơi mềm rải trên nia chừng 2 - 3 cm, rải hạt dưa đã nẩy mầm đều lên mặt trấu, phủ lên lớp trấu dày khoảng 3 cm
Trong thời gian ủ hạt dưa ban ngày đem nia ra phơi vài giờ giúp hạt ấm, nảy mầm nhanh đều Khoảng ba ngày sau hạt dưa nẩy mầm đều đem ghép
Thời điểm ghép tốt nhất khi cây bầu có hai lá thật đầu tiên, cây dưa sắp nở hai lá mầm (www.baobariavungtau.com)
Cách ghép: Dùng dao lam sắc, cắt bỏ ngọn bầu phía trên hai lá mầm đồng thời cắt lấy ngọn dưa cách hai lá mầm khoảng 1 cm về phía dưới Dùng ghim tre vót nhọn xuyên vào ngọn cây bầu hoặc xuyên chéo sát bên lá mầm khoảng chừng 4 - 5 mm rồi cắm ngọn dưa vào đó (www.thangbinh.gov.vn)
Dùng phương pháp ghép ngọn, tưới đẩm gốc ghép trong bầu đất trước khi ghép và ngưng tưới nước 2 - 3 ngày sau khi ghép (Trần Thị Ba)
Chăm sóc cây dưa ghép: Đặt bầu cây đã ghép nơi kín gió, làm vòm che trong hai 2 -
3 ngày Tưới nhe, giữ ẩm cho ngọn dưa không bị héo Khi cây liền sẹo, đưa cây dưa
ra nắng cho đến khi có 2 - 3 lá thật thì đem trồng ra ruộng (www.thangbinh.gov.vn)
Địa điểm ghép và đặt cây con nơi không có ánh nắng, được che mát và che gió hai 2 - 3 ngày đầu, không được tưới bằng thùng vòi búp sen chỉ dùng bình phun sương 1 - 2 lần trong ngày, bắt đầu vào ngày thứ hai sau khi tháp Khi ngọn dưa thật
Trang 30sự tăng trưởng trên gốc bầu có thể đem cây ra nắng, nhử cây tháp dưới nắng nhẹ trong 20 - 30 phút ở ngày thứ tư, vài giờ ở ngày thứ 5 - 6 sau đó đem ra nắng hoàn toàn (Trần Thị Ba,1999)
Theo Lee (2003), ghép là một kỹ thuật quan trọng cho sản xuất dưa hấu và trở thành một thực tế phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Hàn Quốc và Nhật Bản và một số nước Châu Á và Châu Âu khác, nơi sản xuất bền vững được thực hiện
Cây ghép có hệ thống gốc mạnh hơn có thể tăng chịu đựng nhiệt độ thấp và tăng năng suất và giảm phân bón (Yetisir et al, 2003) Nhiều tác giả cho rằng ghép ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng suất (Yetisir et al, 2003 và Miguel et al., 2004)
Ghép không tương thích và giảm chất lượng trái có thể xuất hiện tuỳ thuộc vào sự kết hợp của ngọn ghép và gốc ghép (Lee, 1994) Theo Alan và ctv (2005), cây ghép không có bất lợi nào ảnh hưởng đến chất lượng trái Kết quả tương tự đã được báo cáo bởi Yetisir et al.(2003) và Miguel et al (2004)
Dưa hấu ghép ảnh hưởng tích cực tăng trưởng và năng suất mà không có tổn
thất chất lượng (Ozlem Alan et al, 2006)
2.6 Các đặc điểm tự nhiên của Trà Vinh
2.6.1 Vị trí địa lý
Trà Vinh là một tỉnh ven biển, nằm ở hạ lưu giữa
2 nhánh sông Tiền và sông Hậu, trong tọa độ từ
9o31’- 10o03’ vĩ độ Bắc 105o54’- 106o35’ kinh độ Đông Phía Tây Bắc giáp với tỉnh Vĩnh Long, phía Tây Nam giáp với tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Nam giáp với biển Đông và Đông Bắc giáp với tỉnh Bến Tre
Chiều dài bờ biển khoảng 65 km Địa hình mang tính đặc thù của rìa châu thổ với đồng bằng thấp, giồng cát và bưng lầy xen
kẽ Cao trình trung bình từ 0,4 - 1,2 chiếm hơn 80% diện tích Giồng cát cao từ 1,5 -
Trang 3110 m, tạo thành một dãy vòng cung hướng song song với bờ biển Các giồng cát phía Đông có cao hình cao hơn các giồng cát phân bố phía Tây
Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt và các kênh mương thủy lợi, vùng phía trong tương đối bằng phẳng, còn lại vùng ven biển có địa hình dạng sóng, các giồng cát xen kẽ có hình cánh cung
2.6.2 Đặc điểm tự nhiên
2.6.2.1 Khí hậu
Tỉnh Trà Vinh nằm trong khu vực khí hậu gió mùa với hai mùa trong năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 - 11 với lượng mưa tập trung đến 90%, mùa khô kéo dài từ tháng 12 - 4
Trà Vinh nằm trong khu vực có lượng mưa trung bình hàng năm khá thấp so với các vùng khác ở ĐBSCL, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1372 - 1678
mm
Trà Vinh có số giờ nắng trung bình là 2.629 giờ/năm Nhiệt độ không khí thấp nhất vào tháng 1 (24,9 oC) và cao nhất vào tháng tư (29,3 oC) Biên độ dao động nhiệt giữa các tháng khoảng 1 - 2 oC, lượng bức xạ mặt trời trung bình từ 80 -
90 Kcal/ cm2/ năm
2.6.2.2 Gió
Tỉnh Trà Vinh chịu ảnh hưởng chính của hai chế độ gió mùa Đông Bắc (chướng) và gió mùa Tây Nam Thời kỳ hoạt động của hai chế độ gió mùa trên trùng với thời kỳ của hai mùa khô và mùa mưa ở vùng ĐBSCL Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 11 - 4 với hai hướng gió chính: gió Đông Bắc (tháng 11 - 1) với tốc độ trung bình 3,8 – 4,5 m/s; gió Đông Nam (tháng 2 - 4) tốc độ trung bình 2,3 m/s Gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 - 10 với hướng gió chính là Tây Nam, tốc độ trung bình 3 - 4 m/s Tốc độ gió trong năm không vượt quá cấp 7, hay có dông và rất ít khi xảy ra bão
Trang 322.6.2.3 Chế độ thủy văn
Tỉnh Trà Vinh chịu ảnh hưởng của chế độ triều biển Đông và một lượng lớn nước ngọt mang ra từ sông MêKông Lưu lượng của sông MêKông tăng dần từ tháng năm, lưu lượng đỉnh trung bình là 34.000 m3/s vào tháng 9, sau đó giảm dần với lưu lượng kiệt trung bình là 2,340 m3/s vào tháng 4
Triều biển Đông chủ yếu là bán nhật triều với dao động trung bình tại các cửa sông khoảng 3,0 m Thủy triều truyền sâu vào hệ thống sông ngòi tại sông Măng Thít biên độ triều còn lại khoảng 2 – 2,25 m Với biên độ triều rất lớn là một yếu tố thuận lợi cho việc tưới tiêu tự chảy góp phần làm giảm chi phí sản xuất
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thủy triều làm nhiễm mặn một vùng từ biển vào đất liền đến tận ranh giới tỉnh Vĩnh Long (độ mặn 4o/oo), điều này làm hạn chế khả năng khai thác nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp Do vậy, mặc dù tỉnh Trà Vinh tuy có tổng lưu lượng nước ngọt khá lớn lại được bao bọc bởi hai nhánh sông: sông Tiền, sông Hậu và hệ thống kênh với 578 km sông và 1.876 km kênh cấp I, II dẫn nước vào nội đồng nhưng lại thiếu nước trầm trọng trong mùa khô Phần lớn diện tích đất của huyện Duyên Hải, Trà Cú canh tác hoàn toàn dựa vào nước trời
Ngoài nguồn nước mặt tỉnh Trà Vinh còn có thể khai thác nguồn nước ngầm cho mục đích sinh hoạt nông thôn Toàn tỉnh có 18.667 giếng khai thác nước ngầm
và 12 trạm cấp nước tập trung qui mô nhỏ phục vụ cho 65% dân cư nông thôn có nước sinh hoạt Trà Vinh có nguồn nước ngầm phân bố rộng, độ sâu phức hệ chứa nước khoảng 50 - 100 m Trữ lượng khai thác nước ngầm là 97.000 m3/ngày, chất lượng nước thỏa mãn cho nhu cầu sinh hoạt và sử dụng cho công nghiệp
2.6.2.4 Ngập úng và xâm nhập mặn
Tỉnh Trà Vinh do nằm ở hạ lưu, gần các sông lớn nên không bị ngập úng như các tỉnh khác (An Giang, Đồng Tháp ) nhưng cũng bị ngập úng cục bộ ở các tiểu vùng có cao trình mặt đất thấp 0,5 – 0,8 m kéo dài 3 - 5 tháng
Sự xâm nhập mặn vào nội đồng thông qua sông Cổ Chiên và sông Hậu Các huyện có ưu thế nước ngọt như: Cầu Kè, Càng Long Các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú bị mặn liên tục Sự truyền mặn bắt đầu từ tháng 12 ở Hưng Mỹ
Trang 33trên sông Cổ Chiên và Trà Kha trên sông Hậu Mùa mặn kết thúc sớm hay muộn tùy thuộc nước ở thượng nguồn và lượng mưa tại chỗ, thường là vào tháng 6 hàng năm Do tình hình trên đã hạn chế việc thâm canh trong sản xuất dẫn đến năng suất thấp ở các huyện phía Nam
2.6.2.5 Thổ nhưỡng
Theo số liệu của Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Trà Vinh (2000), tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Trà Vinh là 222.567 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 182.050 ha, đất lâm nghiệp chiếm 5.670 ha
Theo hệ thống phân loại đất ở Việt Nam, đất Trà Vinh được chia làm 4 nhóm với diện tích như sau:
- Đất giồng cát: 14.806 ha, chiếm 7,4% diện tích đất Là những giồng cát hình cánh cung chạy dài theo hướng song song với bờ biển, tập trung ở khu vực phía Nam, gồm các huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành Đất có địa hình cao với độ cao trung bình 1,4 - 2,0 m Đất không bị nhiễm mặn Phần lớn đất này được sử dụng làm thổ cư, trồng màu và cây lâu năm
- Đất triền giồng cát: 7.931 ha (4%), chủ yếu đất phù sa phát triển trên chân giồng cát Phân bố dọc theo những giồng cát, có địa hình hơi cao (0,8 – 1,2 m), không bị ngập nước do thủy triều Sa cấu là cát pha thịt - sét, tỉ lệ cát tăng theo chiều sâu Một số diện tích bị ngập do mưa và nhiễm mặn nước ngầm vào mùa khô Phần lớn được sử dụng canh tác chuyên màu hay lúa - màu tùy theo điều kiện từng khu vực
- Đất phù sa: 121.900 ha
+ Đất phù sa không nhiễm mặn: chiếm 24,1% diện tích đất trong nhóm Phần lớn đất của huyện Cầu Kè, Càng Long và một ít của huyện Tiểu Cần, Châu Thành, cao trình bình quân là 0,6 – 1,2 m Sa cấu chủ yếu là sét - thịt, khoảng 80% diện tích có tích tụ mùn ở tầng mặt, dinh dưỡng đất trung bình đến khá cao, độ độc thấp, không
có tầng phèn và tầng sinh phèn trong đất Đất không bị nhiễm mặn, tùy theo địa hình từng vùng và điều kiện thủy lợi mà đất bị ngập nước do mưa hoặc thủy triều ở
Trang 34các mức độ khác nhau Phần lớn diện tích được sử dụng trồng lúa, một số diện tích lên liếp trồng cây lâu năm
+ Đất phù sa ít mặn: chiếm 23,1% diện tích trong nhóm Nằm trong vòng cung mặn từ 4 - 10%, nhiễm mặn từ 2 - 5 tháng tập trung ở các huyện Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Ngang và một ít diện tích ở Cầu Kè, Châu Thành và Thị Xã Trà Vinh Cao trình phổ biến 0,6 - 1,2 m, hầu hết không bị ngập lũ Sa cấu chủ yếu là sét thịt, không có tầng phèn và tầng sinh phèn trong đất Phần lớn diện tích được sử dụng trồng lúa
+ Đất phù sa nhiễm mặn trung bình: chiếm 11% diện tích trong nhóm Nằm trong vòng cung mặn 10 - 18%, nhiễm mặn 6 - 8 tháng Tập trung ở các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải và một ít ở Châu Thành, Trà Cú Hầu hết diện tích bị ngập nước theo chế độ triều Sa cấu chủ yếu là sét - thịt không có tầng phèn và tầng sinh phèn trong đất Sử dụng canh tác rất hạn chế, chỉ trồng lúa mùa hoặc một vụ lúa kết hợp với nuôi tôm cá, một số khu vực nuôi tôm chuyên
+ Đất phù sa nhiễm mặn nhiều: chiếm 3,1% diện tích đất trong nhóm Thời gian ngập mặn trên 8 tháng đến quanh năm, tập trung ở Duyên Hải Đất bị ngập triều biển hàng ngày hay triều cường trong tháng Sa cấu chủ yếu là sét - thịt, không có tầng phèn và tầng sinh phèn trong đất Phần lớn diện tích được sử dụng nuôi trồng thủy sản, một số diện tích được trồng rừng và làm muối
- Đất phèn: 54,424 ha, chiếm 27,4% diện tích đất chia thành các loại:
- Đất phèn tiềm tàng: chiếm 77,2% diện tích đất phèn, phân bố tập trung ở các huyện Duyên Hải, Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Cầu Ngang Phèn tiềm tàng (Pyrite) xuất hiện ở các độ sâu khác nhau từ: 0 - 50 cm (6,012 ha); 50 - 80 cm (14.794 ha); 80 - 120 cm (9.270 ha); lớn hơn 120 cm (11.920 ha)
+ Đất phèn hoạt động: 12.428 ha chiếm 22,8% diện tích đất phèn, phân bố tập trung
ở các huyện: Châu Thành, Cầu Ngang, Tiểu Cần, Trà Cú Tầng phèn (Jarosite) xuất hiện ở các độ sâu khác nhau: từ 0 - 50 cm (4.829 ha); 50 - 80 cm (6.819 ha); 80 -
120 cm (766 ha); sâu hơn 120 cm (14 ha)
Nhìn chung điều kiện tự nhiên Trà Vinh thích hợp cho sự phát triển cây dưa hấu
Trang 35Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Nội dung
3.1.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất dưa hấu
3.1.2 Nội dung 2: Thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu sự nảy mầm và tăng trưởng của các giống làm gốc ghép
- Thí Nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỉ lệ sống của dưa hấu ghép
- Thí nghiệm 3: So sánh năng suất, phẩm chất và tính chống chịu của cây dưa ghép Thành Long trên các gốc ghép khác nhau
- Thí nghiệm 4: So sánh sự sinh trưởng phát triển của các giống làm cành ghép khác nhau trên gốc ghép bầu B2
3.2 Phương pháp
3.2.1 Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất dưa hấu
3.2.1.1 Địa điểm điều tra
Ruộng dưa hấu được trồng trong 40 hộ tại hai huyện Trà Cú và Châu Thành tỉnh Trà Vinh
3.2.1.2 Thời gian điều tra
Thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2009
3.2.1.3 Phương pháp điều tra
Phỏng vấn nhà vườn với số lượng 40 hộ bằng các bảng điều tra đã soạn sẵn (mẫu phỏng vấn và danh sách nông hộ được đính kèm ở phần phụ lục)
Nội dung điều tra:
- Liên hệ với cơ quan có trách nhiệm của địa phương như: Phòng nông nghiệp để thu thập thông tin về tình hình sản xuất dưa hấu
- Tổng số phiếu điều tra 40 (mỗi huyện 20 phiếu)
Trang 36- Phỏng vấn, quan sát, ghi chép và chụp ảnh tại nông hộ được điều tra
- Tìm hiểu về tình hình sản xuất, quy mô sản xuất
- Điều tra kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ thực vật
Các chỉ tiêu điều tra
- Tro trấu, phân chuồng hoai, bọc nylon
- Phân DAP, astonic
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh
- Thời gian tháng 4 năm 2009
Trang 37Tổng số cây thí nghịêm: 4 NT x 4LLL x 25 cây/ NT/ LLL = 400 cây
Phương pháp tiến hành
Hạt được ngâm trong nước ấm (2 sôi: 3 lạnh) trong 8 giờ, sau đó vớt ra rửa sạch nhớt và được ủ trong túi vải 24 giờ Ngày 2 tháng 4 cho hạt đã ủ vào bịch nylon có chất độn bầu (70% tro trấu: 30% phân chuồng hoai) Các bịch này được để trong nhà lưới bóng râm Dùng vòi sen tưới 2 lần/ngày
Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỉ lệ nảy mầm (%): Tổng số hạt nẩy mầm/ tổng số 100 hạt đem gieo của từng nghiệm thức x 100
- Chiều cao cây (cm): đo từ gốc đến ngọn hai lần Lần 1 đo ngày 9 tháng 4, lần 2 đo ngày 17 tháng 4 Mỗi nghiệm thức đo ngẫu nhiên 12 cây
- Đường kính thân: đo 1 lần 15 ngày sau khi gieo Mỗi nghiệm thức đo 12 cây
- Số lá: đếm tổng số lá trên cây hai lần Lần 1 ngày 9 tháng 4; lần 2 ngày 17
tháng 4 Mỗi nghiệm thức đếm ngẫu nhiên 12 cây
3.2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỉ lệ sống của dưa hấu ghép
Vật liệu thí nghiệm
- Gốc ghép: 4 loại gốc ghép: bầu địa phương, bí rợ địa phương, dưa gang và bầu B2
- Ngọn ghép: dưa hấu Thành Long F1 của công ty Trang Nông sản xuất
Phương tiện thí nghiệm
- Lưới che nắng và tấm nylon che tránh gió, bình phun sương
- Tro trấu, phân chuồng hoai
- Phân DAP, phân bón lá astonic
- Lưỡi lam, ghim, sổ tay, thước đo
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh
- Thời gian tháng 4 năm 2009
Trang 38
Mỗi nghiệm thức lập lại 4 lần; mỗi lần lập lại 20 cây ghép
Tổng số cây ghép: 4 NT x 4 LLL x 20 cây/ NT/ LLL = 320 cây
Phương pháp tiến hành:
Hạt gốc ghép được ươm vào túi nylon 9 cm * 12 cm vào ngày 4 tháng 4 Các túi nylon được đưa vào nhà lưới bóng râm
Ngày 10 tháng 4 ngâm ủ hạt dưa Thành Long Hạt được ngâm trong nước
ấm (2 sôi: 3 lạnh) 10 giờ, sau đó vớt rửa sạch nhớt, đem ủ 24 giờ Tro trấu sau khi ngâm rửa sạch cho vào rổ nhựa, dùng tay nén chặt lớp tro, sau đó rải đều các hạt dưa đã ủ lên mặt lớp tro; rải thêm lớp tro dày khoảng 3 cm phủ hạt dưa Dùng vải đậy rổ nhựa lại, sau đó đem rổ này để vào chỗ không có gió và nắng
Ngày 13 tháng 4 tiến hành ghép Dùng ngón tay bấm ngọn gốc ghép, sau đó dùng ghim nhọn (kích thước lớn hơn ngọn dưa) đâm xuyên thân gốc ghép ngay chỗ bấm đọt xuống gốc Dùng lưỡi lam cắt xéo ngọn dưa, cho ngọn dưa vào chỗ gốc ghép Các cây dưa sau khi ghép được đưa vào nhà lưới bóng râm, dùng mủ nylon đậy kín lại Dùng bình phun sương phun ướt cây ghép 1 giờ/lần ở ngày đầu Ngày thứ 2 phun 2 giờ/lần
Các chỉ tiêu theo dõi
- Sau 5 ngày ghép: đếm số cây sống của từng nghiệm thức/ số cây thí nghiệm
3.2.2.3 Thí nghiệm 3: So sánh năng suất, phẩm chất và tính chống chịu của cây dưa ghép Thành Long trên các gốc ghép khác nhau
Vật liệu nghiên cứu
- Ngọn ghép: dưa hấu Thành Long 522 của công ty Trang Nông sản xuất
Trang 39- Gốc ghép: bầu địa phương, bí rợ địa phương, dưa gang và bầu B2 do Viện Khoa Học kỹ thuật Miền Nam phân phối
Phương tiện thí nghiệm
- Lưới che giảm nắng và tấm nylon tránh gió
- Ruộng thí nghiệm đất thịt pha cát
- Bình phun sương
- Tro trấu, phân chuồng hoai
- Lưỡi lam, ghim, sổ tay, thước
- Phân 20 - 20 - 15, DAP, phân bón astonic
- Màng phủ nông nghiệp khổ 1 m
- Cuốc, dá, bình xịt…
- Thuốc bảo vệ thực vật
Thời gian và địa điểm thí nghiệm
- Địa điểm: Huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh
- Thời gian từ tháng 4 đến 7 năm 2009
Phương pháp thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng theo thể thức khối đầy đủ ngẫu nhiên với
4 nghịêm thức:
- NT1 dưa Thành Long không ghép (đối chứng) (TLKG)
- NT2 dưa Thành Long ghép bầu địa phương (TLGBĐP)
- NT3 dưa Thành Long ghép bí rợ địa phương (TLGBRĐP)
- NT4 dưa Thành Long ghép bầu B2 (TLGBB2)
Mỗi nghiệm thức lập lại 4 lần ruộng thí nghiệm được chia làm 16 ô, mỗi ô
Trang 40Phương pháp tiến hành
Ngày 13 tháng 4 ghép dưa
Ngày 15 tháng 4 đào liếp Mặt liếp được thiết kế rộng 1 m, cao 0,3 m Khoảng cách giữa hai liếp là 5 m Bón vôi với liều lượng 200 kg/ha Ngày 20 đậy màng phủ
Cây ghép và không ghép được trồng vào ngày 20 tháng 4 Khoảng cách giữa các cây là 0,5 m Cây đã được cung cấp lượng dinh dưỡng 150 N – 120 P2O5 – 60
K2O /ha trong suốt giai đoạn phát triển
Cây dưa được để một dây chính và một dây chèo, để 1 trái trên dây chính vị trí 14 – 18 theo khuyến cáo của Trần Thị Bé Ba
Nghiệm thức dưa Thành Long không ghép (đc) được thu hoạch vào ngày 25 tháng 6; nghiệm thức Thành Long ghép bầu địa phương được thu hoạch ngày 5 tháng 7; nghiệm thức Thành Long ghép bí rợ địa phương thu hoạch ngày 10 tháng 7; nghiệm thức Thành Long ghép bầu B2 thu hoạch ngày 5 tháng 7
Các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu về tăng trưởng
- Số lá đếm 2 lần: lần 1 đếm 30 ngày sau khi trồng, lần 2 đếm 45 ngày sau khi trồng
- Chiều dài dây: đo từ gốc tới ngọn dây chính sau khi trồng 30 ngày.Mỗi nghiệm thức đo 12 cây
- Số dây chèo: Đếm tất cả số dây chèo từ gốc đến lá thứ 6.Mỗi nghiệm thức đếm 12 cây
- Tỉ lệ bệnh héo rũ (%) = số cây bệnh / số cây quan sát x 100 Số liệu ghi nhận 3 lần 30 ngày sau khi trồng, 45 ngày sau khi trồng, 60 ngày sau khi trồng
- Thời gian ra hoa tính từ khi trồng đến phát hoa đầu tiên
- Thời gian thu quả
- Chu vi quả: Chọn ngẫu nhiên mỗi nghiệm thức 4 quả, đo tại vị trí giữa quả
- Chiều dài quả: Chọn ngẫu nhiên mỗi nghiệm thức 4 quả để đo
- Độ dày vỏ quả: Chọn ngẫu nhiên mỗi nghiệm thức 4 quả, đo tại vị trí giữa quả