1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU BỌ TRĨ GÂY HẠI CÂY ỚT NGỌT VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

135 564 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vần đề trên, thì việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bọ trĩ gây hại cây ớt ngọt và một số biện pháp phòng trừ tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” là điều rất cần thiết... C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

NGHIÊN CỨU BỌ TRĨ GÂY HẠI CÂY ỚT NGỌT VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI HUYỆN

ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỲNH

Trường Đại học Cần Thơ

4 Phản biện 2: TS TRÁC KHƯƠNG LAI

Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam

5 Ủy viên: PGS.TS NGUYỄN THỊ CHẮT

Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 3

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Nguyễn Ngọc Sơn, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1973 tại huyện

Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Con ông Nguyễn Ngọc Bảo và bà Vũ Thị Tự Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

Tốt nghiệp Đại học ngành Bảo vệ thực vật tại Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội

3/1996 – 8/2003 làm việc tại Chi cục Bảo vệ thực vật thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng

9/2003 đến nay là giáo viên Khoa Nông nghiệp, Trường Cao đẳng Nghề

Địa chỉ liên lạc: tổ 13b, đường Trương Văn Hoàn, P9, TP Đà Lạt

Điện thoại: 0636286173 – 0983810962

E-mail: hoangsondl@gmail.com

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 5

CẢM TẠ

Xin trân trọng cảm ơn:

PGS.TS Nguyễn Thị Chắt, giảng viên Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt và hướng dẫn tôi hoàn thành nghiên cứu này

Phòng Sau Đại học cùng Quý Thầy Cô Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt khóa học

Ban Lãnh đạo, tập thể giáo viên Khoa Nông nghiệp Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này

Xin được ghi ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã động viên, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian tham dự khóa học và thực hiện đề tài

Đà Lạt, tháng 5 năm 2009 Nguyễn Ngọc Sơn

Trang 6

Ghi nhận được 2 loài bọ trĩ là Frankliniella occidentalis và Thips palmi trong

đó loài Frankliniella occidentalis xuất hiện và gây hại nhiều nhất

Bọ trĩ bắt đầu xuất hiện giai đoạn cây ớt 20 – 25 ngày sau trồng với mật độ thấp 0,3 – 1,3 con/cây Mật độ bọ trĩ, tỷ lệ lá bị hại, chỉ số lá bị hại tăng dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây và đạt cao nhất ở giai đoạn 170 – 175 ngày sau khi

trồng 30,1 – 38,8 con/cây, tỷ lệ lá bị hại 24,9% - 42,2%, chỉ số lá bị hại 7,0% - 18,5

% Mật độ bọ trĩ và mức độ gây hại giảm dần khi cây được 6 tháng tuổi cho đến kết thúc thu hoạch

Bẫy màu vàng số lượng bọ trĩ vào nhiều nhất và nhiều nhất ở giai đoạn cây ra trái rộ đạt 90,3 con/bẫy, tiếp đến bẫy màu xanh 40,5 con/bẫy, thấp nhất bẫy màu trắng 21,1 con/bẫy Mật độ bọ trĩ trung bình 3 cây xung quanh bẫy màu vàng thấp nhất và giảm dần từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 5 sau khi đặt bẫy, tiếp đến bẫy màu xanh mật độ cao hơn, và mật độ cao nhất ở 3 cây xung quanh bẫy màu trắng

Thuốc Sectox 50 % EC và thuốc Usatabon 17.5 WP hiệu quả phòng trừ bọ trĩ đạt cao nhất (82 – 84 %) ở thời điểm 3 ngày sau phun thuốc Thuốc Abatin 1.8 EC, Cymerin 25 EC hiệu quả phòng trừ bọ trĩ thấp hơn, hiệu quả đạt cao nhất 69,9 – 70,1% ở thời điểm 5 ngày sau phun Hiệu quả phòng trừ bọ trĩ của 4 loại thuốc giảm mạnh ở thời điểm 14 ngày sau phun thuốc

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp trong đó có sử dụng bẫy màu vàng để phòng trừ bọ trĩ đã có tác dụng ngăn chặn sự phát sinh và gây hại của bọ trĩ; giảm số

Trang 7

phòng trừ tổng hợp đã mang lại lợi nhuận cao hơn so với theo kỹ thuật nông dân là 771.000 đ/500 m2 với hệ số lãi suất là 1,1 Đặc biệt tạo ra sản phẩm an toàn, vệ sinh, không gây ô nhiễm môi trường do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Trang 8

ABSTRACT Research title “Studies on thrip’s damages to Capsicum crop and some methods to control in Don Duong District, Lam Dong Provine” were carrired

out in the intensive growing region of Capsicum crop of Ka Do, Lac Xuan and Lac

Lam village, Don Duong District, Lam Dong province while, the laboratorial works were done in the Laboratary of Plan Protection Department of Ho Chi Minh Agriculture and Forestry University, and the Laboratary of Agriculture faculty, Da Lat Vocational College The studies were carried out from April, 2008 to April,

2009

We have already recorded two popular thrips species on capsicum crop in Don

Duong District, Lam Dong Provine There are: Frankliniella occidentalis and Thips palmi Frankliniella occidentalis was more popular

Thrip normally occurs at 20 to 25 days after transplating (DAT) with its population of 0,3 to 1,3 thrips/plan Generally the number of thrip, infection rate and severity index of leaf gratually increased with the crop growth and reached the highest value at 170 to 175 DAT (30,1 to 38,8 thrips/plan, 24,9% to 42,2% and 7,0% - 18,5 % respectively) After 6 months of transplanting to harvest finish the population of thrip and severity index gradually decreased

The effects of the yellow, green and while trap on attraction to thrip revealed that the yelow trap attracted the highest number of thrip with its maximum value at the fruiting period (90,3 thrip/trap) The green trap attracted less number of thrip (40,5 thrip/trap) comparing to the yellow one but still better than the while trap (21,1 thrip/trap) Generally the population of thrip from three plans arround to the yellow trap was lowest The population of thrip was gradually reduced from 1 day

to 5 days after placing trap The population of thrip arround the green trap was higher than the yellow trap but still lower than white trap

The effects of some insecticides on thrip were carried out by RCBD method

Trang 9

and Usatabon 17.5 WP indicated the best efficacies on controlling thrip (82 to 84%)

at 3 days after spraying Abamectin 1.8 EC and Cymerin 25 EC indicated a lower efficacies on controlling thrip with its highest value at 5 days after spraying (69,9 – 70,1%) Generally effects of all tested insecticides significantly decreased at 14 days after spraying

The experiments of integrated pest management were carried out in the large scale field (500 m2) with 2 treatments The data from experiments indicated that the integrated pest management method including the yellow trap could prevent thrip infection and reduced total times of insecticide application per crop season from 30 times as the farmer to 10 times as the treatment The integrated pest management method increased profit about 771.000 d/500 m2 Besides the integrated pest management methods improved the quality of agricultural products and were more friendly to the environment

Trang 10

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2

2.1.1 Ngoài nước 3 2.1.2 Trong nước 4

2.3 Mức độ gây hại và ký chủ của bọ trĩ 5

Trang 11

2.5 Thành phần thiên địch của bọ trĩ 7

2.6 Đặc điểm phân loại một số loài bọ trĩ hại rau 11

3.3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Phương tiện nghiên cứu 21

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây ớt ngọt của nông dân tại Đơn Dương 22

3.3.2.2 Xác định thành phần bọ trĩ trên ớt ngọt tại huyện Đơn Dương 23

3.3.2.3 Điều tra biến động tác hại của bọ trĩ trên ớt ngọt 23

3.3.2.4 Khảo sát hiệu quả phòng trừ bọ trĩ trên ớt ngọt 25

4.1 Hiện trạng canh tác trên ớt ngọt tại Đơn Dương, Lâm Đồng 30

4.2 Một số loài bọ trĩ gây hại trên ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, Lâm Đồng 34

Trang 12

4.2.1 Ghi nhận tổng quát sâu hại ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, Lâm Đồng 34

4.2.2 Một số loài bọ trĩ gây hại trên cây ớt ngọt (Capsicum annuum) 37

4.2.3 Một số đặc điểm hình thái và phân loại của bọ trĩ trên cây ớt ngọt 38

4.2.3.1 Bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis Pergander 38

4.3 Sự phát sinh, phát triển của bọ trĩ trên ớt ngọt (Capsicum annuum) 42

4.4 Hiệu quả phòng trừ bọ trĩ của một số biện pháp trên ớt ngọt 54

4.4.1 Hiệu quả dùng bẫy 54

4.4.2 Hiệu quả phòng trừ bọ trĩ bằng thuốc hóa học 60

4.4.3 Khảo sát hiệu quả phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp tổng hợp 63

5.1 Kết luận 70 5.2 Đề nghị 71

Trang 14

Hình 4.1 Một số loài sâu gây hại ớt ngọt tại Đơn Dương, Lâm Đồng 35

Hình 4.2 Triệu chứng gây hại của bọ trĩ trên ớt ngọt 36

Hình 4.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo bọ trĩ hoa 39

Hình 4.4 Đặc điểm hình thái cấu tạo bọ trĩ dưa 41

Hình 4.5 Biến động các giai đoạn phát triển của bọ trĩ trên ớt tại xã Ka Đô 45

Hình 4.6 Giai đoạn ấu trùng và thành trùng bọ trĩ hoa 46

Hình 4.7 Một số giai đoạn sinh trưởng của cây ớt ngọt 46

Hình 4.8 Biến động các giai đoạn phát triển của bọ trĩ trên ớt tại xã Lạc Xuân 49

Hình 4.9 Biến động các giai đoạn phát triển của bọ trĩ trên ớt tại xã Lạc Lâm 52

Hình 4.13 Khả năng cuốn hút bọ trĩ của các loại bẫy màu 56

Hình 4.14 Phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp hóa học và tổng hợp 56

Trang 15

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp cơ học 25

Bảng 3.2 Thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp hóa học 26

Bảng 3.3 Thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp tổng hợp 28

Bảng 4.1 Thông tin chung về tình hình trồng ớt ngọt tại Đơn Đương 30

Bảng 4.2 Kỹ thuật canh tác ớt ngọt tại Đơn Đương 31

Bảng 4.3 Một số sâu hại ớt và biện pháp phòng trừ của nông dân 32

Bảng 4.4 Một số sâu hại chính trên ớt ngọt tại Đơn Đương 34

Bảng 4.5 Một số loài bọ trĩ hại ớt ngọt tại Đơn Đương 34

Bảng 4.6 Biến động mức độ gây hại của bọ trĩ trên ớt ngọt tại xã Ka Đô 43

Bảng 4.7 Biến động mức độ gây hại của bọ trĩ trên ớt ngọt tại xã Lạc Xuân 47

Bảng 4.8 Biến động mức độ gây hại của bọ trĩ trên ớt ngọt tại xã Lạc Lâm 50

Bảng 4.9 Khả năng cuốn hút bọ trĩ của bẫy màu ở giai đoạn cây chớm ra hoa 55

Bảng 4.10 Khả năng cuốn hút bọ trĩ của bẫy màu ở giai đoạn cây ra hoa rộ 57

Bảng 4.11 Khả năng cuốn hút bọ trĩ của bẫy màu ở giai đoạn cây ra trái rộ 58

Bảng 4.12 Mật độ bọ trĩ ở ruộng thí nghiệm phòng trừ bằng biện pháp hóa học 60

Bảng 4.13 Hiệu quả phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp hóa học 62

Bảng 4.14 Mật độ bọ trĩ ở ruộng thí nghiệm phòng trừ bằng biện pháp tổng hợp 64 Bảng 4.15 Tỷ lệ lá bị hại ở thí nghiệm phòng trừ bằng biện pháp tổng hợp 66

Bảng 4.16 Năng suất ớt ở ruộng phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp tổng hợp 67

Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của việc phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp tổng hợp 68

Trang 16

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Ớt ngọt (Capsium annuum) là loại thực phẩm có mặt ở nước ta từ lâu, song

mãi đến những năm gần đây, cùng với sự đi lên của đời sống xã hội, ớt ngọt ngày càng xuất hiện nhiều trong bữa ăn của dân ta Cây ớt ngọt là một trong những loại cây rau quả có giá trị kinh tế cao, thời gian thu hoạch kéo dài, thành phần dinh dưỡng phong phú Trong ớt ngọt có chứa lượng vitamin C rất cao, cứ 50 gr ớt có chứa hơn 60 mg vitamin C, tương đương với 75% lượng vitamin C cơ thể cần mỗi ngày Lượng caroten trong ớt có thể đạt mức 3,5 mg/100gr Ớt ngọt được xếp vào một trong những loại rau chứa nhiều chất xơ nhất, chính vì vậy có thể dùng như một loại thực phẩm để tăng cường chất xơ Ngoài ra trong ớt ngọt còn có các chất khoáng như Ca, N, Fe, P, Kali

Trồng ớt ngọt cung cấp cho thị trường là ngành sản xuất có lợi nhuận cao Vì vậy trong những năm gần đây ớt ngọt được trồng khá phổ biến, đặc biệt tại tỉnh Lâm Đồng, tập trung chủ yếu các huyện như Đơn Dương, Đức Trọng, và rải rác ở thành phố Đà Lạt

Diện tích ớt ngọt tại Lâm Đồng năm 2007 khoảng 70 ha Đầu năm 2008, kết quả tổng kết mô hình trồng ớt ngọt tại xã Hiệp An, huyện Đức Trọng cho thấy mỗi hécta đất đã cho nông dân thu nhập bình quân 250 triệu đồng

Tuy nhiên để đảm bảo năng suất, phẩm chất ớt ngọt nhằm mang lại lợi nhuận cao, thì việc quản lý dịch hại trên cây ớt ngọt đòi hỏi nghiêm ngặt hơn những loại cây khác Bọ trĩ là đối tượng gây hại khá nghiêm trọng trong những năm gần đây, ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất ớt ngọt Bọ trĩ không những gây hại cho

Trang 17

lá, bông mà chúng còn gây hại khá nghiêm trọng tới trái, làm trái sần sùi, bị vẹo không thu hoạch được

Hiện nay khá nhiều diện tích ớt ngọt tại Lâm Đồng được trồng trong nhà lưới nhằm hạn chế dịch hại tấn công Tuy nhiên việc sử dụng thuốc để phòng trừ sâu bệnh, đặc biệt bọ trĩ được áp dụng thường xuyên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự an toàn của sản phẩm do để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Để giải quyết vần đề trên, thì việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bọ trĩ gây

hại cây ớt ngọt và một số biện pháp phòng trừ tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” là điều rất cần thiết

1.2 Mục tiêu, yêu cầu

Trang 18

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Thành phần bọ trĩ hại rau và cây ngắn ngày

2.1.1 Ngoài nước

Ramachandran và ctv (2001) báo cáo rằng loài bọ trĩ Frankiniella occidentalis, Frankiniella tritici, Frankiniella bispinosa xuất hiện và gây hại trên cánh đồng ớt tại Florida, trong đó phổ biến là loài Frankiniella occidentalis

Theo Funderburk và ctv (2000), ở Florida và miền Nam nước Mỹ phổ biến có

các loài bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella bispinosa, Frankliniella tritici, Frankliniella fusca, Thrips tabaci, Thrips palmi, Frankliniella schultzei gây hại trên một số loại cây họ cà, họ đậu, họ hành tỏi, họ bầu bí, cây tiêu, dâu tây,

bông vải, thuốc lá

Vào năm 1987, Chen và Chang báo cáo rằng có 5 loài bọ trĩ phá hại phổ biến

trên rau ở Đài Loan là Thrips palmi, Thrips tabaci, Thrips haweiiensis, Frankliniella intonsa, Megalurothrips usitatus (Trích dẫn CABI, 2005)

Ở Đài Loan có 99 loài bọ trĩ được báo cáo, trong đó có 4 loài tấn công chủ

yếu trên rau là: Thrips palmi trên họ bầu bí và họ cà, Frankliniella intonsa trên đậu, Thrips tabaci trên hoa loa kèn, Megalurothrips usitatus trên đậu

Theo Khoo và Ooi (1989), bọ trĩ Thrips palmi Karny, Thrips parvispinus, Anaphothrips corbetili là những loài bọ trĩ gây hại phổ biến trên cây rau

Theo Wang và ctv có 8 loài bọ trĩ quan trọng trên dưa chuột gồm: Thrips palmi, Thrips tabaci, Thrips haweiiensis, Frankliniella intonsa, Megalurothrips usitatus, Megalurothrips tipicus, Thrips flavus, và Haplothrips chinenesis

Ở Philippines đa số loài bọ trĩ hại rau là Thrips palmi, Megalurothrips usitatus

Ở Indonesia những loài bọ trĩ chủ yếu trên rau là Thrips palmi Karny, Thrips

Trang 19

2.1.2 Trong nước

Tại Đức Hòa, Long An, trên cây dưa hấu có 5 loài bọ trĩ gây hại đó là Thrips

palmi Karny, Thrips tabaci Lindeman, Frankliniella occidentalis Per., Haplothrips

sp., và một loài thuộc họ Chilothripidae (Phạm Thị Ngọc Ánh, 2004)

Nguyễn Thị Hai (2006) báo cáo rằng có 3 loài bọ trĩ hại nho tại Ninh Thuận đó

là: Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips palmi và Ayyaria sp Trong đó, loài

Scirtothrips dorsalis Hood thường xuyên xuất hiện và gây hại chính trên cây nho tại

Ninh Thuận

2.2 Qui luật phát sinh phát triển của bọ trĩ

2.2.1 Ngoài nước

Bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis gây hại khá phổ biến trên cây rau họ cà,

và một số cây rau khác tại Florida, mật số loài bọ trĩ này ở mùa xuân cao hơn so với mùa thu Các mức bón đạm khác nhau trên cây khoai tây không ảnh hưởng đến mật

số bọ trĩ (Salguero và ctv, 1991)

Funderburk và ctv (2000) báo cáo rằng ở điều kiện nhiệt độ thấp bọ trĩ phát triển kém, mùa hè và mùa thu mật số bọ trĩ cao, yêu cầu nhiệt độ thấp nhất đối với

bọ trĩ là 10oC, trong điều kiện mùa đông ở miền Nam nước Mỹ vòng đời của bọ trĩ

từ 30 – 40 ngày, vòng đời rút ngắn khi nhiệt độ ấm lên trong mùa xuân

2.2.2 Trong nước

Theo Phạm Thị Ngọc Ánh (2004), báo cáo rằng tại Đức Hòa, Long An, cây dưa hấu trồng trong vụ Xuân Hè (mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4) bọ trĩ xuất hiện

và gây hại nhiều hơn so với cây dưa hấu trồng trong vụ Hè Thu (mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 7) Trong cả hai vụ mức độ biến động mật số bọ trĩ, tỷ lệ hại, chỉ số hại đều tăng dần từ đầu vụ, đạt mật số cao nhất ở giai đoạn cây dưa hấu ra hoa, tạo trái (35 - 45 ngày sau khi gieo) và sau đó giảm dần cho đến khi thu hoạch

Tại Bình Thuận, cây bông gieo vào tháng 12 thường bị bọ trĩ gây hại nặng hơn nhiều so với bông gieo trước đó Bọ trĩ phát sinh mạnh từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2 (Lê Quang Quyến và ctv, 2005)

Trang 20

2.3 Mức độ gây hại và ký chủ của bọ trĩ

2.3.1 Ngoài nước

Bọ trĩ là loài sâu đa thực, có phổ ký chủ rộng, phá hại trên rất nhiều loài cây trồng Trong đó có cây rau, đặc biệt rau thuộc họ cà, họ đậu, họ bầu bí, họ hành tỏi Chúng còn là môi giới truyền nhiều bệnh siêu vi trùng cho nhiều loại cây

Trong những năm 1980, đã có nhiều báo cáo về sự xâm nhập của bọ trĩ Thrips palmi gây thiệt hại nặng cho ớt ở khắp phương Đông và các đảo Thái Bình Dương

Tại Ấn Độ, bình quân năng suất ớt bị thất thu bởi bọ trĩ là 20%, trong khi tổng thiệt hại do côn trùng chích hút là 34% (Ahamet và ctv, 1987)

Vào năm 1989, Sight và Cheema báo cáo rằng bọ trĩ có thể làm giảm từ 50% năng suất ớt (Trích dẫn CABI, 2005)

25-Theo Bautista và Mau (1994), bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis gây hại

nặng trên cây họ cà tại Hawaii, là môi giới truyền bệnh Tospovirus

Vào năm 1998, Boissot và ctv đã báo cáo rằng bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis đã hiện diện ở Reunion Island vào năm 1987, đến năm 1991 chúng gây

hại nặng trên cây họ cà và là môi giới truyền bệnh spotted wilt

Ở Hoa Kỳ bọ trĩ Thrips palmi được xác định lần đầu tiên trên rau trồng, trong

đó có ớt ở bang Florida

Ở Malaysia theo Tan Chai Lin, hơn 70% cà chua, ớt, và dưa chuột bị gây hại

bởi Thrips palmi

Shama và Bhalla (1963) ghi nhận rằng bọ trĩ Thrips flavus có thể làm rụng 40% hoa táo Thrips flavus còn là môi giới truyền bệnh Tospovirus trên dưa hấu tại

Trang 21

Theo Kranz (1988), mức độ gây hại của bọ trĩ có thể làm cây hành tây non bị chết

Bọ trĩ Stenchaetothrips biformis (Bag.) là loài côn trùng hại lúa phổ biến ở

nhiều vùng trồng lúa trên thế giới (Dale, 1994)

Vào năm 2000, Funderburk và ctv báo cáo rằng có khoảng 5000 loài bọ trĩ đã được mô tả, chúng sống trong thảm mục, đa số ăn nấm Những loài ăn thực vật bậc cao hầu hết thuộc họ Thripidae, thuộc những loài dịch hại quan trọng

Ở Thái Lan bọ trĩ gây hại trên 30 loại cây trồng khác nhau, nhưng gây hại nặng trên ớt, dưa chuột, dưa hấu, củ hành, tỏi, cà chua

2.3.2 Trong nước

Ớ Việt Nam, bọ trĩ hại lúa được ghi nhận xuất hiện trên tất cả các tỉnh trồng lúa trong cả nước (Phạm Văn Lầm, 1997)

Theo Nguyễn Đình Chi (1999), bọ trĩ Stenchaetothrips biformis (Bag.) là loài

gây hại phổ biến trên cây lúa tại huyện Yên Thành, Nghệ An

Theo Hà Quang Hùng (2001), bọ trĩ Thrips palmi Karny là loài côn trùng gây

hại khoai tây khá nguy hiểm, xuất hiện phổ biến tại các vùng trồng khoai tây ở Hà Nội và phụ cận

Tại nông trường Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xác định 16 loài cây trồng nông

nghiệp và cây dại khác nhau là ký chủ của bọ trĩ Thrips imaginis Bagnall Trong đó

cây cam, quýt, chanh, bưởi, nhãn có mật độ bọ trĩ cao (Hà Quang Dũng, 2002)

Vào năm 2004, Phạm Thị Ngọc Ánh báo cáo rằng bọ trĩ Thrips palmi, Frankliniella occidentalis xuất hiện khá phổ biến và gây hại nặng trên cây dưa hấu

tại Long An

Bọ trĩ gây hại cây bông vải ở Bình Thuận gồm loài Thrips palmi và Scirtothrips dorsalis Chúng xuất hiện khi cây bông mới có lá sò và tồn tại trong

suốt vụ Tác hại của bọ trĩ chủ yếu là ở giai đoạn cây con (Lê Quang Quyến; Nguyễn Thị Hai; Trần Thế Lâm và ctv, 2005)

Nguyễn Văn Đĩnh (2005), bọ trĩ sọc vàng là một trong những sâu hại chính trên cây dưa chuột trồng trong nhà có mái che tại Gia Lâm, Hà Nội

Trang 22

2.4 Triệu chứng gây hại

Bọ trĩ gây hại bằng cách giũa hút, nơi nào có bọ trĩ nhiều thì xuất hiện sự bạc màu và dị dạng do phản ứng với nước bọt của bọ trĩ Đối với cây ăn trái thì phá hại chồi, nụ, hoa làm lá bị xoắn lại, trái bị biến dạng hoặc có sẹo

Edwards và Dixon (2005) báo cáo dịch hại mới trên cây ớt tại Florida là bọ trĩ

Scirtothrips dorsalis Hood Triệu chứng gây hại làm cho lá ớt bị xoăn, dị hình, mất

diệp lục; bị thui đọt, đọt giòn không phát ra được, và dễ gãy; quả bị nám, cong vẹo ( hình 2.1)

Funderburk và ctv (2000) cho biết rằng triệu chứng gây hại của bọ trĩ trên cà chua làm cho trái méo mó, dị hình, bề mặt trái bị nám (hình 2.1)

trong suốt thời kỳ ấu trùng

Tại Mỹ, Akramovskaya (1978) đã phát hiện Orius niger và O Vicinus là thiên địch bắt mồi T tabaci trên họ bầu bí và cà tím

Trang 23

Theo Chiu (1984), ong Ceraminus sp là thiên địch của bọ trĩ Rhipiphorothrips cruentatus

Theo Veer (1984), báo cáo rằng kẻ thù tự nhiên của Thrips haweiiensis Morgan và Thrips flavus Schrank tại Uttar Pradesh, Ấn Độ là Anystis sp (Arachnida

Anystidae), Geocoris sp (Hemiptera – Lygaeidae) , Marpissa sp (Arachnida – Salticidae), Thomisus SP (Arachnida – Thomisidae), Misumena sp (Arachnida – Thomisidae), Oxyopes sp (Arachnida – Oxyopidae), và Orius bifilarius

Tại Úc và Ấn Độ, theo Varatharajan (1985); Steiner và Goodwin (1998) cho

rằng tuyến trùng Anguillslina aptini, và côn trùng bộ cánh màng Ceranisus sp ký sinh Frankliniella schultzei

Vào năm 1989, Saito và ctv báo cáo rằng 10% trưởng thành và ấu trùng Thrips palmi trên dưa hấu trong nhà kính bị gây bệnh bởi nấm Neozygites parvispora tại

Nhật Bản

Hirose (1990) đã đề nghị sử dụng thiên địch ký sinh là Ceranisus sp để phòng trừ Thrips palmi tại Nhật Bản

Theo Hirose (1990), suốt giai đoạn 1987 – 1988 nhìn chung thiên địch của

Thrips palmi được tìm thấy ở Thái Lan, Malaysia, và Philippines

Gupta và Bhalla (1993), quan sát trên bông táo thấy Orius ăn trứng, ấu trùng,

và trưởng thành loài bọ trĩ Thrips flavus tại Himachal Pradesh, Ấn Độ

Tại Nhật Bản, có nhiều loài đã được biết đến là kẻ thù tự nhiên của

Frakliniella intonsa Trong đó phổ biến là Orius sauteri, Cardiastethus sp., Misumenop tricuspidatus, Ceranius sp (Lo và ctv, 1980; Murai, 1988; Nakata, 1994)

Lewis và ctv (1997) báo cáo về kẻ thù tự nhiên của bọ trĩ Frankliniella occidentalis, bao gồm:

- Nhóm ký sinh: Ceranisus menes (Hymenoptera – Eulophidae)

- Nhóm bắt mồi: Amblyseius barkeri (Arachnida – Phytoseiidae), Amblyseius degenerans, Hypoaspis aculeifer (Arachnida – Laelapidae), Neoseiulus cucumeris (Arachnida – Phytoseiidae), Orius insidiosus, Orius laevigatus, Orius majusculus

Trang 24

Ở Nhật bản sử dụng thiên địch bắt mồi Orius tantillus để khống chế bọ trĩ Thrips palmi Karny hại rau trong nhà lưới (Nakashima và Hirose, 1997)

Theo Nagai và ctv (1988), ấu trùng Orius sp là thiên địch của Thrips palmi

trên cây cà tím tại Nhật

Tipping và ctv (1998) đã cho rằng trên cây lạc tại Florida, Mỹ bọ trĩ

Frankliniella fusca bị Thripinema fuscum ký sinh, tỷ lệ ký sinh cao nhất 51%

(1995), và 68% (1996)

Theo Aithus và Heinz (2003), tuyến trùng Thripinema nicklewoodi (Tylenchida: Allantonematodae) truyền bệnh đối với bọ trĩ Frankliniella occidentalis

Ở Philippines cho thấy thiên địch của Thrips palmi Karny và Megalurothrips usitatus gồm: Orius tantillus, Geocoris sp, Tapinoma (Formicidae)

2.5.2 Trong nước

Theo Trần Thị Thiên An (2003), bọ xít ăn mồi Orius tantilus (Hemiptera:

Anthocoridae) là thiên địch của bọ trĩ

Phạm Thị Ngọc Ánh (2004) báo cáo rằng có một loài thiên địch của bọ trĩ trên

cây dưa hấu, đó là loài Orius tantilus Motschisky (Hemiptera – Anthocoridae) Theo Hà Quang Hùng (2006), bọ xít bắt mồi Orius sauteri là thiên địch của bọ

trĩ trên cây họ cà, cây họ bầu bí, đậu đỗ Hiện trường Đại học Nông nghiệp 1 đang nhân nuôi loài thiên địch này, và đã thử nghiệm để khống chế bọ trĩ hại dưa chuột tại vùng trồng dưa xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội

Tại Ninh Thuận, theo Nguyễn Thị Hai (2006) báo cáo rằng có 11 loài thiên địch của bọ trĩ hại nho Trong đó phổ biến nhất là 1 số loài nhện nhỏ ăn thịt

Trang 25

Hình 2.1 Triệu chứng gây hại của bọ trĩ trên ớt ngọt: 1 Bọ trĩ gây hại trên đọt non, lá non của cây (Edwards và Dixon , 2005), 2 Bọ trĩ trên trái cà chua (Funderburk

Hình 2.2 Thiên địch của bọ trĩ: 1 Bọ xít bắt mồi Orius sauteri trưởng thành (Hà Quang

Hùng, 2006), 2 Bọ xít mắt mồi Orius niger (Akramovskaya, 1978)

2

Hình 2.3 Phòng trừ bọ trĩ bằng biện pháp cơ học: 1 Sử dụng bẫy màu vàng phòng trừ bọ trĩ (Nucifora và Vacante, 1982), 2 Sử dụng màng phủ nylon phòng trừ bọ trĩ (Stavisky, Funderburk và ctv, 2000)

Trang 26

2.6 Đặc điểm phân loại một số loài bọ trĩ hại rau

2.6.1 Bọ trĩ hoa (Western flower thirps)

Vị trí phân loại:

Tên khoa học: Frankliniella occidentalis Pergander, 1895

Tên tiếng Anh: Western flower thrips

Bộ: Thysanoptera

Bộ phụ: Terebrantia (bộ phụ đốt cuối bụng hình nón)

Họ: Thripidae

Ký chủ:

Bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis là côn trùng đa thực gây hại trên rất nhiều

loại cây trồng trong đó có cây rau Chúng xuất hiện khá phổ biến ở nhiều vùng trồng rau trên thế giới

Sinh học:

Ở điều kiện thích hợp, bọ trĩ hoa có thể có 15 lứa trên 1 năm (Bryan và Smith, 1956; Lublinkhof và Foster, 1977) Tổng vòng đời được ghi nhận tương ứng với nhiệt độ 15, 20, 25, và 30oC là 44.1, 22.4, 18.2, và 15 ngày Một con cái có thể đẻ 20-40 trứng

Đặc điểm hình thái và phân loại:

Trưởng thành có màu nâu đen, khi đậu cánh xếp thành hình mái nhà trên lưng, dài 1,5-1,6 mm; đốt cuối bụng hình nón, có nhiều lông

Theo Dr Tong-Xian Liu tại trang web http://www.gladescropcare.com;

Cheryle A O’Donnell và cộng tác viên bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis có

những đặc điểm sau:

Mảnh lưng ngực trước mép trước và mép sau có 4 cặp lông cứng dài, nằm ở 2 góc mép ngực trước và 2 góc mép ngực sau Râu đầu có 8 đốt, đốt số 1 màu nhạt, đốt số 2 màu đậm, từ đốt số 3 đến đốt số 5 một nửa đốt màu nhạt và một nửa đốt màu đậm, đốt 6 – 8 màu đậm

Đầu có 3 mắt đơn màu đỏ Lông cứng dài ở giữa khu mắt đơn dài hơn gần gấp

Trang 27

Lông cứng dài ở khu mắt đơn nằm trên cạnh của hình tam giác được nối giữa

3 mắt đơn (Viện nghiên cứu và phát triển Nam Úc tại trang web: http://www.sardi.sa.gov.au/pages/ento/hort_pests/)

Cánh trước trên mạch dọc thứ nhất có hàng lông cứng liên tục khá rõ (O’Donnell và cộng tác viên)

Đốt bụng thứ 8 có hàng lông hình lược đầy đủ (Tong-Xian Liu, Cheryle O’Donnell và cộng tác viên)

Hình 2.4 Đầu và ngực bọ trĩ hoa (Liu, 1990)

Trang 28

2.6.2 Bọ trĩ dưa (Melon thrips)

Bọ trĩ dưa Thrips palmi Karny phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, có phổ ký chủ

rộng, gây hại trên nhiều loại cây thuộc các họ như: họ cà, họ hành tỏi, họ bầu bí, họ cúc, họ đậu, cây lúa, thuốc lá, cây bông, hoa cúc, hoa hướng dương, cây xoài

Theo Monteiro và ctv (1995), đã ghi nhận Thrips palmi là dịch hại nguy hiểm

đối với cây ớt, cà tím, cà chua, khoai tây, hoa cúc

Thrips palmi là dịch hại chính trên cây họ cà và họ bầu bí ở nhiều vùng thuộc

khu vực nhiệt đới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Châu Á (Bournier, 1986, 1987)

Ở Hawaii, Rosenheim và ctv (1990) quan sát mật độ bọ trĩ nhiều nhất trên dưa chuột, và thấp nhất trên cây ăn quả

Sinh học

Ở nhiệt độ 25oC, vòng đời của Thrips palmi 17,5 ngày (Eppo, 1989)

Theo Johnson (1986), ở Hawaii Thrips palmi có những đặc điểm sinh học sau:

+ Trứng: được đẻ trong mô lá, giai đoạn trứng tương ứng với nhiệt độ 15oC,

26oC, và 32oC là 16 ngày, 7.5 ngày, và 4.3 ngày

+ Ấu trùng: có 2 tuổi, hình dạng giống thành trùng nhưng không có cánh, kích thước nhỏ hơn, ấu trùng sống thành đàn giữa các gân lá Giai đoạn ấu trùng tương ứng với nhiệt độ 15oC, 26oC, và 32oC là 14 ngày, 5 ngày, và 4 ngày Khi sắp chuyển qua giai đoạn nhộng giả ấu trùng rơi xuống đất hoặc chỗ lá mục tìm khe hở nhỏ để hóa nhộng

Trang 29

+ Nhộng: có 2 giai đoạn, giai đoạn tiền nhộng gần như không hoạt động, và giai đoạn nhộng hoàn toàn không hoạt động Cả hai giai đoạn đều không ăn và kéo dài từ 4 ngày, và 12 ngày ở nhiệt độ 32oC, và 26oC

Đặc điểm hình thái

Theo Dr Tong-Xian Liu http://www.gladescropcare.com/gidn1.html, Cheryle

A O’Donnell và cộng tác viên, G Vierbergen bọ trĩ hoa Thrips palmi có những đặc

điểm sau:

Thành trùng có màu vàng, khi đậu cánh xếp thành hình mái nhà trên lưng, tạo thành đường sọc màu nâu đen ở giữa lưng, đốt cuối bụng hình nón, chiều dài khoảng 1 mm Trứng hình hạt đậu, màu trắng Ấu trùng có màu trắng khi mới nở và chuyển sang màu vàng nhạt, vàng đậm khi lớn, cơ thể ấu trùng trong suốt Nhộng giả có màu vàng đậm và hình dạng giống như ấu trùng, nhưng chỉ có mầm cánh Mép trên của mảnh lưng ngực trước không có hàng lông cứng, mép sau ngực trước có 2 cặp lông cứng ở 2 góc phát triển

Râu đầu có 7 đốt (Dr Tong-Xian Liu, Cheryle A O’Donnell và cộng tác viên,

Đốt bụng thứ 8 có hàng lông hình lược đầy đủ (Dr Tong-Xian Liu, Cheryle

A O’Donnell và cộng tác viên, G Vierbergen)

Đốt ngực sau có 1 cặp lỗ chân lông ở mép sau, có những đường vân hội tụ về phía sau (G Vierbergen, Cheryle A O’Donnell và cộng tác viên)

Trang 30

Hình 2.5 Đầu và ngực bọ trĩ dưa (Liu, 1990)

Sinh học, đặc điểm hình thái:

+ Trưởng thành đực thường hiếm hơn, loại trừ khu vực miền Đông Mediterrannean Ở Hawaii tỷ lệ đực và cái là 1:1000 (Skimura, 1932) Tuy nhiên theo Harris và ctv (1935), ở Mỹ thì tỷ lệ là 1 đực : 60 cái

Dựa theo khóa phân loại bằng hình ảnh của Tong-Xian Liu tại trang web: http://www.gladescropcare.com/gidn1.html, bọ trĩ hành có những đặc điểm chính về

Trang 31

Trưởng thành cái dài khoảng 1 mm, cơ bản có màu vàng nhạt, đầu có chiều ngang lớn hơn chiều dài, lông cứng dưới mắt kép dài bằng lông cứng giữa 3 mắt đơn Râu có 7 đốt màu xám nhạt Giữa vân cánh thứ nhất có 4 lông

Đốt bụng thứ 8 có hàng lông hình lược; phía bên của đốt bụng có những sợi lông nhỏ và đường vân mảnh

+ Trứng được đẻ từng trái một vào trong khe hở của mô thực vật, chúng hình bầu dục, hơi trắng Khó đếm được số lượng trứng đẻ vì chúng nằm sâu trong mô cây Tuy nhiên Van Rijin và ctv (1995) ghi nhận 1 con cái đẻ tới 26 trứng, và 5,5 trứng mỗi ngày ở nhiệt độ 25oC, trên cây dưa chuột Thời gian từ khi trứng đẻ tới trưởng thành 12,9 ngày ở nhiệt độ 25oC

+ Ấu trùng có 2 tuổi, tuổi đầu có màu trắng, dài 0,35-0,38 mm; tuổi sau vàng nhạt dài 0,7-0,9 mm

+ Nhộng: pha nhộng không ăn, cả 2 giai đoạn nhộng và tiền nhộng thì rất ngắn (Ghabn, 1948; Norris, 1989) Cả 2 có màu sắc giống nhau, nhưng mầm cánh của nhộng lớn hơn tiền nhộng

Hình 2.7 Đầu và ngực bọ trĩ hành (Liu, 1990)

Trang 32

2.7 Biện pháp phòng trừ bọ trĩ

2.7.1 Ngoài nước

2.7.1.1 Biện pháp sinh học

Vào năm 1987, Kawanmoto và Kawai đã quan sát biến động quần thể Orius

sp trên cánh đồng ở Nhật Bản cho thấy rằng những khu vực xử lý thuốc bảo vệ

thực vật mật độ Orius sp thấp hơn so với khu vực không xử lý, ngược lại mật độ bọ

trĩ ở khu vực xử lý thuốc cao hơn so với khu vực không xử lý thuốc

Ở Nhật Bản, Nagai (1989) đã sử dụng thiên địch Orius sp để khống chế mật

độ Thrips palmy trên cây cà tím

Ở Hawaii, Mau và ctv (1989) đã ghi nhận thiên địch bắt mồi Orius insidiosus

và Franklinothrips vespiformis là kẻ thù tự nhiên của Thrips palmi

Saito và ctv (1989) đã ghi nhận nấm Neozygites parvispora gây bệnh cho Thrips palmy trên cây dưa trong nhà kính ở Nhật Bản

Hirose (1990) đã đề nghị sử dụng thiên địch ký sinh Ceranisus sp để phòng trừ Thrips palmi tại Nhật Bản

Jordi và Cristina (1998) đã báo cáo rằng thiên địch của Frankliniella occidentalis tại Mediteranean, Tây Ban Nha bao gồm 5 bộ côn trùng, 8 họ, và 18 loài Các loài xuất hiện phổ biến bao gồm: Orius laevigatus Fiever, Orius majusculus Reuter, Dicyphus tamaninii Wagner, và Macrolophus caliginosus

Wagner

Thiên địch của bọ trĩ Frankliniella occidentalis trên cây ớt tại Florida là loài bọ

xít bắt mồi Orius insidiosus (Funderburk và ctv, 2000)

Vào năm 2001, Ramachandran và ctv đã báo cáo rằng bọ xít bắt mồi Orius insidiosus có khả năng khống chế tốt quần thể Frankliniella occidentalis trên cánh

đồng ớt tại Florida

Côn trùng thuộc họ Anthocoridae có ý nghĩa trong việc khống chế quần thể

Thrips palmi ở nhiều nơi Đáng chú ý có một số loài là: Orius sp ở Nhật Bản; Orius similis, và Orius tantillus ở Philippines; Orius sauteri ở Đài Loan; Orius

Trang 33

Orius minutus, Wollastoniella parvicuneis, và Wollastoniella rotunda ở Thái

Lan

Tuyến trùng Thripenema có thể làm giảm mật số Frankliniella occidentalis

2.7.1.2 Biện pháp cơ học

Ở Thái Lan, Lippold (1975) cho rằng dùng bẫy dính màu vàng hoặc màu trắng

có hiệu quả trong việc bắt bọ trĩ trưởng thành

Bẫy dính màu vàng (hình 2.3) đã được sử dụng tại Ý để làm giảm mật độ

Thrips tabaci trong nhà kính (Nucifora và Vacante, 1982)

Sử dụng bẫy dính màu vàng có hiệu quả trong việc phòng trừ bọ trĩ (Zhang và ctv, 1989)

2.7.1.3 Kỹ thuật canh tác

Ở Nhật Bản đã thành công trong việc bảo vệ cà chua chống lại Frankliniella

sp bằng cách trồng cây trong nhà plastic (Murai, 1988)

Dùng màng phủ nilon phản chiếu ánh sáng được thử nghiệm tại Indonesia có hiệu quả phòng trừ bọ trĩ

Những dòng ớt khác nhau thì mức độ chịu đựng khác nhau khi bọ trĩ tấn công (Singh và Cheema, 1989)

Stavisky, Funderburk và ctv (2000), kỹ thuật sử dụng màng phủ nylon phản chiếu ánh sáng có hiệu quả trong việc phòng trừ bọ trĩ hại ớt (hình 2.3)

2.7.1.4 Biện pháp hóa học

Thuốc gốc imidacloprid, cypermethrin, và lambda-cyhalothrin có hiệu quả

phòng trừ bọ trĩ Frankliniella schultzei (Ramello và ctv, 1975; Nasseh và Link,

1990)

Một số loại thuốc có hiệu quả phòng trừ Frankliniella fusca là: Imidacloprid,

acephate, aldicarb, disulfoton, và phorate (Campbell và ctv, 1976; Funderburk và ctv, 1998)

Bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis là một dịch hại quan trọng trên cây trồng

tại Massachusetts, New York và California Tại Coastal, California bọ trĩ hoa đã

Trang 34

kháng một số loại thuốc gốc dimethoate, cyfluthrin, bifenthrin, chlorpyrifos, methomyl, và abamectin (Robb, 1989; Robb và ctv, 1995; Immaraju và ctv, 1992) Một số loại thuốc gốc bifenthrin, cyhalothrin, deltamethrin, fenvalerate,

cyromazine có hiệu quả phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa (Chang và ctv, 1993;

Dùng màng phủ màu ánh bạc và màu trắng có hiệu quả ttrong việc phòng trừ

bọ trĩ hại cây bông (Hoàng Anh Tuấn, 2003)

Theo Phạm Thị Ngọc Ánh (2004), báo cáo rằng sử dụng bẫy dính màu vàng

có hiệu quả làm giảm mật số bọ trĩ trên ruộng dưa hấu

Để phòng trừ bọ trĩ, người trồng nho không được bón quá nhiều phân đạm, chú ý sử dụng phân lân để tăng sức chống chịu bọ trĩ của cây, thực hiện tưới tiêu hợp lý để tăng sức đề kháng cho cây Nếu sử dụng biện pháp bao chùm thì nên sử dụng bao hở, và bao sau khi nở hoa khoảng 25 ngày; chỉ cần phun thuốc khi bọ trĩ đến ngưỡng và nên ngừng phun khi quả nho bắt đầu chín bói (Báo Ninh Thuận số

Trang 35

Thuốc Secure 10 EC 1,5 lít/ha, Confidor 100 SL 0,3 lít/ha có hiệu quả trong việc làm giảm mật số bọ trĩ trên ruộng dưa hấu (Phạm Thị Ngọc Ánh, 2004)

Thuốc gốc abamectin và imidacloprid có hiệu lực cao trong việc phòng trừ bọ trĩ hại nho (Nguyễn Thị Hai, 2006)

Thuốc alpha cypermethrin, abamectin, và imidacloprid kết hợp với dầu khoáng hoặc nước rửa chén có hiệu lực cao trong việc phòng trừ bọ trĩ hại xoài (Nguyễn Minh Châu, 2006)

Qua tham khảo tài liệu nghiên cứu trong nước cho thấy rằng chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về bọ trĩ gây hại trên cây ớt ngọt, vì vậy việc thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu bọ trĩ gây hại cây ớt ngọt và một số biện pháp phòng trừ tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” là điều rất cần thiết

Trang 36

3.1.2 Xác định thành phần bọ trĩ hại ớt ngọt, thiên địch của bọ trĩ, và khảo sát một

số đặc điểm hình thái, sinh học của bọ trĩ gây hại tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng

3.1.3 Điều tra biến động tác hại của bọ trĩ trên cây ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng trong 1 vụ ớt, bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2008 3.1.4 Khảo sát hiệu quả phòng trừ bọ trĩ của một số biện pháp trên cây ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm

Các nghiên cứu trong phòng được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt, phòng thí nghiệm bộ môn Bảo vệ thực vật trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Các nghiên cứu ngoài đồng được tiến hành tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

3.2.2 Thời gian thực hiện

Từ tháng 4/2008 đến tháng 4/2009

3.3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương tiện nghiên cứu

Khu vườn trồng ớt ngọt tại các xã Ka Đô, xã Lạc Xuân, và Lạc Lâm huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

Trang 37

Vật liệu thu mẫu: túi nylon, dao, kéo, vợt, kính lúp cầm tay, lọ thủy tinh, hộp đựng mẫu

Dung dịch ngâm mẫu, xử lý mẫu: cồn 70o, KOH 10%, Glycerin, thuốc nhuộm Fuchin

Dụng cụ: lamen, lam kính, ghim mẫu, kim bén, đĩa petri, lọ đựng mẫu… Phương tiện ghi nhận mẫu và phân tích mẫu: kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi, kính hiển vi, máy ảnh kỹ thuật số, máy quay kết nối với màn hình

Tài liệu phân loại: Côn trùng cơ bản, hình thái phân loại côn trùng (Nguyễn Thị Chắt, 2005) Khóa phân loại bằng hình ảnh của Tong-Xian Liu tại trang web: http://www.gladescropcare.com/gidn1.html CAB International 2005 edition crop protection compendium Diagnostic protocol drafted by G Vierbergen, entomology section, plant Protection Service, the Netherlands Multilevel identication system for thrips associated with flower crops in North America Industry Contributions

& SARDI (South Australia research and development institute), http://www.sardi.sa.gov.au/pages/ento/hort_pests

Vật liệu thí nghiệm ngoài đồng ruộng: thuốc BVTV; bẫy dính màu vàng, màu xanh, màu trắng; bình bơm

Xử lý thông kê số liệu thu thập bằng phần mềm MSTAT C, và Excel

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây ớt ngọt của nông dân tại Đơn Dương, Lâm Đồng

Phương pháp điều tra

Dùng 50 phiếu điều tra Điều tra theo phương pháp phỏng vấn kết hợp phiếu điều tra có nội dung soạn thảo trước

Chỉ tiêu điều tra

• Thông tin chung về tình hình sản xuất ớt ngọt

• Kỹ thuật canh tác

• Bảo vệ thực vật

Chi tiết tham khảo phụ lục số 1

Trang 38

Thời gian điều tra: 1 lần trước khi triển khai và có bổ sung trong quá trình nghiên

cứu

3.3.2.2 Xác định thành phần bọ trĩ trên ớt ngọt, thiên địch của bọ trĩ, và khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học của bọ trĩ trên cây ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

Phương pháp điều tra

Điều tra theo phương pháp của Lê Văn Trịnh trong công trình “phương pháp điều tra đánh giá sâu, bệnh, cỏ dại, chuột hại cây trồng cạn” Viện Bảo vệ thực vật,

Chỉ tiêu điều tra

Thành phần bọ trĩ, thiên địch của bọ trĩ, ghi nhận thành phần sâu hại

Vị trí đẻ trứng

Thời gian điều tra: 1 vụ ớt ngọt, từ tháng 4/2008 đến tháng 12/2008

Lịch điều tra: 2 tuần 1 lần

3.3.2.3 Điều tra biến động tác hại của bọ trĩ trên ớt ngọt

Phương pháp điều tra

Điều tra theo phương pháp của Lê Văn Trịnh trong công trình “phương pháp điều tra đánh giá sâu, bệnh, cỏ dại, chuột hại cây trồng cạn” Viện Bảo vệ thực vật,

2000, tập III

Chọn 3 vườn tại xã Ka Đô, huyện Đơn Dương, mỗi vườn có diện tích 1000 m2 Chọn vườn điều tra cố định, mang tính điển hình tại xã, các vườn điều tra cùng

1 giống

Trang 39

Điều tra theo phương pháp 5 điểm phân bố đều trên 1 hàng, tịnh tiến không lặp lại, mỗi điểm điều tra 3 cây (hình 3.1), mỗi cây điều tra 3 cành ngẫu nhiên Theo dõi toàn bộ số trái và bông/cành, theo dõi 10 lá /1 cành tính từ đọt trở xuống Điều tra lần cuối trước khi thu hoạch lần cuối 1 tuần

Hình 3.1 Bố trí các điểm điều tra bọ trĩ trên ớt ngọt

Chỉ tiêu điều tra

• Mật độ bọ trĩ: con/cây

• Mật độ ấu trùng, thành trùng bọ trĩ: con/cây

• Tỷ lệ lá bị hại, chỉ số lá bị hại

Tỷ lệ lá bị hại, chỉ số lá bị hại được tính bằng công thức:

TLH (%) = (số lá bị hại / tổng số lá điều tra) * 100

CSH (%) = [(Tổng (a x n)/ N * 5)]*100

Trong đó: a là cấp hại n số lá bị hại ở cấp tương ứng

N tổng số lá điều tra 5 Cấp bệnh cao nhất

Bảng phân cấp hại theo Lê Văn Trịnh trong công trình “Phương pháp điều tra

đánh giá sâu, bệnh, cỏ dại, chuột hại cây trồng cạn” Viện Bảo vệ thực vật 2000,

tập III

Cấp 0: Lá không bị hại Cấp 1: 5% diện tích lá bị hại Cấp 2: >5% diện tích lá bị hại Cấp 3: 25-50% diện tích lá bị hại Cấp 4: >50%-75% diện tích lá bị hại Cấp 5: >75% diện tích lá bị hại

Cách bờ 2 m

Vị trí điều tra lần đầu

Vị trí điều tra lần cuối Điểm điều tra

3 cây

Trang 40

Thời gian điều tra: điều tra 5 ngày 1 lần trong 1 vụ ớt từ 6 – 7 tháng

3.3.2.4 Khảo sát hiệu quả của phòng trừ bọ trĩ trên ớt ngọt tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

a) Biện pháp cơ học

Phương pháp thí nghiệm: thí nghiệm sử dụng bẫy dính màu, 3 nghiệm thức (bảng

3.1), 10 lần lặp lại được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn Bẫy dính được làm thành hình mái nhà, mỗi bên có kích thước: 20 x 25 cm (hình 3.3) Bẫy dính được bố trí đan xen nhau và cao hơn tán cây ớt 20 cm, khoảng các giữa các bẫy là 3 m (hình 3.2)

Hình 3.2 Bố trí các điểm cắm bẫy dính phòng trừ bọ trĩ trên ớt ngọt

• Thời gian bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí 3 đợt / 1 vụ ở các thời điểm cây trước khi ra hoa, ra hoa rộ, hình thành trái Thời gian bắt đầu thí nghiệm

Ngày đăng: 23/12/2017, 05:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w