Ngoài ra, trong năm 2008 mẫu máu của 130 heo sinh sản được kiểm tra kháng thể khángprotein 3ABC nhiễm vi-rút tự nhiên, và 200 mẫu máu heo sinh sản để đánh giáhiệu quả sau tiêm phòng vắc-
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN THANH LIÊM
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN HEO CHẾT Ở CÁC LỨA TUỔI VÀ TRÊN HEO NÁI
MANG THAI Ở HUYỆN CHỢ GẠO TRONG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN THANH LIÊM
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN HEO CHẾT Ở CÁC LỨA TUỔI VÀ TRÊN HEO NÁI
MANG THAI Ở HUYỆN CHỢ GẠO TRONG
Trang 3TÌM HIỂU THỰC TRẠNG BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN HEO CHẾT Ở CÁC LỨA TUỔI VÀ TRÊN HEO NÁI
MANG THAI Ở HUYỆN CHỢ GẠO TRONG
ĐỢT DỊCH ĐẦU NĂM 2006
NGUYỄN THANH LIÊM
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: TS NGUYỄN VĂN KHANH
Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
2 Thư ký: TS HỒ THỊ KIM HOA
Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3 Phản biện 1: PGS TS NGUYỄN NGỌC HẢI
Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
4 Phản biện 2: TS THÁI THỊ THỦY PHƯỢNG
Cơ quan Thú y Vùng VI
5 Ủy viên: PGS.TS TRẦN THỊ DÂN
Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Nguyễn Thanh Liêm, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1975, tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Con Ông Nguyễn Văn Sang và Bà Triệu Thị Ánh Nguyệt
Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Tân Hiệp, tỉnh Tiền Giang năm 1994
Tốt nghiệp Đại học ngành thú y, hệ chính quy, tại Trường Đại học Nông lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Sau đó làm việc tại Trạm Thú y huyện Chợ Gạo, chức vụ: Phó Trưởng trạm Thú y huyện Chợ Gạo
Tháng 10 năm 2005, theo học Cao học ngành Thú y tại Trường Đại học Nông lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: Vợ Huỳnh Thị Ánh Nguyệt, năm kết hôn 2001, các con: chưa
Địa chỉ liên lạc: ấp Lương Phú B, xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
Điện Thoại: 0984833173
Email: tramchogao@gmail.com
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thanh Liêm
Trang 6Chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh, chị, em trong Chi cục Thú y tỉnh Tiền Giang, Trạm thú y huyện Chợ Gạo đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Tìm hiểu thực trạng bệnh lở mồm long móng trên heo chết ở các lứatuổi và trên heo nái mang thai ở huyện Chợ Gạo trong đợt dịch đầu năm 2006” đượcthực hiện từ năm 2006 – 2008 tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang
Dữ liệu đã được thu thập từ đợt dịch lở mồm long móng đầu năm 2006 tại 18
xã và 1 thị trấn của huyện Chợ Gạo để ghi nhận tần suất của các biểu hiện lâm sàng
và đánh giá yếu tố nguy cơ của bệnh ở 170 hộ khảo sát (có 2753 heo bệnh) Ngoài
ra, trong năm 2008 mẫu máu của 130 heo sinh sản được kiểm tra kháng thể khángprotein 3ABC (nhiễm vi-rút tự nhiên), và 200 mẫu máu heo sinh sản để đánh giáhiệu quả sau tiêm phòng vắc-xin ngừa týp O tại một số hộ chăn nuôi của 6 xã cónhiều heo bệnh LMLM trong đợt dịch 2006
1) Kết quả qua khảo sát từ đợt dịch đầu năm 2006
Bệnh LMLM trong đợt dịch đầu năm 2006 do vi-rút týp O gây ra và chỉ xảy ratrên heo
Heo càng nhỏ thì tỷ lệ tử vong càng cao (heo nái 5,31%; heo dưới 1 tháng tuổi65,51% trong số heo nuôi của các hộ khảo sát) Heo dưới 2 tháng tuổi không biểuhiện chảy nước bọt, chép miệng, nổi mụn nước ở mũi, xuất huyết ở chân và miệng.Mụn nước trên đầu vú chỉ xuất hiện trên heo nái (42,71%) và hầu hết là trên heo náiđang nuôi con
Toàn bộ heo bệnh LMLM khảo sát có bệnh tích tim da cọp Đặc biệt, heocàng lớn tỷ lệ bệnh tích tim da cọp và nhão càng cao (heo nái 90,97%; heo dưới 1tháng tuổi 56,31%)
Heo bệnh ngày đầu tiên sốt cao, trung bình trên 410C Ngày thứ 5 và 6 thânnhiệt heo bệnh trở lại bình thường sau quá trình điều trị Heo chết tập trung vàongày thứ 2 đến ngày thứ 4 (chiếm 71,73% trên tổng số heo chết trong 15 ngàybệnh) Số heo mắc bệnh bình phục nhiều nhất từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 11 (3ngày này chiếm 66,45%)
Heo nái mang thai tăng rối loạn sinh sản khi bệnh LMLM (38,02% số náimang thai) Ngoài ra, tỷ lệ chết của heo con khá cao (25,97%) khi được sinh ra từheo mẹ bị bệnh trong lúc mang thai
Trang 8MỤC LỤC TRANG
2.1 Sơ lược về bệnh và vi-rút lở mồm long móng 3
2.2 Phân bố địa lý của bệnh LMLM 4
2.3.1 Loài mắc bệnh và chất chứa vi-rút 6
Trang 92.7 Một số nghiện cứu liên quan ở trong và ngoài nước 16
2.7.1 Nghiên cứu ngoài nước về yếu tố nguy cơ 16
2.7.2 Nghiên cứu trong nước 17
2.8 Giới thiệu của huyện Chợ Gạo 19
2.8.2 Các yếu tố tự nhiên liên quan đến chăn nuôi 20
2.8.3 Phân bố đàn heo tại các xã 20
Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Thời gian thực hiện 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3.1 Phân tích lâm sàng và cận lâm sàng của heo
3.3.2 Xác định một số yếu tố nguy cơ, lập phương
trình dự đoán khả năng xuất hiện bệnh 25
3.3.3 Phát hiện kháng thể protein 3ABC của vi-rút
LMLM nhiễm trên đàn heo sinh sản 26
3.3.4 Xác địnhtỷ lệ bảo hộ đối với vi-rútLMLM serotýp O trên
đàn heo sinh sản đã được tiêm phòng vắc-xin LMLM tại hộ chăn nuôi 28
3.4 Phân tích thống kê 31
Chương 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Týp vi-rút và biểu hiện lâm sàng ở heo bệnh LMLM 32
4.1.1 Týp vi-rút và tỷ lệ bệnh của các hạng heo tại hộ khảo sát 32
4.1.2 Tần suất của các biểu hiện lâm sàng ở các hạng heo 36
Trang 104.1.3 Diễn biến thân nhiệt trên heo bệnh LMLM 41
4.1.4 Phân bố của số ngày bệnh trước khi chết và số ngày
4.1.5 Rối loạn sinh sản trên heo nái mang thai 46
4.2 Xác định một số yếu tố nguy cơ và lập phương trình dự đoán
4.3 Phát hiện kháng thể kháng protein 3ABC của vi-rút LMLM
4.4 Tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng vacxin LMLM serotýp O đối với
Trang 11
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ĐGT Đường giao thông
ĐHHB Đến hộ heo bệnh
GHHB Gần hộ heo bệnh
ELISA Enzyme linked immunosorbent assay Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch
gắn kết enzyme LMLM Lở mồm long móng
PBS Phosphate buffer saline Dung dịch đệm PBS
PI Percentage inhibition Phần trăm ức chế
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
2.2 Tần suất xuất hiện bệnh tích trên các heo bệnh LMLM 10
2.3 Tần suất (%) của một số triệu chứng và bệnh tích của heo
2.4 Tổng đàn heo các xã của huyện Chợ Gạo trong năm 2006 21 3.1 Phân bố heo bệnh phân tích týp vi-rút LMLM 24
3.2 Phân bố hạng heo bệnh LMLM được theo dõi 24
3.3 Phân bố heo khảo sát kháng thể kháng protein 3ABC 27
3.4 Phân bố heo khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau khi tiêm phòng 29
3.5 Phân phối mẫu trong xét nghiệm huyết thanh có kháng thể
đủ khả năng bảo hộ với vi-rút LMLM serotýp O bằng kỹ thuật ELISA 31
4.1 Tỷ lệ bệnh và tử vong ở các hạng heo tại những hộ khảo sát 33
4.2a Tần suất của các biểu hiện lâm sàng ở các hạng heo 34
4.2b Tần suất của các biểu hiện lâm sàng ở các hạng heo 35
4.4 Phân bố (%)* số ngày bệnh trước khi chết trên heo bệnh LMLM 44
4.6 Tần số của các rối loạn ở heo nái mang thai bị bệnh LMLM 46
4.7 Tỷ lệ heo nái mang bệnh có thai chết và số thai chết 48
4.8 Phân bố số heo con chết theo ngày tuổi sau khi sinh 49
4.9 Phân bố các yếu tố nguy cơ ở 2 nhóm hộ khảo sát 52 4.10 Kết quả phân tích thống kê các yếu tố nguy cơ 53
4.11 Tỷ lệ heo có kháng thể kháng protein 3ABC 54
Trang 13DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
4.6 Diễn biến thân nhiệt trên heo bệnh LMLM 43 4.7 Phân bố số ngày mắc bệnh của heo phục hồi 46
4 8 Tần số (%) của các rối loạn ở heo nái mang thai bị bệnh LMLM 47
4 9 Phân bố số heo con chết theo ngày tuổi 48
Trang 15Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chợ Gạo là một huyện nằm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang với số đầu heo nhiều nhất trong tỉnh Thu nhập của người dân dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn Theo thống kê của Trạm Thú y huyện Chợ Gạo trong thời điểm tiêm phòng đợt II năm 2005, tổng đàn heo của huyện khoảng 120.000 con Việc cải tạo con giống và áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, công tác tiêm phòng lở mồm long móng (LMLM) chưa được người chăn nuôi quan tâm đúng mức do giá vắc-xin còn cao và chủ yếu do chủ quan của người chăn nuôi vì trong những năm gần đây bệnh LMLM chỉ xảy ra lẻ tẻ ở một vài địa phương Hàng năm tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin LMLM thấp hơn 25% Ngoài ra, chăn nuôi trên địa bàn huyện thường ở qui mô nhỏ, kiến thức và ý thức áp dụng các biện pháp sinh học vào chăn nuôi của bà con còn thấp nên việc phòng chống dịch bệnh còn gặp khó khăn Đây là nguy cơ tiềm ẩn để bùng phát bệnh LMLM
Đầu năm 2006 bệnh LMLM đã xảy ra trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tất cả 19/19 xã, thị trấn đều xảy ra dịch bệnh Trong đợt này, nhiều heo chết ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là chết hàng loạt heo con theo mẹ và heo lứa; heo nái bị sảy thai hoặc thai yếu Đợt dịch này gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và gây tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng khi sử dụng thịt heo Đồng thời nó cũng gây gánh nặng cho chính quyền địa phương trong việc giải quyết hậu quả của dịch bệnh
Nhằm góp phần đánh giá diễn biến của bệnh tại huyện, chúng tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu thực trạng bệnh lở mồm long móng trên heo chết ở các lứa tuổi và trên heo nái mang thai ở huyện Chợ Gạo trong đợt dịch đầu năm 2006”
Trang 161.2 Mục tiêu
Xác định týp vi-rút LMLM và so sánh những diễn biến lâm sàng trong đợt dịch năm
2006 với những mô tả của các tác giả khác
Đánh gía tầm quan trọng của một số yếu tố nguy cơ của bệnh LMLM tại địa phương
Xác định tần số nhiễm vi-rút LMLM ở heo đã được giữ lại nuôi tại hộ có bệnh
LMLM trong đợt dịch đầu năm 2006 cho đến nay
1.3 Yêu cầu
Theo dõi diễn biến của bệnh ở những hộ có heo xuất hiện triệu chứng lâm sàng của
LMLM trong đầu năm 2006
Điều tra cắt ngang ổ dịch này, sau đó phân tích tỷ số chênh (OR) để xác định yếu tố nguy cơ của bệnh LMLM và lập phương trình dự đoán khả năng phát sinh bệnh
Lấy mẫu máu của heo bệnh LMLM trong đợt dịch đầu năm 2006; ngoài ra, vào năm 2008 lấy mẫu máu của những heo đực giống và nái có biểu hiện lâm sàng bệnh LMLM hoặc không bệnh LMLM nhưng vẫn được giữ lại nuôi cho đến nay để phát hiện kháng thể kháng protein 3ABC của vi-rút LMLM, từ đó xác định tần số
nhiễm vi-rút LMLM
Bên cạnh các khảo sát cơ bản trên, heo ở một số hộ có tiêm phòng LMLM đầy đủ và không mắc bệnh LMLM được lấy máu xét nghiệm kháng thể để đánh giá tỷ lệ heo được bảo hộ từ chương trình tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh LMLM trên đàn heo đực giống và nái ở Chợ Gạo
Trang 17Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Sơ lược về bệnh và vi-rút lở mồm long móng
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) do một loại vi-rút ARN thuộc họ
Picornaviridae, giống Aphthovirus Vi-rút này có hai tính chất đặc biệt liên quan
đến dịch tễ học, đó là tính có nhiều týp và dễ biến đổi kháng nguyên Các týp tuy gây ra những triệu chứng bệnh tích giống nhau nhưng lại không gây miễn dịch chéo Nhiều con thú đã lành bệnh nhưng có thể mắc bệnh lại nhiều lần Lý do của hiện tượng đó đã được Vallée và Carré khám phá và nghiên cứu (1921, 1922, 1924)
Đó không phải do khác nhau vềđộc lực mà do khác nhau về cấu trúc kháng nguyên Đầu tiên hai tác giả trên đã gặp hai chủng mà họ đặt tên là týp O (tên từ vùng Oise của Pháp) và týp A (tên vùng Allemagne của Đức) Đến năm 1926, Waldmann tìm thêm một chủng nữa và đặt tên là týp C Vi-rút bệnh LMLM đã được xếp cùng nhóm với vi-rút bệnh cúm, bệnh bại liệt, bệnh viêm não ngựa châu Mỹ và bệnh viêm miệng mụn nước Ngoài 3 týp đó, cho đến năm 1965, người ta còn tìm thấy thêm các týp SAT1, SAT2, SAT3 và Asia1 (trích dẫn Nguyễn Lương, 1997)
Bệnh còn tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh, gây thiệt hại lớn về kinh tế Bệnh nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch ở tất cả các quốc gia và là bệnh đầu tiên mà Tổ chức Dịch tễ Thế giới thiết lập danh sách những vùng, những nước an toàn đối với bệnh này (Trần thanh Phong, 1996)
Vi-rút LMLM là một vi-rút nhỏ không có lớp áo ngoài, đường kính khoảng 24
nm Bộ gen là một phân tử RNA chuỗi đơn dương, dài khoảng 8.000 base và được nén rất chặt bởi vỏ protein (capsid) Vỏ protein bao bọc bộ gen có 60 đơn vị nhỏ được tạo thành từ 4 loại protein cấu trúc gồm: 1A, 1B, 1C, 1D (hay VP4, VP2, VP3
và VP1) Ngoài ra, vi-rút LMLM còn có 8 loại protein không cấu trúc bao gồm: 2A, 2B, 2D, 2C, 3A, 3B, 3C, 3D
- Protein 3A có 143-153 axít amin (aa) Nó có liên quan đến độc lực và động vật cảm thụ của vi-rút
Trang 18- Protein 3B gồm: 3B1 có 23 aa; 3B2 có 24 aa; 3B3 có 24 aa Protein 3B3 có tính bảo tồn cao, 3B1 và 3B2 có tính biến đổi cao Protein 3B1 và 3B2 có liên quan đến độc lực và động vật cảm thụ của vi-rút Protein 3B cần thiết cho khả năng sống của vi-rút
- Protein 3C là một proteinase phức tạp có 213 aa Nó có vai trò trong sự phân cắt những protein tiền chất thuộc vi-rút và kết hợp những yếu tố vật chủ với sự dịch
mã và phiên mã (Lê Anh Phụng, 2002; AVIS, 2002a; Carrillo và cs, 2005)
Hình 2.1 Hình thái vi-rút LMLM VP1: xanh dương, VP2: xanh lá cây, VP3: đỏ, VP4: vàng
(nguồn: Oxford University, Press Release, 2000)
2.2 Phân bố địa lý của bệnh LMLM
Bài viết đầu tiên mô tả bệnh LMLM có lẽ vào năm 1514, khi Fracastorius mô
tả một bệnh tương tự trên trâu bò ở Ý Năm 1847 Loetller và Frosch đã chứng minh mầm bệnh có khả năng qua lọc (Grabman và Baxt, 2004; MicrobeWiki, 2006; National Argicultural Biosecurity Center, 2007)
Bệnh LMLM xảy ra nhiều khu vực trên thế giới, ngoại trừ các nước Bắc và Trung Mỹ (Bắc Panama), Úc, New Zealand, Chilê và liên minh châu Âu Ở châu
Mỹ, bệnh LMLM được báo cáo lần sau cùng năm 1929 (Mỹ), 1952 (Canada) và
1954 (Mêxicô) Ở Đông Nam Á, Indonesia cũng đã xoá được bệnh sau 30 năm tiêm phòng nghiêm ngặt Liên minh châu Âu đã thông qua chính sách không sử dụng vắc-xin vào năm 1991 khi bệnh đã được kiểm soát Gần đây bệnh đã xảy ra ở Đài Loan, Trung Quốc (1997, 2000), Nhật Bản (2000), Hàn Quốc (2000, 2002), Nam Phi (2000), Argentina (2001) và châu Âu (2001)
Trang 19Các týp O, A, và C phân bố rộng rãi nhất, đặc biệt là ở Nam Mỹ, Trung Đông
và châu Á Các týp SAT1, SAT2 và SAT3 thường gặp ở châu Phi mặc dù đôi khi cũng xảy ra ở Trung Đông (Lê Anh Phụng, 2002; EFSA, 2006)
Sự phân bố vi-rút LMLM týp O
Những năm gần đây, một số subtýp thuộc týp O lưu hành trong khu vực Đông Nam Á: chủng SEA (South East Asia) được phát hiện ở Việt Nam năm 1997, Campuchia (1998) và Đài Loan (1999) Chủng ME-SA có mặt tại Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ Chủng vi-rút Cathay xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1998 Chủng Pan-Asia bắt đầu xuất hiện và lây lan trong vùng Đông Nam Á
Sự phân bố vi-rút LMLM týp A
Theo các tài liệu khảo sát, vi-rút týp A lưu hành tại Ấn Độ và Trung Đông, tạo thành dịch địa phương ở Thái Lan và do lây từ Malaysia qua việc nhập khẩu trâu
bò Đặc điểm dịch tễ nổi bật từ tháng 7/2003 cho đến nay là số ổ dịch do vi-rút
LMLM týp A gây ra chiếm đa số; Lào cũng báo cáo phát hiện được vi-rút týp A
Sự phân bố vi-rút LMLM týp Asia-1
Vi-rút LMLM týp Asia-1 được thông báo ở châu Á (Nam Á, Đông Á và Thái Lan) Người ta cho rằng vi-rút týp Asia-1 lưu hành trên thế giới có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á Vi-rút LMLM týp Asia-1 gây ra dịch bệnh địa phương tại Thái Lan, Myanmar Tuy nhiên, đặc điểm dịch tễ của các ổ dịch do vi-rút týp Asia-1 chưa được nghiên cứu chi tiết
Dịch LMLM và các týp vi-rút đã được phát hiện ở Việt Nam
Việc xác định các chủng vi-rút gây bệnh LMLM thay đổi theo từng giai đoạn (dẫn liệu Tô Long Thành và ctv, 2006) Từ năm 1985 trở về trước, chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng Từ năm 1985, với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, Cục Thú y bắt đầu xác định týp vi-rút gây bệnh LMLM Năm 1992, sau 32 năm vắng mặt, bệnh LMLM tái xuất hiện ở miền Bắc và miền Trung nước ta (ổ dịch cuối cùng là năm 1960) Nguyên nhân do sự vận chuyển bất hợp pháp động vật, sản phẩm động vật bị bệnh từ bên ngoài vào sau khi mở cửa buôn bán với Trung Quốc
và Lào Các kết quả ghi nhận đến năm 1999 cho thấy có 3 týp vi-rút gây bệnh ở Việt Nam là O, A, Asia-1 Năm 1999, dịch xảy ra ở Cao Bằng, sau đó lây lan xuống
Trang 20Bắc Ninh và Hà Nội Đến đầu năm 2000, dịch đã lây lan trên 58/61 tỉnh, thành phố với 297.808 trâu bò và 56.530 heo bị bệnh Trong đợt dịch lớn 1999-2000, kết quả chẩn đoán của các ổ dịch đều là týp O có cấu trúc gen gần với vi-rút týp O gây bệnh
ở Hồng Kông năm 1997 Việc biến mất týp A và Asia-1 trong giai đoạn này chưa được khẳng định một cách đầy đủ để xác định rằng hai chủng này không tồn tại ở Việt Nam trong giai đoạn đó Năm 2001, bằng các biện pháp hành chính và tiêm vắc-xin, dịch có phần khống chế: các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, một số tỉnh duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long không xảy ra dịch Năm 2004, dịch xảy ra tăng hơn nhiều so với năm 2003 cả về diện tích và số thiệt hại Dịch xảy ra ở cả ba miền, đặc biệt xảy ra ở các tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển, ở các vùng chăn nuôi trọng điểm Năm 2005 týp A lại được phát hiện ở tỉnh Ninh Thuận và sau đó phát hiện ở một số tỉnh khác ở phía Nam như: Bình Định, Bình Thuận, Long An, … Năm 2005, vi-rút Asia-1 xuất hiện lần đầu tiên ở Khánh Hoà và sau đó là Lào Cai Tháng 5 năm 2006, vi-rút Asia-1 được phát hiện ở Hà Giang Hiện tại chưa có căn cứ khoa học xác định mối liên hệ giữa các vi-rút Asia-1 lưu hành ở hai miền, nhưng có thể dự đoán nguồn gốc ổ dịch là do đưa từ nước ngoài vào theo gia súc mắc bệnh hoặc sản phẩm của gia súc mắc bệnh
2.3 Sự lan truyền bệnh
2.3.1 Loài mắc bệnh và chất chứa vi-rút
Tất cả các loài động vật có móng guốc chẻ, gia súc và thú hoang dã đều có tính mẫn cảm Người thì hiếm bệnh Ngựa không mẫn cảm với bệnh Bệnh xảy ra trên gia súc gồm trâu, bò, heo, cừu, dê và hơn 70 loài thú hoang (trâu nước, hươu, linh dương đầu bò, tuần lộc, nai sừng tấm, lạc đà không bướu, linh dương tai nhọn, chuột hải ly, voi, ) (Lubroth và ctv, 1990; Ackerman, 2001; Grabman và Baxt, 2004; CIDRAP, 2007)
Trang 21Bảng 2.1 Chất chứa vi-rút trên heo
Chất bài tiết Số lượng vi-rút tối đa
(AVIS, 2002b)
2.3.2 Lây lan vi-rút
2.3.2.1 Đường xâm nhập
Trong thiên nhiên, đường tiêu hoá là đường xâm nhập chủ yếu của vi-rút
Vi-rút vào cơ thể qua niêm mạc miệng
Vi-rút cũng xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương ngoài da, niêm mạc hô
hấp và niêm mạc đường sinh dục (Trần Thanh Phong, 1996; Alexandersen và
Donaldson, 2002; Alexandersen và ctv, 2002)
2.3.2.2 Cách sinh bệnh và thời điểm tạo kháng thể
Theo đường tiêu hoá, do đặc tính hướng thượng bì, vi-rút gây thuỷ hoá tạo
thành mụn nước sơ phát, sau đó vi-rút vào máu (viremia) và theo hệ tuần hoàn đến
các cơ quan, phủ tạng, đặc biệt là những tế bào thượng bì đang sinh sản (xoang
miệng, vành móng, mõm, núm vú, …) hình thành những mụn nước thứ phát Sau từ
2 - 3 ngày hình thành, bọng nước sẽ vỡ ra, dẫn đến hậu quả là lở mồm long móng
(Trần Thanh Phong, 1996)
Ở thú cái có chửa, vi-rút xâm nhập vào bào thai qua niêm mạc sinh dục và gây
sảy thai (dẫn liệu Phạm sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
Trang 22Sau khi xâm nhập vào đường hô hấp trên, vi-rút nhân lên một cách nhanh chóng, gây ra nhiễm vi-rút huyết và vi-rút hướng vào biểu mô, tại đây vi-rút tái sản lần hai gây mụn nước và gây lở loét bầu vú (Sellars, 1971)
Sau khi nhiễm bệnh, kháng thể đặc hiệu chống lại vi-rút LMLM được hình thành gồm IgM, IgA và IgG IgG có mặt từ ngày 4 - 21, sớm nhất vào ngày thứ 3 sau nhiễm và tồn tại từ 4 đến 6 tháng IgM xuất hiện vào ngày thứ 5 - 12 sau khi nhiễm vi-rút Cuối cùng là sự xuất hiện của IgA chiếm phần chủ yếu vào giai đoạn gần cuối của quá trình bệnh, có thể tìm thấy IgA trong máu gia súc bệnh 150 ngày sau khi bệnh chấm dứt (Kihn, 1993; Kitching, 2000) Thời gian tồn tại kháng thể tuỳ loài và tuỳ độ tuổi của gia súc, heo có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò, bê có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò Trong một số trường hợp lên đến 5,5 năm ở trâu
bò Thời gian kéo dài đáp ứng miễn dịch có lẽ do trâu bò có thể mang trùng 30 tháng Thời gian đáp ứng miễn dịch do nhiễm vi-rút LMLM trên heo kéo dài trong khoảng 3 - 6 tháng Trường hợp heo mang trùng chưa thấy được báo cáo (AVIS, 2002c) Theo Sutmoller và ctv (1968); Baxt và Mason (1995), Domingo và ctv (1995), Mezencio và ctv (1999), Rigden và ctv (2000), trên heo sau khi nhiễm bệnh, vi-rút sẽ bị loại thải trong vòng 3 - 4 tuần, vì vậy heo không mang trùng Tuy nhiên,
đã xảy ra trường hợp nhiễm vi-rút LMLM dai dẳng trên heo và giả thuyết cho rằng, trên heo, vi-rút LMLM xâm nhập vào đại thực bào phế nang, tồn tại ở dạng mang trùng
2.3.2.3 Cách lây lan
Vi-rút LMLM có thể lây lan bằng nhiều cách
- Trực tiếp: vi-rút LMLM có thể lây lan một cách dễ dàng bởi sự tiếp xúc trực tiếp giữa thú bệnh và thú mẫn cảm, đây là cách truyền lây chủ yếu mật độ chăn nuôi cao tỷ lệ thuận với sự lây lan của bệnh
- Gián tiếp:
+ Qua trung gian sinh vật: con người (qua người buôn bán, người chăm sóc, người bán thịt, nhân viên thú y, …), qua những thú không cảm nhiễm (gà, vịt hoặc chim hoang dã, …)
Trang 23+ Qua trung gian không do sinh vật: thức ăn, nước uống, rơm, cỏ độn chuồng, dụng cụ đựng thức ăn, chổi, phương tiện vận chuyển, …
+ Truyền lây qua gió
+ Do hoạt động sinh sản nhân tạo: vi-rút LMLM có thể lây lan qua đường truyền tinh, truyền phôi (Pelzer, 2001; Thacker, 2001; Pottawatomie County, 2003; Eden Extension Disaster Education Network, 2006; CIDRAP, 2007; National Argicultural Biosecurity Center, 2007)
Một nghiên cứu trên 880 ổ dịch LMLM được báo cáo trên khắp thế giới từ năm 1870 đến 1993 cho thấy cách truyền lây chủ yếu như sau:
(Canadian Foot Inspection Agency, 2006)
2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh LMLM trên heo
Thời gian ủ bệnh của bệnh LMLM rất biến động; tuỳ thuộc vào chủng và liều vi-rút, đường lây lan, loài động vật, điều kiện chăn nuôi và môi trường (Kitching và Alexandersen, 2002; Alexandersen và ctv, 2003a, c) Khi bị phơi nhiễm một liều vi-rút thấp, heo có lẽ chỉ mang trùng ở dạng tiềm ẩn (Alexandersen và ctv, 2003b) Thời gian ủ bệnh trên heo biến động từ 24 giờ (Alexandersen và ctv, 2003b) đến 14 ngày (Alexandersen và ctv, 2003c) Theo dữ liệu trận dịch năm 1967-1968 ở Vương Quốc Anh, thời gian ủ bệnh trên heo là 4 - 9 ngày, heo càng lớn thì thời gian ủ bệnh càng dài và chậm biểu hiện triệu chứng (Hugh-Jones và Tinline, 1976) Trong thí nghiệm, thời gian ủ bệnh trung bình biến động từ 1 đến 3 ngày và phụ thuộc vào cường độ tiếp xúc trực tiếp (Alexandersen và ctv, 2003b)
Sau thời gian ủ bệnh, heo sốt 41,5 đến 420C (Trần Thanh Phong, 1996) Theo Huỳnh Thị Thanh Thuỷ (2003), heo sốt 41,50C; còn theo Pig Health and Welfare
Trang 24Featured Articles (2001), những triệu chứng đầu tiên khi bệnh là đi đứng khó khăn,
Kẻ móng
41,88 100,0
0
78 ,63
23,08
Tổ chức Agriculture and Agri-Food của Canada (1994) báo cáo tỷ lệ chết trên
heo trưởng thành là 5% và trên heo con là 75% Theo tổ chức American Veterinary
Medical Association (2007), tỷ lệ bệnh có thể 100% nhưng tỷ lệ chết không quá 5%
trên thú trưởng thành, đối với thú nhỏ tỷ lệ chết có thể lên đến 90%
Trên thú mang thai, bệnh LMLM thường gây sảy thai hoặc thú sơ sinh yếu ớt
(South Australian Animal Health Quaterly, 2001; Thacker, 2001; PubMed, 2004)
Ở thú nhỏ chết đột ngột do viêm thoái hoá cơ tim (tim da cọp), tim bị mềm
Trên heo 4 tuần tuổi, viêm cơ tiêm thường ảnh hưởng ở tâm thất trái
Trang 25Hình 2.2 Tim da cọp (nguồn: EUFMD WIKI, 2007) 2.5 Vắc-xin phòng bệnh LMLM
Có nhiều loại vắc-xin phòng bệnh LMLM như vắc-xin vô hoạt bằng formol keo phèn, vắc-xin vô hoạt bằng ethylene imine (E,I), vắc-xin sản suất bằng công nghệ gen …
Các loại vắc-xin được phép lưu hành ở Việt Nam
- Vắc-xin decivac FMD DOE Monovalent có hoạt chất chính là vi-rút LMLM DOE, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò, heo của Intervet sản xuất
- Vắc-xin Aftopor có hoạt chất chính là kháng nguyên LMLM đơn týp O (O Manisa, O3039, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò, heo của Merial sản xuất
- Vắc-xin Aftovax có hoạt chất chính là kháng nguyên LMLM đa týp O, A, Asia1, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò của Merial sản xuất
- Vắc-xin POSI-FMD Trivalent có hoạt chất chính là kháng nguyên LMLM đa týp O1, A, Asia1, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò, heo, dê, cừu của Pfizer sản xuất
- Vắc-xin POSI-FMD Monovalent có hoạt chất chính là kháng nguyên LMLM
đa týp O1 Manisa, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò, heo, dê, cừu của Pfizer sản xuất
- Vắc-xin LMLM vô hoạt nhị giá týp O-Asia1 có hoạt chất chính là vi-rút LMLM týp O (ONXC/92), Asia1, phòng bệnh LMLM do vi-rút týp O, Asia1 trên
Trang 26trâu, bò, heo, dê, cừu của công ty China Agricultural Veterinary Biological Science and Technology co., LTD sản xuất
- Vắc-xin LMLM vô hoạt týp O có hoạt chất chính là vi-rút LMLM vô hoạt týp O, phòng bệnh LMLM trên trâu, bò; vắc-xin LMLM vô hoạt týp O(II), có hoạt chất chính là vi-rút LMLM vô hoạt týp O(II), phòng bệnh LMLM trên heo Cả hai loại vắc-xin này do côny ty Lanzhou Veterinary Research Institute (Trung Quốc) sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008)
Tất cả vắc-xin trên được xem là bảo hộ được cho thú sau tiêm phòng, khi có hiệu giá kháng thể 1/50 với giá trị PI > 50% (Elisa kit for FMDV serology (typ O) Protocol – Pirbright laboratories, England, 2008)
2.6 Một số kết quả trong phòng chống LMLM tại các khu vực trên thế giới 2.6.1 Khống chế và thanh toán bệnh LMLM ở châu Âu
Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nhiều ổ dịch LMLM xảy ra rải rác ở châu
Âu Tuy nhiên, đến đầu thập niên 50, có khoảng 10.000 - 100.000 ổ dịch xảy ra mỗi năm ở một số nước Tây Âu (Grabman và Baxt, 2004) Trong đợt dịch LMLM năm
2001 tại Vương Quốc Anh đã có khoảng 4 triệu gia súc bị tiêu huỷ, thiệt hại kinh tế trực tiếp 2,75 tỷ bảng Anh, gián tiếp cho xuất khẩu và du lịch 5,25 tỷ bảng Anh (Knowles và ctv, 2001; Kitching và ctv, 2005)
Tác động của các biện pháp bắt đầu từ giữa năm 60 khi Hà Lan thực hiện tiêm phòng hàng loạt cho đàn gia súc ở nước này Pháp, Đức nhanh chóng áp dụng và sau đó là nhiều nước khác nữa Các phương pháp sản xuất vắc-xin quy mô lớn đã được đưa ra và được sử dụng thành công trước đó Thành công của tiêm phòng đã làm giảm tần suất của các ổ dịch mới Trong một thập niên, số ổ dịch ở Tây Âu giảm từ 20.000 xuống dưới 4.000 mỗi năm Đến những năm 80 số ổ dịch mỗi năm thấp hơn con số 400 (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
Cuối những năm 90, có khoảng 0,8 đến 1 tỷ liều vắc-xin được sản xuất hàng năm trên thế giới Sự thành công trong chương trình chủng ngừa vắc-xin ở Tây Âu làm ngưng sự xuất hiện các ổ dịch sau năm 1989 Liên minh châu Âu thực hiện chính sách không chủng ngừa vắc-xin từ năm 1992 Từ năm 1992 đến năm 2001 chỉ
Trang 27có một vài ổ dịch nhỏ xảy ra trong vùng này như Bun-ga-ry, Ý, Nga, Thổ Nhị Kỳ (Grabman và Baxt, 2004)
Thành công không chỉ nhờ vào việc tiêm phòng mà các biện pháp khác cũng được thực hiện Đó là ngăn ngừa vận chuyển động vật và sản phẩm động vật quanh các cơ sở có dịch, xử lý nhiệt những thức ăn thừa để ngăn chặn sự lưu hành của virut nếu cho gia súc ăn những thức ăn thừa Một loạt các biện pháp bảo vệ được áp dựng tại hải cảng và sân bay để giảm nguy cơ vi-rút xâm nhập từ nước khác qua động vật Do giảm tỷ lệ mới mắc bệnh, nhiều nước có thể thanh toán dịch bệnh Trong khi một số nước áp dụng tiêm phòng vành đai và áp dụng các biện pháp giết loại toàn diện hoặc từng phần, một số nước không tiêm phòng thường xuyên nhưng thực hiện việc giết loại và hạn chế vận chuyển
Một thay đổi trong chính sách châu Âu được khởi xướng năm 1986 khi Uỷ ban châu Âu quyết định rằng các biện pháp khống chế bệnh LMLM phải được hoà nhập trong cộng đồng châu Âu Ngày 01/1/1993 là ngày bắt đầu cho phép vận chuyển tự
do động vật và sản phẩm động vật qua biên giới các nước trong cộng đồng và từ đây hình thành một thị trường duy nhất cộng đồng châu Âu.Với hai khả năng lực chọn: không tiêm phòng hoặc tiêm phòng vành đai, cộng đồng châu Âu quyết định không tiêm phòng Trước khi bắt đầu thị trường chung vào 1/1/1993, một số nước
đã ngừng tiêm phòng trong năm 1990, các nước khác thực hiện từ 31/12/1990 Trong 5 năm đầu từ khi ngừng tiêm phòng vắc-xin, trong cộng đồng xảy ra hai
ổ dịch ban đầu Ổ dịch đầu tiên xảy ra ở Ý và kéo theo 56 ổ dịch tiếp theo, ổ dịch thứ hai ở Hy Lạp và xảy ra 94 ổ dịch tiếp theo Giết loại và kiểm soát vận chuyển là các biện pháp khống chế chính được sử dụng
Trong những năm 1997 - 2000, bệnh LMLM đã được hạn chế ở châu Âu Từ đầu năm 2001 đến nay, dịch LMLM đã gây thành đại dịch ở nước Anh từ đó lây lan các nước châu Âu: Airôlen, Hà Lan, Thụy Sỹ v.v… Các nước này đã phải xử lý, thiêu huỷ gia súc và tiêu tốn nhiều cho công tác phòng chống bệnh LMLM (Văn Đặng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
Trang 282.6.2 Phòng chống bệnh LMLM ở châu Mỹ
(1) Khống chế và thanh toán bệnh LMLM ở Nam Mỹ
Chilê là nước đầu tiên ở Nam Mỹ hoàn thành chương trình thanh toán bệnh LMLM Năm 1969, Chilê đã thực hiện kế hoạch phòng chống và thanh toán bệnh LMLM quốc gia với mục tiêu là tiêm phòng 94% đàn trâu bò, đồng thời thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y và thúc đẩy chương trình quảng cáo, chương trình triển khai từ miền Nam và dần dần chuyển sang phía Bắc Số ổ dịch lúc đầu chương trình
là 7.009, thập kỷ tiếp theo, số ổ dịch giảm còn 1.684 Năm 1972, số ổ dịch giảm còn dưới 50 Hầu hết các ổ dịch từ năm 1972 – 1978 được xem là bắt nguồn từ động vật Những tiến triển trong công tác khống chế được duy trì và Chilê tuyên bố an toàn bệnh LMLM trong tháng 1/1981
Năm 1974, Columbia đã đề xướng chương trình phòng chống bệnh LMLM Hiện nay nước này đã có một vùng không phải tiêm phòng, bao quanh là khu vực
an toàn bệnh và khu vực vành đai bệnh Khu vực được bảo vệ tách khỏi vùng có dịch bởi mạng lưới các trạm kiểm dịch cố định và di động ở trong vùng được bảo
vệ Cán bộ làm việc tại các chốt cũng kiêm luôn việc kiểm tra xe cộ để ngăn chặn việc vận chuyển động vật trái phép
Gần đây, cùng với việc sử dụng rộng rãi vắc-xin, tần suất tiêm giảm xuống còn mỗi năm một lần Chủ gia súc phải nhận được giấy chứng nhận gia súc của mình được tiêm phòng đầy đủ trước khi họ có thể vận chuyển gia súc đi, các thông lệ này được áp dụng phổ biến ở các nước Nam Mỹ
(2) Các biện pháp bảo vệ an toàn bệnh LMLM cho đàn vật nuôi ở nước Mỹ
Cơ quan kiểm dịch động vật-thực vật của Bộ Nông nghiệp Mỹ có những biện pháp để ngăn chặn bệnh LMLM như sau:
- Cấm nhập khẩu động vật nhai lại, heo sống và các sản phẩm động vật đó từ những nước đã bị nhiễm bệnh LMLM Hạn chế nhập các mặt hàng đó từ các nước thành viên cộng đồng châu Âu
- Tại các cửa khẩu, các nhân viên Cơ quan kiểm dịch động vật-thực vật của
Bộ Nông nghiệp Mỹ kiểm tra hành khách, hành lý, hàng hoá
Trang 29- Cơ quan kiểm dịch động vật-thực vật của Bộ Nông nghiệp Mỹ phổ biến các thông tin về bệnh LMLM cho các đối tác củaBộ Nông nghiệp Mỹ
- Các quan chức thú y nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với các bác sĩ thú y để
đảm bảo an toàn cho đàn gia súc nội địa (Kleenliside, 2003)
2.6.3 Khống chế bệnh LMLM ở châu Phi
Từ những năm 1980, tỷ lệ mắc bệnh giảm đáng kể ở Angola và Mozanbic Điều này có lẽ do đàn gia súc giảm vì các hoạt động quân sự Người ta cho rằng công tác khống chế dịch bệnh được cải tiến, đặc biệt là do vắc-xin nội địa sản xuất với chất lượng cao cuối những năm 1970, một số nước không có dịch bệnh trong nhiều năm Ở Nam Phi, dịch bệnh không xảy ra ở đàn gia súc trong nước từ năm
1983 trong khi ở Botxoana đợt dịch cuối cùng xảy ra năm 1980 (Văn Đặng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
Giai đoạn 2: tiếp tục tiêm phòng 2 năm sau (hoặc hơn)
Giai đoạn 3: cấm tiêm vắc-xin và kiểm tra thường xuyên vấn đề vệ sinh thú y các trại, phương tiện giao thông, nhà máy chế biến thực phẩm…
Myanmar đã có chương trình phòng chống bệnh LMLM quốc gia và đang thực hiện giai đoạn I tiêm phòng toàn đàn gia súc trong cả nước, giám sát dịch tễ bệnh LMLM như điều tra dịch bệnh và kiểm tra kháng thể thường xuyên ở vùng có dịch, củng cố hệ thống báo cáo dịch, tăng cường kiểm soát đối với gia súc vận chuyển và thực các biện pháp làm giảm vận chuyển trái phép
Tại Thái Lan bệnh LMLM thường xuyên xảy ra nhiều nơi trong cả nước, năm
1998 có 183 ổ dịch, năm 1999 có 76 ổ dịch Các ổ dịch phần lớn do vận chuyển động vật trái phép Thái Lan đã có chương trình phòng chống bệnh LMLM quốc gia
và đang ở giai đoạn I Thái Lan đã có nhà máy sản xuất vắc-xin LMLM và trung
Trang 30tâm chẩn đoán bệnh LMLM, đồng thời có trung tâm chẩn đoán bệnh LMLM khu vực cho các nước Đông Nam Á Hàng năm, Thái Lan đã thực hiện tiêm phòng hơn
20 triệu liều vắc-xin đa giá cho đàn gia súc trong cả nước, thực hiện các biện pháp giảm vận chuyển trái phép
Các nước Lào, Campuchia: bệnh LMLM cũng xảy ra từ năm này qua năm khác ở nhiều nơi trong nước Tiêm phòng chỉ được thực hiện ở nơi có dịch (Văn Đăng Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
2.7 Một số nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước
2.7.1 Nghiên cứu ngoài nước về yếu tố nguy cơ
Theo khảo sát của Perry và Kalpravidh (1999) và Gleeson (2002) tại các ổ dịch của các nước Đông Nam Á, nguyên nhân chủ yếu của dịch LMLM được xác định theo thứ tự như sau: dịch tại Thái Lan năm 1999 bao gồm 11,8% từ ổ dịch nội vùng, 3,9% từ lò giết mổ, 8% không rõ nguyên nhân và 76,3% do di chuyển gia súc (bao gồm 22,4% từ chợ gia súc; 22,4% do nhập lậu gia súc vào Thái Lan trong giai đoạn kiểm dịch; 12,1% từ người buôn bán gia súc…); dịch LMLM tại Myanmar năm 1999 do bởi 20% từ dịch nội vùng, di chuyển gia súc (chợ gia súc 12%, buôn lậu gia súc 12%, di chuyển gia súc trong nước 20%, di chuyển theo mùa 20% ), 4% không biết nguyên nhân
Rodríguez và ctv (1993); Diego và ctv (1997); Bergmann và ctv (2000); Bergmann và ctv (2003); Bruderer và ctv (2004) đã dùng phản ứng ELISA gián tiếp phát hiện protein 3ABC để chẩn đoán phân biệt giữa thú nhiễm tự nhiên và tiêm phòng
2.7.2 Nghiên cứu trong nước
Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) bệnh LMLM được phát hiện đầu tiên ở Nha Trang năm 1898, và các ổ dịch lẻ tẻ ở miền Bắc và miền Trung từ năm 1938 – 1940
Nguyễn Vĩnh Phước (1978) báo cáo bệnh LMLM xảy ra lẻ tẻ trên đàn gia súc trong cả nước từ năm 1920 - 1922
Theo Trần Hữu Cổn (1996), năm 1995 ở khu vực phía Nam, bệnh LMLM xảy
Trang 31bệnh trong giai đoạn 1953 - 1960 là 1,07- 1,94%; riêng năm 1995 là 0,44% ở Vĩnh Long; 25% ở Sông Bé Trên heo, tỷ lệ chết cao nhất là 39,90% ở Kiên Giang và thấp nhất 6,84% ở An Giang
Lê Minh Chí (1999) ghi nhận trong năm 1995 có 236.000 trâu bò và 11.000 heo ở 26 tỉnh, thành phố phía Nam mắc bệnh LMLM Nghiên cứu từ năm 1995 – 31/12/1999, tác giả cho biết có 120.989 trâu bò và 32.494 heo của 55 tỉnh mắc bệnh LMLM
Khảo sát của Thái Thị Thuỷ Phượng (2000) cho thấy tỷ lệ bệnh LMLM trên heo bình quân trong 4 năm của bốn tỉnh An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp là 3,75% Đồng Tháp mắc bệnh cao nhất (5,28%) An Giang thấp nhất (0,19%) Tác giả cũng nêu tỷ lệ chết và xử lý trong năm 1995 là 68,42% ở Vĩnh Long, 50% ở An Giang, 21,34% ở Đồng Tháp Trong năm 1999, tỷ lệ chết do bệnh LMLM tại bốn tỉnh này cũng được tác giả ghi nhận (An Giang 0%, Đồng Tháp 6,09%, Cần Thơ 9,35% và Vĩnh Long 8,21%) Ngoài ra, nguyên nhân xảy ra bệnh LMLM trên đàn gia súc của tỉnh Đồng Tháp năm 1995 là do tư thương nhập lậu heo
từ các tỉnh phía Bắc; vào năm 1999, bệnh LMLM trên gia súc của tỉnh An Giang và Đồng Tháp có nguồn gốc từ Trung Quốc Điều này cũng phù hợp với báo cáo Hội nghị bệnh LMLM ở Đông Nam Á năm 2000 do Tổ chức Dịch tễ Thế giới tổ chức tại Nhật Bản
Theo Thái Thị Thuỷ Phượng (2007), tỷ lệ heo với các triệu chứng, bệnh tích LMLM qua điều tra năm 2002 như sau:
Trang 32Bảng 2.3 Tần suất (%) của một số triệu chứng và bệnh tích của heo bệnh
LMLM (nguồn: Thái Thị Thuỷ Phượng, 2007) Triệu chứng Tần suất
Bỏ ăn 79,88
Tiêu chảy 41,83 Chảy nước bọt 22,31 Chép miệng 15,73
Xuất hiện mụn nước
Mũi 51,99 Miệng 88,84
Ở miệng 53,39
Huỳnh Thị Thanh Thuỷ (2003) xác định một số yếu tố nguy cơ về mặt sinh
học và quản lý của bệnh LMLM.Tuy nhiên, tác giả chỉ xử lý thống kê bằng các trắc
nghiệm thông dụng mà không phân tích tầm quan trọng của mỗi yếu tố nguy cơ và
chưa sử dụng phương trình dự đoán
Tô Long Thành (2006) cho biết từ năm 1986 – 2006 bệnh LMLM xảy ra ở
Việt Nam do 3 týp O, A, Asia-1 gây ra
Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2006) qua khảo sát đàn heo ở thành phố Hồ Chí
Minh, cho thấy tỷ lệ dương tính kháng thể kháng protein 3ABC trên heo năm 2003
là 4,51% và năm 2004 là 0% Ngoài ra, tỷ lệ heo có bảo hộ vào các thời điểm sau
tiêm phòng vắc-xin Aftopor 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng tương ứng 86,67%, 80,00%
và 43,81%
Trang 33Chi cục Thú y Bình Dương (2007) đã phát hiện trường hợp mang trùng vi-rút LMLM trên đàn heo giống với tỷ lệ 2,1% khi dùng ELISA xét nghiệm kháng thể kháng protein 3ABC trên heo
Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu về dịch tễ LMLM ở Việt Nam thường tập trung khảo sát tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết, khảo sát những diễn biến lâm sàng thú bệnh LMLM nhưng chưa tách riêng từng lứa tuổi, đặc biệt chưa theo dõi trên thú mang thai Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của bệnh bằng phương pháp thống kê thông dụng trong điều kiện Việt Nam, do đó vẫn còn nhiều yếu tố nguy cơ chưa được xác định hoặc khẳng định lại Ngoài ra, với sự đa dạng của vùng chăn nuôi, quy mô đàn, mật độ chăn nuôi, trình độ và tập quán của người nuôi, thì yếu tố nguy cơ của bệnh LMLM sẽ hiện diện khác nhau theo đặc thù của vùng chăn nuôi đó Đặc biệt, những nghiên cứu ngoài nước trước đây đều khẳng định trên heo không có hiện tượng mang trùng Tuy nhiên, một số khảo sát trong nước đã có ghi nhận những trường hợp mang trùng trên heo Do đó, việc theo dõi diễn biến lâm sàng của thú bệnh LMLM, xác định yếu tố nguy cơ và xác lập phương trình hồi quy của các yếu tố nguy cơ để dự đoán bệnh, đồng thời khẳng định hiện tượng mang trùng trên heo là hết sức cần thiết trong việc phòng chống dịch bệnh LMLM trong tương lai tại Tiền Giang
2.8 Giới thiệu của huyện Chợ Gạo
2.8.1 Vị trí địa lý
Huyện Chợ Gạo nằm về phía Đông của tỉnh Tiền Giang, thuộc hạ lưu sông Tiền có chiều dài đường sông là 17 km, chiều rộng trung bình của huyện tính từ phía Bắc đến Nam là 14 km, chiều dài trung bình từ Đông sang tây là 18 km
Ranh giới hành chính của huyện Chợ Gạo được xác định như sau:
Đông giáp huyện Gò Công Tây và Tân Phú Đông
Tây giáp huyện Châu Thành và thành phố Mỹ Tho
Nam giáp tỉnh Bến Tre
Bắc giáp tỉnh Long An
Trang 34Diện tích tự nhiên của huyện là 23.536 ha, được chia thành 19 đơn vị hành chính gồm 18 xã và 1 thị trấn, dân số trung bình năm 2005 là 179.629 người, mật độ bình quân 760 người/km2
2.8.2 Các yếu tố tự nhiên liên quan đến chăn nuôi
Nhiệt độ trung bình trong năm là 27,90C; cao nhất 38,90C, thấp nhất 14,90C Tháng nóng nhất trong năm là tháng 3 đến tháng 4 (nhiệt độ 38,20C – 38,90C)
Ẩm độ trung bình trong năm là 79,20C Tháng 8 – 10 có ẩm độ cao nhất (82,5%), thấp nhất vào tháng 3 – 4 (74,1%)
Huyện Chợ Gạo có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 11 dương lịch, lượng mưa phân bố không đều, thường tập trung vào tháng 6 – 10 khoảng 1.340 mm, chiếm gần 90% lượng mưa cả năm Mùa khô từ đầu tháng 12 đến cuối tháng 3 dương lịch
Lượng bức xạ trung bình 425cal/cm2/ngày, thời gian chiếu sáng thay đổi bình quân 11 giờ/ngày, dài nhất vào tháng 5 (trên 12/giờ/ngày) và ngắn nhất ở tháng 10 (dưới 10 giờ/ngày)
Tóm lại, huyện Chợ Gạo có điều kiện tự nhiên thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi
2.8.3 Phân bố đàn heo tại các xã
Tổng đàn heo của huyện trong năm 2008 là 106.021 con, chiếm 20,36% số heo của tỉnh Tiền Giang
Trang 35Bảng 2.4 Tổng đàn heo các xã của huyện Chợ Gạo trong năm 2006
Trang 36Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian thực hiện: từ tháng 01 năm 2006 đến tháng 7 năm 2008
3.2 Nội dung nghiên cứu
Phân tích týp vi-rút và biểu hiện lâm sàng ở heo bệnh LMLM
Xác định một số yếu tố nguy cơ, thành lập phương trình dự đoán khả năng phát sinh bệnh
Phát hiện kháng thể kháng protein 3ABC của vi-rút LMLM nhiễm trên đàn heo sinh sản
Xác định tỷ lệ bảo hộ đối với vi-rút LMLM serotýp O trên đàn heo sinh sản đã được tiêm phòng vắc-xin LMLM tại hộ chăn nuôi
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phân tích týp vi-rút và biểu hiện lâm sàng ở heo bệnh LMLM
Mục tiêu là so sánh những diễn biến lâm sàng trong đợt dịch năm 2006 với những mô
tả của các tác giả khác
(1) Địa điểm thực hiện: các hộ chăn nuôi có heo bệnh LMLM tại 19 xã/thị của huyện Chợ Gạo từ tháng 01 đến tháng 7 năm 2006 Mẫu mô bệnh tích được gởi đến
Cơ quan Thú y vùng VI xác định bằng kỹ thuật ELISA
(2) Đối tượng khảo sát: chọn những hộ có heo mới xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh LMLM để khảo sát và theo dõi diễn biến của bệnh Số hộ theo dõi diễn biến lâm sàng của bệnh 170 hộ, số heo nuôi bình quân từ 5 - 50 con/hộ (quy
mô đàn này chiếm phần lớn trong số hộ nuôi heo của huyện)
(3) Chỉ tiêu theo dõi
+ Týp vi-rút LMLM
+ Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng và bệnh tích của heo bệnh LMLM
+ Tỷ lệ bệnh ở các hạng heo của những hộ khảo sát
+ Tỷ lệ tử vong
(4) Xét nghiệm mẫu: lấy 5g bệnh phẩm (biểu mô hoặc dịch của mụn nước tại
Trang 37Bảo quản mẫu ở 4oC - 8oC trong suốt quá trình vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm Kỹ thuật ELISA được dùng để phát hiện týp vi-rút LMLM (O, A, C và Asia 1)
(5) Công thức tính
+ Tỷ lệ bệnh (TLB)
Số gia súc bệnh TLB (%) = x 100
Số heo có xuất hiện triệu chứng, bệnh tích
TLXH (%) = x 100
Số heo bệnh
Trang 38Bảng 3.1 Phân bố heo bệnh phân tích týp vi-rút LMLM
Bảng 3.2 Phân bố hạng heo bệnh LMLM được theo dõi
Hạng heo Số heo nuôi Số heo bệnh Số heo được mổ khám
Trang 39(1) Địa điểm thực hiện: 18 xã và 1 thị trấn của huyện Chợ Gạo có heo bệnh LMLM Số hộ khảo sát 330 (gồm 170 hộ có heo bệnh và 160 hộ có heo không bệnh) Các hộ có heo không bệnh được chọn một cách ngẫu nhiên dựa vào danh sách hộ chăn nuôi heo của huyện và theo tỷ lệ với hộ có heo bệnh ở từng xã
(2) Các biến theo dõi
- Trước khi xảy ra dịch bệnh 1 tháng
+ Có thú y viên đi đến hộ chăn nuôi khảo sát
+ Có thương lái mua bán heo đến hộ khảo sát
+ Người chăn nuôi ở hộ khảo sát đi đến hộ heo bệnh
- Khoảng cách từ hộ chăn nuôi khảo sát tới đường giao thông liên xã hoặc tới hộ có heo bệnh trước đó (khoảng cách giữa hai yếu tố nguy cơ này đến hộ chăn nuôi từ 500 mét trở xuống được quy định là gần và trên 500 mét là xa)
- Có tiêm phòng hay không
(3) Phương pháp tiến hành: đến các hộ chăn nuôi heo tại ổ dịch LMLM để quan sát, phỏng vấn và ghi nhận vào mẫu điều tra
Tổng hợp tất cả biến số của các hộ chăn nuôi được khảo sát Tính OR và tìm phương trình hồi quy tuyến tính của các yếu tố nguy cơ bằng phần mềm SPSS (version 15.0) Khi chỉ tiêu nào có OR > 2 được xem là yếu tố nguy cơ của bệnh LMLM
So sánh từng cặp yếu tố nguy cơ để xếp hạng từ cao đến thấp Thành lập phương trình dự đoán khả năng phát sinh bệnh, có dạng:
Y = aX1 + bX2 + … + nXn
Trong đó, Y là đại lượng biểu thị xác suất xuất hiện bệnh; a,b, …, n là hệ số chi phối của từng yếu tố nguy cơ; X1,X2, … Xn là các yếu tố nguy cơ đã tìm được ở trên
3.3.3 Phát hiện kháng thể kháng protein 3ABC của vi-rút LMLM nhiễm trên đàn heo sinh sản
Mục tiêu xác định tỷ lệ nhiễm vi-rút LMLM trên heo đã được giữ lại nuôi tại hộ có bệnh LMLM trong đợt dịch đầu năm 2006 cho đến năm 2008
(1) Thời gian thực hiện: tháng 4 - 7/2008
(2) Địa điểm thực hiện: một số hộ chăn nuôi (bình quân từ 5 đến 50 con/hộ) có heo bệnh tại 6 xã thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Số xã khảo sát chiếm 30% của tổng số xã, đây là các xã nuôi nhiều heo và có nhiều hộ bệnh LMLM trong đợt
Trang 40dịch đầu năm 2006 Xét nghiệm mẫu máu tại Trạm Chẩn đoán xét nghiệm và Điều trị của Chi cục Thú y TP.Hồ Chí Minh
(3) Đối tượng lấy mẫu: heo đực giống và heo nái từ hộ có heo bệnh LMLM trong năm 2006; chúng đã có hoặc không biểu hiện lâm sàng bệnh LMLM, không tiêm phòng hoặc tiêm phòng vắc-xin LMLM đã loại bỏ protein 3ABC sau dịch, và vẫn được giữ lại nuôi cho đến năm 2008
(4) Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ heo có kháng thể kháng protein 3ABC của vi-rút LMLM tự nhiên ở mỗi xã
(5) Xét nghiệm mẫu: số lượng mẫu là 130 dựa trên ước tính số hộ chăn nuôi heo có bệnh LMLM ở mỗi xã (số hộ và số mẫu ở từng xã có thể thay đổi dựa trên tình hình thực tế khi lấy mẫu)