TÓM TẮT Đề tài “ Điều tra sâu bệnh hại cây thanh long và hiệu quả phòng trừ một số sâu bệnh hại chính bằng thuốc hóa học tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận“ đã được tiến hành tại hu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
ĐIỀU TRA SÂU BỆNH HẠI THANH LONG VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI CHÍNH BẰNG THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN HÀM THUẬN NAM
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
ĐIỀU TRA SÂU BỆNH HẠI THANH LONG VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI CHÍNH BẰNG THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN HÀM THUẬN NAM
Trang 3LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Nguyễn Mạnh Cường sinh ngày 15 tháng 8 năm 1975 tại Thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh Con Ông Nguyễn Mạnh Chinh và Bà Lê Thị Hồng Tốt nghiệp tú tài tại Trường Trung học phổ thông Vĩnh Kim, tỉnh Tiền Giang năm 1993
Tốt Nghiệp Đại học nghành Trồng trọt hệ chính quy tại Đại học Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ
Sau đó làm việc tại Công ty thuốc trừ sâu Sài Gòn
Tháng 9 năm 2005 theo học Cao học ngành Bảo vệ thực vật tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: Vợ Huỳnh Thị Ngọc Bằng, kết hôn năm 2001, các con Nguyễn Huỳnh Hà Ngân, sinh năm 2002 và Nguyễn Mạnh Kiên, sinh năm 2008 Địa chỉ liên lạc: Số nhà 888, ấp Mới xã Long Định – Châu Thành – Tiền Giang Điện thoại: 0733.834597; 0907616461
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 5Xin cảm ơn các anh chị Chi cục BVTV tỉnh Bình Thuận và Trạm BVTV huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình và các anh chị luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Trang 6TÓM TẮT
Đề tài “ Điều tra sâu bệnh hại cây thanh long và hiệu quả phòng trừ một số sâu bệnh hại chính bằng thuốc hóa học tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận“ đã được tiến hành tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận, thời gian từ tháng 11 năm
2007 đến tháng 8 năm 2009
Kết quả thu được thấy rằng: nông dân tại Bình Thuận sử dụng nhiều loại thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh, với 28 chế phẩm thuốc trừ sâu và 23 chế phẩm thuốc trừ bệnh Hiện trạng dư lượng thuốc trong trái sau thu hoạch vẫn còn, tập trung chủ yếu vào nhóm Lân hữu cơ, Carbamate và Pyrethroid với những hoạt chất thuốc trừ sâu truyền thống có phổ tác dụng rộng như Chlorpyrifos ethyl, Diazinon, Carbosulfan Fenobucarb, Alpha cypermethrin, Cypermethrin, Fenvalerate Trong đó đáng chú ý các hoạt chất Chlopyrifos ethyl, Fenobucarb, Alpha cypermethrin, Cypermethrin có một số mẫu dư lượng vượt mức cho phép Tình hình trái thanh long nhiễm dư lượng thuốc trừ bệnh nhìn chung thấp hơn nhiều so với dư lượng thuốc trừ sâu, chỉ phát hiện duy nhất 2 mẫu trái có dư lượng hoạt chất Carbendazim nhưng vẫn ở dưới mức cho phép Đối với nhóm thuốc trừ cỏ, không phát hiện thấy dư lượng trong các mẫu trái phân tích
Đã xác định được 10 loài sâu và 7 loại bệnh chủ yếu thường xuất hiện trên thanh long, trong đó sâu hại phổ biến có 4 loài đó là ruồi đục trái, rệp muội, kiến lửa và câu câu xanh Bệnh hại phổ biến có 4 loại là bệnh đốm nâu, bệnh thối đầu cành, bệnh thán thư và bệnh nám cành Thời gian sau thu hoạch dọn vườn, chồi non và đọt hoa đầu xuất hiện cũng là thời gian các loại sâu bệnh bắt đầu phát sinh và tích lũy Cao điểm sâu
Trang 7nhiều, cành cây phát triển nhiều và hoa quả ra liên tục rất thích hợp cho sâu bệnh phát sinh gây hại Trong các loại thuốc thì hỗn hợp Abamectin + dầu khoáng có hiệu lực cao nhất trong việc phòng trừ sâu hại Đối với bệnh là hoạt chất Difenoconazol (Score) Những loại thuốc này ngoài việc phòng trừ sâu bệnh tốt còn ít độc hại với người và mội trường vì có nguồn gốc sinh học hoặc được sử dụng với liều lượng rất thấp, thời gian phân hủy nhanh Do đó cần được khuyến cáo sử dụng trên cây trồng nói chung và thanh long nói riêng
Trang 8
SUMMARY
The thesis “Investigation of pests and diseases on dragon fruit and effect of controlling them by pesticide in Ham Thuan Nam district, Binh Thuan province“ carried out from November 2007 to August 2009
The result shows that the farmer in Binh Thuan applied many kinds of pesticides for controlling insects and diseases on their dragon fruit farm, including 28 insecticides, 23 fungicides Residure of post-harvest fruits concentrates on certain insecticidal groups such as: organic phosphorus, Carbamate, Pyrethoid that focus common wide-range ingredient actives of Chlopyrifos – Ethyl, Diazinon, Carbosulfan, Fenobucarb, Alpha cypermethrin, Fenvalerate Among of them, Chlopyrifos – Ethyl, Fenobucarb, Alpha cypermethrin exceed MRL (Maximum Resisure Limit) with a few investigated simples The residure of fungicide is less than that of insecticide, found out only 2 collected simples that comtaminated ingredient active of Carbendazim but that are under MRL As regard Herbicides, weresn’t recorded any cases with residure
The survey was realized 10 insect species and 7 diseases that attact frequently
on dragon fruit The popular insects and diseases present regular on dragon garden, like
4 diffirent fruitfly species (Bactrocera spp.), Aphis (Toxoptera sp.), red ant, green beetle (Hypomeces squamosus), Gloesporium agaves, Alternaria sp., Colletotrichum sp., Macssonia agaves Pests present and accumulate density at the after - harvest
period when shoot, floral germ begin to appear The peak coincides July to October on the year that time is heavy rainy moment, growing plant, blomssom, suitable for developing insects, diseases
Trang 9Among the mixture pesticides were one combinated product of Abamectin and petroleum spray oil that control pests more efficiently than others and Difenocazole a.i (Score, Till trade - name) desmontrates hight effect for controlling diseases These pest chemicals is orginal bio-pesticide with lower used dosage, prompt decomposition so that didn’t impact enviroment, human For this reason, these pesticides should recommend the farmer to apply on their dragon fruit farm as well as other fruit trees
Trang 10MỤC LỤC
TRANG Trang tựa Trang Chuẩn Y i
Lý Lịch Cá Nhân ii
Lời Cam đoan iii
Cảm tạ iv
Tóm tắt v
Mục lục vi
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các đồ thị x
1 MỞ ĐẦU 1 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2 TỔNG QUAN 4
2.1 Đặc điểm sinh học cây thanh long 4
2.1.1 sinh thái 4
2.1.2 Thực vật học 5
Trang 112.1.3 Yêu cầu dinh dưỡng của cây thanh long 6
2.2 Tiêu chuẩn thanh long xuất khẩu 7
2.3 Tình hình sản xuấ thanh long tại Bình Thuận 9
2.4 Sâu bệnh hại thanh long 9
2.4.1 Bệnh hại thanh long 9
2.4.2 Sâu hại thanh long 11
2.4.3 Thiên địch trên thanh long 12
2.5 Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh trên thanh long 12
2.6 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ sâu bệnh thanh long 13
2.7 Thuốc Bảo vệ thực vât 17
2.7.1 Các nhóm thuốc Bảo vệ thực vật 17
2.7.2 Cơ chế tác động của thuốc Bảo vệ thực vật 18
2.7.3 Sự phân giải của thuốc Bảo vệ thực vật 18
2.7.4 Tính độc của thuốc Bảo vệ thực vật 19
2.8 Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật 19
2.9 Ưu, nhược điểm của biện pháp sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật 21
2.10 Hiện trạng nhiễm độc thuốc Bảo vệ thực vật 21
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Nội dung 23
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Nguyên vật liệu thiết bị 23
3.3.2 Điều tra thành phần sâu bệnh và diễn biến của các loài sâu bệnh hại chính trên thanh long 24
3.3.3 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác thanh long 24
3.3.4 Dư lượng hóa chất trong trái thanh long 25
Trang 123.3.5 Thí nghiệm đánh giá hiệu quả sử dụng một số loại thuốc phòng
trừ sâu bệnh hại chính trên cây thanh long 25
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Điều tra sâu bệnh thường gặp trên thanh long 36
4.1.1 Sâu hại 36
4.1.2 Bệnh hại 50
4.2 Xác định hiện trạng sử dung thuốc BVTV trong canh tác thanh long 65
4.3 Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong trái thanh long 69
4.4 Thí nghiệm xác định hiệu quả phòng trừ của một số loại thuốc BVTV đối với một số sâu bệnh hại chính trên thanh long 71
4.4.1 Kết quả phòng trừ bệnh đốm nâu trên thanh long 71
4.4.2 Kết quả phòng trừ bệnh thối đầu cành thanh long 74
4.4.3 Kết quả phòng trừ bệnh thán thư trên thanh long 76
4.4.4 Kết quả phòng trừ ruồi đục trái thanh long 79
4.4.5 Kết quả phòng trừ rệp muội trên thanh long 79
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 81
5.1 Kết luận 81
5.2 Đề nghị 82
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
7 PHỤ LỤC 90
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
CSB: Chỉ số bệnh
TLB: Tỉ lệ bệnh
CV: Coefficient of Variation: Hệ số biến thiên
LSD: Least Significant Difference: Mức sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LLL: Lần lập lại
NT: Nghiệm thức
ĐT: Điều tra
MRL: Maximum Residue Limits: Giới hạn tối đa cho phép
GAP: Good Agriculture Practices: Thực hành nông nghiệp tốt
Trang 14DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 4.1 Câu cấu xanh trên thanh long 39
Hình 4.2 Bọ hung đục cành trên thanh long 41
Hình 4.3 Rệp muội trên thanh long 43
Hình 4.4 Ruồi đục quả trên thanh long 45
Hình 4.5 Kiến lửa trên cành thanh long 47
Hình 4.6 Tác hại của kiến lửa trên thanh long 48
Hình 4.7 Ốc sên trên thanh long 49
Hình 4.8 Bệnh đốm nâu trên thanh long 53
Hình 4.9 Bệnh nám cành thanh long 55
Hình 4.10 Bệnh thối đầu cành thanh long 57
Hình 4.11 Bệnh thán thư cành thanh long 60
Hình 4.12 Bệnh thán thư trái thanh long 61
Hình 4.13 Bệnh thán thư hoa thanh long 62
Hình 4.14 Bệnh bồ hóng cành thanh long 63
Hình 4.15 Bệnh thối bẹ thanh long 64
Trang 15DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của trái thanh long 8
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trong canh tác thanh long
tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang 14
Bảng 2.3 Các loại thuốc BVTV được sử dụng trên thanh long
Bảng 2.4 Các loại thuốc BVTV được sử dụng trong canh tác thanh long
Bảng 2.5 Kết quả phân tích dư lượng thuốc trên trái thanh long tại Bình Thuận 20
Bảng 3.1 Nghiệm thức thí nghiệm phòng trừ bệnh đốm nâu thanh long 27
Bảng 3.2 Nghiệm thức thí nghiệm phòng trừ bệnh thối đầu cành thanh long 31
Bảng 3.3 Nghiệm thức thí nghiệm phòng trừ bệnh thán thư thanh long 32
Bảng 3.4 Nghiệm thức thí nghiệm phòng trừ ruồi đục trái 34
Bảng 3.5 Nghiệm thức thí nghiệm phòng trừ rệp muội 35
Bàng 4.1 Thành phần sâu hại thanh long 37
Bảng 4.2 Thành phần Bệnh hại thanh long 51
Bảng 4.3 Các loại thuốc trừ sâu bệnh sử dụng trong canh tác thanh long
tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận 65
Bảng 4.4 Các loại thuốc trừ cỏ được sử dụng trong canh tác thanh long
tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận 67
Bảng 4.5 Các chất điều hoà sinh trưởng thực vật được sử dụng trong canh
Trang 16Bảng 4.6 Dư lượng thuốc trừ sâu trong trái thanh long 69
Bảng 4.7 Kết quả phòng trừ bệnh đốm nâu cành thanh long 72
Bảng 4.8 Kết quả phòng trừ bệnh đốm nâu trên trái thanh long 73
Bảng 4.9 Kết quả phòng trừ bệnh thối đầu cành thanh long 75
Bảng 4.10 Kết quả phòng trừ bệnh thán thư cành thanh long 77
Bảng 4.11 Kết quả phòng trừ bệnh thán thư trái thanh long 78
Bảng 4.12 Kết quả phòng trừ ruồi đục trái 79
Bảng 4.13 Kết quả phòng trừ rệp muội 80
Trang 17DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Diễn biến tác hại trong năm của câu cấu xanh lớn 38
Đồ thị 4.2 Diễn biến tác hại trong năm của rệp muội 42
Đồ thị 4.3 Diễn biến tác hại trong năm của ruồi đục trái 44
Đồ thị 4.4 Diễn biến tác hại trong năm của kiến lửa 46
Đồ thị 4.5 Diễn biến tác hại trong năm của bệnh đốm nâu 52
Đồ thị 4.6 Diễn biến tác hại trong năm của bệnh nám cành 54
Đồ thị 4.7 Diễn biến tác hại trong năm của bệnh thối đầu cành 56
Đồ thị 4.8 Diễn biến tác hại trong năm của bệnh thán thư 59
Trang 18Tỉnh Bình Thuận là địa phương có diện tích trồng thanh long cao nhất nước Nhiều trang trại trồng thanh long theo hướng sản xuất tập trung quy mô lớn đã hình thành và ngày càng phát triển Chất lượng trái thanh long ở Bình Thuận cũng cao hơn các địa phương khác có lẽ do điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp với cây thanh long Ở Bình Thuận, thanh long là cây trồng chủ lực, thống kê năm 2008 diện tích thanh long tỉnh Bình Thuận khoảng 10.000 ha, với sản lượng 170.000 tấn / năm (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Thuận, 2009)
Sâu bệnh hại cây và trái thanh long là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng cũng như giá trị xuất khẩu trái thanh long Thành phần sâu bệnh hại thanh long và mức độ gây hại có biểu hiện tăng nặng trong những năm gần đây Việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh hại vì thế cũng nhiều hơn
cả về chủng loại lẫn khối lượng Điều này có thể dẫn đến những hậu quả xấu như tác động tiêu cực đến hệ sinh thái làm diễn biến sâu bệnh hại phức tạp và khó phòng trị hơn Đặc biệt, việc sử dụng thuốc hóa học không đúng có thể gây ảnh hưởng đến sức
Trang 19khỏe người tiêu dung, gây khó khăn cho thị trường xuất khẩu thanh long vì dư lượng thuốc Bảo vệ Thực vật có thể tồn tại trên trái thanh long cao hơn mức cho phép
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp phần xây dựng quy trình phòng trừ sâu bệnh hại thanh long hiệu quả và an toàn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Điều tra sâu bệnh hại thanh long và hiệu quả phòng trừ một số sâu bệnh hại chính bằng thuốc hóa học tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận”
- Xác định hiệu quả phòng trừ một số sâu bệnh hại chính bằng một số thuốc mới
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của đề tài: Bổ sung các số liệu về thành phần sâu bệnh hại
thanh long, diễn biến mật số và mức độ gây hại trên thanh long của một số sâu bệnh hại chính… trong thời điểm năm 2008 - 2009 tại huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận, lĩnh vực vốn trước đây chưa được nghiên cứu nhiều Làm tài liệu tham khảo cho công tác biên soạn tài liệu, giảng dạy tập huấn, khuyến nông…
- Sử dụng một số loại thuốc mới trong phòng trừ sâu bệnh hại thanh long, nhất
là nhóm thuốc sinh học và dầu khoáng
- Ý nghĩa thực tiễn: Làm giảm thiệt hại do sâu bệnh hại thanh long gây ra, nâng
cao hiệu quả kinh tế cho nghề trồng thanh long, góp phần xây dựng quy trình phòng trừ sâu bệnh hại thanh long hiệu quả, an toàn sẽ giúp giảm dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trên trái thanh long, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao giá trị trái thanh long xuất khẩu
Trang 201.4 Phạm vi nghiên cứu
Với thời gian và điều kiện nhất định, đề tài tập trung trong phạm vi điều tra diễn biến trong một năm của các loài sâu bệnh chủ yếu và thí nghiệm hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc có nguồn gốc hóa học và sinh học, đáp ứng đầy đủ hai nguyên tắc cơ bản là đúng thuốc và đúng lúc để góp phần vào việc xây dựng một quy trình sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả cao và an toàn trên cây thanh long ở huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận
Trang 21Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cây thanh long
2.1.1 Sinh thái
Cây thanh long có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nhưng không chịu được giá lạnh, được trồng ở những vùng nóng Một số loài chịu được nhiệt độ từ 500C đến
550C, thích hợp khi trồng ở những nơi có cường độ ánh sáng mạnh, khi bị che nắng cây
sẽ ốm yếu và lâu cho quả Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (TP.HCM), đất đỏ latosol (Đồng Nai)…, có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) rất khác nhau, nhưng chịu đựng độ mặn kém (Nguyễn Văn Kế, 1997; Mai Văn Quyền và ctv, 2005)
Khi trồng thanh long nên chọn các chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 –
50 cm và để có năng suất cao nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa nắng (Vũ Công Hậu, 1996; Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2006)
Theo Obregon (1996); Nerd và Mizrahi (1997); Paull (2000), trên thế giới thanh long thường được trồng thương phẩm với các loại khác nhau là: thanh long ruột trắng
(Hylocereus undatus) và thanh long ruột đỏ hay tím (H costaricensis) được trồng ở Nicaragua và Guatemala, thanh long ruột đỏ (H polyrhizus) trồng ở Israel Giống thanh long vàng (H undatus) trồng ở Mexico và châu Mỹ Latin Một giống thanh long vàng khác (Selenicereus magalani) có nguồn gốc Trung và Nam Mỹ, được trồng với
diện tính nhỏ tại Colombia
Trang 22Tại Việt Nam, thanh long trước đây chỉ được trồng chủ yếu cho vua và các gia đình quý tộc dùng (Peter, 2001) Hiện nay, giống thanh long được trồng phổ biến có vỏ
đỏ ruột thắng, giống vỏ đỏ ruột đỏ cũng được trồng ở một số địa phương (Phạm Ngọc Liễu và ctv 2000)
2.1.2 Thực vật học
* Rễ cây: khác hẳn với chồi, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phải
là nơi tích trữ nước giúp cho cây chịu hạn Cây thanh long có 2 loại rễ: địa sinh và khí sinh Rễ địa sinh phát triển từ phần lồi ở gốc hom, sau khi đặt hom từ 10 – 20 ngày thì
từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 – 2 cm Rễ địa sinh có nhiệm
vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây, rễ phân bố chủ yếu ở tầng mặt đất (0 – 15 cm) Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ Khi đất ẩm rễ mọc trở lại một cách dễ dàng (Nguyễn Văn Kế, 1997; Nguyễn Kim Hồng Phúc, 2002)
Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống nhằm giúp cây leo lên giá đỡ Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất (Trịnh Thị Cảnh, 1997)
* Thân, cành: thân chứa nhiều nước nên có thể chịu hạn được một thời gian dài, thân cành thường có 3 cánh dẹp, xanh Tiết diện ngang cho thấy có 2 phần: bên ngoài
là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ Mỗi năm cây cho từ 3 – 4 đợt cành, đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ 2 và cứ thế cành xếp thành từng lớp trên đầu trụ Trong mùa ra cành khoảng thời gian giữa 2 đợt cành từ 40 – 50 ngày
Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây, cây 1 tuổi trung bình có khoảng 30 cành, 2 tuổi khoảng 70 cành, 3 tuổi khoảng 100 cành, 4 tuổi 120 cành, ở cây 5 – 6 tuổi chỉ duy trì khoảng 150 – 170 cành
Trang 23* Hoa: thanh long là cây ngày dài Tại Nam bộ, hoa xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch và kéo dài tới khoảng tháng 10, rộ nhất là từ tháng 5 tới tháng 8 Trung bình có từ 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm
Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm, nhiều lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 – 24 cm, đường kính 5 – 8
mm Hoa thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 – 3 ngày, các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30 % đến 40 %, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện thuận lợi
* Quả và hạt: sau khi thụ phấn, bầu noãn sẽ phát triển thành quả mọng Trong
10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó gia tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng Thời gian từ khi hoa thụ đến khi thu hoạch chỉ từ 25 – 35 ngày Quả thanh long hình bầu dục, có nhiều tai xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “ hốc mũi “ Khi còn non quả màu xanh, lúc chín chuyển sang màu đỏ đậm (Nguyễn Văn Kế, 1997; Trịnh Thị Cảnh, 1997)
Sau 1 năm trồng thì thanh long bắt đầu cho trái bói, các năm thứ 3, 4, 5 là những năm có năng xuất cao Từ năm thứ 6 trở đi năng xuất bắt đầu giảm từ từ Trong điều kiện thanh long ra hoa tự nhiên, năm thứ 1 năng suất độ 3 kg quả / trụ, năm thứ 2: 10 –
15 kg / trụ, năm thứ 3: 30 kg / trụ, năm thứ 4: 40 – 45 kg / trụ, sau đó giảm từ từ tới năm thứ 12 còn độ 20 – 25 kg / trụ Việc chăm sóc tốt, thời tiết thuận lợi sẽ làm năng suất cao và ổn định nhiều năm (Vũ Công Hậu, 1996; Nguyễn Kim Hồng Phúc, 2002)
2.1.3 Yêu cầu dinh dưỡng của cây thanh long
Theo Mai Văn Quyền và ctv (2005); Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2006), trong thời gian đầu mới trồng, nhất là giai đoạn tạo cành, cây thanh long cần nhiều đạm và lân để giúp cây phát triển bộ rễ và thân cành, cây khỏe mạnh, xanh tốt, sớm cho quả Thiếu đạm và lân cây cằn cỗi, cành nhỏ và ngắn, chuyển màu xanh vàng nhạt Ngược lại nếu thừa đạm thì cành vươn dài, mềm yếu, chống chịu sâu bệnh kém, kéo dài thời
Trang 24Kali làm cho cây cứng rắn, tăng sức chống hạn, sớm ra quả, quả to và chất lượng tốt Để tạo quả rải vụ, kali cùng với lân làm tăng tỉ lệ đậu hoa, đậu quả Thiếu kali cây mềm yếu, cành chuyển màu vàng, có các vệt nâu, dễ bị sâu bệnh phá hại (Nguyễn Văn Kế, 1997; Mai Văn Quyền và ctv, 2005)
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2006), các nguyên tố trung – vi lượng rất cần cho thanh long để đạt năng suất cao, chất lượng tốt, có trong các loại phân hữu cơ và phân bón lá
Theo Nguyễn Hữu Hoàng (2008), phun các chế phẩm điều hòa sinh trưởng NAA + GA3 (20 ppm + 50 ppm) nhiều lần vào các giai đoạn 10 ngày sau ra nụ, 5 ngày sau hoa nở, 10 ngày sau hoa nở, 15 ngày sau hoa nở, 20 ngày sau hoa nở, 25 ngày sau hoa nở sẽ cho năng suất (51,8 kg / trụ / năm) và số trọng lượng trái (748 g / trái) cao nhất Nếu phun với nồng độ 20 ppm + 40 pp sẽ làm tăng hàm lượng đường tổng số, đường khử và vitamin C của thịt trái thanh long
Dùng các chất GA3 hoặc KNO3 phun 4 lần, cánh 7 ngày 1 lần cũng có thể kích thích cho thanh long ra hoa sớm và tăng tỉ lệ đậu trái, phun từ khi chồi đợi hai bắt đầu nẩy (Nguyễn Mạnh Chinh, 2001)
2.2 Tiêu chuẩn thanh long xuất khẩu
Thanh long nên thu hoạch trong thời gian 28 – 31 ngày sau khi nở hoa để trái có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn Thu hoạch lúc sáng sớm, chiều mát, tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào trái làm tăng nhiệt độ trong trái và mất nước nhanh ảnh hưởng đến chất lượng, thời gian bảo quản (Nguyễn Văn Kế, 1997; Mai Văn Quyền và ctv, 2005; Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2006; Nguyễn Thơ, 2008)
Thành phần dinh dưỡng: thanh long chứa nhiều chất khoáng, đặc biệt là kali, sắt
so với một số trái cây khác
Trang 25Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của trái thanh long (Nguồn: Viện nghiên cứu cây ăn
quả Miền nam, 2007)
Theo tiêu chuẩn GAP (Good Agriculture Practices), thanh long được chia làm các loại:
Loại 1: loại cao cấp (đạt tiêu chuẩn xuất khẩu)
- Trọng lượng trái trên 300 g
- Trái không bị vết của nấm hay côn trùng gây hại
- Trái sạch, dạnh hình đẹp, vỏ có màu đỏ đều trên 70 % diện tích trái và láng Khoang
mũi không sâu quá 1cm và trái không có mũi nào lồi lên
- Tai thẳng, cứng, xanh và dài trên 1,5 cm
- Thịt trái có màu trắng và cứng, hột màu đen
- Trái không có vết tổn thương cơ giới hay chỗ bị thâm và không có đốm xanh hay vết
cháy do nắng hoặc do phun thuốc hóa học
Loại 2: loại thứ cấp (đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong nước và tại 1 số thị trường nhất định)
- Trọng lượng trái từ 300 g
Trang 26- Trái sạch, dạng hình đẹp, vỏ có màu đỏ đều trên trái ít nhất 70 % diện tích trái
- Khoang mũi không sâu quá 1,5 cm
- Tai cứng và xanh tối thiểu còn 2/3 chiều dài tai
- Thịt trái có màu trắng và cứng, hột màu đen
- Trái không có vết tổn thương cơ giới hay bị thâm và không có đốm màu xanh hay vết cháy do nắng hoặc thuốc hóa học
2.3 Tình hình sản xuất thanh long tại Bình Thuận
Theo Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận (2009), Bình Thuận được mệnh danh
là xứ sở của cây thanh long do diện tích và sản lượng nhiều nhất nước ta Diện tích thanh long toàn tỉnh khoảng 10.000 ha, với sản lượng khoảng 170.000 tấn, trong đó xuất khẩu 60.000 tấn (năm 2008) Riêng huyện Hàm Thuận Nam, diện tích cũng như sản lượng chiếm hơn 50 % toàn tỉnh Trong 3 năm gần đây, do có sự đầu tư tốt về sản phẩm và thị trường nên kim ngạch xuất khẩu thanh long tăng 31 % / năm Giá thanh long xuất khẩu cũng có xu hướng tăng dần từ 321 USD / tấn (năm 2003) lên đến 680 USD / tấn (năm 2007) Thanh long được xuất sang 12 nước trên thế giới, chủ yếu là Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Hồng Kông, Canada, Hà Lan, Singgapore, Anh, Pháp, Đức…
Tại thời điểm hiện nay (tháng 12/2009), theo Sở Nông nghiệp Bình Thuận (2009); Sở Khoa học và Công nghệ Môi trường Bình Thuận (2009), diện tích trồng thanh long toàn tỉnh Bình Thuận đạt gần 11.000 ha, diện tích cho trái khoảng 9000 ha, sản lượng 240.000 tấn Tuy nhiên giá thanh long giảm từ 10.000 đ / kg xuống còn 4000
đ / kg vì 70 % sản lượng thanh long của Bình Thuận được xuất sang Trung Quốc nhưng hiện nay Trung Quốc đang vào mùa đông, thời tiết lạnh nên nhu cầu sử dụng trái cây giảm hẳn Bên cạnh đó chi phí đầu tư cho thanh long vào thời điểm hiện nay (vụ nghịch) rất lớn do đó gây nhiều khó khăn cho người sản xuất
Trang 272.4 Sâu bệnh hại thanh long
2.4.1 Bệnh hại thanh long
Ở Hoa Kỳ, trên thanh long thường xuất hiện một số loại bệnh gây hại như thối
thân do vi khuẩn Xanthomonas campestris, bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gây
hại trên cành và trái thanh long làm thất thoát năng suất, chất lượng Các loại nấm như
Fusarium oxyporum, Dothiorella sp gây nên các bệnh trên cành (Crane, 2006, trích
dẫn bởi Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2008)
Trên cành thanh long thường xuất hiện những đốm màu nâu, vết bệnh khi già có
đường kính khoảng 0,5 cm, bệnh do nấm Botryosphahaeria dothidea gây nên, nấm này
cũng gây nên bệnh đốm vàng trên trái nhưng ít phổ biến Ngoài ra trên thanh long còn
có các bệnh như chết cây tác nhân là nấm Phytophthora spp., thối rễ do nấm Fusarium spp., Pythium spp (Valencia, 2003, trích dẫn bởi Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2008)
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005), trên trái thanh long, ở phần bên ngoài và bên trong có một số vi sinh vật ký sinh gây hại sẽ làm giảm phẩm chất và thời gian bảo
quản Bệnh thối đốm trái do nấm Fusarium lateritium là đối tượng gây hại quan trọng
cho trái thanh long ở gian đoạn chín và giai đoạn sau thu hoạch Để phòng trừ bệnh trong quá trình vận chuyển và bảo quản có thể sử dụng phương pháp sử lý hơi nước nóng ở 46,50C trong vòng 30 phút có thể diệt được nấm Fusarium lateritium (Nguyễn
Capnodium sp.) Trong đó bệnh thán thư là bệnh gây tổn thất nặng nề nhất, bệnh gây
hại trên cành, hoa, làm thối trái đang ở trên cây và cả trong quá trình bảo quản
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2008), bệnh đốm nâu do nấm gây nên là bệnh
Trang 28lúc đầu là những đốm nhỏ, sau đó là các đốm lớn viền màu nâu đậm, vết bệnh nằm rải rác hoặc trải dài thành những vệt dọc theo thân cành Trên vết bệnh già có nhiều đốm đen nhỏ đó là các ổ bào tử của nấm Bệnh ảnh hưởng nhiều đế sự sinh trưởng và ra hoa đậu trái
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2006), trên cành thanh long còn có bệnh thối
đầu cành do nấm Alternaria sp., làm cho đầu cành biến vàng sau đó bị thối Nấm
Gloeosporium agaves gây bệnh đốm nâu cành, bệnh nám cành do nấm Macssonina agaves gây ra Bệnh nám trái do nấm Sphaceloma sp
Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2006), trên cây thanh long thường xuất hiện các
bệnh: thán thư (Collectotrichum), thối trái (Fusarium sp), thối bẹ (Alternaria sp.,
Bacteria), thối bẹ (Fusarium sp., Bacteria), rám cành (Macssonina agaves), đốm nâu
(Gloeosporium agaves), đốm đen (Ascochyta sp), nấm bồ hóng (Capnodium sp), đốm
vòng vàng và bệnh ghẻ (chưa xác định tác nhân gây bệnh) Các bệnh này chủ yếu xuất hiện vào mùa mưa, trong đó phổ biến nhất là các bệnh thán thư, thối bẹ, thối trái
2.4.2 Sâu hại thanh long
Ở Florida (Hoa Kỳ), các loài như bọ trĩ, rệp dính, rệp sáp, kiến, bọ cánh cứng, sâu đục thân, ốc sên và ruồi đục trái là các dịch hại phổ biến gây hại trên thanh long (Crane, 2006, trích dẫn bởi Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2008)
Ở Việt Nam, theo Phạm Văn Biên và ctv (2005), có 10 loài sâu hại thường gặp
trên cây thanh long trong đó các loài phổ biến như: câu cấu xanh lớn (Hypomeces
squamosus), bọ hung đục cành (Protaetia), rệp muội (Aphis sp), ruồi đục quả
(Bactrocera dorsalis), kiến lửa (Solenopsis geminata)… Trong đó ruồi đục quả là đối
tượng kiểm dịch của nhiều quốc gia nên được quan tâm nghiên cứu nhiều Ở Việt Nam,
cây thanh long thường bị tấn công bởi 2 loài ruồi đục trái Bactrocera correcta và
Bactrocera dorsalis ở các giai đoạn 26 – 40 ngày sau khi ra hoa, có thể sử dụng chế
phẩm protein thủy phân để hấp dẫn và diệt ruồi đục trái (Lê Quốc Điền và ctv, 2004)
Trang 29khoét cành làm hư hom giống, cắn mất tai lá trên trái, gây tổn thương vỏ trái Có khoảng 16 loài kiến gây hại giai đoạn bông, 15 loài gây hại giai đoạn trái, giai đoạn thu hoạch có khoảng 9 loài (Huỳnh Thanh Lộc và vtv, 2007) Bọ xít có thể hại thanh long
từ lúc có nụ đến khi trái hình thành để lại vết chích rất nhỏ, khi quả chín vết chích sẽ xuất hiện chấm đen làm mất giá trị xuất khẩu (Nguyễn Văn Kế, 1997) Rầy mềm có nhiều loại gây hại trên hoa và trái thanh long, chích hút nhựa để lại vết nhỏ trên trái, làm cho trái bị mất màu đỏ tự nhiên khi chín (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv, 2009) Theo
Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2006), gây hại trên thanh long có ngâu (Protaetia sp.), con
thành trùng cắn phá gây hại bằng cách đục phá cành non, cành già và cả nụ hoa làm ảnh hưởng đến sự đậu trái, các vết đục còn tạo điều kiện cho kiến lửa xâm nhập và tấn công
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), có 5 loài gây hại chủ yếu trên thanh long là:
Ngâu (Protaetia sp), kiến lửa (Solenopsis geminata), kiến riện (Cardiocondyla
wroughtoni), ruồi đục trái (Bactrocera sp.), bọ xít (Mictis longicornis)
Theo Huỳnh Thanh Lộc và ctv (2007), tại 2 tỉnh Long An và Tiền Giang, những loài gây hại chủ yếu trên thanh long là: Ngâu, kiến, bọ xít, rầy mềm, ruồi, ốc và sâu, trong đó phổ biến nhất là kiến và ruồi Đặc biệt lượng ruồi ở Tiền Giang rất lớn do ở đây cây ký chủ của ruồi đục trái được trồng rất nhiều, đặc biệt là mận và sơ ri
2.4.3 Thiên địch trên thanh long
Tại 2 tỉnh Tiền Giang và Long An, thành phần thiên địch chủ yếu trên cây thanh long là các loài ong ký sinh, nhện ăn mồi và bọ rùa (Huỳnh Thanh Lộc và ctv, 2007) Tại Bình Thuận chưa có số liệu thống kê cụ thể
2.5 Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại chủ yếu trên thanh long
Theo Huỳnh Thanh Lộc và ctv (2007), cắt chóp bông của trái thanh long sau 3 đêm trổ và rút bỏ phần còn lại tiếp tục sau 7 - 8 đêm khi hoa trổ sẽ ngăn chặn được một
số bệnh hại do côn trùng và mầm bệnh có trong chóp hoa gây nên, phương pháp này
Trang 30protein thủy phân lên trái sẽ đạt hiệu quả cao trong việc phòng trừ ruồi đục trái (Lê Quốc Điền và ctv, 2006)
Theo Đặng Thị Kim Uyên và ctv (2007), trái thanh long sau khi thu hoạch có thể sử lý nước nóng 530C trong 10 phút để phòng trừ bệnh thán thư do nấm
Colletotrichum gloeopsoriodes gây ra, với biện pháp này vừa diệt được mầm bệnh nấm
vừa an toàn cho người tiêu thụ Biện pháp này cũng rất hiệu quả trong việc phòng trừ ruồi đục trái (Thái Thị Hòa và ctv, 2006)
Theo Huỳnh Thanh Lộc và ctv (2007), dùng bã mồi SOFRI D-H-A-T phối trộn với thuốc hóa học đạt hiệu quả rất cao trong việc phòng trừ kiến và ruồi đục trái
Đối với những loài có kích thước lớn như ngâu có thể dùng tay để bắt Dùng các loại thuốc trừ sâu thông thường (Decis, Bassa, Trebon, Sagolex…) để trừ bọ xít, kiến (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2006), đối với kiến, phòng trị bằng các loại thuốc trừ sâu phun lên cây, rải thuốc hạt vào ổ và quanh gốc cây Đối với ruồi đục quả dùng các thuốc dẫn dụ như Ruvacon, Vizubon – D treo trong vườn, có thể dùng thuốc Sofri protein phun lên cây Với các loại bệnh chủ yếu như thán thư, đốm nâu, nám cành, thối đầu cành…, phun thuốc gốc đồng, Carbenzim, Rovral, Score, Anvil…
Trên thế giới, cây thanh long không được trồng phổ biến Các nghiên cứu về sâu bệnh hại thanh long còn ít Bên cạnh đó, những loài sinh vật gây hại cũng khác nhau tùy theo điều kiện sinh thái, tập quán canh tác Nếu sử dụng biện pháp phòng trừ ở nơi này áp dụng vào nơi khác thường đem lại hiệu quả không như mong muốn, cần có những biện pháp cụ thể tùy theo từng địa phương
2.6 Tình hình sử dụng thuốc hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hại thanh long
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Hữu Hoàng và Nguyễn Minh Châu (2008), tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang cho thấy 80 % hộ nông dân không ghi chép việc sử dụng thuốc BVTV cho cây thanh long trong suốt quá trình sản xuất, chỉ có 17 % hộ ghi
Trang 31dụng quần áo chuyên dùng khi phun thuốc, 70 % đeo khẩu trang, 5 % mang bao tay,
100 % đội nón (đây chỉ là thói quen)
Theo Huỳnh Thanh Lộc và ctv (2007), tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang nông dân sử dụng 11 chế phẩm thuốc hóa học trong phòng trừ sâu hại thanh long
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng thuốc BVTV phòng trừ sâu trên vườn thanh long tại
huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang (Nguồn: Huỳnh Thanh Lộc và ctv, 2007)
Stt Loại thuốc sử dụng Hoạt chất Tỷ lệ hộ sử
6 Hopsan 75 ND Fenubucarb+Phentho
10 Karate 2.5 EC Lambda-cyhalothrin
3,34
Ngâu, bọ xít, sâu, Ruồi
Trang 32Bảng 2.3: Các loại thuốc BVTV được nông dân sử dụng trong canh tác thanh long tại
2 tỉnh Tiền Giang và Long An (Nguồn: Lê Quốc Điền và ctv, 2007)
Stt Loại thuốc sử dụng Họat chất và nhóm độc Tỷ lệ hộ sử dụng
Trang 33Bảng 2.4: Các loại thuốc BVTV được sử dụng trong canh tác thanh long tại Bình
Thuận (Nguồn: Nguyễn Thơ, 2008)
Số TT Đối tượng
dịch hại
Loại thuốc sử dụng
Thời gian và biện pháp sử dụng
Deadline bullt, Yllow-K
Tiltsuper, Score, Ridomil gold, Rovral,
Mancozeb, Dithane M Tiltsuper, Score, Ridomil gold, Rovral,
Mancozeb, Dithane M Decis, Karate, Mospilan, Lorsban
Phun lên cây, đặt bã độc xuống đất, từ khi
có nụ hoa đến khi sắp thu hoạch
Đặt bã độc xuống đất, các giai đoạn của cây,
từ đầu đến cuối mùa mưa
Phun lên cây suốt mùa mưa
Phun lên cây suốt mùa mưa
Phun lên cây các giai đoạn của cây, từ đầu đến cuối mùa mưa
Dư lượng thuốc trên trái
Không để lại dư lượng
Dư lượng thuốc trên trái
Dư lượng thuốc trên trái
Dư lượng thuốc trên trái
Trang 34Score, Ridomil, Rovral,
Phun lên cây đầu và cuối mùa mưa
Phun lên cây quanh năm
Phun xuống đất 1-2 lần/năm, đầu mùa mưa và đầu mùa khô
2.7 Thuốc bảo vệ thực vật
2.7.1 Các nhóm thuốc bảo vệ thực vật
Từ xưa đến nay trong sản xuất nông nghiệp, thuốc BVTV là một vật tư kỹ thuật cần thiết để góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Tuy việc sử dụng thuốc BVTV mang lại hiệu quả kinh tế cao là một việc làm cần thiết nhưng do thuốc BVTV có tính độc đối với sinh vật và có khả năng vận chuyển, tồn dư nên ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống và hệ sinh thái (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv, 2005; Nguyễn Trần Oánh và ctv, 2008)
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005), dựa theo cấu tạo hóa học, chia thuốc BVTV thành nhiều nhóm
* Thuốc trừ sâu: có các nhóm chính là: nhóm thuốc thảo mộc, nhóm Clo hữu cơ, nhóm Lân hữu cơ, nhóm Carbamate, nhóm Pyrethroide (cúc tổng hợp), nhóm
Trang 35biệt hiện nay các thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học như thuốc thảo mộc, thuốc vi sinh đang được chú ý nghiên cứu và sử dụng nhiều, một số sản phẩm từ dầu mỏ cũng được dùng làm thuốc trừ sâu
Dầu khoáng được sản xuất từ dầu thô, thuộc nhóm dầu bôi trơn trong những sản phẩm của nhà máy lọc dầu, có thêm chất nhũ hóa để hòa tan được trong nước Tác động của dầu với sâu là bịt lỗ thở ngăn cản hô hấp, thay đổi tập quán đẻ trứng, hạn chế trứng nở Ngoài ra dầu còn hạn chế sự nẩy mầm xâm nhập của bào tử nấm, an toàn với người và môi trường, thời gian cách ly ngắn chỉ 2 ngày
* Thuốc trừ bệnh: gồm 2 nhóm lớn là nhóm vô cơ và nhóm hữu cơ Trong mỗi nhóm lớn này lại có nhiều nhóm hóa học khác nhau
2.7.2 Cơ chế tác động của thuốc bảo vệ thực vật
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005); Nguyễn Trần Oánh và ctv (2008), thuốc trừ sâu sau khi xâm nhập vào cơ thể sâu, có thể diệt sâu bằng nhiều cách: tác động lên hệ thần kinh (là cơ chế tác động của các thuốc trừ sâu nhóm Lân hữu cơ, Clo hữu cơ, Carbamate và Pyrethroid), ức chế sự chuyển hóa năng lượng trong quá trình trao đổi chất, ức chế quá trình lột xác của côn trùng, triệt sản…
Đối với thuốc trừ bệnh có 2 cơ chế tác động chính đó là:
* Tác động trực tiếp: ức chế các phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào của vi sinh vật gây bệnh Hầu hết các thuốc trừ bệnh cây hiện nay, kể cả các chất kháng sinh, chủ yếu tác động theo hướng này
* Tác động gián tiếp: thuốc làm tăng sức đề kháng của cây ký chủ đối với ký sinh Những chất này làm tăng khả năng miễn dịch của cây, có tác dụng phòng chống bệnh một cách cơ bản
2.7.3 Sự phân giải của thuốc bảo vệ thực vật
Theo Trần Quang Hùng (1999); Phạm Văn Biên và ctv (2005); Nguyễn Trần Oánh và ctv (2008), trong tự nhiên, sau khi sử dụng, thuốc BVTV được phân hủy bởi
Trang 36nước Tốc độ phân giải tùy thuộc đặc điểm hóa tính từng loại thuốc và điều kiện môi trường
2.7.4 Tính độc của thuốc bảo vệ thực vật
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005); Nguyễn Trần Oánh và ctv (2008), những chất khi xâm nhập và cơ thể sinh vật (người, động thực vật, vi sinh vật) với liều lượng nhỏ đã có thể gây ra những rối loạn về cấu trúc hay chức năng, làm chậm sự sinh trưởng phát triển, dẫn đến những tổn thất cho cơ thể hoặc tử vong Như vậy, các thuốc BVTV dùng để tiêu diệt các loài dịch hại đều là những chất độc, kể cả đối với người và các động vật khác
2.8 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Theo quy định của tổ chức Lương thực Nông nghiệp thế giới (FAO) thì dư lượng thuốc BVTV là những chất đặc thù tồn lưu trong lương thực và thực phẩm, trong sản phẩm nông nghiệp và trong thức ăn vật nuôi do sử dụng thuốc BVTV gây nên
Dư lượng này được tính bằng miligam hoặc microgam trong 1 kg nông sản Mức dư lượng tối đa cho phép có thể quy định khác nhau ở mỗi nước, tùy theo đặc điểm sinh lý, sinh thái và đặc điểm dinh dưỡng của người dân nước đó (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv, 2005; Nguyễn Trần Oánh và ctv, 2008)
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005); Nguyễn Trần Oánh (2008), thời gian cách
ly là khoảng thời gian ngắn nhất từ khi phun thuốc lên cây cho đến khi thuốc phân hủy đạt mức dư lượng tối đa cho phép Trong thực tế, thời gian cách ly được quy định là từ ngày phun thuốc lần cuối lên cây trồng cho đến ngày thu hoạch nông sản làm thức ăn cho người và vật nuôi, được tính bằng ngày Thời gian cách ly khác nhau với từng loại thuốc trên mỗi loại cây trồng và nông sản, tùy theo tốc độ phân giải của thuốc trên cây trồng và nông sản đó Không đảm bảo thời gian cách ly có thể gây ngộ độc cho người
sử dụng nông sản có phun thuốc BVTV
Trang 37Bảng 2.5: Kết quả phân tích dư lượng thuốc trên trái thanh long (Nguồn: Cục BVTV,
2007, trích dẫn bởi Nguyễn Thơ, 2008)
Số TT Tên, địa điểm lấy mẫu Ngày lấy
Trang 382.9 Ưu, nhược điểm của biện pháp sử dụng thuốc BVTV
Theo Võ Văn Á và ctv (1997); Trần Quang Hùng (1999); Nguyễn Mạnh Chinh
và ctv (2005); Phạm Văn Biên và ctv (2005); Nguyễn Trần Oánh và ctv (2008), thuốc BVTV có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp với nhiều ưu điểm như:
- Tiêu diệt dịch hại nhanh chóng, triệt để, đồng loạt trên diệt rộng
- Hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ được năng suất cây trồng
- Dễ dùng, có thể áp dụng được ở nhiều vùng khác nhau
Tuy vậy sử dụng thuốc hóa học cũng có nhiều nhược điểm:
- Dễ gây độc với người, gia súc và ô nhiễm môi trường, để lại dư lượng trong nông sản
- Giết hại nhiều thiên địch
- Dễ làm nẩy sinh tính chống thuốc cho dịch hại
- Có thể phát sinh những đối tượng dịch hại quan trọng mới, gây hiện tượng tái phát dịch
2.10 Hiện trạng nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật
Hiện nay trên thị trường nông dược, các nhà xản xuất và phân phối rất nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật với nhiều tên thương mại khác nhau, và nguồn du nhập các hóa chất nông nghiệp cũng rất đa dạng vì vậy việc quản lý mặt hàng này gặp rất nhiều khó khăn Nông dân đi mua thuốc và tự pha chế theo kinh nghiệm của bản thân, nhiều khi không theo quy trình hướng dẫn ghi trên bao bì Theo Lê Bích Thắng (2005), có 35 % nông dân sử dụng mà không đọc nhãn thuốc, có tới 91 % nông dân tìm hiểu cách sử dụng thuốc trực tiếp từ người bán thuốc Trong số những người có đọc nhãn thuốc thì
Trang 39có tới 61 % nói là họ không làm theo các chỉ dẫn và có tới 39 % số người đọc nhãn thuốc đã tăng nồng độ thuốc phun lên, thậm chí gấp đôi lượng theo chỉ dẫn
Khi phun thuốc cho cây trồng có tới trên 50 % số thuốc bị rơi xuống đất Đó là chưa kể biện pháp bón thuốc trực tiếp vào đất Người ta cũng ước tính có đến 90 % thuốc sử dụng không tham gia diệt sâu bệnh mà gây nhiễm độc cho đất, nước, không khí và nông sản (Nguyễn Mạnh Chinh, 2005)
Việc bảo quản và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không tuân thủ theo các hướng dẫn và quy định về vệ sinh môi trường đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng Nhiều hộ nông dân khi sử dụng xong vất luôn bao bì, vỏ chai tại ruộng hoặc sử dụng lại với mục đích khác Hiện trạng ngộ độc hóa chất BVTV trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người
Theo Nguyễn Thơ (2008), dư lượng thuốc trừ sâu trong trái thanh long là một chỉ tiêu rất quan trọng trong trong vệ sinh an toàn thực phẩm Những nhà nhập khẩu thanh long ở Châu Âu luôn yêu cầu cung cấp danh mục thuốc hóa học đã sử dụng trên đồng ruộng và trong xử lý bảo quản Họ yêu cầu các nhà sản xuất cung cấp kết quả phân tích dư lượng thuốc trừ sâu sử dụng Sử dụng phương pháp phân tích nhanh kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu đã dùng
Qua tham khảo tài liệu nhận thấy rằng: các nghiên cứu trước đây chủ yếu là điều tra thành phần sâu bệnh và triệu chứng tác hại trên cây thanh long, chưa đưa ra được diễn biến tác hại trong năm của từng loài sâu bệnh Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, nhất là biện pháp hóa học cũng ít, chưa có những loại thuốc đặc hiệu để phòng trừ do
đó cần có nghiên cứu rõ hơn về diễn biến sâu bệnh trong năm nhằm nhận biết được thời điểm thích hợp để chuẩn bị phòng trừ và những loại thuốc vừa có hiệu quả phòng trừ cao, vừa an toàn với môi trường và người sử dụng sản phẩm
Trang 40
3 Phân tích dư lượng hóa chất trong trái thanh long
4 Đánh giá hiệu quả phòng trừ của một số loại thuốc đối với sâu bệnh chủ yếu
trên cây thanh long
.3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện
Đề tài đã được thực hiện trên những vườn trồng cây thanh long tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 8 năm 2009
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nguyên vật liệu, thiết bị
- Các vườn thanh long 4 năm tuổi
- Kim, kẹp, đĩa Petri, cồn
- Kính lúp, kính hiển vi, bao nylon
- Máy hút mẫu côn trùng, vợt, túi giữ mẫu
- Các loại thuốc bảo vệ thực vật
- Và một số vật liệu khác