THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO THỊT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI ĐẾN TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THỊT NUÔI TẠI TỈNH TÂY NINH LÊ THỊ KIM LAN Hội đồng chấm luận văn: 1.. TÓM TẮT Đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*******************
LÊ THỊ KIM LAN
THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO THỊT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI ĐẾN TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THỊT NUÔI TẠI TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9/2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*******************
LÊ THỊ KIM LAN
THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO THỊT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI ĐẾN TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THỊT NUÔI TẠI TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành: Chăn nuôi – Thú y
Trang 3THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI HEO THỊT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI ĐẾN TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN HEO THỊT NUÔI TẠI TỈNH TÂY NINH
LÊ THỊ KIM LAN
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch: PGS.TS TRẦN THỊ DÂN
Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
2 Thư ký: TS HỒ THỊ KIM HOA
Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
3 Phản biện 1: TS NGUYỄN VĂN KHANH
Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
4 Phản biện 2: TS TRẦN XUÂN HẠNH
Công ty thuốc thú y trung ương
5 Ủy viên: PGS.TS TRẦN ĐÌNH TỪ
Hội thú y Việt Nam
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Lê Thị Kim Lan sinh ngày 14 tháng 12 năm 1972 tại Quế Võ,
Hà Bắc Con ông Lê Kim Trị và bà Trần Thị Xuân
Tốt nghiệp Tú tài tại trường Trung học phổ thông Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Tốt nghiệp Đại học ngành Thú y hệ chính quy tại Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1996 – 2003 làm việc tại Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh Tây Ninh Từ năm 2003 – nay là giáo viên Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Tây Ninh
Tháng 09 năm 2005 theo học Cao học ngành Thú y tại Đại học Nông lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: đã lập gia đình, kết hôn năm 1993
Chồng: Đào Tấn Hùng, sinh năm 1966 Các con: Đào Tấn Anh, sinh năm 1993
Đào Thị Lan Anh, sinh năm 1997 Đào Đông Anh, sinh năm 2000 Địa chỉ liên lạc: 172- Đường Võ Thị Sáu, khu phố 5, phường 4, Thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Điện thoại: 0907068672
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Lê Thị Kim Lan
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
• PGS TS Lâm Thị Thu Hương
Đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
• Ban chủ nhiệm và Thầy – Cô khoa Chăn nuôi – Thú y, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh
Đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập
• Ban giám hiệu, ban lãnh đạo, cùng toàn thể anh chị em đồng nghiệp Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh
Đã khuyến khích, động viên, tạo điều kiện giúp đỡ và tinh thần trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
• Toàn thể anh chị em, các bạn lớp Cao học thú y 2005 đã động viên, chia sẻ những khó khăn trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
• Đặc biệt, kính dâng Ba – Mẹ - Các anh, chị, em và gia đình chồng, con đã khuyến khích, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được học tập
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài “Thực trạng chăn nuôi heo thịt và ảnh hưởng của điều kiện chăn nuôi đến tình hình bệnh trên đàn heo thịt nuôi tại tỉnh Tây Ninh” được thực hiện tại tỉnh Tây Ninh từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 8 năm 2009 Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng chăn nuôi heo thịt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, xác định một số bệnh thường xảy ra và phân tích một số yếu tố nguy cơ về quản lý chăn nuôi liên quan đến bệnh trên đàn heo thịt nuôi tại tỉnh Tây Ninh
Kết quả ghi nhận như sau:
Tại Tây Ninh, heo thịt được nuôi có thể do heo nhà đẻ ra (47,78%) hoặc mua từ các cơ sở chăn nuôi khác trong tỉnh (52,22%)
Các hộ nuôi chủ yếu theo quy mô nhỏ từ 20 con/hộ trở xuống (74,89%),
số hộ nuôi trên 20 con/hộ chỉ chiếm 25,11% Phương thức gối đầu chiếm đa số (62,56%) so với phương thức cùng vào cùng ra (37,44%) Đa số các hộ sử dụng thức ăn công nghiệp bán sẵn trên thị trường (80,66%)
Tất cả các hộ chăn nuôi đều thực hiện vệ sinh chuồng trại hàng ngày (100%), tuy nhiên chỉ có 45,11% số hộ thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ Có 33,55% số hộ xử lý chất thải chăn nuôi, trong đó số hộ xử lý chất thải bằng phương pháp biogas chiếm 19,33% và phương pháp ủ chiếm 14,22% Phần lớn (98,67%) các hộ có tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm trên heo như tụ huyết trùng, phó thương hàn, dịch tả heo 85,22% số hộ áp dụng biện pháp tẩy ký sinh trùng
Heo thịt được giết mổ có nguồn gốc tại 3 huyện thuộc tỉnh Tây Ninh có tỷ
lệ xuất hiện bệnh tích tương đối cao (82,47%) Số heo có bệnh tích liên quan hệ
hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (53,25%), kế đến là bệnh tích liên quan hệ tiêu hóa (51,95%)
Tỷ lệ xuất hiện bệnh tích trên heo thịt khác nhau theo quy mô chăn nuôi, heo có nguồn gốc ở quy mô từ 11 – 20 con chiếm tỷ lệ cao nhất (27,92%), kế
Trang 8đến là quy mô trên 20 con/hộ (27,27%) và 6 – 10 con/hộ (18,18%), thấp nhất là quy mô từ 1 – 5 con/hộ (9,09%)
Heo thịt cho ăn thức ăn tự trộn, hoặc nuôi theo phương thức gối đầu có tỷ
lệ xuất hiện bệnh cao hơn heo cho ăn thức ăn công nghiệp hoặc nuôi theo phương thức cùng vào cùng ra với các tỷ lệ lần lượt 51,95%, 53,89% so với 30,52% và 28,57%
Không có sự khác biệt thống kê về tỷ lệ xuất hiện bệnh tích trên heo ở các mật độ chăn nuôi khác nhau cũng như ở những heo có nguồn gốc khác nhau Các cơ quan xuất hiện bệnh tích nhiều nhất là phổi (53,25%), gan (41,56%) và dạ dày (20,12%) Bệnh tích có tần số xuất hiện nhiều trên các cơ quan là viêm phổi tiểu thùy (80,48%), xơ gan (62,5%), gan viêm sợi huyết bề mặt (56,23%), dạ dày sung huyết (61,29%), dạ dày loét (41,95%)
Các yếu tố như quy mô chăn nuôi cao trên 10 con/hộ, chăn nuôi theo phương thức gối đầu có thể làm tăng tỷ lệ bệnh liên quan hệ hô hấp trên heo, trong đó chăn nuôi theo phương thức gối đầu làm cho heo xuất hiện bệnh nhiều nhất (OR = 59,42)
Các yếu tố như quy mô chăn nuôi cao, sử dụng thức ăn tự trộn cho heo thịt, mua heo từ nơi khác là những yếu tố nguy cơ có thể làm tăng tỷ lệ xuất hiện bệnh liên quan hệ tiêu hóa, trong đó sử dụng thức ăn tự trộn làm cho heo xuất hiện bệnh nhiều nhất (OR = 9,45)
Trang 9SUMMARY
The study “Characteristics of growing/finishing pig production and influence of husbandry condition on disease situation in pigs raising in Tay Ninh province” was carried out from December 2007 to August 2008
The objective of the study is the evaluation of the state growing/finishing pig production, identifying a number of commonly occurring diseases and analyze a number of risk factors on the management of animal husbandry related
to diseases in pig herd in Tay Ninh province
The results showed that:
In Tay Ninh province, growing/finishing pigs were raised from weaning pigs in the same farm (47.78%) or weaning pig bought from other breeding farms
of the province (52.22%)
Most of the farms has the scale of under 20 heads/farm (74.89%), only 25.11% farms has the scale of higher than 20 heads/farm 62.56% farm was continous flowing whereas 37.44% was All in-all out farm 80.66% farm used commercial feed from the market
All the farm do the cleaning everyday (100%), however there is only 45.11% farm applying periodic sanitization 33 55% applied the animal husbandry waste material treatment, in which 19.33% using biogas system and 14.22% using covering method
Most of the farm (98.67%) applied vaccination of infectious diseases to their pigs such as Pasteurellosis, Salmonellosis, and swine fever 85.22% applied deworming programme to their pigs
The slaughterred pigs originated from 3 districts belonging to Tay Ninh province showed high prevalence of lesions (82.47%) The number of pigs having lesions involving respiratory system was highest 53.25%, next was pigs having lesions involving digestive system 51.95%
Trang 10The prevalence of pigs showing lesions varied according to the scale of management, highest in the scale of 11 – 20 head/farm (27.92%), next was the scale higher than 20 heads/farm, then 6 – 10 head/farm (18.18%) and lowest rate was found in the scale of under 5 heads/farm (9.09%)
Pigs raised by household mixed feed, or by continuous flowing had high prevalence of lesions than pigs raised by commercial feed or by AI-AO system with the following prevalences, respectively, 51.95%, 53.89% vs 30.52% and 28.57%
There was no significant difference between the rates of lesions in pigs from different management system as well as from different origin of the pigs
Lung was found to be the organ having highest prevalence of lesions (53.25%), next was the liver (41.56%) and the stomach (20.12%) The lesions were found with high frequency were lobular pneumonia (80.48%), cirrhosis (62.5%), liver with fibrinous exudate on surface, congestion in stomach (61.29%), ulceration of stomach (41,95%)
Factors such as the scale of the farm higher than 10heads/house, continuous flowing could incsrease the prevalence of lesions involving respiratory disease in pigs, in which continuous flowing management induced highest prevalence (OR = 59.42)
Factors such as the scale of the farm, using household mixed feed, bought weaning pigs from other sources were risk factors of disease involving digestive tract, in which using household mixed feed was found
to be the highest risk (OR = 9.45)
Trang 12
2.4.3 Quản lý chuồng trại, kỹ thuật chăm sóc 13
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
4.2 Tình hình xuất hiện các nhóm bệnh trên heo thịt được giết mổ
4.2.1 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh trên heo thịt được giết mổ 29
4.2.2 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo mật độ chăn nuôi 32
4.2.3 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo quy mô chăn nuôi 34
4.2.4 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo loại thức ăn dùng 36
4.2.5 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo nguồn gốc heo 38
4.2.6 Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo phương thức chăn nuôi 40
4.2.7 Tần số xuất hiện các dạng bệnh tích trên heo thịt khảo sát 42
4.3 Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh xuất hiện ở hệ hô hấp và tiêu hóa 50
4.3.1 Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh xuất hiện ở hệ hô hấp 50
4.3.2 Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh xuất hiện ở hệ tiêu hóa 52
Trang 13DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1: Bảng phân bố các hộ điều tra tại 6 huyện thuộc tỉnh Tây Ninh 18
Bảng 3.2: Bảng phân bố heo khảo sát tại lò mổ ở 3 huyện thuộc tỉnh Tây Ninh 20 Bảng 4.1: Tần suất của các biến liên quan quản lý trong chăn nuôi
Bảng 4.2: Tần suất của các biến về vệ sinh phòng bệnh cho heo thịt
Bảng 4.3: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh trên heo thịt được giết mổ 30
Bảng 4.4: Tỷ lệ xuất hiện đồng thời các nhóm bệnh trên heo thịt 32
Bảng 4.5: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo mật độ chăn nuôi 32
Bảng 4.6: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo quy mô chăn nuôi 34
Bảng 4.7: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo loại thức ăn dùng 36
Bảng 4.8: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo nguồn gốc heo 38
Bảng 4.9: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo phương thức chăn nuôi 40
Bảng 4.10: Các dạng bệnh tích thường gặp trên heo thịt khảo sát 43
Bảng 4.11: Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh xuất hiện ở hệ hô hấp 50
Bảng 4.12: Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh xuất hiện ở hệ tiêu hóa 52
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Nhiệt độ và ẩm độ tại Tây Ninh từ tháng 01/2008 – 05/2009 5
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh trên heo thịt 30 Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo mật độ chăn nuôi 33
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo quy mô chăn nuôi 35
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo loại thức ăn dùng 37
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo nguồn gốc heo 39
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo phương thức chăn nuôi 41
Trang 14DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Chuồng nuôi heo thịt quy mô trên 20 con/hộ 26
Hình 4.2d: Viêm phổi có mủ 44
Trang 15Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nhiều công trình nghiên cứu ở Châu Âu và Châu Á đã nhấn mạnh rằng có
sự liên quan giữa điều kiện chăn nuôi trong giai đoạn nuôi thịt với tỷ lệ bệnh tích được phát hiện trên heo lúc giết mổ (Backstrom và Bremer, 1978; Dahms và ctv., 1993; Ramis và ctv., 2004;)
Một số tác giả khác cho rằng nếu cải thiện điều kiện chăn nuôi thì tỷ lệ bệnh sẽ giảm Theo Lê Mạnh Dũng và ctv (2007), yếu tố tiểu khí hậu chuồng nuôi có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc một số bệnh trên heo như heo con đi phân trắng, hội chứng tiêu chảy, dịch tả, phó thương hàn, phù đầu, suyễn, viêm phổi, tụ huyết trùng, bệnh khác Trong đó yếu tố độ ẩm không khí chuồng nuôi và nồng
độ NH3 có mối quan hệ chặt với tỷ lệ mắc bệnh của heo Cũng theo tác giả Lê Mạnh Dũng và ctv, cần cải thiện môi trường chăn nuôi như xây dựng chuồng trại đảm bảo tính thông thoáng, vệ sinh khu vực chăn nuôi sẽ hạn chế tỷ lệ mắc bệnh trên đàn heo Joachim và ctv (2001) cho rằng áp dụng các biện pháp vệ sinh chuồng trại sẽ giữ cho đàn heo không bị giun, sán đường tiêu hoá
Tây Ninh là tỉnh có điều kiện thuận lợi về địa hình, đất đai, khí hậu, lao động,… để phát triển đàn heo Trong những năm gần đây, số lượng đàn heo của tỉnh Tây Ninh có xu hướng phát triển mạnh, từ 156.326 con năm 2003 đã tăng lên 208.719 con năm 2007 (Cục thống kê Tây Ninh, 2007), trong đó heo thịt chiếm khoảng 92% Tuy số lượng heo nhiều nhưng chăn nuôi chủ yếu vẫn theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ Việc chăn nuôi heo tại các hộ gia đình chưa
Trang 16chuồng trại, làm cho bệnh tật vẫn xảy ra trên đàn heo, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi, một số bệnh còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Đến nay, tại Tây Ninh vẫn chưa có một nghiên cứu tổng quát nào về tình hình bệnh trên đàn heo nói chung và trên heo thịt nói riêng Để có cơ sở đánh giá thực trạng tình hình chăn nuôi và tình hình bệnh trên đàn heo thịt từ đó đề xuất một số biện pháp chăn nuôi, chủ động phòng bệnh hiệu quả, phù hợp với tình hình dịch tễ và điều kiện chăn nuôi tại Tây Ninh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Thực trạng chăn nuôi heo thịt và ảnh hưởng của điều kiện chăn nuôi đến
tình hình bệnh trên đàn heo thịt nuôi tại tỉnh Tây Ninh”
1.2 Mục tiêu
Đánh giá thực trạng chăn nuôi heo thịt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, xác định một số bệnh thường xảy ra và phân tích một số yếu tố nguy cơ về quản lý chăn nuôi liên quan đến bệnh trên đàn heo thịt nuôi tại tỉnh Tây Ninh
Trang 18Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, phía đông giáp tỉnh Bình Dương
và Bình Phước, phía tây và tây bắc giáp vương quốc Campuchia, phía đông nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An Tây Ninh có diện tích tự nhiên 4029,60 km2, được tổ chức thành 01 thị xã (Thị xã Tây Ninh) và 08 huyện, gồm: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng
Địa hình Tây Ninh nghiêng theo hướng đông bắc – tây nam, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ với đồng bằng sông Cửu Long
Do đó, Tây Ninh có địa hình pha trộn đặc điểm cao nguyên và đặc điểm đồng bằng Phía bắc với địa hình đồi núi dốc, độ cao trung bình từ 10 – 15 m Phía nam mang đặc điểm đồng bằng với độ cao trung bình 3 – 5 m Các dạng địa hình chính:
- Dạng đồng bằng: phổ biến dọc hai bờ sông Vàm Cỏ Đông thuộc các huyện Châu Thành, Thị xã, Hòa Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng
- Dạng đồi dốc thoải: phổ biến ở phía nam huyện Tân Biên, với độ cao 10 – 20m
và một số nơi thuộc các huyện Dương Minh Châu, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng
- Dạng đồi: phổ biến ở thượng nguồn sông Sài Gòn, dọc ranh giới tỉnh Bình Phước với độ cao 50 – 80m
- Dạng núi: chủ yếu vùng núi Bà đen rộng 15 km2, cao 986 m, có tác dụng chắn gió, ít nhiều ảnh hưởng phân bố mưa và dòng chảy
Nhìn chung, Tây Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng
Trang 1980% Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây – Tây Nam vào
mùa mưa và gió Bắc – Đông Bắc vào mùa khô
008T7/2
008 T9/2
008T11/
2008T1/2
009T3/20
09 T5/2
009
Nhiệt độ (C)
Ẩm độ (%)
Biểu đồ 2.1: Nhiệt độ và ẩm độ tại Tây Ninh từ tháng 01/2008 – 05/2009
(Nguồn: Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Tây Ninh)
Nguồn nước mặt ở Tây Ninh chủ yếu dựa vào hệ thống kênh rạch trên
địa bàn toàn tỉnh với chiều dài của toàn bộ hệ thống 617 km và hai sông lớn là
sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng đồi Lộc
Ninh (thuộc tỉnh Bình Phước) làm ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và hai tỉnh
Bình Dương, Bình Phước Thượng lưu sông Sài Gòn có công trình thuỷ lợi
Dầu Tiếng với dung tích 1,45 tỷ m3, diện tích mặt nước 27.000 ha (trên địa bàn
Tây Ninh 20.000 ha) có khả năng tưới cho 175.000 ha đất canh tác của Tây
Ninh, thành phố Hồ Chí Minh và Long An Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ
độ cao 150 m ở Campuchia chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sông Vàm
Cỏ Đông có chiều dài 220 km (151km chảy trong địa phận Tây Ninh)
Trang 20Tây Ninh có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh Tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác được 50 – 100 ngàn m3/giờ Vào mùa khô vẫn có thể khai thác nước ngầm, đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
Tóm lại, với lượng ánh sáng dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc, gia cầm Mặt khác, Tây Ninh nằm sâu trong lục địa
có địa hình cao núp sau dãy Trường Sơn nên ít chịu ảnh hưởng của bão và các yếu
tố bất lợi khác Song một số hạn chế chủ yếu của khí hậu ở Tây Ninh là sự biến động và phân hóa rõ rệt các yếu tố theo mùa, sự tương phản giữa mùa mưa và mùa khô, về chế độ mưa, chế độ gió và độ ẩm ít nhiều đã gây trở ngại cho sản xuất và đời sống người dân
2.2 Tình hình chăn nuôi heo tại Tây Ninh
Trong những năm gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi heo truyền thống mà đặc trưng là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp, chăn nuôi heo theo phương thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển, nhất là các mô hình nuôi gia công Hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho heo con; hệ thống máng
ăn, núm uống tự động là những tiến bộ kỹ thuật về chuồng trại đã được áp dụng tại các trang trại Tuy nhiên, chăn nuôi heo trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện nay vẫn phổ biến là nhỏ lẻ, phân tán trong nông hộ, chuồng nền xi măng, mái lá hoặc tôn; thức ăn dùng trong chăn nuôi heo ngoài các phụ phế phẩm nông nghiệp và một phần nhỏ sản xuất tại địa phương, thức ăn dùng chăn nuôi heo hầu hết phải nhập từ các tỉnh khác làm cho giá thành chăn nuôi tăng cao vì phải chịu chi phí vận chuyển, đa số các hộ chăn nuôi tiến hành sát trùng chuồng trại hai lần trong năm hoặc không sát trùng chuồng trại Hằng năm, cơ quan thú y tại địa phương tiến hành tiêm phòng vaccin tụ huyết trùng, phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng cho heo vào hai đợt, tháng 3 và tháng 9, được người chăn nuôi hưởng ứng cao
Trang 21Phương hướng phát triển của tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 tổng đàn heo đạt 320.000 con, năm 2015 đạt 350.000 con, phát triển nhanh đàn heo ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường, phát triển các mô hình chăn nuôi heo đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng
2.3 Một số dạng bệnh lý có thể gặp trên heo giết mổ
Khi vào đường hô hấp, không khí được hâm nóng, làm ẩm và lọc sạch bụi, vi sinh vật, nhờ hệ thống mạch quản ở niêm mạch mũi, các lông mũi rồi mới vào phế nang
Trong điều kiện bệnh lý, hàng rào bảo vệ cơ thể bị yếu hoặc không còn hiệu lực, sự hoàn chỉnh của đường hô hấp bị giảm hoặc các trường hợp bệnh làm giảm diện tích hô hấp của phổi như viêm màng phổi, viêm phổi, … làm rối loạn trao đổi khí của cơ thể dẫn đến giảm lượng O2 ở mô, thiếu dưỡng khí, rối loạn trao đổi chất ở mô bào
Nguyên nhân làm rối loạn hoạt động hô hấp chủ yếu do vi sinh vật Các vi
sinh vật gây bệnh hô hấp trên heo có thể là Pasteurella multocida, Bordetella
bronchiseptica, Actinobacillus pleuropneumoniae, Mycoplasma…(Nguyễn Văn
Khanh, 2006) Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng làm gia tăng bệnh hệ hô hấp như yếu tố môi trường bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, sự ô nhiễm của tiểu khí hậu chuồng nuôi; mật độ thú nuôi; thức ăn (mốc hoặc quá mịn); các nguyên nhân từ một quá trình bệnh lý khác của cơ thể cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
hô hấp như thiếu vitamine A, do giun đũa (Kofer và ctv, 1993; Nguyễn Như Pho, 1997; Hồ Thị Kim Hoa, 2002; Nguyễn Văn Khanh, 2006) Các nguyên nhân tác
Trang 22động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây phản ứng tiết dịch, sau đó dẫn đến quá trình viêm, làm thay đổi tổ chức học cơ quan hô hấp đưa đến rối loạn trao đổi chất khí
Một số dạng bệnh lý có thể gặp trên phổi
Phổi xuất huyết
Xuất huyết ở phổi thuờng nằm bên dưới màng phổi và ở nhiều hình thức khác nhau Nguyên nhân là do giết mổ máu của thú có thể chảy vào phổi nhưng chỉ ở một số tiểu thùy giới hạn, do gia súc làm việc quá sức phổi bị sung huyết quá độ làm vỡ mạch quản, do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm và kí sinh trùng,…(Nguyễn Ngọc Tuân, 2002)
Trên bề mặt phổi có những điểm hay đốm xuất huyết, có màu đỏ tươi hoặc
đỏ đen, máu rỉ ra ở mặt cắt khi bóp nặn
Phổi sung huyết
Phổi hơi nặng nổi lơ lửng trong nước, màu đỏ bầm, bóp nghe lào xào Mặt cắt ngang màu đỏ thẫm, xuất dịch màu hồng và đục Mao mạch căng đầy máu, phế nang
- Hoá gan xám
Phổi vẫn rắn chắc, ngả dần qua màu đỏ nhạt gần như xám, ngoài mặt có nổi vân như cẩm thạch khi cắt bề mặt khó hơn và hoá hạt Trong giai đoạn này, các tiểu thùy phổi hoá gan đỏ và xám nằm xen kẽ nhau Hiện tượng sung huyết không còn
rõ ràng, tiết chất trong phế nang còn rất ít hồng cầu và chứa nhiều bạch cầu (Nguyễn Văn Khanh, 2001)
Trang 23Phổi nhục hoá
Là biến chứng của viêm phổi, do tiết chất có sợi huyết nằm lâu trong phế nang (2 – 3 tuần), sợi huyết sẽ được hàn gắn bởi các nguyên sợi bào từ các mô chung quanh Vùng nhục hoá có màu hồng giống như thịt hay hơi xám, dai, không nổi trong nước, cắt bệnh tích không có dịch chảy ra
2.3.2 Bệnh lý ở hệ tiêu hóa
Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn hoạt động hệ tiêu hóa của heo, nhưng chủ yếu là không đảm bảo chế độ cho ăn, chăm sóc, bệnh phát ra ban đầu là những rối loạn về chức năng, sau đó là những biến đổi bệnh lý tổ chức
Các bệnh truyền nhiễm gây tổn thương nhiều cho hệ tiêu hóa heo như dịch
tả, phó thương hàn và các bệnh kí sinh trùng đường ruột Các chất độc thực vật, chất khoáng, các trường hợp trúng độc cũng gây xáo trộn tiêu hóa (Nguyễn Như Pho, 1996) Ngoài các trường hợp trên, các bệnh nặng ở các cơ quan khác đều kéo theo các xáo trộn tiêu hóa
Một số dạng bệnh lý có thể gặp trên hệ tiêu hóa
Viêm gan cấp tính do độc chất
Viêm gan do độc tố gây các biến đổi trong tế bào gan: trương đục, thoái hoá
mỡ và cuối cùng là hoại tử các tế bào gan Về đại thể, gan nhạt màu đôi khi có màu
đỏ do sung huyết Tiểu thùy gan nổi lên rõ ràng Về vi thể, hoại tử thuộc loại đông đặc Nhân tế bào teo và tế bào chất ưu màu acid Sau đó tế bào tan rã và biến mất,
có thể thấy một ít lympho xâm nhập vào mô liên kết (Nguyễn Văn Khanh, 2001)
Trang 24Nguyên nhân gây bệnh có thể do hóa chất, thực vật và các loài virus, vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm (Nguyễn Như Pho, 2007)
Viêm gan do độc chất mãn tính (xơ gan)
Xơ gan biểu hiện qua sự thoái hoá thớ và tạo thêm mô sợi Đặc điểm nổi bật của xơ gan là sự thành lập mô liên kết sợi lan rộng khắp các tiểu thùy
và tiến tới tình trạng mô liên kết kẽ nhiều hơn nhu mô của tiểu thùy Có sự xâm nhập của tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân lớn (Nguyễn Văn Khanh, 2006) Nhiều ống mật mới hình thành trong mô liên kết Khi cắt ngang có dạng những vòng tròn nhỏ có tế bào biểu mô và nhân nhuộm màu đậm Ngoài
ra còn thấy hoại tử và hiện tượng tái sinh của nhu mô gan
Viêm dạ dày
- Viêm dạ dày có nhầy cấp tính
Màng niêm dày lên và đỏ ửng toàn bộ hoặc một phần, nhất là vùng có tuyến Niêm dịch gia tăng Qua kính hiển vi, màu đỏ là do phối hợp của cương mạch tích cực và biểu mô tróc ra Bạch cầu lympho và một ít bạch cầu trung tính xâm nhập vào lớp niêm và dưới niêm
- Viêm dạ dày xuất huyết cấp tính
Vách dạ dày đỏ đậm hơn và máu có thể chảy tràn lan trên bề mặt hay trong chứa vật dạ dày
Loét dạ dày
Viêm có độc tố hoặc cảm nhiễm có thể làm lở loét, vết loét thường cạn và ít xuất huyết Các vết loét kinh niên không tìm thấy trên gia súc
Viêm ruột nhầy
Các biến đổi giống biến đổi của viêm dạ dày có nhầy Biểu mô hoại tử Bạch cầu lympho xâm nhập nhiều trong lớp dưới niêm Là loại viêm thường thấy do độc chất hoặc cảm nhiễm
Trang 25Viêm ruột xuất huyết
Là hình thức nặng của viêm nhầy cấp tính Thường gặp ở vết xuất huyết
phân tán thành từng đốm Ở heo vi khuẩn Salmonella, giun đầu gai,… có thể gây
viêm ruột xuất huyết
Viêm ruột sinh sợi huyết
Sợi huyết tạo thành màng giả, khi bớt viêm màng này theo phân tróc ra ngoài thành những tảng hình ống dài Trên heo, viêm thường ở thể mãn tính gọi là viêm ruột hoại tử Bệnh tích thường có ở ruột già và đoạn cuối hồi tràng Các tế bào vùng viêm bị hoại tử đông đặc quyến với tiết chất tạo thành nhiều khối to nhỏ khác nhau, bề mặt sần sùi màu nâu hoặc màu xám dính chặt vào mô chết hoặc mô sống bên dưới Phân lẫn lộn với chất tiết trên mặt Các đốm hoại tử có thể liên tục hay gián đoạn
2.3.3 Bệnh lý do kí sinh trùng
Heo nhiễm kí sinh trùng chậm lớn, gầy, lông da không bóng mượt, tiêu chảy Bệnh ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của heo, ảnh hưởng đến lợi nhuận của người chăn nuôi Giun đũa là một trong những loài kí sinh trùng thường gặp trên heo thịt
Bệnh giun đũa
Do Ascaris suum, kí sinh trong ruột non của heo Bệnh phân bố rộng rãi
khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống heo Heo chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với heo chăn nuôi hộ gia đình Các loài côn trùng, giun đất có thể là vật chủ dự trữ của giun đũa heo Giun trưởng thành sống trong ruột non, lấy đi chất dinh dưỡng của ruột, nhất là ăn mòn dần niêm mạc ruột non, nhưng không bị ảnh hưởng bởi nhu động ruột Bệnh lây chủ yếu qua thức ăn, nước uống (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
Bệnh tích tạo ra do ấu trùng gây nhiễm trong suốt thời gian di hành và phát triển trong mô vật chủ từ nhẹ đến nặng Khi ấu trùng di hành sẽ phá hủy
mô, cơ quan mà nó đi qua và quá trình tái tạo mô Nhiễm nặng ở gan sẽ dẫn đến viêm gan nặng, phù thũng, viêm hóa sợi xảy ra sẽ gây hư hại toàn bộ tiểu
Trang 26thùy Trong trường hợp nhiễm ở mức độ trung bình, có thể thấy hoại tử và thay đổi mô gan Sự di chuyển ấu trùng qua phổi sẽ gây viêm phổi từ nhẹ đến nặng Ấu trùng giun đũa di chuyển khắp nơi và tạo những u hạt ở nhiều vị trí như gan, phổi, cơ tim, não, mắt, nốt bạch huyết
2.3.4 Bệnh lý ngoài da
Bệnh tích nguyên phát trên da như ghẻ, bệnh tích kế phát của các bệnh truyền nhiễm như bệnh do virus PRRS, bệnh do corcovirus, bệnh đóng dấu son, tình trạng nhiễm độc máu Có khi bệnh tích phân tán trên da như bọng nước, abces, nốt
mủ, vết loét; hoặc bệnh tích khuyếch tán như hoá keratin
Viêm da là tình trạng viêm lớp thượng bì và lớp bì của da, do nhiều yếu tố gây
ra như các bệnh truyền nhiễm, dị ứng, dinh dưỡng, bệnh kí sinh, bệnh thiếu kẽm, …
Tụ máu cấp tính lan rộng hay khu trú trên da heo, thường thấy trong bệnh dịch
tả heo, bệnh đóng dấu son, bệnh thương hàn, nổi mẩn do vận chuyển, bệnh đậu heo và sốc nhiệt Trụng nước nóng trước khi cạo lông làm nổi bật những biến đổi này
Tụ máu do vận chuyển thì trên da heo xuất hiện những mảng đỏ tại những vùng da tiếp xúc với sàn xe, vách xe Vùng bệnh tích thường khu trú dọc theo vùng bẹn và đùi Ngoài ra, bệnh tích này còn do các chất sát khuẩn và nước tiểu trên sàn
xe kích thích da, làm da bị ửng đỏ Hiện tượng này cũng thường thấy trên da heo trong những lúc thời tiết nóng mà cự ly vận chuyển dài
2.4 Biện pháp phòng bệnh cho heo
Trong chăn nuôi heo thiệt hại do bệnh tật chiếm một phần đáng kể lên thành công hay thất bại của nhà chăn nuôi Trong thực tế nếu chỉ dùng vaccin và thuốc không thể nào ngăn chặn tất cả các bệnh xảy ra trên heo Do đó không thể sử dụng đơn thuần một biện pháp riêng lẻ mà phải kết hợp nhiều biện pháp Một số biện pháp phòng bệnh trên heo:
2.4.1 Phòng bệnh bằng vaccin
Sử dụng vaccin trong phòng chống bệnh cho heo là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao Tùy thuộc vào căn bệnh, tuổi của heo, tình hình dịch tễ tại địa phương cần sử dụng loại vaccin phù hợp
Trang 27Trong giai đoạn heo con theo mẹ có thể sử dụng vaccin Mycoplasma với
mục đích ngừa bệnh suyễn heo Heo con giai đoạn sau cai sữa được tiêm các loại vaccin phòng bệnh dịch tả, phó thương hàn và tụ huyết trùng Ngoài ra, trong giai đoạn nuôi thịt (từ 30 kg trở lên) heo có thể được tiêm nhắc lại các loại vaccin phòng bệnh dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng và tiêm phòng bệnh
lở mồm long móng Việc tiêm vaccin phòng bệnh cho heo phải được thực hiện nghiêm và đúng quy trình kỹ thuật
2.4.2 Phòng bệnh bằng thuốc
Có thể dùng thuốc tẩy giun sán khi heo từ hai tháng tuổi trở lên Thuốc sử dụng để phòng, trị giun sán trên heo hiện nay được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến Biện pháp dùng thuốc thường có hiệu quả và được ứng dụng nhiều trong thực tế Điểm bất lợi của việc dùng thuốc là hiện tượng kháng thuốc Thuốc vừa
có tác dụng trị bệnh, vừa có tác dụng phòng bệnh Thuốc có thể sử dụng dạng tiêm hoặc uống Một số loại thuốc trị giun sán phổ biến và hiệu quả hiện nay như levamisol, ivermectin
Việc sử dụng thuốc kháng sinh nhằm mục đích phòng, trị bệnh hệ hô hấp, hệ tiêu hóa cũng được áp dụng, tuy không thường xuyên Kháng sinh được trộn vào thức ăn hoặc hòa vào nước uống Việc sử dụng kháng sinh chỉ thực hiện khi xuất hiện dịch bệnh trên đàn heo Một số loại kháng sinh thường sử dụng để phòng bệnh cho heo như tetracycline, ampicilline, tylan
2.4.3 Quản lý chuồng trại, kỹ thuật chăm sóc
- Luôn duy trì các biện pháp vệ sinh phòng dịch nghiêm ngặt, đặc biệt cần tiến hành sát trùng chuồng trại nuôi heo định kỳ và đúng kỹ thuật
- Phân và nước thải phải được xử lý
- Đảm bảo độ thông thoáng, mật độ nuôi và nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
- Có chế độ dinh dưỡng phù hợp cho heo ở từng giai đoạn phát triển Quản lý chất lượng thức ăn
- Phát hiện, cách ly và điều trị kịp thời những heo bệnh
Trang 282.5 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu liên quan
2.5.1 Trong nước
Theo Võ Văn Hiền (2001), tỷ lệ nhiễm giun sán đường tiêu hoá trên heo nuôi thịt tại huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận là 78,33% (biến động từ 72,5% - 85%) Cũng theo tác giả này heo nuôi trong các hộ gia đình nhiễm giun sán có tỷ lệ nhiễm cao hơn heo nuôi theo phương thức công nghiệp, loài
giun đũa Ascaris suum có tỷ lệ nhiễm cao nhất ở cả hai phương thức nuôi
Năm 2007, Lê Mạnh Dũng và ctv đã nghiên cứu mối quan hệ của một số yếu
tố môi trường chăn nuôi đến tình hình dịch bệnh của heo nuôi hộ gia đình tại một số
xã đồng bằng sông Hồng Kết quả cho thấy các hộ nông dân chủ yếu nuôi heo thịt (tỷ lệ heo thịt chiếm trên 80% tổng đàn), tỷ lệ tiêm phòng vaccin cho heo tại các hộ theo dõi đạt 78,95%, quy mô chăn nuôi trung bình 13,04 con/lứa/hộ Các bệnh xảy
ra trên đàn heo gồm heo con đi phân trắng, hội chứng tiêu chảy, dịch tả, phó thương hàn, phù đầu, suyễn, viêm phổi, tụ huyết trùng và các bệnh khác Trong
đó heo con đi phân trắng (42,16%) và hội chứng tiêu chảy (28,04%) chiếm hơn 2/3 số ca bệnh đã gặp Các bệnh hô hấp (viêm phổi và suyễn) chiếm tỷ lệ thấp (10,4%), thấp nhất là tụ huyết trùng (0,046%)
Theo Trịnh Phú Ngọc và ctv (2008), chỉ có 52,57% (398/757) nông hộ, trang trại vùng ngoại thành và vùng phụ cận Hà Nội phun thuốc sát trùng định
kỳ 2 – 4 lần/tháng, chủ yếu là các nông hộ, trang trại chăn nuôi quy mô từ 150 con/đợt trở lên; 47,43% không phun hoặc chỉ phun thuốc sát trùng 1 lần/tháng, tập trung chủ yếu vào các nông hộ, trang trại chăn nuôi quy mô từ 50 con/đợt trở xuống Các hình thức chăn nuôi gồm nuôi gối đầu chiếm tỷ lệ 80,44% (609/757) và cùng nhập cùng xuất chiếm tỷ lệ 19,56% (148/757) Các bệnh thường gặp trên đàn heo tại các địa điểm điều tra là hội chứng hô hấp, hội chứng tiêu chảy và một số bệnh thông thường khác, với tỷ lệ mắc bệnh tương ứng 69,22% (524/757); 66,31% (502/757); 46,76% (354/757)
Năm 2008, Trương Vĩnh Yên đã tiến hành khảo sát tình hình nhiễm giun sán và bệnh tích do giun sán gây ra trên một số cơ quan nội tạng heo
Trang 29trong điều kiện chăn nuôi gia đình ở tỉnh Vĩnh Long Tác giả ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun sán trên heo thịt giết mổ là 25,55%; số heo nhiễm loài giun đũa
Ascaris suum chiếm tỷ lệ 17,86%; bệnh tích đại thể trên phổi và gan ở những
heo nhiễm giun đũa phụ thuộc vào số lượng giun đũa trên cá thể heo
2.5.2 Ngoài nước
Vào năm 2001, Joachim và ctv đã khảo sát mối liên quan giun sán đường tiêu hoá heo với hệ thống quản lý chuồng trại ở miền bắc nước Đức bằng phương pháp kiểm tra mẫu phân Heo khảo sát được lấy từ 13 nông trại nuôi heo thịt có hệ thống quản lý khác nhau là cùng vào cùng ra và gối đầu Kết quả cho thấy mật độ nuôi cao làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh, nuôi gối đầu tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn nuôi cùng vào cùng ra
Theo Robertson và ctv (2002), có 30 % heo bị loét dạ dày – thực quản và loét
ở mức độ trung bình là 17 % trong số 15 741 heo khảo sát Tỷ lệ heo bị loét dạ dày – thực quản giữa đực và cái là như nhau Hệ thống cho ăn có liên quan đến bệnh, dùng nước từ bể chứa nước cho heo thì tốt hơn nước lấy trực tiếp từ sông
Năm 2002, Baumann và Bilkei đã tiến hành khảo sát 1.319 con heo trong tổng số 15.841 con được sinh ra từ 2.000 con nái của một trại chăn nuôi lớn ở Hungari Kết quả các bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnh hệ tiêu hoá, bệnh hệ thống vận động và bệnh hệ hô hấp chiếm tỷ lệ lần lượt là 29,95%; 15,92%; 14,85% Bệnh ngoài da có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất chiếm 0,38% Qua kết quả điều tra các tác giả nhấn mạnh về sự cần thiết của công tác tiêm phòng, phát triển gen và cải thiện môi trường chăn nuôi trong việc phòng chống dịch bệnh
Wabacha và ctv (2004) đã tiến hành điều tra ở 87 nông trại nhỏ (có diện tích
từ 1 đến 50 mẫu Anh; 1 mẫu Anh = 0,4 ha) được chọn ngẫu nhiên từ 179 nông trại chăn nuôi quanh vùng Kikuyu Division trung tâm Kenya để đánh giá thực trạng chăn nuôi Kết quả ghi nhận được là tất cả các nông trại đều nuôi giống heo lai Large White hoặc Landrace (trung bình 9 con/ nông trại) Hầu hết các heo nuôi ở các nông trại được nuôi theo hình thức từ sơ sinh đến xuất chuồng Chỉ có 8% nông
Trang 30trại chăn nuôi tiến hành tẩy uế chuồng nuôi Không có nông trại nào sử dụng vaccin phòng chống bệnh cho heo Nhưng có 84 – 96% nông trại kiểm soát bệnh ghẻ và giun, sán Để kiểm soát bệnh ghẻ, có 50% nông trại sử dụng thuốc trị ghẻ, 34% nông trại sử dụng dầu động cơ và 12% sử dụng cả hai Thuốc trị giun, sán được sử dụng trong việc phòng chống bệnh giun sán Không có một nông trại nào có chương trình phòng chống riêng cho nông trại cả hai bệnh
Tóm lại, dịch bệnh trên đàn xảy ra khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi như thời tiết, khí hậu, tập quán, phương thức chăn nuôi,… để mầm bệnh tồn tại, lưu hành và phát triển Một số địa phương đã được điều tra, khảo sát và có tỷ lệ heo mắc bệnh cao Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này được khảo sát lẻ tẻ hoặc chỉ tập trung ở một số thành phố, trung tâm chăn nuôi lớn Vì vậy, cần thiết phải có nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa để đánh giá thực trạng chăn nuôi cũng như tình hình dịch bệnh trên đàn heo theo vùng, miền từ đó có chiến lược phòng chống thích hợp mang lại hiệu quả cao
Trang 31- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hộ có chăn nuôi heo thịt: 900 hộ
+ Heo thịt: 154 con
3.2 Thiết bị, dụng cụ, vật liệu thí nghiệm
- Thiết bị: kính hiển vi
- Dụng cụ: găng tay, dao mổ, kéo, lọ, máy ảnh, phiếu điều tra, sổ ghi chép
- Hoá chất: formol 10%, Barbagallo, lactophenol
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra tình hình chăn nuôi và vệ sinh phòng bệnh trên heo thịt nuôi
tại tỉnh Tây Ninh
Chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi heo thịt tại các nông hộ: nguồn gốc heo, quy mô chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, thức ăn, nước uống
- Tình hình vệ sinh phòng bệnh cho heo thịt: vệ sinh chuồng trại, xử lý chất thải chăn nuôi, việc tẩy ký sinh trùng, tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm cho heo
Trang 32Phương pháp thực hiện
Điều tra cắt ngang bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 900 hộ có chăn
nuôi heo thịt theo mẫu điều tra có sẵn (phụ lục 1; 1phiếu điều tra/ hộ) Số hộ điều
tra được lấy mẫu ngẫu nhiên, chiếm khoảng 21% tổng số hộ có chăn nuôi heo
thịt tại 6 huyện của tỉnh Tây Ninh Số liệu về tổng số hộ có chăn nuôi heo thịt
của 6 huyện dựa trên các bảng danh sách theo dõi tiêm phòng gia súc đợt 2/2007
lưu trữ ở Chi cục thú y Tây Ninh
Bảng 3.1: Bảng phân bố các hộ điều tra tại 6 huyện thuộc tỉnh Tây Ninh
Huyện Số hộ chăn nuôi Số hộ điều tra
Điều kiện chăn nuôi của các hộ đã điều tra được cho điểm (phụ lục 2) và
tạm xếp theo thang điểm sau:
Khảo sát bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể trên 154 heo thịt được giết mổ tại
03 lò mổ ở Tây Ninh và xếp loại theo các nhóm bệnh sau:
- Bệnh liên quan hệ hô hấp
- Bệnh liên quan hệ tiêu hoá
- Bệnh liên quan hệ thống vận động
Trang 33- Bệnh liên quan kí sinh trùng
- Bệnh ngoài da
Chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo mật độ chăn nuôi
- Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo quy mô chăn nuôi
- Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo loại thức ăn dùng
- Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo nguồn gốc heo
- Tỷ lệ xuất hiện các nhóm bệnh theo phương thức chăn nuôi
- Tần số xuất hiện các dạng bệnh tích trên heo thịt khảo sát
Một số tiêu chí cần theo dõi:
- Mật độ chăn nuôi cho heo trên 90 kg được xếp loại:
Chuẩn: ≥ 0,8 m2/con
Không chuẩn: < 0,8 m2/con (Trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Tuân, 2002)
- Quy mô chăn nuôi được xếp thành 4 nhóm:
Quy mô 1: từ 1 – 5 con Quy mô 2: từ 6 – 10 con Quy mô 3: từ 11 – 20 con Quy mô 4: trên 20 con
- Loại thức ăn dùng được xếp loại:
Loại thức ăn 1: thức ăn công nghiệp Loại thức ăn 2: thức ăn tự trộn
- Nguồn gốc heo được xếp loại:
Tự sản xuất: heo thịt nuôi có nguồn gốc tại hộ gia đình Mua: heo thịt nuôi được mua từ trong, ngoài tỉnh
- Hình thức chăn nuôi: gối đầu hoặc cùng vào cùng ra
Để đánh giá sơ bộ mức độ bệnh lý trên các cơ quan của heo thịt giết mổ khảo sát tại 03 lò mổ, các dạng bệnh tích tạm được chia thành các cấp độ cụ thể như sau:
- Bệnh tích viêm phổi tiểu thùy được chia làm 3 cấp độ:
Cấp 1: diện tích phổi viêm nhỏ 25 cm2 trở xuống
Trang 34Cấp 2: diện tích phổi viêm từ 25 - 50 cm2
Cấp 3: diện tích phổi viêm trên 50 cm2
- Bệnh tích gan viêm sợi huyết bề mặt cũng được chia làm 3 cấp độ:
Cấp 1: diện tích gan viêm nhỏ 25 cm2 trở xuống
Cấp 2: diện tích gan viêm từ 25 - 50 cm2
Cấp 3: diện tích gan viêm trên 50 cm2
- Bệnh tích loét dạ dày cũng được chia làm 3 cấp độ tương tự như trên:
Cấp 1: diện tích dạ dày loét nhỏ 25 cm2 trở xuống
Cấp 2: diện tích dạ dày loét từ 25 - 50 cm2
Cấp 3: diện tích dạ dày loét trên 50 cm2
Phương pháp thực hiện
Chọn 154 heo từ những hộ đã tham gia điều tra của 3 huyện Châu Thành, Dương Minh Châu, Bến Cầu và được xếp loại điều kiện chăn nuôi; mỗi hộ khảo sát 2 con Trong đó, 46 con từ các hộ có số điểm từ 8 – 10 điểm, 60 con từ các
hộ có số điểm từ 5 – 7 điểm, 48 con từ các hộ có số điểm dưới 5 điểm Công tác khám (theo phụ lục 3), kiểm tra bệnh tích đại thể và lấy mẫu bệnh phẩm, thu lượm giun sán (nếu có) được tiến hành tại lò mổ Tại lò mổ, theo dõi việc giết mổ heo từ khâu đầu tiên cho đến kết thúc, quan sát chụp ảnh bệnh tích, lấy mẫu bệnh phẩm và điền vào mẫu phiếu điều tra (phụ lục 4)
Bảng 3.2: Bảng phân bố heo khảo sát tại lò mổ ở 3 huyện thuộc tỉnh Tây Ninh
Lò mổ Số heo thịt
được nuôi (con)
Số heo khảo sát theo điều kiện
chăn nuôi (con)
Từ 8 – 10 điểm
Từ 5 – 7 điểm
Dưới 5 điểm
Tổng cộng
Trang 35Phương pháp kiểm tra nội ký sinh
Quan sát bệnh tích đại thể và khám các cơ quan như gan, phổi, thận, ruột
để ghi nhận sự hiện diện của giun, sán và ấu trùng giun, sán (nếu có)
Dựa vào một số đặc điểm cấu tạo của phần miệng, đuôi, gai giao hợp, lỗ sinh dục và chiều dài cơ thể để phân loại giun sán
Phân loại các nhóm bệnh
- Bệnh tích hệ hô hấp:
Phổi: xuất huyết, viêm, nhục hóa, hóa gan
Hạch phổi: sưng, xuất huyết, tụ huyết
- Bệnh tích hệ tiêu hóa:
Dạ dày: sung huyết, xuất huyết, viêm, loét
Ruột: sung huyết, xuất huyết, viêm, loét, nốt hoại tử
Gan: viêm, hoại tử, áp-xe
Hạch màng treo ruột: sưng, xuất huyết, tụ huyết
- Bệnh tích hệ thống vận động:
Chân, móng: viêm, loét, gãy
- Bệnh kí sinh trùng: heo nhiễm kí sinh trùng và các dạng ấu trùng chứa trong ruột, gan, phổi, thận
- Bệnh ngoài da:
Da: ghẻ, mủ, viêm
Nội dung 3: Phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh hệ hô hấp, bệnh hệ
tiêu hoá
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh được phân tích:
- Mật độ chăn nuôi cao: diện tích chuồng nuôi nhỏ hơn 0,8 m2/con cho heo trên 90 kg
- Quy mô chăn nuôi cao
- Phương pháp cho ăn: cho ăn thức ăn tự trộn
- Nguồn gốc heo: heo được mua từ nơi khác
- Phương thức chăn nuôi: nuôi theo dạng gối đầu
Trang 363.4 Phương pháp phân tích số liệu
Tất cả các số liệu được thu thập và xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học Các công thức tính:
Số heo xuất hiện nhóm bệnh X
Tỷ lệ heo xuất hiện nhóm bệnh X (%) = x 100 Tổng số heo khảo sát
Trong đó: X: bệnh liên quan hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ thống vận động,
i: viêm phổi tiểu thùy, viêm phổi thùy, …
Để phân tích mối quan hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh trên từng cá thể heo,
tỷ số bất thường OR (Odd ratio) được tính như sau (trích dẫn bởi Trần Thị Dân và
Lê Thanh Hiền, 2007):
Có yếu tố gây nguy cơ (A)
Có bệnh
Không có yếu tố gây nguy cơ (C)
Có yếu tố gây nguy cơ (B) Không bệnh
Không có yếu tố gây nguy cơ (D)
C B
D A OR
×
×
=
Trang 37Để so sánh tỷ lệ nhiễm dùng trắc nghiệm χ2, phần mềm xử lý Minitab 14.0
Để phân tích mối quan hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh dùng phương pháp hồi quy logistic bằng phần mềm SPSS
Trang 38Chương 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chăn nuôi heo thịt
Kết quả điều tra 900 hộ có nuôi heo thịt được chọn ngẫu nhiên trên sáu huyện tại tỉnh Tây Ninh, tình hình chăn nuôi được trình bày qua bảng 4.1
Đa số các hộ có chăn nuôi heo thịt tại các huyện điều tra là nông dân có thời gian nông nhàn và diện tích đất nông nghiệp nhiều để chăn nuôi Tổng số heo nuôi tại các hộ điều tra 18.192 con/900 hộ, trong đó có 15.457 con heo thịt (chiếm 84,97%) Các giống heo thịt được người chăn nuôi chọn nuôi nhiều là các giống heo lai Yorkshire, Landrace, Pietraine, Duroc Điều này phù hợp với Kế hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2010 - Định hướng đến năm 2020 của tỉnh Tây Ninh là phát triển nhanh quy mô đàn heo ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai Heo thịt nuôi tại các hộ điều tra có nguồn gốc từ heo nhà đẻ ra hoặc được mua từ các hộ chăn nuôi khác trong tỉnh Qua điều tra chúng tôi ghi nhận
có 47,78% hộ nuôi heo thịt có nguồn gốc từ heo nhà đẻ ra và 52,22% hộ mua heo thịt từ các hộ chăn nuôi khác trong tỉnh về nuôi, không có hộ chăn nuôi nào mua heo thịt ở ngoài tỉnh về nuôi
Qua kết quả điều tra 900 hộ có chăn nuôi heo thịt cho thấy heo nuôi tại tỉnh Tây Ninh vẫn phổ biến là nhỏ lẻ, phân tán trong nông hộ, số hộ nuôi với quy mô từ 20 con trở xuống chiếm tỷ lệ khá cao 74,89%; chăn nuôi heo thịt theo phương thức tập trung công nghiệp với quy mô lớn có xu hướng phát triển nhưng chưa nhiều, số hộ nuôi với quy mô trên 20 con chỉ chiếm 25,11% Việc chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, tự phát không theo quy hoạch, không có sự theo dõi
về giống của cán bộ kỹ thuật dẫn đến chất lượng con giống chưa cao, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ tại địa phương
Trang 39Bảng 4.1: Tần suất của các biến liên quan quản lý trong chăn nuôi heo thịt ở các hộ điều tra
Chỉ tiêu
Tân Biên Châu
Thành
Dương Minh Châu
Bến Cầu Gò Dầu Trảng Bàng Tổng cộng
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số hộ
(n = 900)
Tỷ lệ (%)
Trang 40Về phương thức chăn nuôi: phần lớn các hộ có chăn nuôi heo thịt trong tỉnh Tây Ninh nuôi theo phương thức gối đầu (chiếm 62,56%), tập trung nhiều
ở các hộ nuôi với quy mô ít hơn 20 con, việc nuôi 1 -2 con nái để tự sản xuất con giống thường được các hộ chăn nuôi ở Tây Ninh chọn lựa Kết quả điều tra của chúng tôi thấp hơn so với kết quả điều tra của Trịnh Phú Ngọc và ctv (2008) khi khảo sát 757 nông hộ, trang trại chăn nuôi heo vùng ngoại thành và vùng phụ cận Hà Nội Tác giả này ghi nhận 80,44% (609 hộ/757 hộ) chăn nuôi theo hình thức gối đầu, tập trung chủ yếu ở các nông hộ có mức thu nhập kinh
tế trung bình Tất cả các hộ điều tra đều không có chuồng cách ly, đây là một trong những nguyên nhân gây dịch bệnh ngay tại nông hộ, đồng thời cũng khó khăn cho việc cách ly, khống chế khi có bệnh dịch xảy ra
Hình 4.1: Chuồng nuôi heo thịt quy mô trên 20 con/hộ
Nhiều hộ gia đình sử dụng thức ăn công nghiệp dạng hỗn hợp có bán sẵn trên thịt trường cho heo thịt ăn (chiếm 80,66%) Thức ăn công nghiệp cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho heo thịt Một số ít hộ chăn nuôi tự trộn thức ăn cho heo thịt bằng cách mua thức ăn dạng đậm đặc sau đó pha trộn theo hướng