1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VIỆC PHÒNG HỘI CHỨNG CÒI CỌC SAU CAI SỮA TRÊN HEO BẰNG BIỆN PHÁP TIÊM VẮC XIN CHO NÁI

102 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần tìm biện pháp phòng hội chứng đang gây thiệt hại cho nền chăn nuôi Việt Nam, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y và Phòng Đào Tạo Sau Đại Học trường Đại học Nông Lâm, d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**************

NGUYỄN ĐỨC NHÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VIỆC PHÒNG HỘI CHỨNG CÒI CỌC SAU CAI SỮA TRÊN HEO BẰNG BIỆN PHÁP TIÊM VẮC XIN CHO NÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 09/2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**************

NGUYỄN ĐỨC NHÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VIỆC PHÒNG HỘI CHỨNG CÒI CỌC SAU CAI SỮA TRÊN HEO BẰNG BIỆN PHÁP TIÊM VẮC XIN CHO NÁI

Trang 3

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VIỆC PHÒNG HỘI CHỨNG CÒI CỌC

SAU CAI SỮA TRÊN HEO BẰNG BIỆN PHÁP TIÊM VẮC XIN CHO NÁI

NGUYỄN ĐỨC NHÂN

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS.TS NGUYỄN NGỌC HẢI

Đại học Nông lâm TP HCM

2 Thư ký: TS NGUYỄN ĐÌNH QUÁT

Đại học Nông lâm TP HCM

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN TẤT TOÀN

Đại học Nông lâm TP HCM

4 Phản biện 2: PGS.TS TRẦN THỊ DÂN

Hội Thú Y Việt Nam

5 Uỷ viên: PGS.TS LÂM THỊ THU HƯƠNG

Đại học Nông lâm TP HCM

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

Năm 2006 công tác tại công ty TNHH Việt Pháp Quốc Tế

Năm 2005 theo học Cao học ngành Thú Y tại Đại học Nông Lâm, thành phố

Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: kết hôn năm 1993 Vợ Nguyễn Thị Bạch Tuyết sinh năm

1964 Con trai Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1996

Địa chỉ liên lạc 53/5, đường số 10, khu phố 3, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

NGUYỄN ĐỨC NHÂN

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi chân thành cảm ơn:

• Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm tp Hồ Chí Minh

• Phòng Đào Tạo Sau Đại Học

• Khoa Chăn nuôi Thú Y

• Công ty TNHH Việt Pháp Quốc Tế

Chúng tôi chân thành cảm ơn sâu sắc đến:

PGS TS Lâm Thị Thu Hương

Đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong việc hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn đến ThS Đường Chi Mai, bạn Shanti, bạn Khanh đã hỗ trợ tôi trong việc hoàn thành luận văn này

Cảm ơn các thầy cô khoa Chăn nuôi Thú Y đã trang bị kiến thức cho tôi trong thời gian học tập tại trường Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn lớp Cao học Thú Y

2004 đã động viên và hỗ trợ tôi trong thời gian qua

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả việc phòng hội chứng còi cọc sau cai sữa trên heo bằng biện pháp tiêm vắc xin cho nái” được tiến hành từ ngày 15 tháng 11 năm 2008 đến ngày 15 tháng 03 năm 2009, tại 1 trại chăn nuôi heo công nghiệp ở Đồng Nai Mục đích đề tài nhằm đánh giá đáp ứng miễn dịch của nái và ghi nhận hiệu giá kháng thể mẹ truyền trên heo con, chỉ tiêu tăng trưởng, tỉ lệ còi loại thải, tỉ lệ heo con có mẫu phân dương tính với vi-rút PCV2

Heo thí nghiệm được chọn từ các nái chửa của 1 đàn có lịch sử bệnh liên quan vi-rút PCV2, nái từ lứa 2 đến lứa 6, nhóm máu lai Những heo này được kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng PCV2 và được phân bố vào 2 lô, lô thí nghiệm được tiêm vắc xin (20 nái) và lô đối chứng không tiêm vacxin (20 nái) Vào thời điểm 6 tuần và 2 tuần trước khi sinh, những nái trong lô thí nghiệm được tiêm theo đường tiêm bắp 2ml vắc xin CIRCOVAC® Heo con của cả 2 lô được đánh dấu, cân từng

cá thể vào thời điểm ngay khi sinh, 26 và 60 ngày tuổi

Phản ứng cục bộ và toàn thân bao gồm cả nhiệt độ trực tràng của nái sau khi tiêm vắc xin được ghi nhận Thu thập mẫu máu trên nái trước khi tiêm vacxin và lúc

1 tuần sau khi đẻ và thu thập mẫu máu trên heo con lúc 7 và 26 ngày tuổi Sử dụng

bộ kít SERELISA® PCV2 Ab Mono Blocking, công ty Synbiotics để đo hiệu giá kháng thể và kít SERELISA®PCV2 Ag; công ty Synbiotics để phát hiện kháng nguyên của vi-rút PCV2 trong phân heo con

Kết quả ghi nhận được như sau:

Sau khi tiêm vắc xin Circovac cho heo nái chửa, không có nái nào bị ảnh hưởng đến độ ngon miệng, không bị tăng thân nhiệt, không có phản ứng toàn thân

Có 5% (1/20 nái) có phản ứng cục bộ tại chổ tiêm sau khi tiêm 1 ngày

Sau khi tiêm vắc xin, lô thí nghiệm có 15/20 (75%) nái có kháng thể chống

Trang 8

tiêm) chỉ có 8/20 nái (40%) có hiệu giá kháng thể chống PCV2 tăng cao Trung bình hiệu giá kháng thể trên nái sau khi tiêm vắc xin ở lô thí nghiệm là 4,04 log10 ELISA trong khi lô đối chứng chỉ có 3,58 log10 ELISA

Vào thời điểm 1 tuần tuổi và lúc cai sữa, ở lô thí nghiệm số heo con có hiệu giá kháng thể mẹ truyền ở mức trên 3,8 log10 ELISA cao hơn lô đối chứng (85% so với 35% và 22,5% so với 15%) Trung bình hiệu giá kháng thể của heo con ở lô thí nghiệm lúc 1 tuần tuổi và lúc cai sữa đều cao hơn lô đối chứng (4,06 và 3,49 so với 3,59 và 3,26 log10 ELISA)

Phương trình hồi qui biểu diễn sự tương quan giữa hiệu giá kháng thể chống PCV2 trên heo con và hiệu giá kháng thể nái ở thời điểm sau khi sinh 1 tuần là: Kháng thể con = 1,39 + 0,65 x kháng thể nái

Phương trình hồi qui biểu diễn sự tương quan giữa hiệu giá kháng thể heo con lúc cai sữa và lúc 1 tuần tuổi là: Kháng thể cai sữa = 0,73 + 0,69 x kháng thể 1 tuần

Tỉ lệ mẫu phân dương tính với kháng nguyên của vi-rút PCV2 vào thời điểm cai sữa của lô thí nghiệm (10%) thấp hơn lô đối chứng (42,50%)

Các chỉ tiêu về sinh trưởng của heo con lô thí nghiệm đều tốt hơn có ý nghĩa

so với heo con lô đối chứng: trọng lượng bình quân 26 ngày (7,09kg so với 6,73kg/con) và 60 ngày tuổi (17,89kg so với 17,11kg/con), tăng trọng ngày giai đoạn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi (0,266kg so với 0,249kg/con/ngày), tiêu tốn thức

ăn sau cai sữa (1,64kg so với 1,71kg thức ăn/kg tăng trọng)

Tỉ lệ còi và loại thải trong giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa lô đối chứng cao hơn lô thí nghiệm (6,86% so với 4,79%; 10,29% so với 4,47%)

Kết quả tương tự được ghi nhận cho các chỉ tiêu khác Tỉ lệ ngày con bệnh của các bệnh xảy ra trong giai đọan sau cai sữa và số heo có bệnh tích liên quan đến hội chứng PMWS trên heo mổ khám của lô đối chứng vào thời điểm 60 ngày tuổi

Trang 9

SUMMARY

The study “Effect of the control of the Post-weaning multisystemic wasting syndrome (PMWS) in piglets by vaccination of sows” was carried out from 15 November 2008 to 15 March 2009 at an intensive swine farm in Dong Nai province, Viet Nam The objectives of this study were to evaluate the immune response in sows and to measure the maternal antibody in piglets, growth performance, wasting and culling rates and the rate of fecal samples in piglets positive to PCV2

Experimental sows were selected from a herd having a history of porcine circovirus disease, second to the sixth parity, hybrid breeds

These sows were checked for PCV2 antibody level and were allocated to vaccinated group (20) and non-vaccinated control group (20) based on their parity and PCV2 antibody titer At 6 weeks and 2 weeks before farrowing, sows in the experiment group were injected (IM) via intramuscular with 2 ml CIRCOVAC® Piglets from these two groups were tagged and weighed individually at birth, 26 and

60 days-old

Local and general reactions including rectal temperature in sows after vaccination were recorded Blood samples were taken in sows before the trial and at one week after farrowing and in piglets at 7 and 26 days-old Fecal samples were collected in piglets at 26 days-old Kit SERELISA® PCV2 Ab Mono Blocking, Synbiotics Corporation was used for quantitative antibody analysis Kit SERELISA®PCV2 Ag, Synbiotics corporation, France was used for viral antigen detection in feces

The results were as followed:

After vaccination with CIRCOVAC, in the vaccinated group, there was no any sow showing appetite reducing, rectal temperature increasing or general

Trang 10

reactions There was one of the 20 sows (5%) manifested a mild local reaction and the sign was disappeared after 1 day

After vaccination, the number of vaccinated sows having seroconversion was higher than the control group (15/20; 75% as compared with 8/20; 40%)

After vaccination, the mean of PCV2 antibody of vaccinated group was higher than control group, 4.04 vs 3.58 log10 ELISA, respectively

At one week-old and at weaning day, the number of piglets having PCV2 antibody titres higher than 3.8 log10 from vaccinated sows were higher than those of piglets born to control sows (85% vs 35% and 22.5 vs 15%; respectively)

At one week-old and at weaning day, the mean of PCV2 antibody titres of piglets born to vaccinated sows were higher than that of piglets born to control sows (4.06

vs 3.49 and 3.59 vs 3.26 log10 ELISA)

The regression equation between the PCV2 antibody titres in 1 week-old piglets and the PCV2 antibody titres in sows at the same times was:

Ab piglets = 1.39 + 0.65 * Ab sows

The regression equation between the PCV2 antibody titres in piglets at weaning day (26 days-old) and the PCV2 antibody titres in piglets at 1 weeks-old was: Ab piglets at weaning = 0.73 + 0.69 * Ab piglets at 1 week-old

At weaning day, the percentage of positive rectal swabs to PCV2 in piglets born to the vaccinated group was lower than those of piglets born to the control group (10%

vs 42.50%)

The growth performance parameters of piglets born to vaccinated group were better significantly than those of piglets born to the control group as: the average of body weight at 26 days-old (7.09kg vs 6.73kg), and at 60 days-old (17.89kg vs 17.11kg), the average of daily weight gain from after birth to 60 days-old (0.226kg

vs 0.249 kg), the feed conversion rate during the period of post-weaning (1.64 vs 1.71 kg of feed per kg of weight gain)

The wasting and the culling rates of piglets born to the control group were higher than those of piglets born to the vaccinated group in both pre-weaning and

Trang 11

The same results were found with other parameters At 60 days-old, the rate

of treatment days of diseases happening in post-weaning period, and the number of piglets having lesions involving PMWS in necropsy piglets born to the control group were higher significantly than those of piglets born to the vaccinated group

Trang 12

Danh sách các hình và biểu đồ xiv Danh sách các bảng xvi

Trang 13

2.7.1 Bệnh tích đại thể 10

2.8.2 Dựa vào bệnh tích đại thể và vi thể 12

2.9.1 Quản lý tốt trong chăm sóc nuôi dưỡng 14

2.9.4 Phòng hội chứng còi cọc bằng vắc xin 18

2.11 Lược duyệt các công trình nghiên cứu có liên quan 21

3.3.1 Đối tượng nghiện cứu và nguyên vật liệu 26

4.1 Kết quả đánh giá an toàn và hiệu lực vắc xin trên nái 33 4.1.1 Kết quả đánh giá an toàn của vắc xin trên heo nái 33 4.1.2 Kết quả đánh giá hiệu lực vắc xin Circovac qua hiệu giá

4.1.2.1 Phân bố hiệu giá kháng thể trên nái trước khi tiêm 33

Trang 14

4.2 Đánh giá sự truyền kháng thể từ nái được tiêm vắc xin sang heo

con và hiệu quả ngăn ngừa việc bài xuất vi-rút PCV2 36

4.2.1 Kết quả theo dõi về hiệu giá kháng thể trên heo con 36

4.2.2 Kết quả sự bài thải vi-rút PCV2 qua phân 43

4.3 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển và tình hình

bệnh trên đàn heo con từ nái được tiêm vắc xin 44

4.3.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển 44

4.3.1.1 Kết quả khảo sát chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con giai đoạn

từ sơ sinh đến cai sữa 44

4.3.1.2 Kết quả khảo sát chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con giai đoạn

từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 46

4.3.1.3 Hệ số chuyển biến thức ăn trong giai đoạn cai sữa đến

60 ngày tuổi 48 4.3.1.4 Tỉ lệ heo còi và loại thải trong giai đoạn theo mẹ 49

4.3.1.5 Tỉ lệ heo còi và loại thải trong giai đoạn cai sữa đến

60 ngày tuổi 49 4.3.2 Kết quả tình hình bệnh trên đàn heo con 51

4.3.2.1 Kết quả tình hình bệnh giai đoạn sơ sinh đến cai sữa 51

4.3.2.2 Kết quả tình hình bệnh giai đoạn sau cai sữa 52

4.3.2.3 Tỉ lệ xuất hiện các bệnh tích liên quan hội chứng còi

Trang 15

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APP: Actinobacillus pleuropneumoniae

ADN: Acid deoxyribonucleic

ELISA: Enzyme-linked immunosorbent assay

IFA: Indirect immunofluorescence assay

OD: Optical density

PCR: Polymerase chain reaction

PCVD : Porcine circovirus disease

PCV1: Porcine circovirus type 1

PCV2: Porcine circovirus type 2

PDNS: Porcine dermatitis and nephropathy syndrome

PMWS: Post-weaning multisystemic wasting syndrome

PPV: Porcine parvovirus

PRRS: Porcine reproductive respiratory syndrome

SPF: Swine pathogenic free

SVN: Serum virus neutralization

µl: microlitre

nm: nanometer

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Vi-rút PCV2 được chụp dưới kính hiển vi điện tử 4

Hình 2.3 Heo bị mắc hội chứng còi cọc sau cai sữa – PMWS 9

Hình 2.4 Hội chứng viêm da – viêm thận 10

Hình 2.6 Kỹ thuật IHC trên mô của hạch lym phô 13

Biểu đồ 4.1 Hiệu giá kháng thể kháng PCV2 nái trước khi tiêm của 2 lô 34

Biểu đồ 4.2 Hiệu giá kháng thể kháng PCV2 nái sau khi sinh 1 tuần 2 lô 36

Biểu đồ 4.3 Đường hồi qui biểu diễn sự tương quan giữa hiệu giá kháng thể

nái và hiệu giá kháng thể con tại thời điểm sau khi sinh 1 tuần 37

Biểu đồ 4.4 Hiệu giá kháng thể kháng PCV2 của heo con sau khi sinh

1 tuần 39

Biểu đồ 4.5 Hiệu giá kháng thể kháng PCV2 của heo con khi cai sữa 40

Biểu đồ 4.6 Biến động hiệu giá kháng thể trên nái và con qua các tuần lễ 41

Biểu đồ 4.7 Đường hồi qui biểu diễn sự tương quan giữa hiệu giá kháng

thể trên heo con tại thời điểm 1 tuần và 26 ngày tuổi 42

Biểu đồ 4.8 Tỉ lệ mẫu phân heo phát hiện dương tính với PCV2 44

Biểu đồ 4.9 Trọng lượng bình quân qua các giai đoạn 47

Biểu đồ 4.10 Tăng trọng bình quân các giai đoạn 48

Biểu đồ 4.11 Tỉ lệ còi và loại thải qua các giai đoạn 51

Hình 4.12 Heo con viêm khớp trong giai đoạn theo mẹ của lô nái không tiêm 52

Biểu đồ 4.13 Tỉ lệ bệnh trong giai đoạn heo sau cai sữa đến 60 ngày 54

Hình 4.14 Heo cai sữa viêm khớp và có biểu hiện còi của lô nái không tiêm 55

Hình 4.15: Heo cai sữa có biểu hiện còi và tiêu chảy 55

Trang 17

Hình 4.16 Heo cai sữa có biểu hiện viêm da trên lô nái không tiêm 56

Hình 4.17 Bệnh tích sưng hạch bẹn cạn trên heo con của lô nái không tiêm 57 Hình 4.18 Bệnh tích hạch sưng hạch màng treo ruột trên heo con của lô nái 58

không tiêm

Hình 4.19 Bệnh tích loét dạ dày trên heo con lô nái không tiêm 58

Hình 4.20 Bệnh tích gan vàng trên heo con lô nái không tiêm 59

Hình 4.21 Bệnh tích thận nhạt màu trên heo con lô nái không tiêm 59

Hình 4.22 Bệnh vi thể hạch bẹn cạn bị hư hại của heo con lô nái

không tiêm (hình trên) và hạch bẹn cạn bình thường (hình dưới) 60

Hình 4.23 Bệnh tích vi thể hạch ruột của heo con lô nái không tiêm 61

Hình 4.24 Bệnh tích vi thể hạch bẹn cạn sưng không có liên quan đến

Hình 4.25 Bệnh tích đại thể và vi thể viêm phổi kẽ và hư hại tiểu phế quản

Hình 4.26 Bệnh tích vi thể gan xơ trên heo con nái không tiêm 62

Trang 18

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG Bảng 2.1 Các loại vắc xin hiện đang được lưu hành trên thế giới 19

Bảng 2.2 Định mức và chủng loại thức ăn cho từng loại heo 23

Bảng 2.3 Qui trình tiêm phòng các loại vắc xin 24

Bảng 3.2 Bảng thang điểm đánh giá tính an toàn 28

Bảng 4.1 Phân bố hiệu giá kháng thể trên nái trước khi tiêm vắc xin 34

Bảng 4.2 Tỉ lệ heo nái có hiệu giá kháng thể tăng cao sau khi tiêm vắc xin 35

Bảng 4.3 Tỉ lệ heo con có kháng thể mẹ truyền kháng PCV2 vào thời điểm

1 tuần sau sinh và lúc cai sữa 38

Bảng 4.4 Phân bố hiệu giá kháng thể chống vi-rút PCV2 trên heo con 1

Bảng 4.7 Kết quả một số chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con giai đoạn theo mẹ 45

Bảng 4.8 Kết quả một số chỉ tiêu sinh trưởng trên heo con giai đoạn sau

cai sữa 46

Bảng 4.9 Hệ số chuyển biến thức ăn giai đoạn sau cai sữa 48

Bảng 4.10 Tỉ lệ heo còi và loại thải trong giai đoạn theo mẹ 49

Bảng 4.11 Tỉ lệ heo còi và loại thải trong giai đoạn cai sữa đến 60 ngày tuổi 50

Bảng 4.12 Kết quả tình hình bệnh trên đàn heo con từ sơ sinh đến cai sữa 52

Trang 19

Bảng 4.13 Kết quả tình hình bệnh trên đàn heo con từ sau cai sữa đến

60 ngày tuổi 53

Bảng 4.14 Tỉ lệ xuất hiện các bệnh tích liên quan hội chứng còi trên heo

Trang 20

5 đến thứ 12, có khi kéo dài đến giai đoạn nuôi thịt, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho các nhà chăn nuôi Cho đến nay hội chứng PMWS đã xuất hiện gần như khắp nơi ở các quốc gia có ngành chăn nuôi heo tập trung trên thế giới bao gồm Châu

Âu, Châu Mỹ và Châu Á Gần đây hội chứng được báo cáo là hiện diện ở New Zealand và Thuỵ Điển, hai nước trước đây được cho rằng không có hội chứng này (Too và ctv, 2007)

Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của vi-rút PCV2 trên đàn heo Lâm Thị Thu Hương và ctv (2005), bằng kỹ thuật PCR đã phát hiện vi-rút trong các mẫu bệnh phẩm heo bệnh, Nguyễn Thị Thu Hồng và ctv (2006) phát hiện kháng thể kháng vi-rút bằng kỹ thuật ELISA Dù chưa có công bố chính thức, heo ở nhiều trại tại Việt nam đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng liên quan đến hội chứng này và gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi Hiện tại, các trại chưa có biện pháp phòng bệnh đặc hiệu mà chỉ áp dụng biện pháp an toàn sinh học kết hợp với

sử dụng kháng sinh và vitamine để tăng cường sức đề kháng và phòng phụ nhiễm

Để phòng hội chứng này, một số quốc gia đã nghiên cứu và phát triển vắc xin, sau khi thử nghiệm đã đưa vào sử dụng rộng rãi ở một số trại heo công nghiệp Hiện tại

Trang 21

chưa có công trình nghiên cứu tương tự nào dùng vắc xin để phòng hội chứng này trên đàn heo nuôi ở Việt nam Nhằm góp phần tìm biện pháp phòng hội chứng đang gây thiệt hại cho nền chăn nuôi Việt Nam, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú

y và Phòng Đào Tạo Sau Đại Học trường Đại học Nông Lâm, dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS Lâm Thị Thu Hương, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả

việc phòng hội chứng còi cọc sau cai sữa trên heo bằng biện pháp tiêm vắc xin cho nái“

1.4 Mục tiêu và yêu cầu

1.4.1 Mục tiêu

Đánh giá đáp ứng miễn dịch của nái và hiệu quả trên đàn con sau khi tiêm vắc xin cho nái để phòng hội chứng còi cọc sau cai sữa cho heo con (PMWS)

1.4.2 Yêu cầu

- Theo dõi phản ứng cục bộ trên nái sau khi tiêm phòng vắc xin

- Ghi nhận một số chỉ tiêu liên quan đến đáp ứng miễn dịch (kháng thể trên nái sau khi tiêm, kháng thể mẹ truyền trên heo con, sự bài thải vi-rút )

- Ghi nhận một số chỉ tiêu liên quan đến hội chứng còi cọc sau cai sữa trên heo con (tăng trọng sau cai sữa, tỉ lệ còi, một số triệu chứng và bệnh tích liên quan đến hội chứng còi cọc sau cai sữa)

Trang 22

2.13 Căn bệnh

2.13.1 Đặc điểm phân loại

Là loại vi-rút ADN rất nhỏ (17nm), không vỏ bọc, bên trong chứa một sợi

gen vòng đơn, thuộc họ Circoviridae, giống Circovirus (Lukert và ctv, 1995)

Vi-rút PCV (porcine circovirus) có hai serotype là PCV1 và PVC2, trong đó vi-rút PCV1 là tác nhân không gây bệnh, còn vi-rút PCV2 gây ra một số hội chứng bệnh khác nhau trên heo, thường gặp nhất là hội chứng còi cọc sau cai sữa (PMWS) với triệu chứng suy nhược, thở khó, tiêu chảy, da nhợt nhạt hay vàng da, sưng hạch lym phô Các bệnh tích như viêm gan, viêm thận, viêm phổi kẽ, viêm cơ tim, viêm ruột và viêm lách thường kết hợp với sự hiện diện của vi-rút PCV2 trên mô (Ellis và Allan, 2000)

Trang 23

PCV1 được định danh lần đầu vào năm 1974 khi phát hiện có sự nhiễm một

loại vi-rút giống vi-rút picorna vào tế bào dòng thận heo PK/15 (Tischer và ctv,

1974) Sau đó vi-rút này được biết là một vi-rút mới, rất nhỏ và có 20 mặt, không

vỏ, bộ gen ADN là sợi vòng đơn Tên gọi của vi-rút chủ yếu dựa vào dạng cấu trúc dạng vòng đặc biệt của nó “circovirus” ‘’ (Porcine circovirus- PCV)

Hình 2.1: Vi-rút PCV2 được chụp dưới kính hiển vi điện tử

Tổng quát, bộ gen của vi-rút PCV (PCV1 và PCV2) gồm 2 khung đọc mở: ORF1 và ORF2, chúng mã hoá 2 protein Rep và Cap, thực hiện hai chức năng cơ bản của vi-rút là sự tái bản và tạo vỏ capsid

Phân tích về cấu trúc ORF1 và ORF2 của PCV2 và PCV1 đã biểu lộ có sự tương đồng Đối với ORF1, tương đồng về nucleotid là 83% , về protein dự đoán (predicted protein) là 86%, đối với ORF2 tương đồng về nucleotid là 67% , về

Trang 24

protein dự đoán (predicted protein) là 65% (Meehan và ctv, 1998; Morozov và ctv, 1998; Gibbs và Weiller, 1999;)

Hình 2.2: Bộ gen của vi-rút PCV2 (nguồn: www.virologyj.com)

2.3 Dịch tễ học

Kể từ khi kỹ thuật ELISA được phát triển để phát hiện kháng thể đặc hiệu kháng lại ORF2 của vi-rút PCV2, thì sự điều tra về sự phân bố vi-rút này trở nên dễ dàng hơn và kết quả kiểm tra đã cho thấy bệnh đã phân bố rộng rãi trên thế giới

Trang 25

Phân tích hồi cứu những mẫu huyết thanh học lưu trữ từ năm 1974 đã cho thấy có

sự hiện diện của kháng thể chống vi-rút PCV2 ở nồng độ cao Vi-rút đã từng hiện diện ở Bỉ ít nhất từ năm 1969, ở Ireland từ năm 1973, ở Canada và Tây Ban Nha từ năm 1986 Như vậy có thể nói vi-rút PCV2 không phải là một vi-rút mới, nhưng hội chứng còi cọc sau cai sữa là một hội chứng bệnh mới nổi lên gần đây (Laval, 2004)

Tuổi nhiễm bệnh: mặc dầu đã có báo cáo cho thấy heo có thể nhiễm bệnh từ

3 ngày tuổi đến heo 6 tháng tuổi, nhưng tuổi xuất hiện hội chứng PMWS phổ biến nhất là từ 2 tháng – 3,5 tháng tuổi

Tất cả những đàn heo với các phương thức chăn nuôi khác nhau đều có khả năng xuất hiện hội chứng PMWS; từ kiểu nuôi liên tục từ giai đoạn đẻ đến xuất thịt hay phương thức nuôi nhiều điểm (multi site), qui mô đàn từ 30 – 10.000 nái, kiểu chuồng nuôi theo dạng thông thoáng tự nhiên hay chuồng kín có kiểm soát nhiệt độ, hoặc chăn thả tự do

Cotrell và ctv (1999) đã ghi nhận sự xuất hiện của hội chứng PMWS trên heo rừng

Tỉ lệ mắc bệnh thường rất thay đổi từ 4 – 30% Tỉ lệ chết thông thường chiếm 70 - 80 % heo mắc bệnh, tuy vậy thiệt hại lại phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc của từng trại và từng đợt heo trong một trại

Sau khi nhiễm vào đàn, bệnh có thể duy trì ở thể cấp tính trong một thời gian rất dài Điều này giải thích hậu quả thiệt hại kinh tế lớn lao do PMWS (Laval, 2004)

Đường truyền lây: chủ yếu là lây truyền giữa heo với nhau khi tiếp xúc trực tiếp qua đường mũi miệng, phân và đường tiết niệu (Magar và ctv, 2000 ; Bolin và ctv, 2001) Bằng kỹ thuật PCR, Shibata và ctv (2003) khảo sát sự bài thải vi-rút PCV2 trên heo SPF được gây bệnh thực nghiệm và trên heo có dấu hiệu hội chứng còi cọc sau cai sữa do nhiễm vi-rút PCV2 Họ đã tìm thấy vi-rút PCV2 ở mũi, phân, máu chưa tách huyết thanh, huyết thanh trên heo sau khi được gây bệnh và sự hiện diện của vi-rút này có thể kéo dài đến 70 ngày sau

Trang 26

Cũng bằng kỹ thuật PCR, Larochelle và ctv (2000) đã tìm thấy sự hiện diện của vi-rút PCV2 trên heo đực được gây nhiễm thực nghiệm chỉ 5 ngày sau khi gây nhiễm và kéo dài đến 47 ngày sau khi gây nhiễm Những nghiên cứu tương tự cũng phát hiện vi-rút PCV2 có trong tinh dịch, trong những tế bào không phải là tinh trùng, đầu tinh trùng (Kim và Chae, 2003)

Đường truyền lây theo chiều dọc từ mẹ qua con bao gồm tiếp xúc trực tiếp

mẹ - con và lây qua đường tử cung của heo mẹ nhiễm vi-rút PCV2 đến bào thai, tuy nhiên khi truyền lây theo cách này vi-rút PCV2 không phải lúc nào cũng gây ra chết thai Bằng một số xét nghiệm, người ta có thể tìm thấy vi-rút hay kháng thể chống vi-rút PCV2 trên bào thai phát triển bình thường (Sanches và ctv, 2003), hoặc có khi dẫn đến tình trạng nhiễm vi-rút trong máu hay sự tồn lưu vi-rút dai dẳng trên heo con sau khi sinh (West và ctv, 1999)

2.4 Sinh bệnh học

Hiện nay người ta đã biết cơ chế sinh bệnh học của vi-rút PCV2 và loại tế bào đích để vi-rút nhân lên Đã từng có giả thuyết cho rằng vi-rút nhân lên tại hạch a-mi-đan (Tonsil) Allan và Ellis (2000) đã ghi nhận vi-rút PCV2 và Parvovirus là hai tác nhân đồng nhiễm trên heo Vi-rút Parvo được tìm thấy trên tế bào của heo thí nghiệm sau khi công cường độc từ 3 đến 14 ngày, và số lượng đạt mức tối đa vào giữa khoảng thời gian từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 14 Còn số lượng vi-rút PCV2 chỉ

ở mức tối thiểu ở hạch màng treo ruột vào ngày thứ 10 sau khi công cường độc và tăng dần số lượng và sự phân bố vào ngày thứ 14, 17, 21 và 26

Bằng phương pháp hoá mô miễn dịch (IHC), người ta đã phát hiện một lượng lớn vi-rút PCV2 hay axít nhân của chúng trong tế bào chất của đại thực bào hoặc tế bào tua gai (dendritic cell) – một loại tế bào trình diện kháng nguyên (Allan

và Ellis, 2000; Sorden, 2000) Ngược lại trong tế bào lym phô thỉnh thoảng mới phát hiện được vi-rút PCV2 Tuy vậy đại thực bào và tế bào đuôi gai chỉ là nơi tích

tụ vi-rút PCV2 nhưng không là nơi nhân lên của vi-rút PCV2, chính tế bào biểu mô

và tế bào nội mạc ruột là nơi để vi-rút sinh sản, điều này được được chứng minh trên in vitro, đặc biệt khi các tế bào này được hoạt hóa (Steiner và ctv, 2007) Các

Trang 27

tác nhân thứ phát là yếu tố cần thiết cho sự hoạt hóa được quan sát trên in vivo bao gồm : các tác nhân gây bệnh đồng nhiễm, kích thích miễn dịch quá mức hay suy thoái miễn dịch, stress… (Allan và ctv, 2004 ; Segalés và ctv, 2005) Ở tuyến ức, vi-rút PCV2 chỉ được phát hiện ở một vài tế bào mô bào (histiocyte) – một loại đại thực bào không di động ở mô quanh mạch máu và mô liên kết trong vùng tuỷ tuyến

ức (Chianini và ctv, 2003) Vi-rút PCV2 có thể được tìm thấy trên tế bào biểu mô của phổi, thận, tế bào cơ trơn và tế bào nội mạc của một vài loại mô của heo được gây nhiễm thực nghiệm (Kennedy và ctv, 2000) cũng như trên heo nhiễm vi-rút PCV2 tự nhiên và xuất hiện triệu chứng lâm sàng của hội chứng còi cọc sau cai sữa (PMWS) (McNeilly và ctv, 1999; Rosell và ctv, 1999) Kennedy và ctv (2000) đã chứng minh rằng vi-rút PCV2 có thể thâm nhập vào đại thực bào ở màng bao dịch hoàn, đại thực bào kẽ và trong tế bào biểu mô mầm ở dịch hoàn, đại thực bào ở phó dịch hoàn của heo đực vào ngày thứ 24 đến ngày thứ 29 sau khi chúng được gây nhiễm hai loại virus vi-rút PCV2 và Parvo ở ngày tuổi thứ 3 Vi-rút PCV2 cũng được tìm thấy trong nhu mô của các tuyến sinh dục phụ trên heo nọc nhiễm tự nhiên (Opriessnig và ctv, 2006) Trên bào thai, tế bào đích của vi-rút PCV2 chủ yếu là tế bào cơ tim, tế bào gan và đại thực bào, còn ở trên heo vào những ngày đầu sau khi sinh tế bào đích của vi-rút là bạch cầu đơn nhân (Sanchez và ctv, 2003)

2.5 Đáp ứng miễn dịch

Theo Roríguez-Arrioja và ctv (2002), trong thời gian theo mẹ kháng thể thụ động giảm dần từ sau khi bú sữa đầu đến mức âm tính vào khoảng 7 tuần tuổi, tiếp theo sau là sẽ có đáp ứng của kháng thể chủ động trong vòng 12 tuần tuổi

Theo Opriessnig và ctv (2004), thời gian bán thải của kháng thể thụ động chống vi-rút PCV2 là khoảng 19 ngày và khoảng biến động của kháng thể trong đàn biến động tương đối lớn

Allan và ctv (1994), Larochelle và ctv (2003) đã thiết lập đường biểu diễn đáp ứng kháng thể của hội chứng PMWS : giảm dần từ sau khi bú sữa đầu cho đến

3 tuần, thấp nhất vào lúc 11 tuần tuổi và sẽ tăng lên trở lại và đạt mức dương tính, nếu có nhiễm bệnh vào thời điểm này

Trang 28

2.6 Triệu chứng lâm sàng

Bệnh thường xảy ra trên heo từ 5 – 12 tuần tuổi Triệu chứng lâm sàng thường thấy là: gầy ốm hay lông da xấu, thở khó, hạch lym phô ở bẹn sưng to có thể nhìn thấy bằng mắt thường Những triệu trứng khác có thể ít gặp hơn như da tái nhợt hay vàng, tiêu chảy (Ellis và ctv,1998)

Hình 2.3 Heo mắc hội chứng còi cọc sau cai sữa – PMWS

(nguồn: Chen, 2000; Ellis và Allan, 2000)

Tỉ lệ bệnh và chết rất thay đổi tuỳ thuộc vào các yếu tố môi trường, kỹ thuật chăm sóc, sự nhập đàn, mật độ đàn đông, các yếu tố gây stress

Trên heo lớn hơn 40 - 70 kg, người ta còn thấy xuất hiện một số triệu chứng của hội chứng viêm da – viêm thận (PDNS) với những bệnh tích tiêu biểu như có những nốt hoại tử đặc biệt trên da, hay những nốt từ đỏ đến hồng tập trung thành mảng nổi lên, chủ yếu hay gặp ở vùng đùi sau, vùng bẹn, tai Sau đó những mảng này xậm màu lại, có khi bị tróc ra Những heo bệnh này thường đột ngột bỏ ăn hay

ăn ít, tỉ lệ chết cao (Segalés và Domingo, 2000)

Trang 29

Hình 2.4 Hội chứng viêm da – viêm thận (Nguồn www.vetmed.iastate.edu)

Bệnh này thường đi kèm với một số bệnh khác như hội chứng Rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS), bệnh viêm phổi – màng phổi, bệnh Glasser, bệnh cúm heo (Guilmoto, 2000)…

Too và ctv (2007) đã làm một cuộc điều tra về tình hình dịch tễ của hội chứng còi cọc (PMWS) tại 5 nước ở Châu Á theo thông tin ghi nhận từ các nhà thú

y thực hành Kết quả cho thấy một số dấu hiệu lâm sàng của hội chứng phổ biến là: rối loạn hô hấp (16%), gầy ốm (15%), tăng trọng kém (12%), biếng ăn (12%), tiêu chảy (10%)… Tuổi xuất hiện bệnh chủ yếu từ 6 -8 tuần tuổi (52%) Số trại bị ảnh hưởng bởi bệnh này biến động từ 0 – 50%

2.7 Bệnh tích

2.7.1 Bệnh tích đại thể

Bệnh tích đại thể trên heo rất đa dạng: (Clark, 1996; Ellis và ctv, 1998) Hạch lym phô có biến đổi rõ rệt, các hạch bẹn, màng treo ruột, phế quản, hạch trung thất sưng to, vết cắt có màu trắng và đồng nhất

Đối với heo không có vi-rút PRRS đồng nhiễm, bệnh tích trên phổi có thể là xẹp phổi, dai, rắn chắc

Gan có thể thay đổi từ hơi vàng đến sưng to

Thận thay đổi từ những vệt hay những điểm trắng trên bề mặt, với kích thước bình thường Có thể thấy thận tăng kích thước và bị phù

Trang 30

Trong những ca bệnh có liên quan đến đường dạ dày- ruột, dạ dày bị loét không xuất huyết ở phần thượng vị và chứa đầy dịch, vách ruột mỏng, nhất là ở phần hồi tràng và không tràng (Laval, 2004)

2.7.2 Bệnh tích vi thể

Phổi: viêm phổi kẽ hoá hạt rãi rác với sự xuất hiện của tế bào khổng lồ Thường thấy có hoại tử và tróc mảng của biểu mô đường dẫn khí, có thể dẫn đến viêm tiểu phế quản tắc nghẽn

Gan: giai đoạn đầu thấy có sự xâm nhập mô lym phô ở vùng cửa và tế bào gan bị hoại tử Giai đoạn cuối, thấy có sự mở rộng vùng sưng và có những khoảng trống trong những tế bào gan còn lại, đồng thời có sự thay thế tế bào gan bằng mô bào

Hạch lym phô: giai đoạn đầu có sự biến mất của vùng nang tế bào B, và mở rộng vùng cận vỏ (paracortical zone - vùng tế bào T) do sự xâm nhập của mô bào và

tế bào đa nhân khổng lồ Sau đó, có mặt một số lượng lớn tế bào ưa kiềm và thấy xuất hiện thể vùi trong khu vực phụ thuộc của tế bào B hay nằm rãi rác trong khắp hạch

Thay đổi tương tự cũng được thấy trên lách và mảng Peyer

Thận: có sự thâm nhập tế bào lym phô và bạch cầu ái toan ở vùng hoại tử Vùng vỏ bị tổn thương thay đổi từ phì đại đến hoại tử ống góp (tubular) với phù và viêm thận kẽ (Segalés và Domigo, 2000)

2.8 Chẩn đoán

2.8.1 Dựa vào triệu chứng lâm sàng

Vi-rút PCV2 thường phối hợp với biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau Triệu chứng phổ biến nhất mà nhiều người thường biết đến qua tên gọi của hội chứng là: còi cọc, gầy ốm Phổ biến hơn là biểu hiện của nhiễm trùng toàn thân (systemic infection), vi-rút PCV2 thường kết hợp với những bệnh đường hô hấp, đây là những biểu hiện khá quan trọng trong chẩn đoán lâm sàng: còi cọc, chậm lớn, khó thở, da xanh xao hoặc vàng Cần phân biệt với những bệnh do dinh dưỡng, viêm phổi phức hợp, loét dạ dày, hồng lỵ, PRRS

Trang 31

Những biểu hiện không phổ biến khác nhưng cũng có thể gặp như rối loạn sinh sản, rối loạn đường tiêu hoá, hội chứng viêm da – sưng thận (PDNS)

2.8.2 Dựa vào bệnh tích đại thể và vi thể

Thấy hạch lym phô ở bẹn, hạch màng treo ruột sưng lớn, dịch tích ở các xoang Bệnh tích vi thể: nang lym phô biến mất ở mô hạch, có sự xâm nhập tế bào

ưa kiềm, và có xuất hiện thể vùi Phổi có hiện tượng viêm hoại tử và loét phế quản, viêm phế quản tắc nghẽn, viêm phế nang xơ hoá (www.vetmed.iastate.edu)

2.8.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

- Xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể đặc hiệu chống vi-rút PCV2:

Có nhiều phương pháp để phát hiện kháng thể có trong huyết thanh Phương pháp trung hoà vi-rút (Serum-virus neutralization (SVN) assay), phương pháp miễn dịch gắn enzyme peroxidase gián tiếp trên tế bào một lớp (IPMA), phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFA) và phổ biến nhất là kỹ thuật ELISA Phương pháp này đáp ứng được việc đánh giá và điều tra tình hình nhiễm vi-rút PCV2 trên đàn với độ nhạy khá cao 99,5% và độ đặc hiệu cao 97,1% (Walker và ctv, 2000)

- Xét nghiệm tìm vi-rút

Kỹ thuật PCR: ưu điểm có thể áp dụng cho nhiều loại mẫu mô khác nhau, không chỉ là huyết thanh, có độ chính xác và độ nhạy cao nên cần có trang thiết bị tốt và kỹ thuật viên lành nghề, tránh tạp nhiễm trong quá trình thực hiện Kỹ thuật này không tốn nhiều thời gian

Kỹ thuật lai trong mô (ISH), người ta dùng một đoạn DNA đánh dấu (labeled DNA probe) tương ứng với một phần đặc biệt của bộ gen của vi-rút PCV2 để phát hiện PCV (qua sự đổi màu) trong mô của heo còi cọc và heo có rối loạn về sinh sản

Kỹ thuật này tốn thời gian vì phải để qua đêm và các hoá chất tương đối đắt tiền Bù lại chúng có thể phát hiện được một số vi-rút nếu có đồng nhiễm với vi-rút PCV2 như vi-rút Giả dại, vi-rút PRRS, Parvovirus (Kim và Chae, 2004)

Trang 32

Hình 2.5 Kỹ thuật lai trong mô (Nguồn www.vetmed.iastate.edu)

Kỹ thuật hoá mô miễn dịch (IHC) là kỹ thuật dùng kháng thể đa dòng để phát hiện vi-rút PCV2 trong những mô được bảo quản trong một thời gian dài, được

cố định bằng formol, hay được vùi trong parafine Thực tế cho thấy kỹ thuật này nhạy hơn kỹ thuật lai trong mô (McNeilly và ctv, 1999)

Hình 2.6 Kỹ thuật IHC trên mô của hạch lym phô

(Nguồn www.vetmed.iastate.edu)

Phân lập vi-rút: vi-rút PCV2 được nuôi cấy trên môi trường tế bào PK-15 với dịch thể Có thể xử lý tế bào PK-15 bằng glucosamine trước khi nuôi cấy để kích thích sự tái bản của vi-rút Phương pháp này không được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán bệnh do vi-rút PCV2 vì tốn nhiều thời gian và kết quả có thể âm tính vì phụ thuộc vào sức sống của vi-rút và có hiện tượng tự huỷ (autolysis) của vi-rút (McNeilly và ctv,2002)

Phương pháp ELISA bắt kháng nguyên (Antigen-capture ELISA): tìm sự hiện diện của vi-rút PCV2 trong phân Ưu điểm chính của phương pháp là việc thu

Trang 33

thập mẫu phân dễ dàng hơn so với việc thu thập mẫu máu hay huyết thanh Đây là phương pháp được phát triển bởi công ty Synbiotic, Pháp

Kolb và ctv (2007) đưa ra qui trình đánh giá ảnh hưởng của các bệnh có liên quan đến vi-rút PCV2 trên heo choai về cách lấy mẫu huyết thanh, mẫu mô học Các phương pháp đánh giá gồm: ELISA, PCR, IHC (immunohistochemistry), nuôi cấy vi rút Sau đó tác giả kết luận bệnh tích chủ yếu có liên quan đến bệnh do vi-rút PCV2 gây ra (PCVD) là hạch lym phô bị thái hóa và viêm kết hạt đa điểm trên mô lym phô, gan, ruột và phổi (178/180 mẫu), cùng với việc phát hiện thấy kháng nguyên vi-rút PCV2 Vi-rút PRRS là mầm bệnh thứ phát phổ biến với bệnh này

2.9 Phòng và kiểm soát bệnh

Hội chứng còi cọc sau cai sữa là hội chứng do vi-rút gây ra nên không thể

điều trị được Cho đến nay, theo ý kiến của các nhà chuyên môn việc phòng và

kiểm soát bệnh có nhiều phương cách khác nhau:

2.9.1 Quản lý tốt trong chăm sóc nuôi dưỡng

Muốn kiểm soát tốt bệnh PMWS trong thực tế phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản: giảm thiểu các stress, loại trừ hay giảm tối đa những tác hại của các bệnh đồng nhiễm trên đàn và loại trừ các yếu tố có khả năng kích thích bất lợi trên

hệ thống miễn dịch gây ra tình trạng chuyển từ trạng thái nhiễm vi-rút PCV2 sang trạng thái hội chứng còi cọc sau cai sữa - PMWS

Madec và ctv(2000) đã đề nghị một kế hoạch 20 điểm để làm giảm thiểu đến mức tối đa tác hại của PMWS trên đàn

Đối với khu nái đẻ và nuôi con

- Áp dụng nghiêm ngặt qui trình sản xuất cùng nhập- cùng xuất, thông qua

vệ sinh và sát trùng giữa các đợt nuôi

- Heo nái nên được tắm rửa sạch và được trị các bệnh ký sinh trước khi đẻ

- Hạn chế gửi ghép heo con giữa các ổ đẻ với nhau

Đối với khu cai sữa

- Đơn vị chuồng nên nhỏ vừa phải và vách ngăn nên kín

Trang 34

- Vệ sinh và sát trùng đều đặn

- Mật độ nuôi thấp và diện tích chuồng tối thiểu 0.33 m2 /con

- Chiều dài máng ăn nên ≥ 7cm/ con

- Cải thiện không khí chuồng nuôi (NH3 <10ppm, CO2 <0,1%, độ ẩm tương đối < 85%)

- Kiểm soát nhiệt độ chuồng nuôi

- Không trộn lẫn các ổ với nhau

Khu vực heo choai và heo thịt

- Chuồng nên có kích thước nhỏ vừa phải và vách ngăn kín

- Vệ sinh và sát trùng đều đặn, áp dụng qui trình cùng nhập - cùng xuất

- Không trộn các ô sau cai sữa lại với nhau

- Không nên trộn lẫn các ô heo choai với nhau sau khi chuyển đến khu heo thịt

- Mật độ nuôi thấp và diện tích chuồng > 0.75m2 / con

- Cải thiện chất lượng không khí và nhiệt độ chuồng nuôi

Những điều cần lưu ý khác

- Chương trình tiêm vắc xin thích hợp

- Kiểm soát cẩn thận không khí và dòng chu chuyển heo trong khu trại

- Áp dụng vệ sinh nghiêm ngặt trong khi can thiệp (cắt đuôi, cắt răng, tiêm chích)

- Heo bệnh phải được đưa đến khu vực cách ly càng sớm càng tốt hay đem huỷ

Madec và ctv(1999) cho rằng ít nhất nên thực hiện được 16 điều đầu tiên Việc sát trùng khu vực chuồng trại và phương tiện vận chuyển cũng đã từng được chứng minh có hiệu quả chống lại vi-rút PCV2 (Royer và ctv, 2001)

Theo Rose và ctv(2003), những nguy cơ của bệnh do vi-rút PCV2 tại trại có phương thức chăn nuôi từ đẻ đến xuất thịt tại Pháp bao gồm nhiễm đồng thời với Parvovirus hay PRRS trên đàn thịt, diện tích chuồng nhỏ trên đàn sau cai sữa và tăng số heo gửi ghép trong giai đoạn sau khi sinh

Trang 35

Lê Tiến Dũng (2006) cũng đưa ra kết luận tương tự, một trong những yếu tố nguy cơ của việc xuất hiện bệnh PMWS trong điều kiện chăn nuôi ở một số khu vực

ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là mật độ chuồng nuôi heo cai sữa <0,33 m2/con, (tỉ số Odds = 3,8)

López-Soria và ctv (2005) đã khám phá ra có sự liên quan giữa hai loại vắc xin với nguy cơ xảy ra bệnh PMWS khi làm một cuộc điều tra tại 62 trại ở Tây Ban Nha Những tác giả này cho rằng nếu tiêm vắc xin phòng bệnh PRRS cho heo hậu

bị cái sẽ làm tăng nguy cơ phát bệnh PMWS, ngược lại khi tiêm vắc xin phòng bệnh Viêm teo mũi truyền nhiễm trên nái sẽ làm giảm nguy cơ phát bệnh PMWS

2.9.2 Kiểm soát những yếu tố đồng nhiễm

Kiểm soát bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae

Opriessnig và ctv (2005) phân tích hồi cứu các trường hợp xảy ra hội chứng còi cọc sau cai sữa tại Mỹ cho thấy chỉ có 1,9% trường hợp do một mình vi-rút

PCV2 gây ra, 35,5% trường hợp do vi-rút PCV2 kèm với Mycoplasma

hyopneumonia , 51,9% trường hợp phát hiện có vi-rút PCV2 đi kèm với vi-rút

PRRS

Một nghiên cứu gần đây đã đánh giá hiệu quả khi sử dụng ba loại vắc xin

thương mại phòng bệnh Mycoplasma hyopneumoniae trên heo được gây nhiễm đồng thời M hyopneumoniae và vi-rút PCV2 Số heo thí nghiệm gồm 296 heo âm tính với M hyopneumoniae được phân bố ngẫu nhiên vào 4 nhóm, 3 nhóm được

tiêm phòng một trong 3 loại vắc xin gồm 2 loại có chất bổ trợ dạng dầu và một loại

có chất bổ trợ là nước, nhóm còn lại dùng làm đối chứng Sau đó công cường độc

cho heo với vi khuẩn M hyopneumoniae và quan sát bệnh tích đại thể và vi thể Kết

quả ghi nhận được bệnh tích nghiêm trọng trên nhóm heo không tiêm vắc xin Ở ngày tuổi thứ 100 và 131 sau khi công cường độc, các heo trong 3 nhóm được tiêm vắc xin có trọng lượng trung bình và tăng trọng trên ngày cao hơn có ý nghĩa khi so sánh với nhóm không tiêm vắc xin (Halbur và ctv, 2005)

Trang 36

Thời điểm tiêm vắc xin phòng bệnh M.hyopneumonia cũng rất quan trọng

trên đàn heo có lưu hành vi-rút PCV2, tốt nhất nên tiêm vắc xin này vào khoảng 2 –

4 tuần trước khi heo có khả năng nhiễm vi-rút PCV2 (Opriessnig và ctv, 2006)

Kiểm soát bệnh do Parvovirus

Rodibaugh (2002) đã mô tả rằng khi thay đổi chương trình tiêm vắc xin 3 bệnh Lepto-Parvo-Erysipelas từ thời điểm tiêm trước khi cai sữa sang thời điểm tiêm trước khi đẻ, trên đàn có tỉ lệ chết vì bệnh do vi-rút PCV2 khoảng từ 7 - 8% Sau khi thay đổi chương trình tiêm phòng, tỉ lệ chết đã giảm xuống còn 2 - 3%

Kiểm soát bệnh do vi-rút PRRS

Botner và ctv (2006) đã sử dụng kỹ thuật ELISA để điều tra huyết thanh học nhằm tìm sự liên quan giữa bệnh PRRS và nguy cơ nhiễm bệnh PMWS trên đàn heo cai sữa không nhiễm và nhiễm PRRS Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa đối với nguy cơ nhiễm bệnh PMWS giữa đàn có tỉ lệ nhiễm 10 - 40% vi-rút PRRS có nguồn gốc Bắc Mỹ (PRRS-US) và đàn không nhiễm vi-rút PRRS có nguồn gốc Bắc Mỹ (tỉ số Odds: 3,8 lần cao hơn); giữa đàn có tỉ lệ nhiễm PRRS-US 50-100% với đàn có tỉ lệ nhiễm PRRS-US 10-40% (tỉ số Odds: 7,3 lần cao hơn) Ngược lại không có sự liên quan giữa đàn cai sữa nhiễm vi-rút PRRS có nguồn gốc Châu Âu với nguy cơ nhiễm bệnh PMWS

2.9.3 Liệu pháp huyết thanh học

Ở Châu Âu liệu pháp này đã từng được sử dụng rộng rãi trước khi có vắc xin phòng bệnh được lưu hành Những nhà thú y thực hành sử dụng phương cách này

để kiểm soát và phòng bệnh PMWS, tuy nhiên những báo cáo có hệ thống và khoa học về kỹ thuật này thì còn rất ít Trong những thử nghiệm đó, huyết thanh được thu thập từ những heo khoẻ trong đàn đã từng xuất hiện bệnh PMWS trước đó từ 2 -3 tháng Huyết thanh được tiêm truyền cho heo đường tiêm dưới da (Ferreira và ctv, 2001) hay tiêm xoang bụng (Waddilove và Marco, 2002) Trong cả hai qui trình tiêm đều làm giảm có ý nghĩa tỉ lệ heo xuất hiện triệu chứng lâm sàng và tỉ lệ chết., Heo mắc hội chứng PMWS được tiêm loại huyết thanh này có tỉ lệ sống sót tăng lên

có ý nghĩa 48% (tại Tây Ban Nha) và 58% (tại Anh), trong khi tỉ lệ sống sót bình

Trang 37

thường của bệnh này là dưới 10% (Waddilove và Marco, 2002) Tốc độ tăng trưởng của đàn trên heo được điều trị bằng liệu pháp huyết thanh chỉ giảm 2-5 %, ngược lại trên heo đối chứng (không điều trị bằng huyết thanh) giảm 15 -18%

Một nghiên cứu khác nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị bằng huyết thanh đối với bệnh do vi-rút PCV2 (Halbur và ctv, 2005) Huyết thanh sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ heo được gây nhiễm thực nghiệm trong giai đoạn cấp tính, giai đoạn phục hồi sau khi khỏi bệnh và từ heo có hiệu giá kháng thể

mẹ truyền chống vi-rút PCV2 Ba phương pháp điều trị bằng huyết thanh này cũng được so sánh với một nhóm heo tiêm vắc xin PCV1-2 chimera Vào thời điểm 21 ngày sau khi công cường độc, các heo được mổ khám Trên nhóm heo được tiêm vắc xin, hàm lượng vi-rút hiện diện trong máu thấp hơn có ý nghĩa so với các nhóm còn lại (P<0,05) Bằng xét nghiệm PCR, 4 trong 7 heo thuộc nhóm này không bài thải vi-rút qua phân trong suốt quá trình thử nghiệm Các nhóm heo được điều trị bằng huyết thanh đều không phòng được sự nhiễm vi-rút PCV2 và bệnh tích do vi-rút PCV2 gây ra Kết quả này đi ngược lại với kết quả trước đó tại Châu Âu, và đồng thời cũng chứng minh hiệu quả, tính an toàn của vắc xin PCV1-2 chemeric so với liệu pháp huyết thanh trong việc đã làm giảm sự nhiễm vi-rút PCV2 và sự hiện diện của vi-rút này trong máu

2.9.4 Phòng hội chứng còi cọc bằng vắc xin

Hiện nay trên thế giới đã có 4 loại vắc xin đang lưu hành tại một số nước như sau:

Trang 38

Bảng 2.1 Các loại vắc xin hiện đang được lưu hành trên thế giới

(nguồn: www.vetmed.iastate.edu) Công ty

sản xuất

Boehringer Igelheim

CircumventTMPCV

Baculovirus vô

hoạt

Vi-rút PCV2 vô hoạt

Tiêm bắp 2ml, tiêm 2 lần cách nhau 3 tuần

Tiêm bắp 2ml, 2 lần cách nhau 3 -

4 tuần, lần 2 ít nhất 2 tuần trước phối (hậu bị) hay

3 tuần trước đẻ (nái)

Tiêm nhắc: 1 mũi lúc 3 tuần trước đẻ

Loại heo Heo con từ 3

tuần tuổi trở lên

Heo con từ 4 tuần tuổi trở lên

Heo con từ 3 tuần tuổi trở lên

Heo cái hậu bị

và heo nái giốngNước

2.10 Lược duyệt các công trình nghiên cứu có liên quan

Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vắc xin ngừa bệnh do vi-rút PCV2 và bệnh liên quan đến vi-rút này (PCVD), dưới đây là một số công trình đại diện:

Trang 39

Nghiên cứu về vắc xin trên thế giới

Blanchard và ctv (2003) đã chứng minh protein của ORF2 là chất sinh miễn dịch chủ yếu, đồng thời so sánh hiệu quả của vắc xin ADN và vắc xin tiểu đơn vị trên heo SPF 4 tuần tuổi sau khi tiêm phòng 2 lần và công cường độc vào ngày thứ

10 -11 sau mũi tiêm lần hai Kết quả cho thấy sự bảo hộ của vắc xin tiểu đơn vị tốt hơn sự bảo hộ của vắc xin ADN, sự sinh sản của vi-rút PCV2 đã hoàn toàn bị ức chế trên heo thí nghiệm

Fenaux và ctv (2004) chứng minh vi-rút PCV1-2 khảm (chimera) (vi-rút

PCV1 được khảm capsid miễn dịch của vi-rút PCV2) gây ra đáp ứng kháng thể với protein capsid của vi-rút PCV2 Vắc xin tạo ra từ chủng PCV1-2 nhược độc gây ra miễn dịch bảo hộ với vi-rút PCV2 tự nhiên trên heo sau khi công cường độc ở thời điểm 42 ngày sau khi tiêm vắc xin Kết quả cho thấy hầu hết các heo đối chứng có bệnh tích nghiêm trọng trên hạch lym phô, trong khi trên các heo tiêm vắc xin chỉ thấy bệnh tích nhẹ

Charreyre và ctv (2005) đã đưa ra kết luận rằng vắc xin vô hoạt dạng dầu tiêm cho nái (Circovac ®; công ty Merial) trong điều kiện thực địa tại Châu Âu đã làm giảm sự lưu hành bệnh và sự bài thải vi-rút PCV2 trong tuần đầu tiên của cuộc đời heo con và cũng cải thiện tình trạng sức khoẻ heo sau khi công cường độc thực nghiệm vào tuần tuổi thứ 3 - 4

Trong quá trình nghiên cứu về hiệu quả của vắc xin phòng bệnh do vi-rút PCV2 tại Pháp và Đức, các nhà khoa học này đã ghi nhận rằng hiệu giá kháng thể tăng lên trong đàn giống và tỉ lệ mắc bệnh PMWS giảm rõ rệt trên những heo sinh

ra từ đàn giống này

Sierra và ctv(2006) đã đánh giá độ an toàn trên nái và hậu bị sau khi tiêm vắc xin Circovac® - Merial để phòng bệnh PMWS trên heo con Kết quả các nhà nghiên cứu đã ghi nhận tính an toàn của vắc xin rất cao, chỉ có phản ứng nhẹ tại chỗ tiêm và thoáng qua khi tiêm lập lại và chỉ xảy ra trên một số ít nái Đặc biệt không

có phản ứng toàn thân, hay gây sẩy thai trên nái chửa và không có ảnh hưởng đến sức sống hay sức tăng trưởng của đời con

Trang 40

Charreyre và ctv (2006) cũng đã nghiên cứu về sự bảo hộ của vắc xin như đáp ứng huyết thanh học, triệu chứng lâm sàng trên heo con được sinh ra từ nái đẻ lứa đầu đã tiêm vắc xin Circovac® - Merial và được công cường độc vi-rút PCV2 lúc 3 - 4 tuần tuổi Kết quả cho thấy nhóm heo con đẻ ra từ nái đã tiêm phòng có giảm triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh PMWS, lượng kháng thể cao, đồng đều và có sự khác biệt có ý nghĩa so với nhóm heo con đẻ ra từ nái không tiêm phòng

Nghiên cứu về bệnh do circovirus tại Việt Nam

Lâm Thị Thu Hương và ctv (2005) bước đầu ghi nhận sự hiện diện của vi-rút PCV2 trên heo có biểu hiện còi tại 4 trại chăn nuôi công nghiệp Các tác giả thu thập 25 bộ mẫu hạch (hạch bẹn, hạch phổi và hạch ruột) heo còi và sử dụng kỹ thuật PCR để phát hiện Kết quả có ¾ trại dương tính theo tỉ lệ từ 25 - 60%; nếu xếp theo tuổi tuổi nhiễm cao nhất là từ 9 - 11 tuần với tỉ lệ là 40%

Theo kết quả khảo sát của Lâm Thị Thu Hương và Đường Chi Mai (2006) tại một số trại chăn nuôi heo công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và và các vùng phụ cận, bằng kỹ thuật PCR cho biết tỉ lệ nhiễm vi-rút PCV2 trên heo khá cao, 7 trại nhiễm trên 9 trại khảo sát và tỉ lệ nhiễm ở các trại rất biến động từ 12,5 - 83,33% Tỉ

lệ nhiễm vi-rút PCV2 xếp theo tuổi heo là 41,18% (4 - 7 tuần tuổi), 63,64% (8 - 12 tuần tuổi) và 37,50% (12 - 18 tuần tuổi)

Nguyễn Thị Thu Hồng và ctv (2006) bằng kỹ thuật miễn dịch peroxidase trên

tế bào một lớp (IPMA) khảo sát hồi cứu 988 mẫu huyết thanh của heo nái và nọc ở một số tỉnh thành phía Nam được lưu trữ từ năm 2000, cho biết tỷ lệ dương tính với vi-rút PCV2 tăng dần qua các năm: 38,97% vào năm 2000, 84,90% vào năm 2003 -

2004 và 90,26% vào năm 2005

Lê Tiến Dũng (2006) bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reation) đã phát hiện 50,77% heo còi dương tính với vi-rút PCV2 tại 17 trên 22 trại khác nhau của 5 trên 6 địa bàn lấy mẫu Tỉ lệ heo còi dương tính với vi-rút PCV2 có biểu hiện hô hấp là 62,5%

Ngày đăng: 23/12/2017, 05:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w