Các nguồn phát thải khí nhà kính chính trong nước là năng lượng, nông nghiệp, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người ở mộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
******************
NGUYỄN XUÂN PHƯỚC
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium Willd)
TRỒNG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-oOo -
NGUYỄN XUÂN PHƯỚC
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium Willd)
TRỒNG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH,
Trang 3NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ CO 2 CỦA RỪNG
KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium Willd)
TRỒNG TẠI HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM
NGUYỄN XUÂN PHƯỚC
Hội đồng chấm luận văn:
5 Ủy viên: TS VIÊN NGỌC NAM
Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4Hiện công tác tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam
Trình trạng gia đình: Vợ Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh năm 1970, con Nguyễn Trường Phú, sinh năm 1997, con Nguyễn Xuân Phúc, sinh năm 2006 Địa chỉ liên lạc 151 Trưng Nữ Vương, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Số điện thoại: 01238990990
Email: nguyenxuanphuoctamky@yahoo.com.vn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Xuân Phước
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sỹ chính quy, tại trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Nông Lâm
Quí Thầy, Cô trong Khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm thành phố
Hồ Chí Minh
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Tiến sỹ Viên Ngọc Nam, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này Ban lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và động viên tôi hoàn thành khóa học này
Thành thật cám ơn quý thầy, cô tham gia giảng dạy khóa học Lâm nghiệp
2007 đã tận tình truyền đạt những kiến thức quí giá trong quá trình học tập
Cảm ơn cha, mẹ, các anh, chị em, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và các bạn học lớp Cao học LN 2007 đã khuyến khích, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2009
Nguyễn Xuân Phước
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài "Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng keo tai tượng (Acacia
mangium Willd) trồng tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam" được thực
hiện tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, thời gian từ tháng 04 năm 2009 đến tháng 9 năm 2009 Số liệu được thu thập trên 46 ô tiêu chuẩn ở 3 cấp tuổi cấp I, cấp II và cấp III của rừng keo tai tượng
Kết quả nghiên cứu về sinh khối tươi cây cá thể trung bình là 127,06 ± 37,89 kg/cây trong đó thân chiếm 60,79 %, cành chiếm 13,89 %, lá chiếm 14,76
%, vỏ chiếm 10,56 % Sinh khối khô cá thể trung bình là 57,17 ± 17,30
kg, trong đó thân là 61,18 %, cành là 16,85 %, lá là 11,95 % và vỏ 10,02 %
Sinh khối tươi quần thể trung bình đạt 91,26 ± 17,80 tấn/ha, trong đó thân chiếm 59,97 %, cành chiếm 14,91%, lá chiếm 14,62 %, vỏ chiếm 10,50 % Sinh khối khô của quần thể trung bình đạt 40,81 ± 7,98 tấn/ha, trong đó thân chiếm 60,36 %, cành chiếm 17,85 %, lá chiếm 11,83%, vỏ chiếm 9,96 %
Khả năng hấp thụ CO2 của cá thể keo tai tượng trung bình có đường kính khoảng 12,33 cm thì hấp thụ được 96,25 ± 21,2 kg CO2
Khả năng hấp thụ CO2 của quần thể keo tai tượng ở cấp tuổi I là 28,37 ± 3,08 tấn/ha, cấp tuổi II là 61,16 ± 8,59 tấn/ha, cấp tuổi III là 121,07 ± 13,06 tấn/ha Toàn bộ khu vực nghiên cứu diện tích 4.011,30 ha là 206.148,68 tấn
Trữ lượng hấp thụ bình quânhàng năm ở cấp tuổi I đạt 17,70 tấn/năm/ha, cấp tuổi II là 17,74 tấn/năm/ha, cấp tuổi III là 20,77 tấn/năm/ha
Ước tính giá trị bằng tiền thu nhập từ khả năng hấp thụ CO2/năm của toàn
bộ rừng keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu đạt khoảng 1.109.920 Euro, tương đương với 28,731 tỷ đồng/năm
Trang 8SUMMARY
The thesis “Study on the ability of CO2 absorbing of Acacia mangium Willd
plantation in Nui Thanh district, Quang Nam province” the forest plantation is in Nui Thanh district, Quang Nam province The data was collected from Aprill to September, 2009 Collected data is based on 46 plots at the age class of I, II and III The result of study are as followings
The average of fresh biomass of individual tree is 127,06 ± 37,89 kg/tree in which the trunk occupies 60,79 %, branch is 13,89 %, leave is 14,76 % and the bark 10,56 % The average of dry biomass of individual tree is 57,17 ± 17,30 kg/tree, in which the trunk is 61,18 %, branch is 16,85 %, leave is 11,95 % and the bark 10,02 %
The average of fresh biomass of stand is 91,26 ± 17,80 tons/ha in which the trunk occupies 59,97 %, branch is 14,91 %, leave is 14,62 % and the bark 10,50 % The average of dry biomass of is 40,81 ± 7,98 tons/ha, in which the average of dry biomass of the trunk occupies 60,36 %, branch is 17,85 %, leaves are 11,83 and the bark 9,96 %
The ability of CO2 absorbing of individual trees is 96,25 ± 21,2 kg CO2 with average diameter is 12,33 cm
Total of annual absorbing of the plantation at the age class of I obtains 28,37 ± 3,08 ton CO2, at the age class of II is 61,16 ± 8,59 ton CO2, at the age class of III is 121,07 ± 13,06 CO2 The total area of forest is 4,011.30 ha absorbs 206,148.68 tons of CO2
The annual average volume of CO2 absorbing at the age class of I is 17,70 tons CO2/ha/year, at the age level of II is 17,74 tons CO2/ha/year, at the age class III is 20,77 tons CO2/ha/year
Trang 9The value of CO2 absorbing of the forest Acacia mangium is 28,731,000,000
VND per year (1,109,920 Euro)
Trang 10MỤC LỤC
TRANG CHUẨN Y i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM TẮT v
SUMMARY vi
MỤC LỤC viii
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG xiv
DANH SÁCH CÁC HÌNH xv
Chương 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 2TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu 4
2.1.1 Ảnh hưởng của khí CO2 đến biến đổi khí hậu toàn cầu 4
2.1.2 Thị trường carbon thế giới 6
2.2 Nghiên cứu về sinh khối 10
2.2.1 Nghiên cứu về sinh khối trên thế giới 11
2.2.2 Nghiên cứu sinh khối ở Việt Nam 12
2.3 Các nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 17
2.3.1 Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 trên thế giới 17
2.3.2 Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 trong nước 20
2.4 Thảo luận về tổng quan nghiên cứu 25
Chương 3NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28
Trang 113.1 Nội dung nghiên cứu 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
3.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 29
3.2.2 Phương pháp cụ thể 30
3.2.2.1 Công tác chuẩn bị 30
3.2.2.2 Ngoại nghiệp 30
3.2.2.3 Nội nghiệp 32
3.3 Đối tượng và đặc điểm khu vực nghiên cứu 36
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 36
3.3.2 Đặc điểm cây keo tai tượng (Acacia mangium Willd) 38
Chương 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Đặc điểm các nhân tố điều tra của rừng 40
4.1.1 Tương quan giữa các nhân tố điều tra của cây cá thể 40
4.1.1.1 Tương quan giữa Hvn và D1,3 40
4.1.1.2 Tương quan giữa thể tích với D1,3 và Hvn 41
4.1.2 Các đặc trưng của quần thể rừng 42
4.2 Sinh khối 43
4.2.1 Sinh khối cây cá thể 43
4.2.1.1 Kết cấu sinh khối tươi cá thể 43
4.2.1.2 Tương quan giữa sinh khối tươi với D1,3 và Hvn 46
4.2.1.3 Kết cấu sinh khối khô cây cá thể 47
4.2.1.4 Tương quan giữa sinh khối khô với D1,3 50
4.2.1.5 Tương quan sinh khối khô và sinh khối tươi cá thể 51
4.2.2 Đánh giá khả năng vận dụng của các phương trình sinh khối 53
4.2.2.1 Kiểm tra phương trình sinh khối tươi cá thể 54
4.2.2.2 Kiểm tra phương trình sinh khối khô cá thể 54
4.2.3 Sinh khối quần thể 55
4.2.3.1 Kết cấu sinh khối tươi quần thể 56
4.2.3.2 Kết cấu sinh khối khô quần thể 57
Trang 124.3 Hấp thụ CO2 58
4.3.1 Tỷ lệ carbon tích lũy trong cây 58
4.3.1.1 Tỷ lệ carbon tích lũy trong cá thể keo tai tượng 59
4.3.1.2 Tương quan giữa lượng carbon tích lũy cá thể với D1,3 61
4.3.2 Hấp thụ CO2 của cây cá thể 63
4.3.2.1 Kết cấu hấp thụ CO2 của cá thể keo tai tượng 63
4.3.2.2 Tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 với D1,3 65
4.3.2.3 Tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 với thể tích cây 68
4.3.2.4 Bảng tra lượng CO2 hấp thụ của loài keo tai tượng 70
4.3.3 Khả năng hấp thụ CO2 của quần thể 73
4.3.3.1 Kết cấu hấp thụ CO2 của quần thể keo tai tượng 73
4.3.3.2 Hấp thụ CO2 của quần thể theo tuổi 74
4.3.3.3 Tương quan CO2 quần thể với nhân tố điều tra 77
4.3.3.4 Tổng trữ lượng hấp thụ CO2 của quần thể 79
4.4 Lượng giá khả năng hấp thụ CO2 80
Chương 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC I
Trang 13NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
a0, a1, a2, a, b Các tham số của phương trình
Cth Lượng carbon tích lũy của bộ phận thân cây
Cc Lượng carbon tích lũy của bộ phận cành cây
Cla Lượng carbon tích lũy của bộ phận lá cây
Cvo Lượng carbon tích lũy của bộ phận vỏ cây
Ct Lượng carbon tích lũy của toàn cây
CO2 Carbon Dioxide
CO2t Lượng CO2 hấp thụ của cây cá thể
CO2th Lượng CO2 hấp thụ của bộ phận thân cây cá thể
CO2ca Lượng CO2 hấp thụ của bộ phận cành cây cá thể
CO2la Lượng CO2 hấp thụ của bộ phận lá cây cá thể
CO2vo Lượng CO2 hấp thụ của bộ phận vỏ cây cá thể
CO2tqt Lượng CO2 hấp thụ của quần thể
CO2thqt Lượng CO2 hấp thụ bộ phận thân của quần thể
CO2caqt Lượng CO2 hấp thụ bộ phận cành của quần thể
CO2laqt Lượng CO2 hấp thụ bộ phận lá của quần thể
CO2voqt Lượng CO2 hấp thụ bộ phận vỏ của quần thể
CDM Clean Development Mechanism - Cơ chế phát triển sạch
D1,3 Đường kính tại vị trí 1,3 m
EU European Union - Liên minh Châu Âu
Euro Đồng tiền chung Châu Âu
EC European Commission - Ủy ban Châu Âu
GIS Geographical Information System - Hệ thống thông tin địa lý GPS Global Position System - Hệ thống định vị toàn cầu
Trang 14Hvn Chiều cao vút ngọn
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change - Ban liên chính phủ
về biến đổi khí hậu
LULUCF Land use, land use change and forestry - Sử dụng đất, thay đổi sử
dụng đất và lâm nghiệp NIRI Nissho Iwai Research Institute - Viện nghiên cứu Nissho Iwai -
Nhật Bản REDD Reduction Emissions from Deforestaion and Forest Degradion - Giảm
thiểu phát thải từ suy thoái và mất rừng
UNEP United Nations Environment Programme - Chương trình Môi trường
Liên hợp quốc
UNFCCC United Nations Frame Convention on Climate Change - Công ước
khung của Liên hợp quốc vế biến đổi khí hậu
Y Biến phụ thuộc
X Biến độc lập
Wtt Sinh khối tươi cây cá thể
Wtht Sinh khối thân tươi cây cá thể
Wcat Sinh khối cành tươi cây cá thể
Wlat Sinh khối lá tươi cây cá thể
Wvot Sinh khối vỏ tươi cây cá thể
Wtk Sinh khối khô cây cá thể
Wthk Sinh khối thân khô cây cá thể
Wcak Sinh khối cành khô cây cá thể
Wlak Sinh khối lá khô cây cá thể
Wvok Sinh khối vỏ khô cây cá thể
Wttqt Sinh khối tươi quần thể
Wthtqt Sinh khối thân tươi quần thể
Wcatqt Sinh khối cành tươi quần thể
Wlatqt Sinh khối lá tươi quần thể
Trang 15Wvotqt Sinh khối vỏ tươi quần thể
Wtkqt Sinh khối khô quần thể
Wthkqt Sinh khối thân khô quần thể
Wcakqt Sinh khối cành khô quần thể
Wlakqt Sinh khối lá khô quần thể
Wvokqt Sinh khối vỏ khô quần thể
WMO World Meteorology Organization - Tổ chức Khí tượng thế giới WWF World Wild Fund - Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 16DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng ô điều tra theo chương trình Winrock 34
Bảng 4.1: Các phương trình tương quan giữa V với D1,3 và Hvn 42
Bảng 4.2: Phương trình tương quan giữa các bộ phận sinh khối tươi với D1,3 47
Bảng 4.3: Phương trình tương quan giữa sinh khối khô với D1,3 50
Bảng 4.4: Phương trình tương quan giữa sinh khối khô và sinh khối tươi cá thể 52
Bảng 4.5: Kiểm tra sai số tương đối phương trình sinh khối tươi cá thể 54
Bảng 4.6: Kiểm tra sai số tương đối của phương trình sinh khối khô câycá thể 55
Bảng 4.7: Phương trình tương quan giữa lượng carbon tích lũy với D1,3 62
Bảng 4.8: Tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 các bộ phận cá thể với D1,3 66
Bảng 4.9: Tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 các bộ phận cá thể với D1,3 70
Bảng 4.10: Bảng tra lượng CO2 hấp thụ của loài keo tai tượng 71
Bảng 4.11: Tương quan giữa CO2 quần thể vớicác nhân tố điều tra 78
Bảng 4.12: Tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 của quần thể với M 79
Bảng 4.13: Tổng lượng CO2 hấp thụ và M của khu vực nghiên cứu 79
Bảng 4.14: Giá trị khả năng hấp thụ CO2 của rừng keo tai tượng 80
Trang 17DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1: Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 29
Hình 3.2: Bảng tính dung lượng ô điều tra theo chương trình Winrock 33
Hình 3.3: Vị trí khu vực nghiên cứu huyện Núi Thành, Quảng Nam 36
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn tương quan giữa Hvn và D1,3 41
Hình 4.2: Tỷ lệ sinh khối tươi bộ phận của cây cá thể 44
Hình 4.3: Đồ thị tương quan giữa sinh khối tươi cá thể với D1,3 47
Hình 4.4: Tỷ lệ sinh khối khô bộ phận của cây cá thể 48
Hình 4.5: So sánh tỷ lệ sinh khối khô bộ phận cá thể 49
Hình 4.6: Đồ thị tương quan giữa tổng sinh khối khô cá thể với D1,3 51
Hình 4.7: Đồ thị tương quan giữa W khô với W tươi cá thể keo tai tượng 52
Hình 4.8: Biểu đồ so sánh tỷ lệ các bộ phận giữa Wtk và Wtt cá thể 53
Hình 4.9: Kết cấu sinh khối quần thể tươi theo bộ phận cây 57
Hình 4.10: Kết cấu sinh khối quần thể khô theo bộ phận cây 57
Hình 4.11 Tỷ lệ sinh khối khô quần thể theo cấp tuổi rừng 58
Hình 4.12: Kết cấu carbon cá thể keo tai tượng 60
Hình 4.13: Tỷ lệ hàm lượng carbon với sinh khối khô bộ phận cá thể cây 61
Hình 4.14: Tương quan hàm lượng carbon tích lũy với D1,3 cá thể 63
Hình 4.15: Kết cấu khả năng hấp thụ CO2 của các bộ phận cây cá thể 64
Hình 4.16: Tương quan khả năng hấp thụ CO2 với D1,3 của cây cá thể 66
Hình 4.17: Tương quan khả năng hấp thụ CO2 các bộ phận với D1,3 67
Hình 4.18: So sánh các phương trình tương quan CO2 với D1,3 cây cá thể 68
Hình 4.19: Tương quan khả năng hấp thụ CO2 với V cây cá thể 69
Hình 4.20: Kết cấu khả năng hấp thụ CO2 quần thể keo tai tượng 73
Hình 4.21: Khả năng hấp thụ CO2 theo cấp tuổi quần thể keo tai tượng 75
Hình 4.22: Khả năng hấp thụ CO2 theo tuổi quần thể 75
Hình 4.23: Khả năng hấp thụ CO2 bộ phận theo tuổi quần thể 76
Hình 4.24: Tỷ lệ hấp thụ CO2 bộ phận theo tuổi quần thể 77
Trang 18cả các thành phần của môi trường sống như thay đổi các kiểu khí hậu, nước biển dâng cao do băng tan chảy dẫn đến nguy cơ một số vùng đất biến mất, hạn hán, lũ lụt bất thường, nguồn nước ngọt trở nên khan hiếm, suy giảm đa dạng sinh học
và gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan
Nhiều nghiên cứu đã tìm ra nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu đó là sự tăng lên của nồng độ khí nhà kính đã gây ra hiệu ứng nhà kính Các nhà nghiên cứu trên thế giới đang lo ngại rằng sự gia tăng các khí gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO2, sẽ gây nên những biến đổi bất thường của khí hậu
Các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng nồng độ khí CO2 trong khí quyển ngày càng gia tăng do các hoạt động sống của con người và tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu tiềm ẩn các nguy cơ làm biến đổi khí hậu, tác động tiêu cực đến môi trường sống của chính bản thân con người Bảo vệ phát triển rừng được cho là giải pháp tối ưu nhằm ngăn cản, hạn chế những tác động do biến đổi khí hậu gây ra mà con người có thể làm được
Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng xây dựng và phát triển các dự án giảm phát khí thải hoặc hấp thụ khí nhà kính đang triển khai nhằm chống lại quá trình biến đổi của khí hậu, điều đó cho thấy những giá trị của việc phát triển rừng bền vững là không thể thay thế được Những nghiên cứu về khả năng hấp thụ khí nhà
Trang 19kính CO2 cũng như các nghiên cứu nhằm xác định những giá trị thật sự của hệ sinh thái rừng được cộng đồng khoa học thế giới đặc biệt quan tâm
Việt Nam là một nước đang phát triển, với những định hướng đúng đắn trong việc đóng góp nhằm chống lại sự biến đổi khí hậu do hiệu ứng nhà kính đã sớm ký Nghị định thư Kyoto và triển khai hàng loạt các giải pháp nhằm phát triển rừng bền vững Trong thời gian qua giới khoa học Việt Nam đã có những nghiên cứu ban đầu nhưng hết sức quang trọng về khả năng hấp thụ khí nhà kính CO2, lượng hóa giá trị khả năng hấp thụ khí CO2, đặt cơ sở cho triển vọng tham gia thị trường carbon cũng như thực hiện chương trình REDD (Giảm thiểu khí thải thông qua hạn chế suy thoái và mất rừng), tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn còn ít so với yêu cầu thực tế hiện nay
Cây keo tai tượng (Acacia mangium Willd) tuy mới được đưa vào cơ cấu
cây trồng trong sản xuất lâm nghiệp ở nước ta, nhưng nó đã nhanh chóng khẳng định ưu thế do đạt năng suất cao và khả năng cải tạo đất vượt trội so với các cây trồng lâm nghiệp khác Tuy nhiên, những giá trị của giống cây trồng này mang lại không chỉ là các lợi ích truyền thống như đã nêu, một giá trị khác bắt đầu được ghi nhận đó là việc góp phần cải thiện khí hậu trái đất thông qua khả năng hấp thụ khí
CO2, một loại khí chiếm tỉ trọng lớn trong các khí gây nên hiệu ứng nhà kính Tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong thời gian gần đây diện tích rừng trồng keo tai tượng ngày càng tăng đó là kết quả của các Chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo Lợi ích của cây keo tai tượng đem lại được ghi nhận chủ yếu là từ việc cung cấp gỗ cho ngành công nghiệp sản xuất giấy, còn giá trị về khả năng hấp thụ CO2 của nó hầu như chưa được đề cập đến bởi các nghiên cứu
Trang 201.2 Mục tiêu nghiên cứu
sở khoa học cho việc xác định chi phí dịch vụ môi trường
Về thực tiễn mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2
của rừng keo tai tượng (Acacia mangium Willd) trồng tại huyện Núi Thành, tỉnh
CO2 ở các bộ phận thân, cành, lá và vỏ cây còn các bộ phận khác như hoa, quả, rễ cây đề tài không đề cập đến
Trang 21Chương 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu
2.1.1 Ảnh hưởng của khí CO 2 đến biến đổi khí hậu toàn cầu
Chưa bao giờ vấn đề khí hậu của trái đất lại được quan tâm nhiều như hiện nay Các nhà khoa học về môi trường đã chứng minh rằng: Hàm lượng khí CO2
trong bầu khí quyển đang cao hơn bất cứ thời kỳ nào trong suốt hơn 600 năm qua Khí CO2 phát sinh trong quá trình đốt cháy các nhiên liệu như than, dầu mỏ, khí đốt đã làm gia tăng nhiệt độ trái đất Đây chính là nguyên nhân làm cho một số lượng lớn băng ở Bắc cực tan nhanh, làm cho mực nước biển của các đại dương nâng cao hơn, một số vùng đất ven biển có nguy cơ chìm xuống Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu không chỉ như vậy mà tác động của nó còn lớn hơn, rộng hơn và một điều nguy hại hơn là có những tác động tiêu cực đến môi trường sống mà con người chưa thể biết đến
Theo báo Thiên nhiên (2009), Ủy ban liên chính phủ thuộc liên hiệp quốc cảnh báo trình trạng trái đất nóng lên là rất rõ ràng và các nước nghèo sẽ chịu ảnh hưởng trước tiên, báo cáo nhấn mạnh:
- Các hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây nên tình trạng thay đổi khí hậu;
- Đến năm 2100, nhiệt độ trung bình trên trái đất có thể tăng từ 1,10C - 6,40C so với mức của giai đoạn 1980 - 1990;
- Mực nước biển sẽ tăng 18 cm - 59 cm;
- Trong khoảng 11 đến 12 năm qua là những năm nóng nhất kể từ năm 1850;
- Khí thải gây hiệu ứng nhà kính tăng 70 % từ năm 1970 - 2004;
Trang 22- Thay đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới những nước nghèo trước, nhưng có thể cảm nhận ở khắp mọi nơi;
- Ngay cả khi lượng khí CO2 trong khí quyển được duy trì ở mức hiện nay, mực nước biển sẽ tiếp tục tăng khoảng 0,4 m - 1,4 m, vì nước biển đang ấm lên và lan rộng Báo cáo cũng đưa ra nhiều giải pháp để thế giới tránh rơi vào trình trạng tồi tệ nhất do khí hậu thay đổi, như chuyển sang dùng năng lượng hạt nhân hay điện sản xuất từ khí, dùng các thiết bị tiêu tốn điện ít hơn Báo cáo cũng dự báo nếu thực hiện các giải pháp này, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ giảm bình quân 0,12 % mỗi năm cho đến năm 2050
Thực ra việc nghiên cứu tác động của các khí gây hiệu ứng nhà kính mà trong đó chủ yếu là khí CO2 đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Kết quả nghiên cứu của đài thiên văn Mauna Loa, Hoa kỳ cho thấy hàm lượng CO2 khí quyển năm 1958 là 315 ppm Đến năm 1989 việc phân tích đã cho thấy hàm lượng CO2 đã tăng lên 350 ppm và đến năm 1990 là 354 ppm Như vậy, trong thời gian từ năm 1958 đến nay, hàm lượng CO2 trong khí quyển đã tăng lên
25 % Việc xác định loại khí này trong băng của các cực trái đất cho thấy từ 150 thiên niên kỷ nay chưa bao giờ hàm lượng khí CO2 trong khí quyển lại tăng nhanh đến như vây Hiện nay hàm lượng CO2 tăng mỗi năm khoảng 1,4 ppm Người ta tính đến năm 2030, lượng CO2 trong khí quyển trái đất lên đến 600 ppm gấp đôi hàm lượng CO2 có trong khí quyển ở thế kỷ 19 (dẫn theo Phạm Tuấn Anh, 2007)
Những kết quả nghiên cứu của World Ressousces Institute (1991) cho thấy:
Từ năm 1860 đến năm 1949 các hoạt động sống của con người đã thải vào bầu khí quyển trái đất khoảng 51 tỉ tấn carbon dưới dạng dioxit carbon thông qua việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch Sau đó lượng khí CO2 thải vào khí quyển trái đất gia tăng và đạt khoảng 130 tỷ tấn từ năm 1950 đến 1987 Nếu cộng thêm vào đó khối lượng CO2 phát ra do việc đốt phá rừng từ năm 1860 thì đến năm 1987 khối lượng carbon thải vào khí quyển đạt đến con số là 241 tỷ tấn chỉ trong vòng hơn 1 thế kỷ (dẫn theo Phạm Tuấn Anh, , 2007)
Trang 23Theo ước tính của IPCC (2000), CO2 chiếm tới 60% nguyên nhân của
sự nóng lên toàn cầu, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng 28% từ 288 ppm lên
366 ppm trong giai đoạn 1850 - 1998
Trên phạm vi toàn cầu, rừng tích lũy khoảng 1.146 tỉ tấn carbon Trong đó phân ra rừng ở vĩ độ thấp (nhiệt đới và á nhiệt đới) là 37 %, rừng ở các vĩ độ cao là
49 %, còn lại 14 % thuộc về rừng ở vĩ độ trung bình (Nguyễn Văn Thêm, 2001)
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, làn sóng công nghiệp hóa chỉ đang ở giai đoạn mới bắt đầu, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do các hoạt động sản xuất so với các nước phát triển ở mức thấp
Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung (2006), được sự tài trợ của các chính phủ và tổ chức quốc tế trên thế giới, Việt Nam đã thực hiện một số nghiên cứu và hoạt động liên quan về các vấn đề biến đổi khí hậu và CDM Kết quả kiểm kê khí nhà kính quốc gia đã được công bố năm 1994 Theo kết quả kiểm kê cho thấy, tổng phát thải nhà kính ở Việt Nam năm 1994 là 103,80 triệu tấn CO2 tương đương Do đó, phát thải nhà kính tính theo đầu người của Việt Nam là vào khoảng 1,4 tấn CO2 tương đương Các nguồn phát thải khí nhà kính chính trong nước là năng lượng, nông nghiệp, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp
Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người ở một
số thành phố lớn đã làm cho môi trường ô nhiễm, nạn phá rừng bừa bãi để lấy gỗ, lấy đất để ở, để sản xuất nông nghiệp làm cho diện tích rừng ngày càng suy giảm làm ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp thụ CO2 cho môi trường toàn cầu Những nghiên cứu trên thế giới về khí thải làm cho trái đất ấm dần lên, khí hậu có những biến đổi tác động đến đời sống con người, cho ta những định hướng quang trọng trong chiến lược phát triển rừng bền vững
2.1.2 Thị trường carbon thế giới
Thị trường carbon được cho là thị trường của môi trường bởi đó là thị trường mua bán các chất khí gây ra hiệu ứng nhà kính, vốn là các loại khí gây hại cho môi trường sống của con người Cùng với sự ra đời của Công ước khung của Liên hợp
Trang 24quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu tại Rio de Janeiro năm 1992, thị trường carbon cũng được hình thành và đi vào hoạt động theo cơ chế Mua bán phát thải, một trong
3 cơ chế đồng thực hiện được xác định trong điều 6 của Nghị định thư Kyoto
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu đặt ra trách nhiệm trong việc chống biến đổi khí hậu và những tác hại của biến đổi khí hậu cho các nước phát triển bởi vì những nước này là nguồn phát thải khí nhà kính chủ yếu chủ yếu Những nước này có trách nhiệm phải cắt giảm phần lớn lượng khí thải cần phải giảm và trả tiền cho những hoạt động làm giảm hoặc hấp thụ khí nhà kính ở những nước khác Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong quá trình vận hành thị trường carbon là chi phí giảm phát thải hoặc thu hồi khí nhà kính rất khác nhau giữa các nước trên thế giới, cho nên việc nghiên cứu để cung cấp cho thị trường carbon thế giới giá trị chi phí giảm phát thải là cần thiết
Vũ Thị Thu Huyền (2009) tổ chức Hòa Bình Xanh cho rằng nếu muốn tránh được những hậu quả tồi tệ nhất của sự nóng lên toàn cầu, thế giới buộc phải giới hạn mức tăng nhiệt độ ở dưới 2oC Mục tiêu này phụ thuộc vào việc thiết lập một mức giá carbon ổn định mà nhờ đó có thể phát triển các công nghệ năng lượng tái tạo trên toàn cầu Theo báo cáo, việc tín dụng cacbon mất giá có thể là kết quả của việc gộp tín dụng rừng vào thị trường, gây suy giảm các khoản đầu tư Sáng kiến Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng ở các nước đang phát triển (REDD) là một phần quan trọng trong chương trình nghị sự cho Hiệp định Khung
về Biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc sẽ diễn ra tại Copenhagen vào tháng 12 năm 2009 REDD thu hút nhiều quan tâm bởi nó là một giải pháp giảm khí nhà kính mang lại hiệu quả kinh tế cao mà vẫn bảo tồn được sự đa dạng sinh học và quyền lợi của người dân bản địa vốn sống dựa vào rừng.Việc đưa các tín dụng rừng vào thị trường cacbon có thể làm giảm giá chứng chỉ carbon xuống tới 75% theo mục tiêu giảm nhiệt độ nóng lên của trái đất hiện nay và giảm xuống tới 70% theo mục tiêu kìm hãm tăng nhiệt độ ở mức 2oC (tới năm 2020 cắt giảm 40% khí thải so với mức phát thải năm 1990)
Trang 25Theo Nguyễn Đức Hiệp (2009), sau năm 2012, khi nghị định thư Kyoto chấm dứt và nếu hiệp ước mới ở Copenhagen chấp nhận tín dụng carbon từ sự giữ rừng và suy thoái rừng, Úc chắc chắn sẽ chấp nhận tín dụng này vào thị trường CDM, mà ở Úc gọi là “Chương trình giảm ô nhiểm Carbon” Hiện nay các nước đang thảo luận và thương lượng giới hạn lượng khí CO2 thải ra Sau khi đã được xác nhận là cơ chế giảm phá rừng và suy thoái rừng (REDD) là quan trọng và khả thi để thực hiện giảm khí nhà nóng ở hội nghị BaLi năm 2007 thì hội nghị vừa qua tháng 11, 2008 ở Poznan (Ba Lan) thảo luận về phương pháp và cơ chế xác minh carbon từ tín dụng qua REDD Ngân Hàng Thế giới hiện nay đang đi trước tiên bằng sự thiết lập một thị trường mới mua bán tín dụng REDD Ngân hàng đặt mua các tín dụng trước với các tổ chức để các cơ sở này tham gia khởi động thị trường tín dụng REDD Một số các công ty đã bắt đầu khai triển các dự án để tham gia vào thị trường này Ngân hàng thương mại McQuarie Bank (Úc) hợp tác đầu tư cùng với tổ chức phi chính phủ Flora and Fauna International (FFI) thiết lập 4 đề
án thử nghiệm ở Đông Nam Á, Nam Mỹ và Phi châu trong 4 năm tới
Theo Vũ Thị Thu Huyền (2009), giữa các lựa chọn tài chính, việc gộp trực tiếp chứng chỉ rừng vào thị truờng carbon tạo ra nhiều rủi ro cho cả khí hậu và rừng Tín dụng REDD có thể làm giá carbon sụt giảm và dao động mạnh dẫn đến giảm đầu tư vào công nghệ tái tạo và công nghệ sạch vốn rất cần thiết để giới hạn mức tăng nhiệt độ dưới 2oC Vì vậy, thị trường carbon phải đưa ra một mức giá ổn định để tạo cơ hội phát triển năng lượng tái tạo và công nghệ sạch, theo đó nên tiếp tục chú ý nhiều tới việc giảm phát thải từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch Một
cơ chế tách bạch giữa tín dụng rừng và tín dụng carbon là cần thiết để giải quyết các khó khăn và nguy cơ liên quan tới REDD
Theo báo Công nghiệp và Môi trường (2009), ở Việt Nam, cùng với Chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện REDD hy vọng sẽ tạo nguồn tài chính mới, bền vững là động lực mạnh mẽ khuyến khích người dân và mọi thành phần
Trang 26kinh tế tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi
Tại Quyết định 158/2008/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ cần phải huy động các nguồn lực để thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó sự tài trợ của cộng đồng quốc tế là hết sức quan trọng Hấp thụ carbon được coi là một dịch vụ môi trường do rừng đem lại, do vậy thực hiện REDD sẽ góp phần hoàn thiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Theo báo Công nghiệp và Môi trường (2009), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn thống kê đến tháng 12 năm 2007, diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam là 10,28 triệu hécta (tương đương với 31% tổng diện tích tự nhiên) Mặc dù trong những năm vừa qua độ che phủ của rừng có tăng (từ 28% năm 1993 lên 38,7% năm 2008), tình trạng mất rừng và suy thoái rừng vẫn tiếp diễn, đặc biệt
là ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Rừng nước ta có tính đa dạng sinh học cao, là nơi hội tụ của các luồng động, thực vật từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Như vậy, xét theo 3 tiêu chí của Quỹ Đối tác carbon trong lâm nghiệp (FCPF) diện tích rừng tự nhiên hiện có, đa dạng sinh học và diễn biến tài nguyên rừng thì Việt Nam đủ tiêu chuẩn được lựa chọn là nước thí điểm tham gia thực hiện REDD
Theo báo Công nghiệp và Môi trường (2009) tháng 07/2008, bản đề xuất này đã được FCPF phê duyệt và Việt Nam đã chính thức trở thành 1 trong 14 nước đầu tiên tham gia FCPF Theo đó, Việt Nam sẽ được tài trợ 200.000 USD để xây dựng văn kiện đề xuất chi tiết (R-Plan) Nếu R-Plan được thông qua, Việt Nam sẽ được nhận khoản tài trợ khoảng 2 triệu USD để thực hiện thí điểm REDD
Các nghiên cứu khoa học đưa ra nhiều phương pháp để xác định giá trị bằng tiền cho lượng carbon giảm xuống nhờ các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng Tuy nhiên giá trị đó có được chấp nhận tại thị trường hay không còn tùy thuộc vào quan điểm của các nước, khu vực và các ngành sản xuất trên thế giới,
Trang 27xu hướng hiện nay là tạo ra một cơ chế linh hoạt để có thể đưa ra giá cả phù hợp với thị trường và vẫn mang lại hiệu quả môi trường
2.2 Nghiên cứu về sinh khối
Nghiên cứu sinh khối thực vật nói chung, sinh khối rừng nói riêng đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm Trong bối cảnh hiện nay khi loài người đang lo ngại lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ngày một tăng cao, dẫn đến khí hậu trái đất thay đổi và bảo vệ và phát triển rừng được coi là giải pháp có hiệu quả để hạn chế tiến trình biến đổi khí hậu toàn cầu, thì việc nghiên cứu về sinh khối cũng như nghiên cứu về khả năng hấp thụ khí CO2 càng trở nên cấp thiết hơn cả
Sinh khối là tổng lượng vật chất mà cây đã tích lũy được trong quá trình sinh trưởng và phát triển, là chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng và sản lượng của rừng.Trong thời gian gần đây, các phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình
dự báo sinh khối cây rừng thông qua các mối quan hệ giữa sinh khối cây với các nhân tố điều tra dễ đo đếm trở nên phổ biến hơn, giúp cho việc dự đoán sinh khối nhanh chóng và tiết kiệm hơn
Ở Việt Nam, từ lâu sinh khối rừng được xem như một chỉ tiêu để đánh giá sức sản xuất của rừng và là một chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh học của rừng Hiện nay, khi rừng không còn được biết đến như là nguồn tài nguyên chỉ chuyên cung cấp gỗ, thì chỉ tiêu sinh khối được quan tâm hơn bao giờ hết
Theo Viên Ngọc Nam (2003), sinh khối bao gồm tổng trọng lượng thân, cành, lá, hoa, quả, rễ trên và dưới mặt đất Việc nghiên cứu sinh khối cây rừng có
ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá, quản lý và sử dụng rừng ngập mặn
Quá trình quang hợp của thực vật là một hoạt động không thể thiếu trong chu trình carbon, là cơ sở của sự sống trên trái đất Thực vật qua quá trình quang hợp đã hấp thụ một lượng CO2 và trả lại môi trường một lượng khí O2 tương ứng, đồng thời tích lũy cho thực vật một lượng sinh khối nhất định
Hiện nay hầu hết các nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 đều sử dụng lượng tích lũy carbon trong thực vật để dự đoán khả năng hấp thụ CO2 cho thực
Trang 28vật Vì vậy, nghiên cứu về carbon tích lũy trong rừng cũng chính là nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2
2.2.1 Nghiên cứu về sinh khối trên thế giới
Christensen (1997) nghiên cứu sinh khối của rừng đước ở rừng ngập mặn đảo Phuket trên bờ biển Tây, Thái Lan cho rằng đã xác định được tổng lượng sinh khối trên mặt đất ở rừng 15 tuổi là 159 tấn sinh khối khô trên một ha Lượng tăng trưởng hàng năm tính cho toàn bộ thân, cành, lá và rễ khoảng 20 tấn/ha/năm Tổng năng suất sinh khối khô là 27 tấn/ha/năm Nghiên cứu cũng đã
so sánh lượng vật rụng của rừng ngập mặn và rừng mưa nhiệt đới thì thấy lượng vật rụng hàng năm của rừng ngập mặn cao hơn so với rừng mưa nhiệt đới do rừng ngập mặn nhỏ tuổi hơn và sinh trưởng nhanh hơn
Akira và ctv (2000), qua nghiên cứu sinh khối và kích thước rễ dưới mặt đất
của dà vôi (Ceriops tagal) ở Nam Thái Lan kết quả cho thấy: Tổng sinh khối là 137,5
tấn/ha và tỉ lệ sinh khối trên mặt đất và rễ là 1,05 Trong đó sinh khối thân được 53,35 tấn/ha, lá được 13,29, rễ được 1,99 tấn/ha và dưới mặt đất là 87,51 tấn/ha
Theo McKenzie và ctv (2001) công trình nghiên cứu tương đối toàn diện
và có hệ thống về lượng carbon tích lũy của rừng được thực hiện bởi McKenzie (2001) và Ilic (2000), carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện qua xác định sinh khối rừng
Trong công trình nghiên cứu “Đơn giản hóa phương trình tương quan sinh khối rừng”, Zianis và ctv (2003) đã đơn giản hóa phương trình tương quan xác định sinh khối rừng, từ hàm mũ W = a.Db sang dạng hàm logarit 2 chiều lnW = lna + b.lnD
Magcale - Macandong và ctv (2006) đã sử dụng những số liệu công bố về đường kính của những cây tiêu chuẩn ở rừng thứ sinh và rừng trồng hai loài cây
Swietenia macrophylla và Dipterocarpus sp để ước lượng sinh khối trên mặt đất
bằng phương trình hồi quy Mối quan hệ của các yếu tố về thời tiết (các biến độc
Trang 29lập) và sinh khối trên mặt đất (biến phụ thuộc) được xác định thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến.Phương pháp mà Magcale - Macandong sử dụng là xây dựng mô hình dựa trên hệ thống thông tin địa lý (GIS) để dự đoán sinh khối trên
mặt đất của rừng thứ sinh ở Philippin Kết quả phương trình dùng để dự đoán sinh
khối tiềm năng trên mặt đất của rừng thứ sinh ở Philippin, từ đó hình thành bản đồ ước lượng sinh khối trên mặt đất Nghiên cứu này đã chứng tỏ vai trò ngày càng quang trọng của GIS trong việc đánh giá sinh khối rừng ở các địa phương và điều kiện môi trường khác nhau, mở ra những triển vọng tiện lợi cho các nghiên cứu về sinh khối Tuy nhiên để thực hiện được phương pháp này hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, một trong những tồn tại là phương pháp này yêu cầu cần phải có các phương tiện kỹ thuật cao
Nghiên cứu vai trò của rừng ngập mặn trong hấp thụ các bon ở tỉnh Trat, Thái Lan với phương pháp phân tích hàm lượng các bon chứa trong sinh khối khô của cây Wanthongchai và Piriyayota (2006) đưa ra kết luận cho thấy lượng carbon
trung bình chứa trong ba loài nghiên cứu (Rhizophora mucronata, R apiculata, B
cylindrica) chiếm 47,77 % trọng lượng khô và ở rừng nhiều tuổi thì hấp thu lượng
carbon nhiều hơn rừng ít tuổi Lượng carbon cao nhất là loài R apiculata 11 tuổi với 74,75 tấn/ha, Rhizophora mucronata với 65,50 tấn/ha trong khi cũng tuổi đó B
cylindrica chỉ có 1,47 tấn/ha bởi vì hai loài trên sinh trưởng tốt hơn
Trong một nghiên cứu về môi trường Chu Hiểu Phương (1999), Trung Quốc xác định toàn cầu có thể đạt 88 - 164 tỉ tấn sinh khối khô hàng năm, trong
đó lục địa chiếm 2/3, so sánh trong các hệ sinh thái dù tính theo sản lượng hay năng lượng thì rừng vẫn chiếm tỉ lệ lớn nhất
2.2.2 Nghiên cứu sinh khối ở Việt Nam
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sinh khối và nghiên cứu về tích lũy carbon, khả năng hấp thụ CO2 của rừng đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu Mặc dù chưa nhiều, nhưng những kết quả của các tác giả cũng đã có những đóng góp quang trọng cho khoa học ở lĩnh vực này
Trang 30Lê Hồng Phúc (1997) đã có công trình “Đánh giá sinh trưởng tăng trưởng,
sinh khối và năng suất rừng trồng thông ba lá (Pinus keysia) ở vùng Đà Lạt,
Lâm Đồng” Tác giả đã kết luận rằng mật độ rừng trồng ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất của rừng
Viên Ngọc Nam (1998) t r o n g c ô n g t rì n h nghiên cứu sinh khối và
năng suất sơ cấp rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng ở Cần Giờ, thành phố
Hồ Chí Minh đã cho rằng sinh khối rừng đước có lượng tăng sinh khối từ 5,93
- 12,44 tấn/ha/năm, trong đó tuổi 4 có lượng tăng sinh khối thấp nhất và cao nhất
ở tuổi 12; lượng tăng đường kính 0,46 – 0,81 cm/năm, trữ lượng thảm mục tích lũy trên sàn rừng 3,4 - 12,46 tấn/ha
Vũ Văn Thông (1998) đã nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá lẻ
và lâm phần keo lá tràm tại tỉnh Thái Nguyên Tác giả cũng đã thiết lập được một số mô hình dự đoán sinh khối cây cá lẻ bằng phương pháp sử dụng cây mẫu Theo nghiên cứu dạng hàm W = a + bD1.3 và LnW = a + bLnD1.3 mô tả tốt mối quan hệ giữa sinh khối các bộ phận với chỉ tiêu sinh trưởng đường kính Tuy nhiên, đề tài này cũng mới dừng lại ở việc nghiên cứu sinh khối các bộ phận trên mặt đất, chưa tiến hành nghiên cứu sinh khối rễ và lượng vật rơi
Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) đã tính toán sinh khối của cây thông 3 lá ở Việt Nam bằng mô hình hệ thống các phương trình kinh nghiệm
dự báo khối lượng khô, dựa vào từng bộ phận từng cây thông 3 lá:
Wi = b0 + b1 * D1,3 + b2 * Hvn + b3 * D1,3 * Hvn
+ Toàn cây: Wi = -5,44 + 9,844 * D1,3 – 9,589 * Hvn + 0,02906 * D1,3 * Hvn
+ Thân cây cả vỏ: Wi = -3,58 + 4,283 * D1,3 – 5,029 * Hvn + 0,02228 * D1,3 * Hvn+ Lá: Wi = -1,34 + 0,803 * D1,3 + 0,356 * Hvn + 0,00019 * D1,3 * Hvn
+ Cành nhánh: Wi = 0,69 + 3,162 * D1,3 – 3,415 * Hvn + 0,00185 * D1,3 * Hvn
Viên Ngọc Nam (2003) trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu sinh
khối và năng suất sơ cấp quần thể mấm trắng (Avicennia alba BL) tự nhiên tại
Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh” đã xác định được tổng sinh khối, lượng tăng trưởng sinh khối, năng suất vật rụng cũng như năng suất thuần của quần thể mấm trắng
Trang 31trồng tại Cần Giờ Tác giả cho rằng để xác định sinh khối cây rừng, các nghiên cứu về sinh khối thường dùng phương trình hồi quy tương quan giữa đường kính hoặc chu vi thân cây ở vị trí 1,3 m với tổng sinh khối hay sinh khối bộ phận của cây Nghiên cứu đã mô tả mối tương quan giữa sinh khối các bộ phận với đường kính của cây bằng dạng phương trình logW = a + blogD1,3 và đã tìm ra phương trình tương quan giữa sinh khối và các nhân tố điều tra cho loài mắm trắng là: logPttsk = -0,632085 + 2,40562*D1,3 với hệ số xác định R2 = 99,10 % Theo tác giả, sinh khối tươi thân trong quần thể mắm trắng trung bình là 70,64 % biến động từ 69,16 % - 73,64 %, cành chiếm 15,04 % - 22,92 % và lá chếm 7,92 % - 11,33 % Tỉ lệ sinh khối tươi trung bình của thân và cành chiếm 91,1 % trong quần thể, tỉ lệ sinh khối của lá giảm dần theo tuổi, ngược lại sinh khối thân + cành và cành tăng dần theo tuổi Sinh khối khô trung bình của quần thể mắm trắng là 118,29 tấn/ha dao động từ 79,21 - 137,18 tấn/ha
Theo Nguyễn Văn Dũng (2005), rừng trồng thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi
có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 321,7 - 495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và trong vật rơi rụng) là 251,1 - 433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là 132,2 - 223,4 tấn/ha
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon thảm tươi và cây bụi tại các vùng đất không có rừng ở các huyện Cao Phong và Đông Bắc và Hà Trung, Thạch Thành và Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa Khi nghiên cứu về năm dạng
cỏ (cỏ chỉ và cỏ lông lợn, cỏ lá tre, cỏ tranh, lau lách, tế guột) và hai dạng cây bụi (cây bụi cao dưới 2 m và cây bụi cao từ 2 đến 3 m) tại các vùng đất không có rừng tác giả thấy rằng sinh khối tươi của chúng biến động rất khác nhau Lau lách có sinh khối tươi cao nhất khoảng 104 tấn/ha, kế đến là trảng cây bụi cao 2 – 3 m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha Trảng cây bụi cao dưới 2 m và tế guột có sinh khối khá gần nhau, khoảng 44 – 45 tấn/ha Các loại cỏ lá tre, cỏ tranh và cỏ chỉ có sinh khối khoảng 22 – 31 tấn/ha Theo tác giả, sinh khối của từng bộ phận cũng rất khác nhau, tập trung chủ yếu vào thân, cành và rễ Sinh khối trên mặt đất chiếm tỷ
Trang 32lệ đáng kể so với tổng sinh khối của chúng Trong các đối tượng nghiên cứu thì lau lách có sinh khối khô cao nhất, khoảng 40 tấn/ha và thấp nhất là cỏ chỉ và cỏ lông lợn khoảng 8 tấn/ha Sinh khối khô rễ chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng sinh khối khô của chúng, đạt 30 – 60 % với hầu hết các dạng thảm tươi cây bụi nghiên cứu, riêng cỏ lá tre chỉ đạt khoảng 10 % Xét tổng thể, hàm lượng nước trong sinh khối thảm tươi và cây bụi chiếm tỷ trọng khá lớn khoảng 54 – 67 %
Võ Thị Bích Liễu (2007) Nghiên cứu sinh khối sinh khối quần thể Dà vôi
(Ceriops tagal C B Rob) trồng tại Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần
Giờ cũng đã sử dụng dạng phương trình logW = a0 + a1 log D1.3 để lập bảng tra sinh khối cây cá thể tươi và khô Phương trình sinh khối tươi và cây cá thể của dà vôi thể hiện như sau:
Tổng tươi: logWtt = 0,471735 + 0,1508.D1,3
Tổng khô: logWtk = 0,194309 + 0,152893.D1,3
Ngoài ra tác giả cũng xây dựng phương trình tính sinh khối của quần thể dà quánh thông qua phương trình sau:
logWtkqt = 2,85641 + 1,07695.logHvn - 0,332975.logN
Wtkqt : Tổng sinh khối khô của quần thể
Nguyễn Thị Hà (2007) nghiên cứu sinh khối loài keo lai (Acacia
auriculiformis X A mangium) tuổi 3, 5 và 7 tại Tp Hồ Chí Minh đã chia cây
thành 5 phần có chiều dài bằng nhau, để riêng các bộ phận thân, cành và lá để xác định sinh khối tươi và lấy mẫu Kết quả cho thấy sinh khối tươi cây cá thể biến động từ 5,8 – 445,0 kg/cây, trong đó thân chiếm 79,6 %, cành 12,2 % và lá 8,2 % Sinh kgối khô cây cá thể đạt 3,12 – 245,00 kg/cây, trong đó thân chiếm 78,64 %, cành chiếm 15,85 % và lá 5,51 %
Phạm Tuấn Anh (2007) nghiên cứu về rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đak Nông kết luận dạng hàm mũ mô phỏng tốt nhất quan
hệ giữa lượng carbon tích lũy với sinh khối khô của cây Kết quả nghiên cứu xác định được lượng carbon chiếm 40,1 % trọng lượng sinh khối khô và chiếm 18,2 % trong sinh khối tươi Tác giả cũng xây dựng mối quan hệ giữa sinh khối và các
Trang 33nhân tố điều tra dễ đo đếm cho 3 trạng thái rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu thông qua phương trình tương quan:
Wtuoi = 0,261*D1,32,395 ; với hệ số xác định là R2 = 0,977
Nguyễn Thị Hạnh (2009) nghiên cứu sinh khối loài keo lai (Acacia
auriculiformis X A mangium) tại xã Gia Huynh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình
Thuận đã xác định: về sinh khối cây cá thể tươi đạt trung bình 125,25 kg/cây trong
đó thân chiếm 79,73 %, cành chiếm 14,43 % và lá chiếm 5,84 % Sinh khối khô đạt trung bình 59,23 kg/cây, trong đó thân chiếm 81,19 %, cành 12,37 % và lá 6,44 % Tỷ trọng giữa sinh khối khô/tươi của cây cá lẻ đạt 47,29 % Sinh khối tươi quần thể đạt trung bình 181,12 tấn/ha trong đó thân chiếm 79,1 %, cành chiếm 15,0 % và lá 5,9 % Sinh khối khô quần thể đạt trung bình 83,45 tấn/ha trong đó thân 80,5 %, cành 13,0 % và lá 6,5 %
Tác giả cũng đã tìm ra mô hình quan hệ giữa sinh khối và các nhân tố điều tra của cây cá thể là: log(Wt) = -0,50671 + 2,35465*log(D1,3) Với R = 0,9781
Bảo Huy (2009) trong nghiên cứu về Ước lượng năng lực hấp thụ CO2 của
bời lời đỏ (Litsea glutinosa) trong mô hình nông lâm kết hợp bời lời đỏ - sắn ở huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai – Tây Nguyên, Việt Nam Đề tài nghiên cứu
được tài trợ bởi Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (ICRAF), Mạng lưới Giáo dục Nông lâm kết hợp Đông Nam Á (SEANAFE) đã xác định được tỷ lệ % carbon tích lũy so với sinh khối cả cây là: 47,4 % Tác giả cũng đã tìm ra mô hình quan hệ giữa sinh khối và các nhân tố điều tra cá thể là:
log(Sinh khoi tuoi cay kg) = -0,0600462 + 1,47477* log(Dg cm)
Với R2 = 0,916
Tóm lại, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về sinh khối của rừng ở Việt Nam ngày càng nhiều, hầu hết các nghiên cứu tập trung xác định lượng sinh khối ở dạng tươi và dạng khô, các nghiên cứu đều tìm kiếm mối quan hệ giữa chỉ tiêu sinh khối và các nhân tố điều tra cá thể dễ xác định khác như đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn Thông qua các quan hệ này nhằm xây dựng các
dự đoán sinh khối rừng từ các nhân tố điều tra dễ xác định khác Các nghiên cứu
Trang 34sinh khối trên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý và kinh doanh rừng và đây cũng là cơ sở khoa học để xây dựng các phương pháp dự báo về khả năng hấp thụ CO2 của rừng
2.3 Các nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO 2
Các nghiên cứu về tích tụ carbon của thực vật nói chung, nghiên cứu về khả năng hấp thụ khí CO2 nói riêng trên thế giới ngày càng nhiều, giới khoa học liên tục công bố những kết quả xác nhận giá trị không thể thay thế được của thực vật và rừng trong vai trò làm giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính Điều này cho thấy nghiên cứu khoa học đã cung cấp cho con người cái nhìn rõ ràng hơn
về giá trị của thực vật rừng, trong một thế giới luôn biến động
Hầu hết các nghiên cứu về sinh khối và khả năng hấp thụ khí CO2 cung cấp cho thế giới những kết quả giúp con người có những giải pháp mang tính định hướng, giảm thiểu và hạn chế những tác động bất lợi từ biến đổi khí hậu gây ra, mà nguyên nhân sâu xa lại là do chính bản thân con người trong việc ứng xử với thiên nhiên
2.3.1 Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO 2 trên thế giới
Trong một nghiên cứu về hấp thụ carbon ở rừng nhiệt đới Brown và Pearce (1994) đã đưa ra các số liệu đánh giá lượng carbon và tỷ lệ thất thoát đối với rừng nhiệt đới Kết quả cho thấy một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thụ được 280 tấn carbon/ha và sẽ cho ra 200 tấn carbon/ha nếu bị đốt do canh tác nương rẫy và sẽ giải phóng carbon lớn hơn nếu diện tích rừng chuyển bị chuyển thành đồng cỏ hay đất để sản xuất nông nghiệp Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp
Brown và ctv (1994) đã ước lượng tổng lượng carbon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thụ tối đa trong vòng 55 năm (1995 – 2050) là vào khoảng 60 - 87 Gt carbon (1Gt = 109 tấn), với 70 % ở rừng nhiệt đới, 25 % ở rừng
ôn đới và 5 % ở rừng hàn đới Tổng cộng trồng rừng có thể hấp thụ được 11 - 15 % tổng lượng CO2 phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương
Trang 35Trong nghiên cứu “Hướng dẫn theo dõi tích lũy carbon ở các dự án trồng rừng và dự án nông lâm kết hợp” Mac Dicken (1997) đã mô tả hệ thống những phương pháp với mức chi phí thấp để theo dõi tích lũy carbon ở ba kiểu sử dụng đất là: Rừng trồng, rừng tự nhiên và hệ thống nông lâm kết hợp Hệ thống đánh giá sự thay đổi carbon trong 4 bể chứa là: Sinh khối trên mặt đất, dưới mặt đất, đất
và lớp vật rụng
Theo Brown (1997) rừng là bể chứa carbon khổng lồ của trái đất Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên toàn thế giới khoảng 830 Pg carbon (1Pg = 1015 gam), trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần carbon dự trữ trong thảm thực vật
Chu Hiểu Phương (1999) trong một nghiên cứu về môi trường sinh thái cho rằng: Rừng là kho dự trữ CO2 Cứ 1 g chất khô hấp thu 1,84 g CO2 hoặc 1 m3
gỗ hấp thu 850 kg CO2, hoặc tích lũy được 230 kg carbon Theo tính toán thì tốc
độ tích lũy của rừng nhiệt đới là 450 - 1.600 g carbon/năm/m3, rừng ôn đới là 270
- 1.125 g carbon/năm/m3, rừng hàn đới là 180 - 900 g carbon/năm/m3 Cao hơn cây nông nghiệp là 45 - 2.000 g carbon/năm/m3 và đồng cỏ 130 g carbon/năm/m3 Tác giả cho rằng rừng là một nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tuần hoàn carbon trong khí quyển, con người thông qua bảo vệ và phát triển phải mở rộng diện tích rừng, nâng cao sức sản xuất của rừng, khống chế khai thác, ngăn chặn sự hủy hoại rừng nhằm khống chế nồng độ CO2 trong khí quyển và khống chế biến đổi khí hậu toàn cầu Tại vùng Tây Âu, lượng CO2 đã giảm 150 - 250 triệu tấn/năm và lượng carbon tích lũy tăng từ 2 - 4 lần Ở Trung Quốc, nếu dùng toàn
bộ 2.003 triệu ha đất rừng khai thác theo luân kỳ lâu bền thì lượng carbon tích lũy được khoảng 9,9 tỉ tấn, tương đương 17 lần lượng CO2 do nền công nghiệp thải ra vào năm 1988
Trong một nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2, Shepherd và Montagnini
(2001) cho rằng việc sử dụng cây rừng để tích lũy carbon sẽ làm giảm gia tăng khí
CO2 vào khí quyển Việc quản lý và thiết kế thích hợp sẽ làm tăng sinh khối, chúng tích lũy carbon hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các loài
Trang 36cây bản địa ở vùng rừng mưa nhiệt đới có tiềm năng tích lũy carbon khác nhau và việc thiết kế trồng khác nhau cũng cho lượng tích lũy carbon khác nhau
Subarudi và ctv (2004) trong những dự án CDM đã được thiết lập trong một số tỉnh ở Indonesia và được cấp vốn bởi tổ chức JIFPRO của Nhật Bản đã phân tích chi phí cho việc thiết kế và triển khai dựán CDM tại tỉnh Cianjur, miền Tây Java, Indonesia với diện tích là 17,5 ha Nghiên cứu cho thấy trữ lượng carbon hấp thụ từ 19,5 – 25,5 tấn carbon/ha, chi phí để tạo ra một tấn carbon là 35,6 – 45,9 USD Một tấn carbon tương đương với 3,67 tấn CO2, vì thế giá bán một tấn CO2 là từ 9,5 – 12,5 USD
Theo Lasco và ctv (2004) trong nghiên cứu đánh giá sự hấp thụ CO2 ở rừng thứ sinh của khu dự trữ Mount Makiling, Philipin đã nhận xét rằng rừng nhiệt đới
là một nguồn hấp thụ CO2 quan trọng, tuy nhiên những thông tin về khả năng này của rừng rất hạn chế Các tác giả đã xác định lượng sinh khối dưới và trên mặt đất của rừng thứ sinh ở Malaysia đạt 576 tấn/ha, trung bình hàng năm tích lũy 12 tấn/ha/năm Lượng carbon chiếm tỷ lệ khoảng 43 % tổng lượng sinh khối khô
Pearson và ctv (2005) trong tài liệu Ước tính các nguồn lợi carbon tổng hợp vào các dự án của GEP, do UNDP và GEF xuất bản đã xây dựng phương pháp nghiên cứu hấp thụ carbon dựa trên 5 bước để tiến hành Các bước đó là: Xác định vùng dự án, phân cấp diện tích, quyết định bể carbon đo đếm, xác định kiểu, số lượng, kích thước và hình dạng ô đo đếm và cuối cùng là xác định dung lượng ô đo đếm Phương pháp nghiên cứu hấp thụ carbon được ứng dụng và tỏ ra
có hiệu quả, được ứng dụng ở nhiều nơi
Henson (2005) cho rằng tổng sinh khối của cây bao gồm các bộ phận là thân, cành, lá, rễ Để xác định lượng carbon tích lũy trong cây rừng ở Malaysia tác giả đã tính toán lượng carbon tích lũy từ sinh khối khô theo tỷ lệ là 45 %
OO và ctv (2005) nghiên cứu về sinh khối để đánh giá lượng carbon tích
lũy trong sinh khối của rừng trồng 2 loài cây bạch đàn và keo (Eucalyptus
camaldulensis và Acacia catechu), quần thể cây bụi và thảm cỏ ở một vùng có
khí hậu khô hạn, thành phố Nyaung Utown, Myanmar kết luận khả năng tích lũy
Trang 37carbon trong sinh khối của rừng, cây bụi và thảm cỏ ở vùng khô hạn thấp hơn nhiều so với những vùng có khí hậu mát hơn
Lasco và ctv (2006) đã xác định được lượng carbon ở rừng dầu
(Dipterocarpus) tại Philipin được xác định từ những ô định vị cố định từ 1 – 21
tuổi sau khai thác Những khu rừng không qua khai thác chọn có lượng sinh khối tích lũy trung bình đạt 258 tấn/ha với 34 % là carbon hữu cơ trong đất Khoảng 98
% lượng carbon trong sinh khối trên mặt đất là những cây có đường kính ở vị trí 1,3 m là 19,5 cm Sau khai thác lượng carbon tích lũy trên mặt đất bị sụt giảm còn lại khoảng 50 %
Theo Wanthongchai và Piriyayota (2006), trong nghiên cứu hấp thụ CO2
bằng phương pháp phân tích sinh khối khô của 3 loài cây (Rhizophora mucronata,
R apiculata, R cylindrica) ở rừng ngập mặn tại Trat, Thái Lan tác giả kết luận
rằng lượng carbon tích lũy trung bình trong 3 loài là 47,77 % trọng lượng khô và ở rừng nhiều tuổi thì hấp thu CO2 nhiều hơn rừng ít tuổi Hấp thu CO2 cao nhất ở
tuổi 11 là loài R apiculata với 74,75 tấn/ha, kế đến là Rhizophora mucronata với 65,50 tấn/ha, loài R cylindrical chỉ đạt 1,47 tấn/ha
Bảo Huy và Phạm Tuấn Anh (2008) đã chọn 34 cây cá thể có D1,3 từ 5 – 30
cm, chia cây thành 4 bộ phận thân, vỏ, cành và lá Tỷ lệ hấp thụ CO2 bộ phận thân đạt 62 %, vỏ là 10 %, cành là 26 % và lá là 2 % Các phương trình tương quan được chọn giữa khả năng hấp thụ CO2 của cây cá thể với các nhân tố điều tra (D1,3, Hvn, V) có dạng ln(Y)= a0 + a1ln(X) Lượng hấp thụ đạt 1,73 – 5,18 tấn
CO2/ha/năm
2.3.2 Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO 2 trong nước
Trong công trình nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam Ngô Đình Quế và ctv (2006) đã sử dụng phương pháp chung để đánh giá khả năng hấp thụ CO2, tính toán và dự báo sinh khối khô của rừng trên đơn vị diện tích (tấn/ha) trong quá trình sinh trưởng, tại thời điểm nghiên cứu Qua nghiên cứu sẽ tính trực tiếp lượng CO2 hấp thụ và tồn trữ trong vật chất hữu cơ của rừng hoặc tính khối lượng carbonbon với bình quân là 50 % của sinh
Trang 38khối khô, rồi từ lượng carbon tích lũy suy ra khả năng hấp thụ CO2 Từ kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp tính sinh khối của rừng phân chia thành ba nhóm:
- Nhóm thứ nhất dùng biểu sinh khối có độ chính xác cao do việc đo tính khối lượng khô của các bộ phận cây rừng (thân, cành, vỏ, lá, …)
- Nhóm thứ hai dùng biểu sản lượng (hay biểu quá trình sinh trưởng) để tính tổng trữ lượng thân cây gỗ/ha cho từng độ tuổi M (m3/ha), rồi nhân với tỉ trọng khô bình quân của loài để có khối lượng khô thân cây, sau đó lại nhân với
hệ số chuyển đổi cho từng loại rừng để có sinh khối khô
- Nhóm thứ ba không có hai loại biểu trên thì lập ô tiêu chuẩn, chọn một số cây để cân đo sinh khối tươi và khô Từ đó sẽ tính tổng lượng hấp thụ CO2
Nghiên cứu đã tiến hành đo đếm ở 180 ô tiêu chuẩn, sử dụng phương pháp lập cây tiêu chuẩn, giải tích cây iêu chuẩn, chọn một số cây để cân đo sinh khối tươi và khô Qua số liệu thu thập được xây dựng các hệ số chuyển đổi tính lượng hấp thụ CO2 từ trữ lượng rừng và lập phương trình hồi quy tuyến tính giữa lượng hấp thụ CO2 với năng suất gỗ và năng suất sinh học Kết quả nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng keo lai của các tác giả trên được thống kê cụ thể như sau:
Hàm Yên Khả năng hấp thụ CO2 đạt 50,03 tấn/ha
A Lưới Khả năng hấp thụ CO2 đạt 66,78 tấn/ha
Hàm Yên Khả năng hấp thụ CO2 đạt 105,17 tấn/ha
Kim Bôi Khả năng hấp thụ CO2 đạt 261,31 tấn/ha
Hoành Bồ Khả năng hấp thụ CO2 đạt 168,07 tấn/ha
Triệu Phong Khả năng hấp thụ CO2 đạt 212,40 tấn/ha
Trang 39Rừng keo lai từ 3 - 12 tuổi, mật độ từ 800 - 1.350 cây/ha, năng suất từ 11,43 m3/ha/năm ở cây 3 tuổi và 24,21 m3/ha/năm ở cây 7 tuổi có lượng CO2 hấp thụ từ 60 tới 407,37 tấn/ha
Ước tính đầu tiên về việc giảm phát thải khí thông qua trồng rừng đã được thực hiện dựa trên cơ sở các số liệu có tính đại diện về sản lượng trong khu vực dự
án, nghiên cứu cũng đã tiến hành định lượng về việc giảm phát thải khí thông qua trồng rừng Kết quả nghiên cứu cho thấy keo lai có tiềm năng giảm phát thải bình quân tương đương với 17,4 tấn CO2/ha
Vũ Tấn Phương (2006) trong nghiên cứu trữ lượng carbon của thảm tươi và cây bụi, thấy rằng tỷ lệ sinh khối khô/tươi của tế guột đạt 46 %, cây bụi 45 % và lau lách đạt 33 % Lượng carbon được tính như sau: C = 50 % lượng sinh khối khô Lượng carbon trên mặt đất biến động từ 6,6 - 20 tấn/ha, trong đó lau lách có lượng carbon tích lũy cao nhất khoảng 20 tấn/ha, cỏ chỉ và cỏ lông lợn thấp nhất khoảng 3,9 tấn C/ha
Theo Phạm Thị Quỳnh Anh (2006), tỷ lệ sinh khối tươi bộ phận của lâm phần mỡ đạt trung bình thân là 62,25 % (57 % - 65 %), cành là 8,25 % (7 % - 11
%), lá là 5,57 % (5 % - 6 %), rễ là 23 % (22 % - 24 %) Sinh khối khô bộ phận của thân biến động từ 76 % - 79 %, cành là 4 % - 7 %, lá là 3 %, rễ là 14 % Tác giả
đã tính lượng carbon trong sinh khối khô từ công thức C = 72/162*100 = 44 % Lượng C = sinh khối khô*%C và ở tuổi 6 – 21 mỡ tích lũy khoảng 22,79 – 259,11 tấn CO2/ha, trung bình 9,56 tấn CO2/ha/năm
Theo Doets và ctv (2006), thì cỏ tranh tích lũy carbon đạt 5,63 tấn/ha tương đương lượng hấp thụ là 24,16 tấn CO2/ha Cỏ lau tích lũy carbon đạt 13,43 tấn/ha tương đương lượng hấp thụ là 49,69 tấn CO2/ha Cây asa tích lũy carbon đạt 9,29 tấn/ha tương đương lượng hấp thụ là 34,37 tấn CO2/ha Cây bụi tích lũy carbon đạt 13,87 tấn/ha tương đương lượng hấp thụ là 51,32 tấn CO2/ha Rừng quế 14 tuổi có mật độ trung bình là 2.000 cây/ha tích lũy 3,3 tấn carbon/ha/năm tương đương lượng hấp thụ là 12,1 tấn CO2/ha/năm Rừng thông 15 tuổi có mật độ trung bình 1.000 cây/ha tích lũy 3,6 tấn carbon/ha/năm tương đương lượng hấp thụ là
Trang 4013,3 tấn CO2/ha/năm Rừng keo lá tràm 12 tuổi có mật độ trung bình 833 cây/ha tích lũy 2,8 tấn carbon/ha/năm tương đương lượng hấp thụ là 10,5 tấn
CO2/ha/năm Rừng keo tai tượng 4 tuổi có mật độ trung bình 620 cây/ha tích lũy 1,9 tấn carbon/ha/năm tương đương lượng hấp thụ là 7,0 tấn CO2/ha/năm Rừng keo lai 3 tuổi có mật độ trung bình 1.483 cây/ha tích lũy 4,7 tấn carbon/ha/năm tương đương lượng hấp thụ là 17,4 tấn CO2/ha/năm
Nguyễn Thị Hà (2007) đã xác định được khả năng hấp thụ CO2 trung bình hằng năm của rừng (tính cả vật rụng trên sàn rừng) keo lai 7 tuổi đạt 21,53 tấn/ha/năm, đạt 21,99 tấn/ha/năm đối với rừng 5 tuổi và 17,13 tấn/ha/năm đối với rừng 3 tuổi Tác giả cũng cho rằng lượng CO2 hấp thụ tăng dần theo kích thước, sinh khối cũng như trữ lượng rừng Trung bình cây có đường kính khoảng 11,76
cm thì tích lũy được 31,85 kg carbon trong sinh khối, có nghĩa là cây rừng hấp thụ được 116,90 kg CO2 Lượng CO2 hấp thụ biến động từ 5,67 – 445,98 kg CO2/cây, ước lượng khả năng hấp thụ đạt 17,13 – 21,99 tấn CO2/ha/năm với giá trị bằng tiền là 3.015.000 – 3.870.000 đồng/ha/năm vào thời điểm nghiên cứu Nghiên cứu
đã thử nghiệm và chọn được các phuơng trình tương quan giữa sinh khối với D1,3, thể tích (V), hấp thụ CO2 cây cá thể với D1,3, V, hấp thụ CO2 quần thể với trữ lượng (M) Trong nghiên cứu này tác giả đã xây dựng được phương trình tương quan giữa khả năng hấp thụ CO2 với nhân tố trữ lượng, cụ thể phương trình đó là:
CO2tqt = 1/(0,0052903 + 0,034574/M)
Với hệ số tương quan là R = 0,9081
Kết quả nghiên cứu về rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đak Nông của Phạm Tuấn Anh (2007) cho thấy các trạng thái rừng IIAB, IIIA1 và IIIA2 có lượng hấp thu đạt 1,73 - 5,18 tấn CO2/ha/năm Tác giả cho rằng lượng CO2 được xác định theo phương trình hóa học sau: CO2 = C + O2 = 514,40 + (514,40 * 2,67) = 514,40 + 1362,77 = 1.873,17 kg Điều đó có nghĩa là lượng khí CO2 cây hấp thụ tương đương với 3,67 lượng carbon mà cây tích lũy được